Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for the ‘Văn thơ bầu bạn’ Category

HENRY MILLER

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 15, 2011

HENRY  MILLER

NHÀ VĂN  DUNG TỤC

“Le laid peut etre beau,le joli jamais”(1)

(P.Gauguin)

Giữa thế kỷ XX xuất hiện một tác giả khác đời,người đã gây ảnh hưởng không ít trong văn học thời bấy giờ,thay đổi cục diện văn chương Mỹ cũng như khắp nơi trên thế giới.Một thứ văn chương đồi trụy,dâm dục,phi đạo đức làm thương tổn đến những nhà đạo đức học,luân lý học…

Đó là nhà văn Henry Miller(*)Đời lên án ông gắt gao,cho ông là con người đảo khuynh; điều mà xưa nay người ta tránh nói tới thì nay ông mạnh dạn phanh phui,huỵch toẹt không ngại ngùng.”why not”!tại sao không!Từ đó sinh ra hiện tượng Miller.Một hiện tượng phủ nhận mọi tác quyền cũng như những ấn phẩm của ông.Hoa Kỳ và Anh quốc đồng loạt bôi bác,trù dập thứ văn chương dung tục như thế.Vậy nguồn cơn nào đã đẩy ông vào con đường viết lách một cách bạo miệng bạo mồm như thế?

Henry Miller mang trong người giòng máu lai căng,gốc Đức,chứa đựng một tinh thần phóng đãng vagabond/bohemien thích một lối sống cá nhân,biệt lập và một tâm hồn đầy dục tính.

Henry Miller quan niệm rằng: “con người thoát thai từ những khoái lạc xác thịt, điều mà được Thượng đế ban ơn sủng,bù đắp vào sự khổ hạnh mà con người phải gánh chịu…”Không có một sinh vật nào ngẫu nhiên tự có mà không qua khỏi cái chu kỳ nầy,ngoài nhiệm vụ sanh nở bên cạnh đó là những động lực khoái cảm âm dương; đó là nguồn khoái cảm bất tận của con người.Henry nhận thức được điều ấy với tấm lòng chân, ông lấy từ cái “giấu giếm” để nói lên cái”thực đẹp” của bản chất con người.Những tác phẩm của ông đều mang tính dục(sexuality) và tính dục xác thịt(sensuality) một cách tuyệt đối, ông mô tả trắng trợn và thẳng thắng kể cả thư viết cho bạn bè hay người yêu.Miller không ấp úng,không ngượng ngùng xấu hổ và hàm hồ như thế trong văn từ của ông.Vì đó là một thực tế sống thực hơn là một thứ đạo-đức-giả hiệu.

Tiếng nói của Henry Miller trở nên vắng bóng giữa thế gian nầy, ông ngậm ngùi chia sẽ nỗi niềm.Ngọn bút của ông cũng âm thầm vắng lặng không còn đơn giản,diệu vợi giữa người với người.Nhưng không phải vì thế mà lặng câm,con người vô tình lặng câm để chối từ ông “Mais son appel initial n’en est pas devenu muet pour cela,il se tait seulement.L’homme a vraidire n’accorde a ce silence aucune attention”Oái oăm thay! Miller con dân của Mỹ mà đành phải bỏ xứ ra đi tha phương cầu thực vì nước Mỹ chối bỏ ông, ông bỏ luôn cả việc làm,bỏ vợ để đi tìm chân lý tự có của nó.Miller nhận ra được sự hiện hữu của con người, ông lột tả,thoát xác để tìm cho kỳ được chân lý tối thượng ấy,mà con người được quyền thụ hưởng dưới mọi hình thức,thế nhưng đời vẫn khăng khăng cho rằng điều ấy là bỉ ổi,phải che đậy, điều mà không nên nói ra.Vậy nó có từ đâu?Và có ai đã từ chối mỗi khi đụng chạm? Henry Miller cho đó là “thân xác hữu thể”(body subject/corp sujet)một chủ thể hữu ngã bằng cách mô tả con người như một chủ thể tại thể,xuất hiện qua thân thể.Tuy nhiên khó giải thích được chủ thể mà con người đang làm chủ chính nó;trong Tropic Of Cancer (Kinh Tuyến Bắc Giải)Miller không những nói lên chân lý chủ thể mà nói lên tính dục tại thể giữa vợ chồng và người yêu cũng như giữa bạn bè với bạn bè(homosexual).Henry vẫn cho rằng ý thức đó là ý thức hữu giác(perceptive)giữa người với người.

Henry Miller rời Mỹ,định cư ở Pháp(Paris) năm 1930 là một quyết định,thúc đẩy của vợ ông và cũng là điều mơ ước trở nên một nhà văn tên tuổi ở Pháp, ông đã gắng bó giòng sinh mệnh ấy được 10 năm thì trở vế cố quốc 1940.Thời kỳ sống ở Pháp là thời kỳ đen tối, ông phải sống nhờ vợ và bằng hữu,sống kiếp lây lất, lầm than, đó là giai đoạn đầu được mô tả là sự hiện thân của con người.Hiện thân ở đời tức là có một hiện hữu tại thế và tại thể.Người ta nhìn Miller lầm than như nhìn một khủng khoảng nội tại,người ta không thấy sự hiện thân đó nơi thân thể của Miller mà ông đang sống trong ba thế giới. Thế giới sự vật: xứ lạ,quê người,sống trợ cấp của vợ,khốn khổ.Thế giới nhân loại:con người với con người,bôi bác,tước đoạt,lên án.xáo trộn tâm linh giữa gia đình và bạn bè,Miller chứng kiến cảnh bội phản của vợ và tình nhân,họ yêu nhau(lesbian/bisexual) cho Miller thấy nỗi đau của nội tại.Thế giới bên kia: giữa quê nhà và lưu đày(Paris)Henry Miller sống thực tế với ba thế giới nói trên.Thiếu những giá trị tối thiểu đó thì làm sao nói lên được tính dục giữa người với người mà tất cả mọi dự mưu đều đem đến ý nghĩa cho tất cả những gì có liên quan đến con người,con người ở mọi nơi,mọi lúc đều cùng một tình trạng như nhau.Cái tầm quan trọng đó mà Miller ý thức được, đưa ông tới sự dung tục trong văn chương;vì thế mà người ta chối bỏ ông.Henry Miller luôn luôn hồi tưởng đời mình,tha thiết với quê nhà,chứng kiến sự đổ vỡ,chứng kiến sự thối thác,Miller đau khổ trong mọi hoàn cảnh đó là nguyên nhân nói lên cái cơ cấu lý sự của nó.

Ông viết nhiều thư gởi bạn,gởi tình nhân, đối thoại đầy ý nghĩa với vật giới,nhân giới và vũ trụ giới. Ông đem tâm tình đó như một giải tỏa nội tại.Miller không chờ đợi sự phản tỉnh.Sự hồi tưởng,sự phản tỉnh của lý trí về cuộc đời dấn thân của Miller là một thành phần của đời người. Ông có một hoài bảo là trở thành một nhà văn chân chính,mà chính ông đã bộc bạch: “who was I to say;I am a writer”Miller phát họa đời mình qua những trang tiểu thuyết,tiểu luận,truyện ngắn,thư gởi… chất chứa toàn bộ tính dục ở đó:Tropic Of Cancer(Kinh Tuyến Bắc Giải),Tropic Of Capricorn(Kinh Tuyến Dương Nam),The Rosy Crucifixion(Đóng Đinh Thập Tự Giá Hồng)Tất cả những tác phẩm trên đều nói lên sự phản động,dung tục của con người,một cuộc cách mệnh văn chương của Miller nhất là ở Hoa Kỳ và Pháp.

Cuộc đời của Henry Miller và June(vợ) là tất cả những gì đã đi qua đời ông đó là nền tản chín mùi trong tiểu thuyết hư cấu của ông.Miller đau khổ với số phận,cuộc đời dàn trải như tiểu thuyết ông viết;nghĩa là ông nghĩ gì thì gặp lấy.

Giờ đây ông đối diện với thực tế,một thực thể phủ phàng.1927 June ngoại tình với Jean Kronski,họ yêu nhau không phải vì tình mà do nhu cầu dục tính.Miller đối diện với khách thể, đó là lý do chính đáng mà Miller phải ý thức vai trò của mình thể hiện trong cái cơ cấu khách quan.Miller đồng ý với Merleau-Ponty và Jean Paul Sarte tìm hiểu thân thể người ta nhưng lại dùng hình thức khác để giải bày như một sinh lý học.Chỉ có một điều cho Miller nhìn nhận và hồi tưởng về chủ thể,về toàn diện đời người mới làm cho ta ý thức được cái ý nghĩa trong cuộc đời này.Lý lẽ toàn diện mà Henry Miller đã hụych toẹt cái “xấu xa” chân thật, ý thức đó thúc đẩy Miller tục và hàm hồ nhiều hơn thế nữa,làm tình táo bạo,dung tục qúa cở đó là sự thật của cuộc đời.Dung tục của Miller không phải con mắt bình thường nhìn thấy,cái dung tục của Miller là mặt thật của con người “giấu kín” chỉ có sự suy tưởng về chủ thể mới có thể tìm ra giải pháp cho những câu hỏi: Tôi phải làm gì? Cái gì là tục cái gì là thanh? Có phải đó là tội ác? Nghĩa lý ra sao? Sống để làm gì,ngoài cái chết chờ đợi? Chính những câu hỏi đó là giả tạo,không thực với đời sống.

Đôi khi những quẩn bách đó đã đưa Miller đi từ trạng thái nầy đến trạng thái khác làm cho ông điên loạn,cô đơn,phản bội tất cả những điều đó đã chi phối nội tâm ông,nhiều lúc ông không biết ông sẽ đi về đâu.Trong tập ghi chép(notes)Miller đã than thở”hết chịu nỗi”(without effort) có nghĩa là mặc cả giữa ông với June-vợ ông.Giữa chủ thể và khách thể,giữa giả dối và bội phản.Từ đấy Miller cảm thấy lạc lõng,Paris không còn là nơi dung thân đời ông.Tuyệt vọng và căn bệnh trầm cảm lại xẩy ra cho ông không khác những ngày đầu đời ở Brooklyn(New York-USA).Henry trở nên lặng câm với đời, đó là sự tĩnh lặng của hai bề mặt;  sự phàm tục và sự ám ảnh tâm trí ông,mặc khác là sự thánh hóa của nghệ thuật mà được coi như nguồn gốc của hai thứ: tham vọng và khát khao “ It is a meditation on both the protane and divine aspect of an art that has its source in both lust and longing”.

Trong tiểu thuyết của Miller;Tropic Of Cancer(Kinh Tuyến Bắc Giải) vẫn còn là một thể tài khác mặc dù có nhiều cải cách và làm thế nào để viết được cái thật của tính chất đó.Cá nhân của Henry Miller thường nảy sinh một thôi thúc dục tính hướng đến khách thể,hướng đến điều bất biến để đối trị với điều biến thành.Cả hai cuốn Tropic Of Cancer và Tropic Of Capricorn.Miller diễn tả cực độ nỗi thống khổ của hai bề mặt tri giác và hữu thể khi đối diện thực tế tại Paris cũng như trực diện với New York.

Cho dù Henry Miller mô tả về tính dục trong hầu hết truyện của ông viết, đều dựa trên những nguyên tố chính đáng,bởi vì; mỗi khi ông hạ bút xuống viết thì chắc chắn đã có loại người đó nghĩ đến dục tính như ông. Ý sâu xa của Miller:”người ta có thể “đ…”bất cứ nơi đâu nhưng làm thì phải có nơi chốn đàng hoàng”(one can fuck almost anywhere but one must have a place to work!) Đúng vậy;cái khoái cảm tự tại chính là cái khoái cảm khách thể.Miller nói:”cho dù một cuốn tiểu thuyết dở cũng đòi hỏi một cái ghế để ngồi và một chút riêng tư của nó”(Even a bad novel requires a chair to sit on an bit of privaly)Rõ ràng Miller không giới hạn tình dục và tạo ra sinh lực ở cùng một lúc.Trong Tropic Of Cancer; Miller lột tả sự phối hợp giữa hai phái cực kỳ khoái cảm, thời gian Anais Nin ngoại tình với Miller là cả hai làm tình táo bạo,không thiếu một khe hở nào trên da thịt của hai người,Nin đã rành rọt về tính dục khi nàng ở tuổi mới lớn.Vậy thì sự bạo dâm giữa hai người không có gì lạ cả.Henry Miller thấy được vợ mình June đồng tình luyến ái(lesbian)với Anais Nin. Miller,June và Nin là ba biểu tượng họ truyền đạt bằng ngôn từ cảm xúc giữa tình yêu thuộc về thần trí và hữu thể thuộc về bản ngã. Điều đó không những làm sáng tỏ dục tính tay ba mà nó trở nên chân thật,nếu không có sự kiện như thế thì sẽ không có biểu tượng và cũng chẳng ra gì hết…

Sau khi June trở về Mỹ thì Henry và Nin phục hồi tình yêu,họ vẫn truy hoang và hưởng trọn vẹn của tình yêu.Miller thức tỉnh ý thức xác thịt.Nhờ tình yêu bộc phát với Nin, ông say sưa viết,viết ào ạt những tâm sinh lý trong Tropic Of Cancer.Họ sống chung với nhau ở Villa Seurat,Nin có thai với Miller rồi phá thai, cả hai sống sa đọa,trụy lạc,dung tục, đàn điếm, ảnh hưởng con người của Miller;Nin loạn luân với người trong họ Eduardo Sanchez và hai kẻ vô thừa nhận khác,riêng Miller thì ăn ở với gái điếm.Rõ ràng Henry Miller rơi vào hố thẳm của dục vọng xác thịt,cuộc đời ông từ đó chao đảo, bôn ba và trải qua 5 đời vợ trong đời.Cuối cùng chết trong tay người giúp việc.Có phải đó là sứ mệnh mà ông phải thực thi cả tinh thần lẫn thể xác?Henry Miller không tin,tiếp tục vẽ những gì còn tồn tại trong tư tưởng của ông cho tới ngày tàn hơi.

Trong cuốn The Wisdom Of The Heart (Sự Khôn Ngoan Của Con Tim) xuất bản năm 1941 sau khi từ Pháp trở về định cư ở California(Big Sur)trong cuốn đó có một bài tiểu luận viết về âm hộ của phụ nữ The Enormous Womb(Tử Cung Vĩ Đại,)”Thâm Cung Đại Môn”.Henry Miller lý luận:Chính Thâm Cung Đại Môn là nơi phát nguồn của sự sống và không một sinh vật nào không đi ra từ cõi ấy; đó là tử cung,nơi bắt nguồn của người mẹ, đó là vật thể mà chúng ta cần phải nhận biết,tử cung là nguyên nhân lớn lao đưa tới sự khốn khổ.Tuy nhiên những ý tưởng về tử cung vẫn được gói ghém và có lẽ sẽ không bao giờ mất đi bởi hai tình trạng bất tri thức ấy,nghĩa là con người thoát ra khỏi sự đau đớn và đấu tranh. Đó là ân phúc Thượng đế ban phát.Có phải đó là sự vô thức?.Henry Miller cho rằng sự vô thức ít hơn là ý thức.Con người sống trong một trạng thái thức tỉnh mãnh liệt hơn và không còn nỗi sợ hãi vây quanh và từ đó nẫy sinh ra vấn đề sinh tồn hơn là dục thể.

Đó là sự khôn ngoan của lương tâm là lối thoát khả dĩ duy nhất, thoát ra từ tử cung và dĩ nhiên là lý do tại sao quan niệm về Thượng đế ăn sâu trong ý thức nhân loại.Trong tập The Wisdom Of The Heart.Miller lý luận rằng; giữa Thượng đế,các thánh thần xưa nay và con người  quay quanh một tại thể tự tại giữa sinh tồn sống và chết. Đó là cái nhìn khách quan của Henry Miller;chỉ cho thấy sự vật chứ không cho thấy con người.Cái nhìn duy tâm,lối về của chủ thể hữu ngã mà phải vượt qua hai cái nhìn đó là “sự sinh” và “tái sinh”,chính là quan niệm thân xác chủ thể (body subject).

Còn hai cuốn Kinh Tuyến Bắc Giải và Kinh Tuyến Dương Nam là sự gắn bó một dục tính nguyên sơ từ trong đó,từ chủ thể đến khách thể.Henry Miller mượn nhân vật để nói lên mình,nói lên hoàn cảnh thực tại mà con người phải đương đầu để sống với ý thức tự có của nó.

Cuốn  Under The Roofs Of Paris/Sous Le Toits De Paris(Dưới Những Mái Nhà Ba Lê) Được xuất bản ở Mỹ 1941. Đây là một tập truyện gồm có 6 truyện ngắn,Hầu hết được tác giả viết như một tiểu thuyết khiêu dâm(erotic novel)kể lại những tháng ngày sống ở Pháp;lời văn giản dị,có vẻ đơn sơ nhưng hàm chứa vô cùng,có tính ẩn dụ(metaphorical)tuy mô tả sự kích dục nhưng vẫn chứa đựng một thứ tiểu-thuyết-triết-học.Trong 6 truyện Miller viết ở đây nói hụych toẹt cái lối chơi bời của người Pháp cũng như cá nhân ông,lối sống đó đôi phần thích hợp với tâm hồn ông.Miller không thể quên những xáo trộn vô cùng khi đến Paris,tưởng là nơi để Miller hoàn thành chức  năng của mình nào ngờ Paris lôi ông vào vực thẳm của khốn cùng,nhiều lúc Miller muốn bỏ cuộc chơi để trở về nhưng những tư tưởng lớn ở Paris thời ấy níu chân ông lại hay dục vọng níu ông lại…Tuy nhiên;suốt những tháng ngày buông thả có một cái gì âm thầm vắng lặng trong tâm hồn ông,Miller đứng dậy đuổi theo ảo vọng,yêu điên cuồng  bởi một sự tư do qúa trớn đến với Henry rồi lang thang lùng kiếm cái mảnh tròn trăng của người tình hay những gái làng chơi.Miller chối bỏ cái thẩm mỹ ở phụ nữ,bất cứ dưới dạng thức nào có thể trao đổi được, ông cần thứ hạnh phúc thịt da và ân cần dính liền với nhau như sự kiều diễm của Anais Nin,chịu phụng sự cho nhau dù giữa cuộc đời khốn nạn như Henry Miller đã gặp,chỉ đòi hỏi một tinh thần cao cả vị tha,như ông đã vị tha với tình nhân,bạn bè. Đó là thời kỳ khô cạn,thời kỳ chết dập,thời kỳ của bội phản.Muốn “tái sinh” linh hồn lẫn thể xác,Miller đi tìm ơn sủng,sống quên mình,quên luôn cả tổ quốc lơ lửng. Đó là sự vi nhiễu nơi cực tính của Henry Miller, ông không còn thiên kiến trong tha thể hay chủ thể.Hiện hữu kết hợp sự hỗn thể đó.Tâm tư giao động Miller quên luôn bản ngã của mình trà trộn vào cõi vô minh…

“I smack her bare ass…God! It a treat to be able to do that …I grab her bubs and lick them.Even if she has to be held while I do it.I CAN DO ANY FUCKING THING I WANT ! I strech her conillon,let my prick head in to her womb…” Tôi vỗ về nàng hôn hít lên thân nàng.Trời ơi! chiêu đãi nàng như thế chăng?Tôi vồ vập đôi trái hồng đào,nàng nâng cho tôi nhắm mút trái ngọt.Vậy thì TÔI CÓ THỂ “Đ…” BẤT CỨ KIỂU GÌ TÔI MUỐN!Tôi căng nàng ra ba góc nhọn và từ từ đẩy “nó” vào động-thần-thất thế thôi!

Henry Miller luôn luôn tha thiết với phụ nữ từ mọi phương trời,với Miller là tình yêu và dục tính,Henry nếm đủ mùi vị của thế gian ban phát,người tình cuối cùng cũng là người vợ thứ 5 của ông là kỷ nữ Nhật Hoki Tokuda tình yêu của Henry thể hiện rộng rãi như thế đó.”please; don’t tell me she not worth fucking”

nàng không xứng để tôi chơi.Xin đừng nói thế.Cho dù dưới hình thức nào,Miller vẫn tỏ một tình người đáng kể,nó vừa bao dung vừa rộng lượng;bởi Miller thấm nhuần với lẽ sống từ vật chất đến tinh thần,giờ đây hột gạo rơi cũng là đáng qúi.Một biểu tượng rõ rệt trong văn chương của Henry Miller dù có đòi hỏi chăng nữa,cái đòi hỏi đó thuộc tri-giác-tính sau đó mới đòi hỏi lực-tính,nếu không có hai mảng đó thì chắc chắn Miller sẽ mất đi tri thức và hữu thức khi đến gần với tình yêu và chính sự hòa nhập giữa tha thể và hữu thể,Miller không cảm thấy mệt, mà vẫn còn yêu và còn”làm tình” cho tới khi chết trong tay phụ nữ.Henry Miller nhắm mắt trong cái thỏa mộng giang hồ đó…

“let it be abnormal;then I fuck her this way because I like it and she like it too.Just to make certain.I put my dong out.She look around and reachs for immediately.Please!that all she says,and it’s enough to tell me what I want to know…Please;put it back!I was lying,I like to have it done to me…”

Khác thường một cái chơi!Tôi “đ..” kiểu đó vì tôi thích như thế,thế mà nàng cũng thích như tôi(cái lạ thường hấp dẫn hơn cái cũ)Tôi rút đoản-côn ra và nàng nhìn theo,nàng đưa tay đụng thử xem nào.Nàng tha thiết lắm!Tôi nằm lên nàng,  tôi thích chơi kiểu đó cho mãi khi xong…Đó là thời tột cùng của Henry Miller.

Đời của Henry Miller là một cuộc đời tao loạn, ông gởi gắm đời mình trong những tác phẩm đó.Miller không dối lòng,sống thực cho mình, sống thực cho đời và cam chịu số phận đã an bài.Nhờ vào đó ông viết không ngừng nghỉ, ông viết lên cái tệ đoan xã hội như ông đã sống.kể cả những sự sống của ông đều phản ảnh trong những tác phẩm như sau:

Black Spring 1936(Mùa Xuân Đen)The Cosmological Eye 1939(Con Mắt Vũ Trụ)The Clossus Of Maroussi 1941(Tượng Thần Vĩ Đại Ở Maroussi)The Time Of The Assassins 1946(Một thời Của Những Thích Khách)The Air-Condition Nightmare 1945(Đêm Ác Mộng Phòng Lạnh) Đặc biệt cuốn Rosy Crucifixxion 1949(Đóng Đinh Thập Tự Giá Hồng) đó là tập truyện được chia ra tam-đoạn-luận:Sexsus(Dâm dục)Plexus(Cơ mạch)và Nexus(Giây cảm hứng).

Đó là những tác phẩm ưa ý nhất của Henry Miller và quan trọng trong loạt tác phẩm của ông để lại trong tủ sách văn chương dung tục của Mỹ. Âm thanh và tư tưởng đó vang vọng trong những trang sách ông viết.Viết thực của sự “giấu giếm” đời người,tuy phi đạo đức nhưng rất phi thực.Cứ xem như tiếng nói của người kể chuyện cho mình nghe; về chuyện tình bỉ ổi,chuyện vui buồn và chuyện khôn ngoan của lòng can đảm.Nhưng với Henry Miller vẫn xem đời là một con số không to tướng, siêu lý ở chỗ đó! Miller nói: “a zero…a cipher…a nullity” một con số không…một thứ vô nghĩa …một mất mát không đáng kể.

***

1964 Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định trả lại bản quyền cho Miller, tiểu thuyết của ông viết không còn mang tính dâm đãng nữa “not obscene”mà nó trở thành một triết-lý-tiểu-thuyết.Và Miller thấy được một Henry Miller hiện hữu trên cõi đời này.Dù đã qua mấy thập niên,tư tưởng và văn chương của Henry Miller vẫn còn là thời thượng của ngày hôm nay.

Cuối đời đâu còn ai,chỉ còn lại những người ái mộ trẻ,những bạn bè hiểu ông. Ông âm thầm sống trong căn phòng chật hẹp để vẽ lại đời mình trên cây cọ màu nước cho đến mãn đời ở Big-Sur,CA.USA ./.

VÕ CÔNG LIÊM  ( holloween bamươimốt mười khôngchín)

(1)     “cái xấu có thể được coi là cái đẹp,cái gì đẹp không bao giờ” Paul Gauguin(1848-1903)

(*) Henry Miller; sanh 26/12/1891 ở Brooklyn,New York USA.chết 6/1980 ở Big-Sur California

USA. Hai tác phẩm đáng kể nhất của ông: Tropic Of Cancer.Tựa của Anais Nin.xb ở Mỹ 1961.

Tropic Of Capricorn.xb ở Mỹ 1961.Ngoài ra có những tác phẩm giá trị khác.

SÁCH THAM KHẢO:

–          Tropic Of  Cancer

–          Tropic Of Capricorn

–          Sous Les Toits De Paris(Bảng Anh ngữ và Pháp ngữ).

–          The Wisdom Of The Heart

–          Book Of Friends

TƯ LIỆU:

–          DVD Movie: Henry&June

(Đ/diễn:Philip Kaufman.T/tử:Fred Ward và UmaThurman.21 Century Fox USA.1990)

Advertisements

Posted in Văn thơ bầu bạn | Leave a Comment »

TRỊNH CÔNG SƠN, MƯỜI NĂM QUÁ VÃNG

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 2, 2011

TRỊNH CÔNG SƠN

MƯỜI NĂM QUÁ VÃNG

 

Sau cái chết của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn* người ta viết nhiều về ông dưới mọi lý lẽ.Viết từ mười năm nay;có những nhạc sĩ nổi tiếng như Văn Cao,Phạm Duy cũng như những nhà văn,nhà thơ,họa sĩ…các tạp chí diễn đàn đều có những nhận định về ông.Họ viết như tiếc nuối cho chính mình,cho tiếc thương một thời danh,cho một thần tượng đã nằm xuống.

Viết như góp mặt,dự phần,nhân chứng cho một trào lưu “trend” mà giờ đây đi vào cõi không.Tuy nhiên sự xuất hiện kỳ diệu nầy từ bước khởi đầu cho tới ngày nằm xuống của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là một hiện tượng,một hiện tượng lạ cho nền tân nhạc cận đại của Việt Nam vào cuối XX và đầu thế kỷ XXI.

Gần đây có một số người quá ngưởng mộ tài danh đó,dẫu chưa một lần biết đến nhạc sĩ(chỉ nghe thôi)hay chưa được quen biết với nhạc sĩ,nhưng họ muốn viết,muốn nói để dựa lưng hay đạp đuôi vào cái sáng giá thời thượng đó,họ rút tiả những kinh nghiệm vụn vặt về đời ông cũng như những ca khúc tuyệt tác để lại, vẽ lên cái hình ảnh đó như một hiện diện cùng thời,kiểu thức nầy đã làm sai lệch, ít nhiều điều hay, điều dở của một nhạc sĩ tài danh.Ca ngợi được,tỏ bày được nhưng những thứ đó chưa nói cạn cùng cái chiều sâu tâm hồn của nhạc sĩ mà ngược lại họ viết; đọc riết như chuyện kể,tự sự,như thiết tha,như”triết lý”nhân sinh,họ muốn đứng cùng với đám đông cổ võ cho một huyền thoại “legend” mà thực chất đánh mất huyền thoại có thực của nhạc sĩ tiếng tăm nầy.

Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đi theo vận nước,tất cả những dữ kiện xẩy ra giữa bản thân,gia đình,bè bạn và xã hội được gắn liền trong âm nhạc của ông,mỗi bài ca là một nỗi lòng chan chứa và thầm kín;từ những năm đầu dấn thân vào đời cho tới những ngày “cúi xuống” để rồi nhạc đi theo đời, đời đi theo nhạc, âu đó là nét đặc thù trong âm nhạc Trịnh Công Sơn mà ít ai làm nên lịch sử như vậy.Chúng ta cần phải khám phá cái đặc trưng đó!

 

Thực như thế;bởi ông đã vận dụng tài tình một thứ ngôn ngữ trong âm nhạc, vừa thơ vừa nhạc đưa tiếng nhạc đó vào cõi mộng của con người,mộng ở đây là động lực cho ý-thức-tỉnh mạnh để sáng tạo nghệ thuật tức nghệ thuật âm nhạc ,trong đó ý thức,thức tỉnh để mơ-về(rêver/dreaming)quê nhà,nơi ấp ủ bao mộng lành giữa gia đình và xã hội;nhưng rồi cõi mơ-về của nhạc sĩ Trinh Công Sơn trở thành hư vô, cuối cùng an nghĩ một nơi xa quê mình,nhưng ông để lại tình người trong mọi lứa tuổi,trong mọi hoàn cảnh mà nhạc sĩ đã một lần dấn thân.Từ đó trở nên bất hủ qua mọi thế hệ cũng như sẽ vượt-thời-gian qua mọi thời đại nối tiếp;rất hiếm có một nhạc sĩ nào được đề cập qua mấy thập niên và lưu danh như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.Nhạc ông luôn luôn có mặt trong những buổi trình diễn và bây giờ ông đã nằm xuống nhưng vẫn còn dàn dựng “live show”cho một Trịnh Công Sơn ở một vài nơi trong và ngoài nước để tưởng nhớ sự hối tiếc nhạc Trịnh đã vang-bóng-một-thời trong tâm tưởng.

Âm nhạc và tên tuổi Trịnh Công Sơn đã đi vào văn học sử Việt Nam;có những con đường được mang tên như đại diện bộ môn âm nhạc nước nhà.Một thần-thánh-âm-nhạc;khó mà làm nên,cái đó là thời được mệnh danh “icon”.Rất xứng đáng được lên ngôi vị nầy.Thật kiêu hảnh thay!

Cho dù viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dưới dạng thức nào: phê bình,ngợi ca hay chụp mủ,khai trừ…nhưng giờ đây thì lại khác,có lẽ;trong cái im lặng hố thẳm đó đã làm cho người ta thức tỉnh,những kẻ chống hay khen nay qui về một mối để cảm thông ,hợp giao qua tiếng nhạc mà tiếng nhạc đó tợ như có mình trong đó chứ không còn riêng cho nhạc sĩ.Tại sao thế?Vì ca từ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn đã trả lời hết những gì xốc xới,hung hản ,những gì trước đây thắc mắc,ngờ vực, nhờ vào lý do tâm lý nội tại,khai mở mà vượt qua mọi lằn biên của ý thức hệ; giữa cũ và mới,giữa bảo thủ và cấp tiến.Từ đó âm nhạc Trịnh Công Sơn trong suốt hẳn ra, không còn nghi ngại như một độc dược tố làm mê ngủ hay biệt kích văn nghệ như đã một thời tung hô,sát phạt.Nhưng trong quá khứ cũng như những ngày cuối đời Trịnh Công Sơn, ông chỉ biết im lặng và nhìn xuống cái tàn cơn đó.Ngày nay thế sự đã đổi thay,giới văn nghệ cũng như giới hâm mộ ông đã rầm rộ tổ chức truy điệu,hò hát nhạc họ Trịnh và  dựng nên một trường-phái-đặc-tên cho nhạc của ông cũng như cho chính ông. Điều đó có thật sự suy tôn thần tượng  mình yêu hay là suy tôn “cơ-hội-chủ-nghĩa” để trục lợi mưu sinh.Vô hình chung làm lạc đề một huyền thoại có thực.

 

Ngôn ngữ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội;mặc dù ca từ của Trịnh Công Sơn mang nặng tính chất trừu tượng,hiện sinh,

hoặc đôi khi đầy tính xúc cảm ,tất cả được tác giả diễn tả qua ca từ.Với giới văn chương họ tìm thấy trong nhạc của Trịnh Công Sơn đượm nét thi ca,nếu được dàn trải một ca khúc nào đó ta vẫn tìm thấy toàn thể bài thơ;bởi ông cũng là một nhà thơ,một hoạ sĩ cho nên khi soạn một ca khúc thì mạch thơ trong người ông tuôn trào. Đại để ca khúc “Cát Bụi” và “Diễm Xưa” ta bắt gặp những từ ông dùng:” Ôi cát bụi mệt nhoài” và “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ” đó là thể thơ siêu thực đầy ấn tượng.Chính nhờ những nhạc từ đó làm cho người nghe cũng như người hát không còn xa lạ với chữ nghĩa,mà biến thành dịu êm, quen thuộc,nghe riết cho ta cảm giác của ca dao và rồi mọi giới ngâm nga như chớp được một bài ca vừa ý.Trịnh Công Sơn rất ít nhạc phổ thơ, ông vốn giàu ngôn ngữ cho nên không thiếu chất liệu đó; ngoại trừ một tình cảm nào đó hoặc phải lòng ray rứt mới phổ thành nhạc.Nhạc từ ông thường dùng là thi tứ:quạnh hiu,lênh đênh,hoang phế,sỏi đá,ngậm ngùi,tiền kiếp,kiếp nào…Trở lại một vài ca khúc Trịnh Công Sơn.Trải ra thành một bài thơ hay.Tuyệt hay!cho thể loại thơ mới,thơ không vần hay tân hình thức.Thử xem; Diễm Xưa:

“Mưa vẫn mưa bay

Trên tầng tháp cổ

Dài tay

Em

Mấy thuở

Mắt

Xanh xao”…

Chỉ lấy một câu nào đó trong nhạc Trịnh Công Sơn,thả ra thành thơ thất ngôn một cách tuyệt đối:

“Em đi biền biệt muôn trùng quá”

Trịnh Công Sơn sắp xếp lời nhạc thành câu thơ lục bát dể dàng, nghe không có chi là chật hẹp cả mà tợ như lời đối thoại, nhưng trình diễn thì nó biến thể thành một ca từ rất kiêu sa và lãng mạn.Cái đó mới tài tình cách dùng ngôn ngữ trong nhạc Trịnh Công Sơn. Đọc thử 2 câu thơ nầy, để rồi cảm nhận sự sâu sắc đó:

“Tôi nay ở trọ trần gian

Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời”

Một số nhà thơ chuyên nghề xử dụng thể thơ lục bát,thiết tưởng cũng khó mà nặn cho ra một câu thơ bình dị,giản đơn và trung thực như thế.Rồi trải ca khúc “Nguyệt ca” ra để thấy trọn vẹn một bài thơ tân-hình-thức hay bài thơ không-vần với 30 câu dài đằng đẳng được chia ra làm ba khổ.Thử lấy một vài câu tượng trưng để thấy được cái vũ trụ nhạc thơ của Trịnh Công Sơn:

Từ khi trăng là nguyệt đèn thắp sáng trong tôi

Từ khi trăng là nguyệt em mang tim bối rố

Từ khi trăng là nguyệt tôi như từng cánh diều vui

Từ khi em là nguyệt trong tôi có những mặt trời

Đàn chim non lần hạt cho câu kinh bước tới

Buồn vui kia là một như quên trong nỗi nhớ

Rằng em thôi là nguyệt tôi như đứa bé dại khờ

Vườn năm xưa em đã đến nay trăng quá vô vi

Không biết những nhà thơ THTcó thừa nhận đó là THT đúng cách hay không ?

Thì việc làm thơ,soạn nhạc đối vớ Trịnh Công Sơn đâu phải là điều khó khăn. Ông vốn là thiên tài về nhạc,thi,họa.Quả không ngoa!

Ở trên; ta chỉ nói nhạc và thơ quyện vào nhau,chớ chưa lý giải,vì ý nhạc là ý tình nó muôn màu và bao la diệu vợi cho một tâm hồn của người nghệ sĩ.Trịnh Công Sơn nằm trong mọi lãnh vực nghệ thuật nếu được phân tích…

Nói chung nhạc Trịnh Công Sơn tưởng là siêu hình,trừu tượng nhưng hoà vào nhau thì nhạc từ nghe giản đơn,không rườm rà,hay yểu điệu thục nữ như hầu hết các nhạc sĩ khác đã dùng.Vì vậy trở nên định kiến giữa nhạc thành thị và nhạc nông thôn-cũng có nhiều loại nhạc “sến vườn”làm đảo lộn tính nhạc-.Nhạc Trịnh Công Sơn được mọi giới yêu chuộng và phổ thông hoá mà đến khi nghe trình diễn nó trở nên“qúi phái”và thời trang hơn những thời trang khác. Đó là cái siêu lý trong nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn.Sở dĩ như vậy vì ông xử dụng hầu hết nhạc điệu buồn,chậm rãi và trầm ngâm của cung bậc 2/4 hoặc 3/4;tất cả được thiết kế trong những “gam” của La thứ và La trưởng cho nên làm cho người nghe cũng như người chơi nhạc(nhạc công) đều cảm thấy dể dàng cuốn hút. Đó là những thể “gam” dể không làm cho bài ca trở nên khó.

 

Trịnh Công Sơn lớn lên giữa giao tranh xã hội,từ cuộc nội chiến phân ly,từ những đảo lộn của bè phái,từ những quặn đau ruột thịt đồng bào. Điều ấy không thể vô tư trước thời cuộc,ngoảnh cổ làm ngơ hay a tòng trục lợi.Trịnh Công Sơn không thể xa lánh trần tục để trốn trách nhiệm của kẻ sĩ,có hai hình thức để góp phần;nghĩa là không cầm súng thì cầm bút.Cái việc cầm bút hay cầm cọ còn nguy hiểm bội phần.Nhưng đời có hay chăng?Cứ một mặt lên án vì không làm thỏa mãn nhu cầu.Trịnh Công Sơn hứng chịu và đối đầu giữa tình huống hỗn mang đầy chất vị kỷ, đứng trước những biến động đổi thay,biến những giới văn nghệ sĩ cũng như Trịnh Công Sơn thành những con dê tế thần chờ đợi,những con dê vô tội hiền lành chỉ một lòng dâng hiến nghệ thuật,dâng hiến cho đời.Mà đời đâu có hay!Thấy mà đau thương cho họ;không những Trịnh Công Sơn mà cho tất cả bằng hữu của ông,ở cùng một hoàn cảnh và cùng một kỷ nguyên(era). Đó là lý do Trịnh Công Sơn làm thành nhạc,như che phận mình dưới ánh mặt trời,che để ươm mật cho những nhạc khúc đầy tình người-đâu cần phải có Thiền ca,Tục ca, Đạo ca…-Trịnh Công Sơn đã gom hết vào nhạc qua từng thời kỳ,từng thời đại.Tất cả là bài ca chung(tổng thể)”canto general/general song/general de chanson”.Vì vậy nhạc Trịnh Công Sơn đi vào lòng người dể dàng hơn bao giờ;mười năm,hai muơi năm hoặc xa hơn nữa tiếng nhạc đó “sound of music” vẫn còn vang vọng bên tai hay bên đời quạnh hiu…

 

Hầu hết những người phê bình hay nhận định về nhạc Trịnh Công Sơn đều cho rằng nhạc của ông đượm tình yêu nhiều hơn cả và hình như tình yêu ám ảnh  đời ông(?)cho nên tình yêu vây quanh trong nhạc của ông.Không tìm thấy trong nhạc Trịnh Công Sơn có âm hưởng của bung phá,bức tức của hờn ghen hay than thở của oán hận, dưới bất cứ hình thức nào ,tất cả được tập trung trong chủ đề của tình yêu.Chữ tình trong nhạc ông là sự cảm thông,trìu mến và đầy tình người mà đôi khi ông nhìn ông như thân phận,thân phận chung mà mỗi chúng ta phải gánh chịu với bao thử thách.Ta thường nghe những tình khúc ông viết với từ ngữ Em nhiều hơn từ ngữ Anh.Gọi Anh; ông dùng ngôi thứ nhất TA đề thay thế cái tôi của mình,không phải Trịnh Công Sơn tránh né, ông không tỏ cái tôi(le moi/self)một cách trực diện,dù rằng cái tôi là chủ thể;bởi chữ Tôi như sự có mặt,như một nhu cầu đòi hỏi giữ lúc đường tình của Trịnh Công Sơn chưa tới nơi,do đó chữ TA như hình dung từ cuả TÔI,mặc dù giữa ta và tôi là một nhưng nó nằm trong dạng “ẩn sĩ”nhu mì.Cái tình đó Trịnh Công Sơn soạn thành lời ca từ thuở bắt đầu 1950 cho tới thập niên 90, ông hát lên cho người tình nghe, ông ru cho người tình ngủ, ông trải lá cho người tình nằm, ông vỗ về cho người tình tựa vai,những cuộc tình hò hẹn trăng sao,sóng nước…tình yêu trở thành hiện hữu của con tim,trở thành bi đát cho thân phận,một thân phận ruồng rẫy bỏ đi để Trịnh Công Sơn cô độc và mơ-về cái tiền kiếp của mình,Trịnh Công Sơn là một người đa tình, ông đến đâu hay giao lưu với ai chữ tình hiện ra trong tâm não ông; đó là nỗi chết không rời.Cuối cùng ông chôn kín để về với tư duy.Trịnh Công Sơn nặng gánh gia đình cũng như nặng với đời.song le những điều đó không làm cho Trịnh Công Sơn buông xuôi,quên lãng.Trịnh Công Sơn nhìn đời là cả một sự phản đề giữa triết thuyết nhân sinh.Những tháng năm sau nầy Trịnh Công Sơn không ẩn mình trong nhạc của mình, ông kêu gào sự thống khổ, ông kêu ông “đừng tuyệt vọng tôi ơi xin đừng tuyệt vọng…”đó là tiếng nói ta thán cho tự tại.Trịnh Công Sơn biết phận mình.Những ngày trên giường bịnh chính là những ngày ông tha thiết sống,là những ngày ông cần có EM,cần có “tình yêu” để ông được phục sinh trước cõi đi về.Trịnh Công Sơn ngất trong hơi thở như “ngàn năm,ngàn năm ru em muộn phiền”bởi vì EM trong cái tình của Trịnh Công Sơn là thương mong hơn là thương nhớ”vai em gầy guộc nhỏ,trên vai gầy” hay còn phải giao du với đời “tóc em trôi dài trôi mãi…ngàn năm” đó là điều cho ta thấy tình yêu trong ông,luôn luôn là cần thiết:

“Từng nỗi nhớ,trùng trùng nỗi nhớ”

“Mong em qua bao nhiêu chiều,vòng tay đã xanh xao nhiều”

Trịnh Công Sơn đã công khai bộc bạch cái chân tình đó bằng sự cảm thông giữa hai người:”Em là tôi và tôi cũng là em” Tha thiết vô cùng!

Không phải nhất thiết nhạc của Trịnh Công Sơn xoáy quanh với tình yêu mà quên về thân phận làm người, ông nhìn thấu suốt cõi nhân sinh;Trịnh Công Sơn tin vào “thiên điạ nhân” đó là yếu tố chính đưa đến một tư tưởng duy tâm của ba giáo phái có mặt từ lâu trên đất nước Việt Nam(Phật,KhổngLão và Ky Tô)Trịnh Công Sơn tìm thấy họ nhưng rồi rơi vào tuyệt vọng dưới sự vô biên ,vô tư của thượng đế đã quên loài người:”Chuá đã bỏ loài người,Phật đã bỏ loài người”cái lòng tin đó đã làm cho Trịnh Công Sơn”mỏi dần” để rồi quay về với “hư vô” của vô vi huyền nhiệm!

 

Nói tóm lại ;nhạc Trịnh Công Sơn là thơ để biến thành “nhạc-thơ”.Rõ ràng như thế;bởi mỗi giòng nhạc là mỗi giòng thơ đan kết vào nhau dù dưới chủ đề nào, nhạc thơ của ông luôn luôn hiện diện trực tiếp để biến thành ca-dao-ca cho mọi tầng lớp trong quần chúng,và trở nên thân quen,nhạc ông nó nằm trong nhiều góc độ khác nhau giữa một thính đường hay những nơi công cọng đều hoà vào nhau giữa nhạc và người,giữa người và nhạc. Đó là lý giải cho một triết lý âm nhạc có mặt cho hôm nay,xuyên thủng những tị hiềm mà giờ đây nó tự hủy để cất lên lời ca của tình yêu”người nằm xuống”nhưng dư âm đó vẫn còn đây.Một hoài niệm muôn đời đến với thiên tài nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.Vô vàn xót xa!

 

VÕ CÔNG LIÊM ( viết xong 30/3/2011)

*Trịnh Công Sơn. Sanh: 1939.Mất :2001.Tại Tp HCM /VN.

(Kỷ niệm ngày giỗ thứ 10 của nhạc sĩ TCS ( 1/4/2001-1/4/2011)

 

Posted in Văn thơ bầu bạn | Leave a Comment »

BỖNG NHỚ THANH TÂM TUYỀN

Posted by phanxuansinh trên Tháng Ba 22, 2011

Thanh Tâm Tuyền là một thi sĩ lớn, ông mất 22/3/2006. Để tưởng nhớ tới ông, nhà thơ Võ Công Liêm có bài thơ Bỗng Nhớ Thanh Tâm Tuyền làm (22/3/2010). Năm nay kỹ niệm 5 năm ngày mất của ông, chúng tôi xin giới thiệu bài thơ của Võ Công Liêm làm cách đây 1 năm.
PXSinh

BỖNG NHỚ THANH TÂM TUYỀN
tặng anh:NXH
mưa dốc nghiêng bình rượu
xám cả một khung trời
anh mỉm cười khái niệm
cuối phố
giọt mưa hân hoan chảy
trên sân thượng cuộc đời nhá nhem tối
anh nuốt trọn chén lưu linh lên vai gầy nhân thế
con đường thường qua lại lắm lần
phạm ngũ lão!
phạm ngũ lão!
bản thảo chưa lên khuôn
nhưng lần nầy thấy lạ úa cả trời chân mây
tắt quạt trần đêm đen thay ngọn xanh ngọn đỏ
những thân hình gầy guộc sếu cò
gục điếu tàn trên tay
vàng hư vô
một cõi trời thênh thang lêu bêu căn gát gỗ nằm ôm qúa khứ mòn
đông về
cung đàn bỏ dở cơ hội reo dư âm màu hồng phiến diện tần cao
hình dung từ chất đống
ngọn lửa hấp hối tắt
ngoài tầm tay của biển
tôi cùng anh nhấp cạn
ngày mai sẽ không đến
sụt sùi giữa rừng hoang
bước đi buồn tâm niệm
một hoàng hôn bất ngờ

mời anh
trong lòng cô tịch chốn điêu tàn
tôi nghe tiếng ai về ?
“đạp trên lá vàng khô”
bằng hơi thở men say một trời nhân thế với câu ca
anh siêu thực một lần
và sống thật một đời dưới mộ phần rêu phủ xanh thơm
mặt trời mọc!
mặt trời mọc!
VÕ CÔNG LIÊM (kỷ niệm 4 năm mất TTT 3/2010)
“đạp trên lá vàng khô”thơ Lưu Trọng Lư

Posted in Văn thơ bầu bạn | Leave a Comment »

RU TÌNH RU ĐỜI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 23, 2010

ru tình ru đời

gởi Phan Xuân Sinh

khi tình đang ru đời
hay đời đang ru tình
giọt nắng đan từng sợi
chờ một sáng bình minh

người đi gieo thương nhớ
người về ai có hay
tình xưa đâu mấy thuở
một trời thương mây bay

đường quê qua mấy nẻo
đôi chim hót trên cành
lối xưa chia mấy nhánh
sao người mắt long lanh

một lần nghe em thở
hồn trai như dại khờ
có phải là thương nhớ
ru đời thơ tình thơ

trần công nghị

Posted in Văn thơ bầu bạn | Leave a Comment »

GỞI VỀ HOÀNG LỘC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Ba 26, 2010

GỞI VỀ HOÀNG LỘC

không ngại
một lời quê đã cũ
không ngại
một lời buồn
giữa phố người vui
anh trãi chiếu ra
mời các em vào tiệc

“tình vụng như rượu nồng
lỡ sặc
hồng nhan ơi
em có thương dùm”

yêu ai cứ bảo rằng yêu
như lời mẹ dặn
6 giờ sáng dậy
vừa ăn sáng
vừa làm thơ
chuẩn bị đi làm
không quên nhắn bạn tìm
bài thơ thất thổ

cứ sợ
mất đi nỗi buồn
quên đi nỗi nhớ
bao nhiêu năm
một khúc nguyệt cầm

gió rồi sẽ thổi tắt ngọn đèn
mà không có oxy
thì ngọn đèn cũng không cháy được
ngửa hai bàn tay tình ra phía trước
cứ muốn níu người
đi lại
đi qua

chẳng kể sông dài
núi cao
một đời thua thắng
kể chí mình với Quan Công
chẳng để mà buồn
chẳng hồ nghi chi chuyện con rồng
ấn tín trao người
đổi một nụ hoa vàng cuối phố

“tình vụng như rượu nồng
lỡ sặc
hồng nhan ơi
em có thương dùm”

này Cửu ca với lời trong đục
giư lặng yên cho cỏ nội hoa ngàn

thôi thì anh cứ đi
vội lên một chút
may ra còn gặp nàng
đẻ đừng tiếc
buổi chia tay ở cửa địa đàng
mình quên đánh dấu
nên cứ phải
nhìn bừa
nhận ẩu
ngươi đàn bà nào cũng cứ ngỡ là em

trần thiên thị

Posted in Văn thơ bầu bạn | Leave a Comment »

KÝ ỨC SƠ SÀI (9)

Posted by phanxuansinh trên Tháng Ba 10, 2010

KÝ ỨC SƠ SÀI ( bài 09)

của Nguyễn Anh Khiêm

Sau ngày…đứt phim, lớp Việt-Hán chúng tôi còn lại ở Sài Gòn không mấy mống. Năm 69 ra trường mỗi người đi một tỉnh. Từ đó tới nay có người chưa gặp lại. Nhớ ngày chọn nhiệm sở, ai cũng được xem trước danh sách các trường mình có quyền chọn. Tốt nghiệp đợt đầu trên 10 tên, tôi tuy cũng đậu đợt đầu nhưng kế áp chót nên trường gần nhất có thể nghĩ tới cũng phải cách Sài gòn trên hai trăm cây số. Thật công bình. Ba bốn năm trời cứ nhờ bạn bè ghi cours rồi trốn đi dạy trường tư kiếm tiền, chữ Hán chữ Nôm lộn tùng phèo, nay giã biệt trường tư buồn nẫu ruột, lại phải tính quãng cách Sài Gòn bằng đơn vị trăm cây số, chẳng còn mơ chuyện dạy thêm dạy bớt, cũng đáng đời, gieo chi gặt nấy, ăn trước nhịn sau. Cũng tự an ủi, thủ khoa, á khoa như Lê V Bảy, Lâm H Tài cũng phải đi tận Long An, Biên Hòa, ngày ngày cong lưng trên xe gắn máy…coi cũng không thọ mấy. Xem ra không ai uất ức điều gì. Nhiệm sở công bố minh bạch, ai đậu cao thì được microphone xướng danh lên chọn trước theo danh sách từ cao xuống thấp với sự chứng kiến của các quan chức cao cấp Bộ Giáo Dục, Viện Trưởng Viện Đại Học Sàigòn kiêm Khoa Trường Đại Học Sư Phạm, Giám đốc Nha Nhân Viên, Giám Đốc Nha Trung Học v.v… Sự Vụ Lệnh của mỗi Tốt nghiệp sinh được viết sẵn đầy đủ chi tiết cá nhân cần thiết với tư cách là Giáo sư Trung học Đệ nhị cấp đến tham dự lễ chọn nhiệm sở. Tất cả nhiệm sở có nhu cầu tiếp nhận giáo sư về dạy học được Bộ Giáo dục qua Nha Nhân viên và Nha Trung học gởi về trường trước ngày qui định khoảng 2 tháng để mỗi tốt nghiệp sinh có thời gian và cơ hội tìm hiểu nhiệm sở nơi mình sắp chọn. Thí dụ Ban X có 10 tốt nghiệp sinh ra trường thì danh sách dành cho Ban X có đến khoảng gấp đôi nhiệm sở được đề nghị để tạo sự thoải mái trong việc lựa chọn. Sau khi danh sách nhiệm sở được niêm yết, mọi người rủ nhau hợp lại để thảo luận, trao đổi ý kiến. Thủ khoa cho biết ý kiến trước và tuần tự từng người sau đó kế tiếp nhau lựa chọn, trao đổi, hoán đổi cho nhau theo mọi thỏa thuận riêng một cách công khai. Thường có từ 2 đến 3 nhiệm sở có cự ly cách Sài Gòn khoảng trên dưới 30km dành ưu tiên cho những tốt nghiệp sinh đậu hạng cao. Ngoài ra các nhiệm sở khác được phân bổ khắp các tỉnh thành, nhất là các tỉnh thành phía nam có trường trung học đệ nhị cấp. Trước khi dự lễ bổ nhiệm, các tốt nghiệp sinh đua nhau đi khảo sát trước một số nhiệm sở mình sắp nhắm tới, sau đó về trường cho các bạn biết quyết định mới của mình để cùng nhau điều chỉnh lại cho khớp. Do đó mỗi người phải dự phóng trước 2 hoặc 3 nhiệm sở để tùy cơ ứng biến. Sau đây là một thí dụ dẫn chứng: Huỳnh Mạnh định chọn một ngôi trường ở Bạc Liêu, rủ Quang, Tài và Giáo cùng đi đến nơi xem trước thực hư thế nào. Cả bốn đi Honda đến tận nơi vào thăm trường. Vào văn phòng trường, ông Hiệu trưởng người cao to, lực lưỡng, tên Hồ V Trai. Ông ta tự giới thiệu là giáo sư ban Vạn vật (Về sau lên thanh tra trung học, sau 75, chắc có hoạt động hay cơ sở CM nên được giữ chức vụ gì đó cũng kha khá tại sở giáo dục TP HCM). Sau khi xem trường và tiên liệu cho tương lai của mình, trên đường về, Mạnh tâm sự: “ tui thì nhỏ con, thấp bé, Hiệu trưởng người to đùng, thấy sợ quá. Cho kẹo cũng không dám sống chung với ông này.” Thế là Mạnh tiếp tục đi thăm dò vài trường khác trước ngày quyết định chính thức.

Địa điểm tổ chức lễ chọn nhiệm sở là trụ sở Viện Đại Học Sàigòn tại Hồ Con Rùa đường Duy Tân cũ, nay là Văn phòng 2 Bộ Giáo dục và tên đường được đổi là Phạm Ngọc Thạch. Danh sách gọi tên lên chọn nhiệm sở theo thứ tự các Ban bên Nhân văn chọn trước và bên Khoa học chọn sau. Bên nhân văn dẫn đầu là Ban Việt Hán, rồi đến Ban Sử Địa, Ban Anh văn, Ban Pháp Văn …, sau đó đến Ban Toán, ban Lý Hóa, Ban Vạn Vật… (Ghi chú: Trước 75 gọi tên là Ban, tương đương vói bây giờ gọi là Khoa. Thí dụ trước kia gọi Ban Anh Văn, sau 75 gọi Khoa Ngữ văn Anh, tương đương với thuật ngữ Department of English). Trong sân Viện Đại học Sàigòn, tốt nghiệp sinh được phân bổ mỗi Ban đứng một hàng. Ban có số tốt nghiệp nhiều nhất là vài chục, thậm chí như Ban Toán hay Ban Pháp Văn chỉ có 5 hoặc 7 sinh viên đạt yêu cầu tốt nghiệp. Tốt nghiệp sinh theo tuần tự được microphone gọi tên lên trước mặt Hội đồng phân bổ nhiệm sở và nói lên tên nhiệm sở mà mình quyết định chọn. Sau khi nghe tốt nghiệp sinh chọn xong, ông Chủ tịch Hội đồng yêu cầu cho người Thư ký Hội đồng viết tên nhiệm sở vào khoảng trống chừa sẵn của tờ Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm một cách công khai trước mặt mọi người. Hoàn tất công đoạn bổ nhiệm một vị Giáo sư Trung học Đệ Nhị Cấp, một công chức chánh ngạch hạng A, có bậc lương tương đương với Phó tỉnh trưởng phụ trách hành chính. Đại diện Bộ Giáo dục sẽ ký tên chứng nhận sự bổ nhiệm và đóng dấu vào Sự Vụ Lệnh này. Ngày chọn nhiệm sở và được nhận Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm cũng chính là ngày được nhập ngạch Giáo sư Trung học chính thức. Sự vụ Lệnh này sẽ được hợp thức hóa bởi một nghị định của chính phủ. Thời cụ Ngô Đình Diệm, nghị định bổ nhiệm thay thế Sự Vụ Lệnh do Bộ Trưởng Phủ Tổng thống ký, những chính phủ sau cụ Ngô do Bộ Trưởng Phủ Thủ tướng ký. Có một điều hết sức công bằng và hợp lý là hai người bạn cùng tốt nghiệp chung một ban, sau khi nhận được sự vụ lệnh, được quyền công khai xin Hội đồng cho phép chuyển đổi nhiệm sở. Ông Chủ tịch Hội đồng yêu cầu viên Thư ký Hội đồng, gạch ngang tên hai nhiệm sở cũ, viết tên hai nhiệm sở xin hoán đổi vào hai tờ Sự Vụ Lệnh của hai người cùng thỏa thuận xin phép hoán chuyển nhiệm sở, ký tên xác nhận và đóng dấu vào dòng chữ được điều chỉnh. Tất cả Hội đồng tôn trọng ý kiến đồng thuận của cả hai đương sự, không thắc mắc, không gây khó khăn cho người nào, vì lúc bấy giờ tất cả tốt nghiệp sinh Đại học Sư phạm đều là công chức chánh ngạch hạng A với chỉ số lương 470, cao hơn chỉ số của tốt nghiệp sinh Quốc gia hành chánh với chỉ số lương là 430, và cao hơn chỉ số lương của cả Bách khoa Phú Thọ.

Các giới chức Bộ Giáo Dục luôn công tâm, minh bạch trong hành xử, trong bao nhiêu năm trời chưa một lần bị điều tiếng xấu gì. Ra trường rồi thì cứ hai năm thăng trật một lần, vùng mất an ninh thì một năm rưỡi. Hiệu trưởng chịu trách nhiệm hoàn toàn về những chậm trễ hoặc sai sót về hồ sơ thăng trật của giáo sư. Từ Bộ Giáo dục, hồ sơ này phải chuyển sang Phủ Tổng Thống hoặc Phũ Thủ Tướng để ký nghị định thăng trật. Bộ Giáo dục chỉ được ký nghị định thăng trật cho giáo viên tiểu học và giáo sư trung học đệ nhất cấp.

Tôi được bổ nhiệm về Rạch giá một phần cũng do Đào Hiếu, bà chị anh lấy chồng công chức ở ngay phố chợ, sẵn sàng nhường tôi căn gác xếp – những năm đó không hiểu sao nhà cửa ở Rạch giá khó hết biết, hình như người ta chỉ xây nhà vừa đủ ở, không bao giờ kinh doanh cho thuê nhà thì phài. Chị làm dâu Rạch giá, cũng có chuyện cười ra nước mắt. Một hôm rửa rau xà lách, chị quen kiểu ăn ngoài Trung, cứ phứt nhỏ cộng rau ra chứ không để nguyên lá, bà mẹ chồng vốn là chủ đất giàu có hồi trước rất gay go, hỏi chị mày là người miệt ngoải sao không lấy chồng ở ngoải, lấy người…Việt Nam làm gì mà cái gì cũng khác. Nghe đâu chị có thưa lại là ảnh ra tận Bình Định cưới con chứ con có vào Rạch Giá kiếm ảnh đâu. Có vậy mà bà cụ cũng nói chị trả treo. Đúng là “ lấy chồng xa xứ bơ vơ một mình” cũng tội thân gái lắm thay.Thật ra tôi có thể chọn chỗ gần Saigon hơn, nhưng là trường quận hẻo lánh, thường ăn pháo kích hoặc trên đường từ Saigon đến trường, có bữa ngồi chao dao ven bờ cỏ đợi lính mở đường vừa bị đắp mô đêm trước, tương lai không có gì sáng sủa nên tôi đành nghe lời Đào huynh.

Số phận đưa đẩy làm sao, sau 75 tôi hằng năm chứng kiến cả mấy trăm giáo viên ra trường, cũng thi tốt nghiệp nghiêm túc, cũng treo bảng kết quả các thứ nhưng treo cho biết chơi chứ không có chuyện tự chọn lựa nhiệm sở, mọi sự đều do phòng tổ chức cán bộ quyết định. Tân giáo viên do vậy năm nào cũng chạy chọt tán loạn. Nhiều lần tôi nghe ông hiệu trưởng nói rằng quan điểm giai cấp không chấp nhận quyền chọn trường theo kết quả học tập, học giỏi cũng tốt nhưng để…tham khảo thôi. Tôi thật tình không hiểu tham khảo là gì và để làm gì và càng không hiểu quan điểm giai cấp trong trường hợp này là gì, coi bộ trừu tượng quá lắm. Có những điều mình thấy đơn giản, dễ hiểu theo lẽ công bằng bình thường nhưng thật ra lại bất công theo chuẩn mực mới, chắc tại mình kém trí năng, kém lý luận (theo lối ngang phè của ông Lénine) nên đâm ra cứ thắc mắc lấn cấn, bận lòng chuyện thiên hạ một cách vô duyên.

Chọn trường trại xong xuôi trong khuôn viên Viện Đại Học Sài Gòn, chiều đó không nhớ vì việc gì, chúng tôi kéo nhau vào trường tán dóc. Cả đám cười ngất đọc trên bảng treo dọc hành lang đông người qua lại, ai đó viết bằng phấn trắng rõ mồn một, chữ to đùng: “Người nào nhận sự vụ lệnh đi vùng mất an ninh nhớ ghé nhà Trần M Đức lấy giấy phép của MTGP”. Trần M Đức làm tỉnh cười mỉm chi nhưng coi bộ lo âu lung lắm, dòm dáo dác quanh sân trường, khều tôi nói nhỏ: “Ngài bôi lẹ giùm tui đi, cảnh sát chìm lềnh khênh, cha Tài chơi ác chớ không ai vô đây hết.” Đúng ra Lâm H Tài không ác nhưng cà rỡn bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào. Ấy vậy mà khoảng năm 67, 68 chắc do Trần M Đức hay Tô T Th thuyết phục hay xúi dại, anh bỗng dưng là Chủ tịch Ủy Ban Sinh viên ĐHSP chống đi quân trường hay chống đi quân sự học đường gì đó. Chính mắt tôi thấy Vũ Đ S Biển vịn thang cho anh treo câu khẩu hiệu dài thoòng căng ngang trong sân trường ĐHSP Saigon : “Cực lực phản đối quân sự học đường, từ ngày… sinh viên ĐHSP quyết tâm chỉ đến trường với thường phục”. Tôi khều nhẹ Tài hỏi nhỏ: “Hăng vậy?” Tài tĩnh bơ: “ Chơi trò này tao chủ yếu lo cho cái thân trốn lính của tao là chính, đấu tranh cái cóc khô gì. Tao cứ bị tụi nó gọi đi lính hoài nên phải la làng để tự cứu mình thôi. Đi lính lúc này là tan xương.” Đúng là Tàu lai bằng hai Tàu thiệt. Thấy phong trào chống quân sự học đường “lên” quá, Huỳnh Mạnh tưởng bở, đến báo với trường tư chỗ y dạy thêm trong dịp hè cứ xếp thời khóa biểu như bình thường để kiếm tí tiền bỏ túi cho sướng, xong rồi về trường hoan hỉ hỏi lại LH Tài một lần nữa cho chắc ăn: “Bộ khỏi đi quân sự học đường thiệt hả anh Tài?” Tài tròn xoe mắt: “Treo khẩu hiệu thì cứ treo, la làng thì cứ la, nhưng làm quá, chơi thiệt chống lại nó, nó cúp chuyện Quân sự học đường mà bắt đi Thủ đức luôn thì chết mẹ!” Nghe xong, ngay lập tức, Huỳnh Mạnh bỗng trở nên Huỳnh Yếu …xìu, hắn ta hoãng lên phóng xe chạy thục mạng về trường tư trả lại thời khóa biểu, từ chối giờ dạy.

Tôi hỏi Tài: “Tên nào viết khẩu hiệu mà chữ nghĩa bay bướm vậy?” Tài kể: “Nguyễn Thế Cường đó, tao đến nhà nó dụ nó đi uống cà phê, xong kè nó vào Đại học xá nhờ nó viết cho mấy chữ vì chữ viết của nó đẹp. Nó bảo bố tiên nhân, tao có dây dưa gì tới chuyện tranh đấu của bọn bay đâu mà bắt tao viết khẩu hiệu các thứ, tao được hoãn dịch mà, đâu cần đấu tranh làm cái chó gì. Thằng anh tao (đang làm ở Nha Động viên) nó mà biết chuyện, nó giết tao ngay. Nói vậy nhưng rồi cũng cặm cụi ngồi viết cho xong để làm vui lòng bạn bè.”

Phải công nhận những năm học sư phạm là quãng đời vui đáng nhớ nhất, học bổng ba tháng đủ mua xe Vélosolex (thứ xe gắn máy mà đèn xanh không chịu chạy, đèn đỏ không chịu dừng nhưng là mode lúc đó). Phần lớn đứa nào củng dạy giờ trường tư, tiền xu rủng rỉnh, chẳng muốn ra trường xa Sài Gòn. Gặp nhau đùa nghịch chòng ghẹo, có khi chọc cả các thầy nữa. Có một lần thầy Lê Xuân Khoa vắng mặt bất ngờ vì công vụ, cả lớp nhao nhao mừng rỡ được nghỉ học, đứng ngoài hành lang trên lầu tán gẫu. Người nào đó rủ đi ăn bún bò chỗ đường Nguyễn Huệ gần toà Đô chánh (thuở đó cả Saigon chỉ có vài tiệm bún bò Huế chứ không tràn hê bún bò Huế, mì Quảng, đè bẹp hủ tíu Nam kỳ thấy rõ như ngày nay), chị Trang, thủ quỹ lớp, mở hầu bao kiểm tra xong, ra lệnh: “Được rồi, đi thì đi”. Ngay lúc đó, Lâm H Tài thoáng thấy thầy Huỳnh Cư, giáo sư dạy ban Sử Địa xách cặp ra về ngang qua sân trường. Anh ta nhớ “thù” xưa, lúc thi tuyển vào ĐHSP, thầy Cư làm giám thị, gần hết giờ mà Lâm H Tài vẫn ra hiệu xin thêm giấy viết lia lịa, ông thầy bực mình quát: “Anh kia, nhanh lên, thi làm thầy dạy học chớ làm Tổng thống đâu mà viết dữ vậy! Hết giờ rồi, coi lại bài, nộp lẹ đi!” Tài mất hứng, quằm rằm, ghim chuyện này trong bụng. Xong cử nhơn Văn khoa, đã có chứng chỉ hành nghề giáo sư tư thục anh vẫn thi vào ĐHSP để…trốn lính chớ có định làm tổng thống tổng khâu (đầu bếp) gì đâu. Cả khối tên trong lớp cũng trong tình trạng đó: Ng V Hai có bằng Cử nhơn giáo khoa triết, Ng Đ Tiến, Ng V Quang, Lê B Nam cũng đậu cử nhơn, đang là giáo chức ngạch Quốc gia sư phạm cũng thi vào đây vì lý do lính tráng. Vẫn không quên mối hận xưa, Lâm H Tài bụm tay hét lớn xuống sân trường: “ Ông thầy đầu bạc” rồi mau lẹ thụp đầu xuống vọt nhanh ra cầu thang. Cả lớp bỗng tán loạn ngồi thụt xuống để lánh mặt, mấy chị chạy nhanh vào trốn trong phòng học, Trí quýnh quáng bò theo Tài trông chẳng ra sao. Thầy Cư từ dưới sân nhìn lên hành lang không một bóng người,có vẻ muốn quay vào tìm thủ phạm nhưng một thoáng ngập ngừng rồi quay trở lại nhà xe, mặt có sắc giận. Tình hình êm, cả lớp bu vào lên án Lâm H Tài…vô trách nhiệm, chơi mà để ai chịu thì chịu. Chán nhất là mấy chị không nói gì tới chuyện bún bò nữa. Bọn tôi khác xa tuổi trẻ thời nay ở chỗ hầu như không ai biết nhậu, thậm chí café cũng chỉ vài người, chỉ chuyên trị…soda chanh mà có lần Trần M Đức bảo dở nhất thế giới (ý anh soda ..khó uống hơn nước nấu chín bình thường chắc). Giải trí bằng cinéma, mua máy thu băng nghe nhạc cổ điển, cứ nửa tháng một lần chờ báo VĂN phát hành để đọc thơ Tô Thuỳ Yên, thật sự “đỉnh cao muôn trượng” của thi ca VN hiện đại; đọc “Ung thư” của Thanh Tâm Tuyền, thưởng thức một thứ văn xuôi Việt ngữ tân kỳ, đột phá, độc đáo không cùng. Chúa nhật hay kéo nhau ra vùng quê đi picnic, thích nhất là đi chơi vườn trái cây Lái Thiêu lúc bấy giờ còn xanh mịt ngút ngàn. Con đường nhựa nho nhỏ từ thị trấn Lái thiêu đi Búng vắng tanh, lọc cọc mấy chiếc xe bò chở củi và nông sản lăn chầm chậm theo nhịp đời thong thả. Hai bên đường trải rộng những vườn cây yên ả, thấp thoáng bên giếng nước những thiếu nữ rửa rau, vo gạo cạnh gốc khế cổ thụ đung đưa quả xanh quả đỏ. Nhan nhản trên bờ đầm nước trong veo, cong cong theo đường nhựa, nở rạng rỡ những chùm hoa trắng lớn cánh la đà trên mặt nước. Bên kia sông mới thật sự xanh rì vườn cây trái sum sê, nhiều nhất là măng cụt và dâu dây, cây trên trăm tuổi vẫn xanh mướt um tùm, thân gốc đầy những khối u quái dị. Trời chưa tắt nắng vườn đã líu lo tiếng chim chào mào gọi chiều về, chẳng mấy chốc lặng chìm trong âm u tịch mịch, nhàn nhã lạ thường. Tô Thùy Yên hẳn đã viết về xứ này trong mấy câu thơ tình lừng lẫy:

Ve kêu như biển lâng lâng dậy

Xô giạt hồn anh mộng chập chờn

Ngủ chín giấc chiều trên xác lá

Tàn măng âu yếm đắp thân đơn

…………………………………

Cây cỗi càng sưng vết chặt lồi

Chờ nhau cho đáng kiếp chờ thôi

Tuổi già gom lại bao thương tưởng

Như cuối vườn chiều mót củi rơi.

(Vườn hạ-Thơ tuyển)

Và đẹp biết bao hình ảnh:

Mùa hè, em bới tóc lên cao,

Môi ửng son và má chớm đào

Ngày nghỉ về vườn thăm họ ngoại,

Lòng như con sáo trong ca dao.

…………………………………..

Em mặc bà ba ra bến nước,

Đưa tay khỏa nhẹ nhớ thương nào,

Đến nay, lòng ấy còn xao gợn…

Mùa trái cây nào hái tặng nhau.

(Mùa hạn- Thơ tuyển)

Không biết vì mê cảnh vật đó từ thời thanh xuân hay sao mà đến lúc về hưu, Lê V Bảy mua cuộc đất bên bờ sông lập vườn trồng hoa lan để bán. May cho anh hoa lan chỉ hút dưỡng chất trong gió và sương, không lệ thuộc gì đất và nước nên mảnh vườn đó vẫn còn tồn tại. Tôi ghé thăm anh , chẳng còn thấy hoa trắng đung đưa bên dòng nước, mùi tanh tanh phảng phất khắp mặt đầm đục lềnh bập bềnh rác rưởi, sầu riêng xác xơ ủ rũ, măng cụt còn lá nhưng không trái, chỉ vài cây mận dễ tính trổ bông trắng loe hoe. Con đường nhỏ năm xưa nay là đại lộ phẳng lì, nơi đua tốc độ của mấy yên hùng xe gắn máy đêm đêm đem tuổi trẻ đầy sinh lực đùa vui với thần chết. Cứ lao vào cơn điên công nghiệp hoá mù quáng, tự huỷ, chẳng cần phải thông minh gì, người nào cũng có thể hình dung được năm mười năm nữa dòng nước đó sẽ “ Tanh nồng như máu chết”(TTY)và vườn tược cây trái là huyền thoại của một thuở xa xưa.

Bọn chúng tôi hồi đó hầu như biết rõ tư tưởng, khuynh hướng chính trị của nhau nhưng mặc kệ hết. Ai ưng làm gì thì cứ làm. Một bữa, Nguyễn T Cường (Bắc kỳ di cư) chở Trần M Đức (là VC, ai cũng biết) trên xe gắn máy, bất ngờ, Cường ngoái cổ hỏi: “Ê, Đức, mày có phải chính hiệu VC không đó?”Chẳng lẽ người bị hỏi thẳng thừng công nhận, thấy hơi kỳ nên hỏi lại: “Mà VC thì sao?” Cường cười: “Chẳng sao, mai mốt tao sẽ kể với con tao là đã từng chở một tên VC thứ thiệt sau xe”. Họ cư xử với nhau trên tình bạn và bạn bè là trên hết. Ai làm gì thì chịu trách nhiệm lấy hành vi của mình. Phải chăng nền văn hóa nào thì tạo ra con người đó? Điều này liệu đúng chăng khi có người kể chuyện LDH, lúc còn sinh viên, buổi chiều đi lơ ngơ trên đường phố Qui nhơn thì được người bạn học cũ, lúc bấy giờ đang là phó ty cảnh sát, đang lái xe jeep, gọi lại bảo: “Ê, H, mày đi đâu lơn tơn đó? Tụi nó đang lùng bắt mày dữ lắm, dọt lẹ lên đây tao nói cho nghe.” Anh ta chở LDH đến tận mấy chục cây số phía nam Qui nhơn rồi bảo: “Mày cứ đi chừng cây số đến chỗ chân núi, đồng chí của mày đầy nhóc trong đó, chắc mày dư biết rồi, dọt lẹ đi, lò mò trở lại Qui nhơn là tàn đời mày nghe”. Sau 75 không lâu, LDH lên làm quan lớn, người bạn cảnh sát đi cải tạo mút mùa, có người biết chuyện nhắc lại, ông quan cách mạng bảo: “Nó là bạn cũ nhưng có tội với nhân dân thì phải trả nợ thôi.” Lâm H Tài còn kể một chuyện liên quan tới Trương V Kh, nghe xong đố mà không buồn đời. Khoảng 68, 69, phong trào sinh viên bị khủng bố. Bên Văn khoa được thầy Nguyễn Văn Trung bảo bọc, bên Sư phạm không an toàn bằng nhưng vin vào luật tự trị đại học, các sinh viên hoạt động chính trị vẫn trốn được trong khuôn viên trường, cảnh sát không được quyền vào bắt bớ. Họ dường như biết rõ ai đang trốn nên chặn các lối ra vào, theo dõi quyết liệt, ra khỏi cổng trường là bị tóm ngay. Trương V Kh không thể trốn mãi vì càng lâu càng bất tiện và nguy hiểm nên người ta phải tổ chức đưa anh ra bưng. Trần M Đức tới tìm Lâm H Tài lúc anh ta đang ngủ trưa, cậy anh này làm một việc khó. Đức nói: “Kh. đang hết sức khó khăn, không dám ra khỏi khuôn viên trường.” Tài hỏi tại sao vậy? Đức nói “Kh bị vây nhiều ngày rồi, bây giờ chỉ có anh làm được việc này, vì bấy lâu nay anh chẳng làm gì nên chẳng ai để ý đến anh. Anh giả bộ đến thăm ai đó ngoài vòng rào trường, đi theo ngõ Trần Bình Trọng chạy dọc theo sân banh, thẳng vô con hẻm rồi quay đầu lại chờ sẵn, Kh sẽ leo lên nóc nhà của ông lao công trường ở phía sau nhà gởi xe, anh không bị để ý đâu mà sợ, nên rất dễ thực hiện việc này cứu Kh. Khi anh vừa quay đầu xe lại, Kh sẽ từ trên mái nhà thấp sẽ nhảy xuống, anh chở Kh thẳng về khu Cây da sà thì có người đến đón”. Không phải người hoạt động hay cảm tình viên gì nhưng nghĩ chút tình bạn với Đức và bạn cùng trường với Khuê, Tài đã hoàn thành “nhiệm vụ” một cách xuất sắc! Không nói quá, anh đã cứu mạng Kh. Sau năm 75, lúc Tài vừa ra trại cải tạo, phải làm đơn trình Ban Chỉ huy công an phường:“…nay tôi xin tạm trú tại…nhà tôi” trong thời gian chờ được bố trí đi kinh tế mới theo chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước. Tình cờ, cháu anh làm tài xế cho cơ quan xếp Kh, đưa Kh đi công tác bên Campuchia, hỏi Kh có biết Lâm H Tài không thì ông này nhíu mày suy nghĩ một hồi mới hơi gật đầu rồi làm thinh luôn như không muốn đá động gì tới nhân vật mang tên Tài đó nữa.

Đôi lúc nghĩ vơ vẩn không hiểu nổi chúng tôi có phải là “the lost generation” như người ta thường nói về lứa tuổi mình không. Giống như người già cả lãnh đạm trước chuyện đời, bọn chúng tôi cứ vất vơ vất vưởng, kiểu như người ta nói mất phương hướng. Chủ nghĩa Hiện sinh của Jean Paul Sartre nhiều ít cũng ảnh hưởng lên tuổi trẻ có học. Chủ nghĩa Marx được giáo sư Nguyễn Văn Trung và Trần Văn Toàn giảng dạy công khai ở Đại học Văn khoa tác động không nhỏ đến khuynh hướng thiên tả trong đám sinh viên. Nhưng điều dễ nhận thấy nhất dường như ai cũng chỉ lo thân, mặc kệ chuyện đời tới đâu cứ tới và ước gì ta có thể “đứng ngoài những giọt máu rơi”. Nói phần đông sinh viên đều thiên tả thì cũng không đúng. Mỗi lớp chừng một vài người thật sự theo MTGP, một số ít có thiện cảm nhưng kính nhi viễn chi. Đa phần còn lại thì không quan tâm tới chính trị, chỉ mong ra trường đi dạy yên thân; ít ai công khai bày tỏ “lập trường” thân Mỹ bao giờ, nhưng cảm phục và chịu ảnh hưởng văn hóa Mỹ, nhất là mê phim Mỹ thì có. Rạp Lê Lợi cạnh trường Văn Khoa chiếu đi chiếu lại những phim kinh điển, là nơi ăn dầm nằm dề của đám sinh viên Văn khoa, có người xem đi xem lại phim Vacance Romaine, Les Dimanches de la ville d’Avray, Tant qu’il y aura des hommes… hàng chục lần. Phim của David Lean, Arthur Penn, John Boorman được hâm mộ vô kể. Cho tới giờ này tôi nghĩ chưa ai làm phim littéraire qua nổi David Lean và cũng chưa ai làm phim suspense hay hơn Arthur Penn hoặc John Boorman. Phim ảnh ngày nay quá lạm dụng xảo thuật vi tính, càng lúc càng bạo lực và dữ dội nhưng tinh ý chút sẽ thấy ngay vẻ giả tạo.

Posted in Văn thơ bầu bạn | Leave a Comment »

Lòng Nhau Là Chỗ Để

Posted by phanxuansinh trên Tháng Sáu 4, 2009

Lòng nhau là chỗ để…
tặng Phan Xuân Sinh

Thơ Hà Nguyên Dũng

Mười lăm năm ngậm ngải
Ngải tụ thành vần thơ
Bạn vội quày trở lại
Quê hương để cửa chờ

”Bơi trên dòng nước ngược”
Bạn cặp bến quê hương
Như thỏa lòng mong ước
Lòng như thôi đoạn trường !

Lòng người như chiếu trải
Xúm nhau ngồi nhỏ to
Ngó nhau lòng se lại
Tóc lên màu khói – tro !

Bạn khui lòng, nghiêng rót
Thơ – chất rượu lòng mình
Đến không còn một giọt
Bạn đã tận-hiến-tình !

Làm sao ta buồn được
”Khi tình đang ru đời” !
Khi lòng ta  say khướt
”Chén rượu mời người” ơi !

Mai sau dù góc bể
Ta dù khuất ngày đêm
Lòng nhau là chỗ để
Trùng lai ! Lại say mèm !

Sài Gòn tối 4.3.2008

(những câu trong ngoặc kép là tựa sách Phan Xuân Sinh)

thơ hà nguyên dũng

Posted in Văn thơ bầu bạn | Leave a Comment »

GẶP BẠN – Thơ Hạ Đình Thao

Posted by phanxuansinh trên Tháng Sáu 4, 2009

GẶP BẠN
Tặng PXS

Thơ của Hạ Đình Thao

Đã lâu lắm rồi không gặp bạn
Lòng bỗng mừng như đứa bé được quà
Những kỷ niệm,những vui buồn một thuở
Chợt hiện về như mới bữa hôm qua

Mời nâng chén mừng nhau thêm một tuổi
Ta trời Đông, người tận cõi trời Tây
Đời hữu hạn,Đã đến hồi phút cuối
Xin mừng nhau còn sống tới hôm nay

Bạn xa quê,ta cũng xa quê
Ba mươi năm thèm một lần về
Mãi chuyện áo cơm đành cúi mặt
Làm người thất thổ, nhớ thương quê!

Ta ở Miền Nam cứ dặn lòng
Cho dù năm,bảy núi và sông
Phải về thăm lai quê hương cũ
Ơi Quảng nam ơi ! Lòng nhủ lòng

Chợt nhớ ngày xưa ở Phố Hàn
Bạn bè dăm đứa sống lang thang
Những Trung,Vinh,Kiểu…và ta nữa
Quây quần nhà bạn quá thân thương

Đã mấy mươi năm rồi lưu lạc ?
Hình như bốn chục – Ồ có dư
Bảo sao trẻ mãi mà không bạc ?!
Rượu mừng chưa hết,nỡ say ư ?

Qua xuân chắc bạn về bên ấy
Ta ở bên này mong nhớ mong
Năm,ba năm nữa khi về lại
Mộ chừng xanh cỏ ! Biết đâu không ?!

Hạ Đình Thao

Posted in Văn thơ bầu bạn | Leave a Comment »

Tạp ghi văn nghệ: Bơi trên dòng nước ngược

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 13, 2009

NGUYỄN MẠNH TRINH

Bơi trên dòng nước ngược? Ai ? Người nào mà sức khỏe đủ dẻo dai để  có sức làm một kình ngư trên sông nước như vậy?  Có phải là cảnh vượt biển vượt sông không? Chắc hào hứng lắm?  Một câu viết ra mà trăm ngàn liên tưởng, ý nghĩ…

Nhưng, cầm cuốn sách đọc. Thì, đó chỉ là cách nói. Của một nhà thơ. “Bơi trên dòng nước ngược” là một tập tạp văn của tác giả Phan Xuân Sinh.Từng trang và từng trang giở ra. À! Ra thế. Tôi đọc và hiểu được thế nào là hoàn cảnh bơi ngược dòng. Cũng như hoàn cảnh của cả một thế hệ giống nhau của một đất nước bị tàn phá vừa vật chất lẫn tinh thần. Đọc và tưởng tượng những vóc  dáng nhân vật, sao ngờ ngợ bóng dáng  bản thân  ở đó. Tưởng như soi gương tìm lại chính ngày tháng mình, cuộc sống mình…

Hình như, tôi có cảm giác khá lạ lùng khi lướt qua những dòng chữ.  Hoàn cảnh sống ấy, phong cách suy tư ấy, quen thuộc lắm đối với cá nhân tôi. Những đứa trẻ nhà nghèo, thích đọc sách, yêu mến văn chương và thường nuôi những mơ ước  không có gì  là vĩ đại nhưng đeo đuổi cả đời. Đọc từng trang để hòa lẫn  với tác giả những cảm xúc về cuộc đời và con người. Không còn biên giới giữa người đọc và  người viết nữa mà chỉ là một cuộc hàn huyên ấm áp mà những người cùng thời gian sinh trưởng  hiểu nhau và chia sẻ cùng nhau.

Thế hệ chúng tôi có nhiều mẫu số chung , Đi học, đi lính , đi tù, đi vượt biên, đi tị nạn… hoàn cảnh có khác ở tiểu tiết nhưng đại thể thì giống nhau y hệt. Cũng là những cuộc “bơi ngược dòng“ cả. Làm gì có ai thuận dòng, ngoài những cậu ấm cô chiêu con ông cháu cha, sinh ra đời đã là những ngôi sao rực rỡ!

Đọc “Tuổi nhỏ, một thời ngậm ngùi“ để thấy thương quá  cậu bé quê nghèo mồ côi và những đứa bạn cùng trang lứa.  Thời của chúng tôi sao có nhiều cái giống nhau.

“… Nước mắt tôi đã thấm  ướt không biết bao nhiêu mà kể, qua các thăng trầm của nhân vật trong truyện.Tôi là một đứa trẻ mau nước mắt, sống lủi thủi một mình nên đầu óc mang nhiều tưởng tượng mang nhiều ao ước,trong đầu tôi luôn luôn suy diễn đủ thứ.Những đầu đề  sách quen thuộc tôi đã đọc nên lướt qua.Tôi đến một gian khác xem có quyển sách nào mới lạ không thì mắt tôi dừng lại ngay quyển truyện của Hà Mai Anh mang cái tên là “Tâm Hồn Cao Thượng” Chao ôi, chỉ có một cái tên thôi quá hấp dẫn alm cho mấy thằng ham sách như tụi tôi phải ngẩn người.Lật sách ra phía sau xem giá tiền, dù có mơ cũng không thể nào mua đượcvì giá quá cao. Về nhà tôi tư tưởng mãi, ước gì được đọc quyển sách này. Trong lớp tôi có thằng Hưng nhà bán thuốc bắc mua được, nhưng dù có năn nỉ rớt nước miếng nó cũng không cho mượn. Thật là bất công, một thằng có tiền mua sáchkhông chịu đọc còn thằng nghèo muốn đọc sách lại không có tiền để mua…”

Phan Xuân Sinh kể chuyện rất đơn sơ, không thêm thắt điểm tô cho sự kiện nên chất trung thực là một đặc tính rõ nét. Từng chi tiết được đề cập đến làm câu chuyện có chất sinh động và chứng tỏ tác giả có một trí nhớ tốt về những kỷ niệm của đời mình. Đi học, từ ngôi trường, dãy phố, từ thầy từ bạn, biết bao người bao cảnh được hồi tưởng và viết lại với tất cả sự nâng niu trân trọng. Đi lính, làm nhiệm vụ của một người thanh niên bình thường trong cơn binh lửa, cái tâm hồn hậu của tình người như thắm đượm trong từng câu văn từng ngôn ngữ. Đi tù, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng là một sự chịu đựng để mong ước có ngày ít đen tối hơn.Được thả về, sống trong một xã hội hỗn loạn, vẫn là sự ngoi lên và tin tưởng vào lẽ công bằng của trời đất, người hiền sẽ gặp chuyện lành. Đi vượt biên, rồi sang xứ người sống lưu lạc vẫn nhớ về quê hương và cái dĩ vãng từ mấy chục năm thuở ấy vẫn nặng nề đeo đẵng mãi mãi sự khắc khoải của những người sống bên lề nhân sinh.

Tất cả những chất chứa ấy,  mười bốn đoản văn của “Bơi trên dòng nước ngược” có đầy đủ.  Dù là cái “riêng” của tác gia, bỗng lúc thành cái “chung” của nhiều người. Phan Xuân Sinh với tôi hình như cùng trang lứa nên dù học ở những trường khác nhau, sinh sống ở những vùng địa lý cũng khác nhau nhưng sao có quá nhiều cái tương đồng. Nếp sống nếp nghĩ ấy có phải là mẫu số chung của cả một thế hệ ? Không biết tôi có chủ quan võ đoán không nhưng thành thật tôi có  cảm nghĩ như thế. Đọc truyện của Phan Xuân Sinh, tôi mường tượng được cả một thời kỳ từ lúc ấu thơ đến tuổi trưởng thành vào đời. Không hiểu những người trẻ hơn tôi hoặc già hơn tôi có nhận thức  giống như vậy hay không?

Như những người xứ Quảng, tác giả có lòng yêu mến đặc biệt đến nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Cá tính địa phương của anh mạnh mẽ nhưng dễ thương không đến độ cực đoan làm người đọc hiểu rõ tấm lòng của anh hơn với cả những sự thông cảm.  Thơ của anh cũng biểu lộ cá tính của người xứ Quảng. Những hào sảng của những người đã quen trong những cuộc tranh sống nghặt nghèo. Đất thì khô cằn, khí hậu thì khắc nghiệt với những cơn gió Lào khô khan, con người đã quen với những điều không vừa ý. Thơ văn phần nào biểu tỏ tâm tưởng ấy. Ngôn ngữ ngang tàng mà có người mỉa mai rằng của những người múa kiếm gỗ đã có lúc làm xao động trong suy tư những cảm xúc chân thực cho người yêu thơ.

Riêng với tạp văn Phan xuân Sinh,  thơ như những phần trang điểm cho những bày tỏ về cuộc đời. Viết , trong trạng thái bức xúc cảm giác, những mảnh đời ấy, trưởng thành từ quê hương chiến tranh, vật lộn trong dòng cuồng lưu ngược chiều để sống còn  ,có phải là những phác họa chân thực cho một thế hệ Việt Nam ? Đến bây giờ , sống ở xứ người, cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn, có khi còn khốc liệt hơn nhiều. Để tồn tại, những người lưu vong  cũng phải có một giá đắt phải trả. Mà, ở cuộc đời này, muốn đạt được một điều gì, đâu phải không cần công sức…

Khi còn chiến tranh hay lúc ngưng tay súng,  trong tác phẩm của anh bất cứ hoàn cảnh nào cũng đầy chất tình người hồn hậu.  Với Phan Xuân Sinh, chiến tranh là những chuyện muốn quên mà cứ phải nhớ.

“ … Tính đến  nay , đã gần 30 năm trên quê hương không còn tiếng súng, Những vết thương cũ của đôi bên tham chiến đã kéo da non xem như lành lặn. Những người tuổi trẻ tham chiến của   đôi  bên lúc đó  bây giờ  tóc đã điểm  mầu. Đất nước đã trở mình, cửa ngõ rộng mở để nhìn ra thế giới bên ngoài, Người trong nước ra hải ngoại cũng dễ dàng và người sống ở ngoại quốc về quê hương không còn khó khăn. Những chuyện đúng sai, công tội để lịch sử phán xét và tùy ở quan niệm cá nhân.Trong tư cách của chứng nhân tôi viết trong trạng thái bình thường không hận thù hằn học. Dù trước đây tôi là một người lính của miền Nam,  và mất một phần thân thể trong cuộc chiến đó. Cái nhìn của tôi có thể sai lệch vì định kiến, nhưng chung quy tôi viết về cuộc chiến mà tôi trực tiếp tham dự bằng trung thực của trái tim mình.Tôi tránh viết  về chiến tranh vì mỗi lần đụng tới nó, vết thương cũ của tôi lại đau nhức lên nhưng rồi cũng không tránh được…”

“Bơi trên dòng nước ngược”, cuộc sống ấy có phải là chuyện bình thường đối với người Việt lưu lạc xứ người? Ai cũng có những kỷ niệm, tuổi thơ như thế, tuổi trẻ như thế, quê hương đất nước như thế, tình yêu như thế, trở lại làm một cuộc sống mới từ hai bàn tay trắng như thế… Và, bây giờ đọc những dòng chữ của Phan Xuân Sinh sẽ thấy như đứng trước tấm gương soi để nhìn lại chính dung nhan diện mạo mình. Tôi có cảm nhận như thế. Tôi không đọc mà như đang hàn huyên với một người cố tri trong một buổi chiều buổi sáng đáng nhớ nào…

Nguyễn Mạnh Trinh

Posted in Văn thơ bầu bạn | 1 Comment »