Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for the ‘Truyện ngắn’ Category

NHỮNG CÁI TẾT TRONG ĐỜI TÔI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Ba 30, 2015

NHỮNG CÁI TẾT TRONG ĐỜI TÔI   

Hồi ký: Phan Xuân Sinh

 

Cứ mỗi lần cúng Giao Thừa xong, tôi mang bình trà vào phòng sách ngồi uống một mình. Chính những lúc nầy tôi nhớ lại những ngày tết cũ, xưa cũ. Khi còn nhỏ, tôi là người phải thức để  lo sắp xếp bàn cúng giữa sân cho Bác tôi khấn vái cúng giao thừa. Câu khấn đầu tiên Bác tôi giới thiệu về mình cho những người khuất mặt quanh đây biết về gia thế: “Kính thưa ông bà, cha mẹ, những người khuất mặt quanh quẩn đâu đây. Tôi tên là Phan Xuân Sâm là con thứ năm của cha mẹ tôi, người còn lại lớn nhất của gia đình nầy. Hiện tôi đang sinh sống tại Nại Hiên xã, Đà Nẵng xứ, Quảng Nam tỉnh. Kính xin chư vị ghé qua đây hưởng chút nhang khói nhân ngày đầu khai niên. Giúp đỡ gia đình tôi mạnh khỏe, thuận hòa. Chúng tôi luôn  luôn cung kính gìn giữ lòng biết ơn chư vị…” Năm nào Bác Năm tôi không được khỏe, Ba tôi làm nhiệm vụ cúng bái Giao Thừa thay cho Bác. Ba tôi không nói ra những lời như Bác, ông chỉ lầm thầm trong miệng rồi lạy. Hình như Ông làm chuyện nầy cho có lệ, chứ không thành tâm như Bác tôi. Bác nằm trên gường hỏi Ba tôi sau khi cúng xong vào nhà: “Chú có biết phải để cho cây hương tàn hết mới dọn vô nhà không?” Ba tôi lúng túng trả lời cho qua chuyện, sự thật cây hương cháy chưa hết một nửa thì Ba tôi đã dọn vô nhà. Cúng xong bao giờ Bác Năm cũng ngồi uống trà với Ba tôi. Cái cung cách đầu năm cũng đổi khác, nói chuyện với nhau đượm một chút nhẹ nhàng. Hình như người ta gìn giữ tốt đẹp nhất cho ngày đầu năm.

 

Sau nầy Bác tôi mất, Ba tôi mỗi năm cúng GiaoThừa thay cho Bác. Tôi là người được ngồi đối diện uống trà với Ba tôi. Sau đó hai cha con dẫn nhau xuất hành, thường thường chúng tôi đi đến chùa Nại Hiên lạy phật. Chính lúc trên đường đi Ba tôi mới kể cho tôi nghe nhiều chuyện của quê tôi. Cái chuông chùa của làng Nại Hiên là do ông Án Nại đúc tặng cho làng (Ông Án Nại  tên là Nguyễn Hanh, Án Sát tại Nghệ An, nguyên quán của ông ở làng Nại Hiên nên thường gọi ông là Án Nại, sau ông từ quan theo phong trào Văn Thân, Cần Vương, bị tử thương ở mặt trận Phú Thượng, Hòa Vang, Quảng Nam). Có một năm vợ chồng người học trò cũ của Ba ôi tới chúc tết thầy. Ba gọi tôi ra chào chị Hồng, người mà khi tôi còn nhỏ Ba tôi nhờ chị chăm sóc cho tôi vì má tôi mất sớm. Ba tôi đi dạy mang tôi đi theo, các chị thay phiên chăm sóc tôi, đút cơm, tắm rửa, thay áo quần. Trong số các chị thì chị Hồng là người lo cho tôi nhiều nhất. Lúc nầy tôi đang học đệ nhị.  Từ trong buồng ngủ bước ra. Chị Hồng trố mắt nhìn tôi: “Thằng Sinh đây hả thầy? Hồi nhỏ nó bụ bẩm sao lớn lên nó ốm quá vậy? có đau gì không?  Ừ, mà như vậy trông có vẻ thư sinh, bảnh trai. Hắn mà gái trông thấy phải chạy theo thôi”  Chị hỏi tôi, hồi nầy có còn thích ăn bánh bèo không? Hồi còn nhỏ xíu khi dẫn nó ra chợ, bao giờ nó cũng chỉ hàng bánh bèo, ăn một lần bốn năm chén. Tôi gật gật đầu,  ý của tôi nói với chị vẫn còn thích ăn bánh bèo.

 

Vợ chồng chị Hồng chắc là khá giả, chị ấy móc tiền lì  xì cho tôi 200 đồng, số tiền đó lúc ấy hơi lớn. Chị kể  mấy chị trong lớp hay bẹo má phúng phính của tôi. Thứ bảy chủ nhật các chị thay phiên nhau xin Ba tôi cho các chị mang tôi về nhà. Ba tôi thì lúc nào cũng gật đầu đồng ý. Sau nầy lớn lên tôi mới biết đó là lúc tốt nhất để Ba tôi có thời giờ đi cua “đào”. Ông thầy giáo vợ chết sớm, sống lẻ loi sao được, tuổi lại còn quá trẻ nên có cơ hội thuận tiện lúc nào là ông “tranh thủ” đi đến nhà các bà bồ để tán dóc. Ra tết, chị Hồng chạy xe Honda tới nhà mang cho tôi chừng hơn 10 chén bánh bèo. Bánh bèo Quảng Nam lớn lắm, chén đổ bánh bằng chén ăn cơm, chị nghĩ rằng hồi còn nhỏ tôi ăn được 4 chén, thì bây giờ phải ăn gấp đôi. Tội nghiệp sự chu đáo của chị làm cho tôi nhớ mãi. Ba tôi kể, nhà chị Hồng nghèo nên mỗi năm phụ huynh đi lễ tết cho thầy nào là bánh, mứt , rượu, gà, nếp, bánh tét…Ba tôi gọi mẹ chị Hồng qua nhà lấy bớt đem về nhà ăn tết, nên gia đình chị Hồng mặc dù ít mua sắm cho ngày tết, vẫn có đầy đủ mọi thứ trong nhà. Khi chị đi lấy chồng Ba tôi có đi dự. Sau nầy chị kể cho Ba tôi nghe chị và anh Khiết cùng học một lớp yêu nhau, nhưng gia đình anh Khiết nghèo quá nên anh ấy không thể cưới chị. Con gái đến tuổi không thể chờ đợi nên gia đình phải gả chị cho anh Hoàng ở làng bên. Gia đình anh Hoàng khá giả, chị về làm dâu cũng sung sướng. Anh Hoàng đi lính ở thành phố nên không sợ phải ra trận, còn anh Khiết cũng vào lính được chừng hơn một năm thì tử trận.

 

Cái vui nhất của tôi là ngồi canh lửa nồi bánh tét. Mấy thằng bạn nhỏ trong xóm tụ lại nghe tôi kể chuyện. Ngồi chung quanh nồi bánh, lửa phừng phực cháy xua đuổi  cái lạnh mùa đông, ngồi chờ ngoại tôi vớt ra mấy cái bánh ú cho tôi, bạn bè chia nhau ăn.  Sau nầy lớn lên bao giờ tôi cũng mua một lít rượu để sẵn, một dĩa thịt heo dầm nước mắm, một chén củ kiệu, vài thằng bạn ngồi nhâm nhi. Lúc nầy chúng tôi sắp bước vào lính nên bữa nhậu đượm một chút buồn trên mặt.

 

Tết Mậu Thân, thành phố Đà Nẵng sống trong yên bình. Đêm giao thừa pháo vẫn nổ rộn rã, xen lẫn tiếng súng nổ nhiều hơn mọi năm, tiếng súng nổ nhiều nhất ở ven thành phố. Dân chúng hoàn toàn không biết là Việt Cộng tổng tấn công bị các đơn vị đồn trú bên ngoài đẩy lui. Bốn giờ sáng Ba tôi dậy pha trà, súng vẫn nổ nhiếu mà không dứt, mở radio nghe tin tức, mới biết là Việt Cộng tấn công vào các thành phố Miền Nam. Lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu kêu gọi quân nhân đang ăn tết với gia đình, phải trình diện ở những đơn vị gần nhất. Tất cả gia đình đều hé cửa nhìn ra đường, chỉ thấy xe tuần tiểu của quân đội thỉnh thoảng gắn loa phóng thanh, lệnh giới nghiêm 24 giờ trên toàn thành phố. Tất cả phải đóng kín cửa không được ra đường. Các quân nhân ở xa về ăn tết ra đường đón xe tuần tiểu để được chở vào Quân Vụ Thị Trấn. Sáng mồng một, đài phát thanh địa phương báo cho biết là Quân đội đã đẩy lui các cuộc tấn công vào thành phố. Chỉ biết được tin tức qua đài phát thanh. Người dân Đà Nẵng yên tâm ăn tết không bị quấy phá bởi lực lượng bên kia. Chừng 9 giờ sáng mọi người ra đứng trước cửa nói chuyện với hàng xóm, khuôn mặt họ đều ngơ ngác. Nói chuyện về tình hình chiến sự chỉ đoán già đoán non chứ quả thật không ai biết gì cả. Tối mồng một tết nghe phong phanh có mấy người trong xóm trước đây đi nhảy núi, đã thấy xác của họ ở xã Hòa Cường. Chuyện thật hư không ai biết, mọi chuyện đều bị xé to. Tối cả nhà quay quần chung quanh chiếc radio để nghe BBC và VOA, lúc nầy mới biết rỏ các tỉnh, thành phố ở Miền Nam đều bị tấn công. Nghe lén đài phát thanh Hà Nội thì họ bảo quân Cách Mạng đã chiếm được Miền Nam, dân chúng Miền Nam đón tiếp niềm nở. Sau nầy mới rõ, các cán binh Miền Bắc tin vào lời tuyên truyền trên radio, trên truyền đơn, dân chúng sẽ đón tiếp các anh nên họ tưởng thật. Khi vào thành phố họ mới biết chẳng có ai đón tiếp họ. Ai thấy họ cũng đều sợ hãi, cũng đều trốn tránh. Thú thật người dân lúc đó rất hoang mang không thể tin được đình chiến mà lại bị quân Bắc Việt tấn công. Ở Đà Nẵng chỉ nghe súng nổ trong ngày mồng một tết, khuya mồng một tiếng súng nghe xa xa nghĩa là chiến sự đang ở các vùng quê. Như vậy quân đội đã làm chủ được tình hình. Đó là một cái tết đã làm điêu đứng toàn dân, phe Cộng Sản xé bỏ hiệp định đình chiến.  Từ cái chuyện Tết Mậu Thân, tôi bắt đầu ngao ngán chế độ Công Sản, tôi không tin những gì họ tuyên truyền trước đây. Tôi nghĩ nếu chế độ nầy họ thắng trong cuộc chiến thì dân chúng sẽ khổ biết mấy. Chỉ có một hiệp đình đình chiến trong 3 ngày tết để dân chúng nghỉ ngơi mà họ trắng trợn vi phạm. Thì làm sao họ tôn trọng những thứ khác.  Sau  khi chiếm được Miền Nam thì mới tỏ rõ bộ mặt nham hiểm thật sự của họ. Những ngày sau đó thành phố Huế vẫn còn phe Giải Phóng chiếm đóng, chiến sự vẫn còn gay gắt. Gần một tháng quân đội Miền Nam mới thực sự chiếm lại Huế.

 

Nói đến tết mà không đề cập tới tết Mậu Thân ở Huế  là một thiếu sót lớn. Mặc dù tôi không ở Huế để chứng kiến cái cảnh tan nát mà người dân Huế phải gánh chịu. Thế nhưng mỗi ngày tôi phải mở đài BBC và VOA để nghe chiến sự ở Huế. Đà Nẵng và Huế chỉ cách nhau vào khoản 80 cây số theo đường chim bay (100 cây sô tính theo đường quốc lộ), thế mà Huế lại gánh tất cả những hãi hùng thật tội nghiệp. Những nơi bị Việt Cộng chiếm đóng xẩy ra biết bao tai ương, số người bị họ giết nhiều vô kể. Đổ lỗi cho cá nhân nầy, cá nhân kia gây nên, tôi không đồng ý, vì cá nhân không thể tàn bạo như vậy, giết hại bà con ruột thịt của mình.  Chỉ có quyết định của đảng Cộng Sản. Tôi không đề cập đến chuyện nầy, điều mà tôi muốn nói ra trong hồi ký nầy là tang thương ụp lên đầu những người dân vô tội, nhà nào cũng có người là nạn nhân của cuộc tấn công tết Mậu Thân. Gần đây sau bốn mươi bảy năm những người Cộng Sản im tiếng, thì bổng nhiên có một người ngụy tạo ra một tài liệu bảo rằng những nạn nhân tết Mậu Thân đều do máy bay Mỹ giết hại. Khi quật những nấm mồ tập thể, tất cả những nạn nhân bị cột tay chung với nhau, đầu bị vỡ sọ. Như vậy họ dùng cuốc xẻng đập vào đầu, không thấy một vết đạn nào. Lại nghe nói một ông đạo diễn dàn dựng một cuốn phim về tết Mậu Thân quy tội cho Mỹ Và quân đội Cộng Hòa. Còn cán binh Bắc Việt vô tôi. Việc làm nầy đi ngược lại sự thật đã trở thành hiển nhiên, mà họ tán tận lương tâm thêu dệt ra để tránh tội. Họ quên nghĩ rằng, những vùng của họ chiếm đóng làm sao có lính Cộng Hòa vào bắt đồng đội của mình đem ra giết. Cho nên vải thưa không thể che mắt thánh. Chuyện của họ làm người dân Huế đều biết rỏ, không chối cải được.  Người Mỹ trước đây quá mệt mõi “Cuộc Chiến Việt Nam”, họ không muốn khui lên đống tro tàn sợ đau lòng dân chúng Mỹ. Những năm gần đây, sự việc đã trở nên nguội lạnh, đây chính những Quân Nhân Mỹ tham chiến tại Việt Nam bắt đầu lên tiếng. Họ cho rằng QLVNCH là một quân lực hùng mạnh nhưng phải thua vì thiếu vũ khí và đạn dược. Chính nước Mỹ gây ra oan khiên nầy. Song song đó thì bà Giáo Sư Orgar Dror phân khoa lịch sử Đại học Texas A&M (một người Do Thái gốc Nga)  Bà dịch quyển sách “:GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ”  Ra tiếng Anh với nhan đề “MOURNING HEADBAND FOR HUE” Nguyên bản chính của Nhà Văn Nhã Ca, tố cáo những tội ác của quân Bắc Việt gây ra tang thương cho Huế. Chính chị Nhã Ca đã có mặt ở Huế lúc đó, Chi là một nhân chứng sống, chị viết với một tấm lòng dành cho Huế, không thêu dệt hay bịa đặt. Cuộc ra mắt sách tại Đại Học UC Berkeley, California. Đưiợc sinh viên Mỹ hoan hô nhiệt liệt.

 

Sau khi Huế được Quân Đội Cộng Hòa chiếm lại,  chừng một tháng sau, tôi có dịp ra Huế. Cầu Trường Tiền sụp, nhà cửa tiêu điều, đường phố vắng người. Chỉ có xe quân đội tuần tiểu trên đường phố. Nhìn Huế, tôi có cảm tưởng như Huế mắc phải cơn trọng bịnh chưa kịp hồi phục, sống trong uể oải, nhìn thấy người đi đường mặt buồn thiu. Huế tang thương như vậy đó, thật tôi nghiệp. Đi đâu cũng thấy vết tích chiến tranh, số người chết nhiều quá, nhiều hơn ngày Kinh thành Huế thất thủ trong tháng năm ta , khi vua Hàm Nghi khởi nghĩa cuộc binh biến bất thành. Sau đó quân Pháp tràn vào gặp ai giết đó, bất kể người có tội hay không. Huế nơi nào cũng có máu đổ. Sau nầy người dân Huế nhà nào cũng lập đàn cúng cô hồn trong ngày Kinh Thành thất thủ.Sau nầy đêm giao thừa người dân Huế cũng lập đàn cúng tế cho những vong hồn bị Việt Cộng giết trong tết Mậu Thân. Số người bị giết chết trong tết Mậu Thân nhiều hơn số người bị Pháp giết trong ngày Kinh Đô thất thủ.

 

Khi ra đơn vị, tôi trình diện Trung Đoàn 51 Biệt Lập, đồn trú tại Quảng Nam,  vào khoảng hai mươi tháng chạp, nghĩa là chỉ còn 10 ngày nữa tới tết. Đây là cái tết đầu tiên của tôi ở quân đội.  Năm thằng sĩ quan ở chung một phòng. Người lính phụ trách câu-lạc-bô, đêm giao thừa mang tới cho chúng tôi 2 lít rượu đế và 5 lon thịt ba lát,  bảo rằng Đại Úy Đại Đội Trưởng bảo mang đến cho các ông uống rượu mừng xuân. Năm đứa trải chiếu ngồi xuống sàn nhà bắt đầu uống rượu. Thú thật đây là cái tết buồn nhất trong đời tôi, chúng tôi ngồi uống rượu mà không nói một lời, mỗi đứa mang một tâm trạng khác nhau. Nhớ nhà, nhớ người yêu, nhớ bạn bè còn bên ngoài, nhớ quán cà phê… Uống hết hai lít rượu định dọn dẹp đi nằm thì mấy người lính ở  Trung Đội của tôi trông coi, mang rượu vào nhập cuộc, lúc nầy đông người chúng tôi mới cảm thấy hứng chí. Cuộc rượu cho đến sáng mồng một mới tan hàng. Suốt ngày mồng một chúng tôi ngủ li bì.

 

Sau 1975, tôi sống ở Sài Gòn. Có một năm tôi về Đà Nẵng ăn tết. Chiều 28 tháng chạp, Ba tôi và tôi ra chợ hoa tìm một cành mai. Tôi muốn mua một cành mai lớn, Ba tôi thì bảo mai lớn mắc tiền trong lúc kinh tế khó khăn, nên mua một cành nhỏ cho đỡ tốn kém. Tôi đồng ý vì nghĩ lại mọi người đang chật vật mà mình phung phí như vậy cũng khó coi. Tất cả hoa hồng và hoa cúc Ba tôi trồng  nở rực rỡ nên cái tết năm đó thật vui cửa vui nhà. Mồng bốn tết tôi chuẩn bị vào lại Sài Gòn thì Công An mời lên Phường làm việc vì họ nghi tôi thuộc diện sĩ quan trốn học tập. Tôi đi theo người Công An khu vực lên phường, trình bày các giấy tờ trình diện cho họ xem, tôi bị thương được cho về địa phương học tập tại chỗ. Ông trưởng Công An phường bảo tôi để giấy tờ ở đây để họ xác minh. Tôi thấy không xong nên tìm người giúp đở. Cũng may thằng cháu gọi tôi bằng cậu bảo với tôi là rõ ràng tụi nầy muốn làm tiền, cậu đưa một ít tiền con đi lấy giấy tờ về cho cậu. Quả nhiên một lúc thằng cháu mang giấy tờ về cho tôi. Từ đó, tôi không bao giờ về Đà Nẵng ăn tết nữa.  Ở Sài Gòn những ngày tết đến, tôi nhớ nhà quay quắt thế nhưng nghĩ lại cái cảnh làm tiền trắng trợn, bắt nạt dân chúng của Công An địa phương, tôi đành phải từ bỏ ý định trở về. Một điều lạ là các cán bộ ở ngoài Bắc vào,  họ đi thăm nhà các người quen họ mặc đồ veston dân sự, nhưng trên ngực họ đeo đầy huy chương. Chỉ thấy ở Đà Nẵng có hiện tượng nầy, còn ở Sài Gòn tôi không thấy. Hình như họ muốn khoe cho mọi người biết chiến công của họ đạt được. Tôi còn nhớ lối ăn nói của những người nầy, họ khoe khoang khoác lác tô bóng chế độ, mà không có ai dám cãi lại họ. Họ thể hiện cái ngu dốt nên tạo ra trò hề cho người nghe. Những người dân Miền Nam họ rất ngán ngẩm loại người nầy.

 

Ở Sài Gòn mỗi năm tôi đều nấu bánh tét để biếu cho công nhân làm trong cơ sở của tôi, và cũng để ở nhà khi có khách đến thăm. Tôi nhớ có một năm ngay trong ngày mồng một tất cả đồ ăn trong nhà nấu để đãi khách đều hết sạch. Các công nhân tụ tới nhà tôi chơi cả ngày, đánh bài, ăn uống… Sau khi thăm bạn bè về nhà, Vú Hai gọi tôi ra sau bếp báo cho biết không còn đồ ăn, tôi phải chở bà ra chợ Bà Chiểu mua thêm thức ăn nấu cho ngày mai. Tôi nói với Bà Vú để cho các em tự do muốn ăn gì cứ việc lấy, vui vẻ đừng nói gì phiền các em. Tết năm đó nhà tôi đông vui. Theo thông lệ các em giúp việc trong cơ sở của tôi mỗi năm được lảnh 2 đòn bánh tét, hai ký thịt heo, và một số tiền thưởng cuối năm. Những năm khốn khó đó, thịt heo rất hiếm, phải mua chợ đen. Thú thật làm ăn tại Sài Gòn trong lúc tranh tối tranh sáng cũng kiếm ăn được. Nhưng bù lại phải đút lót, biếu xén cho cán bộ, phải chống chọi đủ mọi thứ. Nhiều khi tết đến mà ngân hàng không còn tiền chi trả. Chúng tôi phải vay mượn để trang trải cho nên tiền lãi tính ra rất khả quan, nhưng đến khi ngân hàng trả cho mình thì tròm trèm vừa đủ vốn. Làm ăn vay mượn phải tính bằng vàng, mà vàng thì lên giá hàng ngày. Có những cơ sở không đủ vốn nên đi vay mượn thì phải phá sản, không cách nào hoàn vốn lại cho chủ nợ. Làm ăn tư nhân ở Sài Gòn, mỗi năm đều phải quà tết cho cán bộ. Đó là một tệ nạn rất thối tha cho chế độ.

 

Thực tình mà nói, mười lăm năm sống trong nước, tôi trãi qua cay đắng, vinh nhục. Nhưng rồi mọi chuyện cũng trôi qua. Ở ngay trên quê hương mình mà mỗi lần đến tết không dám về thăm nhà, nghĩ cũng buồn thật. Sáng mồng một tết, tôi chở hai con đi chùa, Chùa chúng tôi đi ở Cống Bà Xếp, gần ga Hòa Hưng, Sài Gòn. Chùa do một vị Trụ Trì người Miền Trung (hình như là Bình Định)trông coi. Vì chùa nhỏ ở trong một con hẽm sâu nên người đi viếng chùa đầu năm cũng không nhiều. Thầy rất quý mến tôi. Đến chùa nầy tôi nhớ lại chùa Nại Hiên của tôi, mỗi năm đi với Ba tôi, cùng ngồi trên bàn với mấy bác bạn với Ba tôi trong làng, uống nước trà, nói chuyện râm rang. Khi về lại nhà thì quá nửa đêm, bao giờ Ba cũng bảo tôi vào nhà trước để “đập đất”. Mặc dù thức khuya, nhưng bao giờ Ba tôi cũng dậy sớm pha trà cúng đầu năm. Cái đêm ba mươi trầm lặng, thế mà mỗi khi xa nhà nhớ lại thấy nó lâng lâng, lòng bỗng dưng cồn cào quay quắt. Cho đến bây giờ hơn hai mươi lăm năm xa xứ lòng tôi càng quặn đau thêm. Nếu có ai hỏi tôi, đêm 30 tết ở Đà Nẵng có cái gì khác với đêm 30 tết ở Sài Gòn trước đây hay Hải Ngoại bây giờ? Tôi sẽ không trả lời được. Có những điều chỉ biết cảm nhận nhưng không thể mô tả bằng ngôn ngữ, trường hợp nầy cũng vậy.

 

Tôi đến Mỹ năm 1990. Năm đó tôi sống ở Philadelphia thuộc tiểu bang Pennsylvania. Đêm 30 tết tôi có đi dự đón giao thừa ở nhà thờ gần nhà, mặc dù chúng tôi không phải là giáo dân. Tôi cảm thấy lẻ loi, những người tham dự rất vui. Hay là tâm trạng của người mới hội nhập chưa thích ứng với cuộc sống nơi đây, nhưng sau nầy tôi có một thời gian sống ở Oakland gần San Jose, California, thành phố người Việt đông, thế mà tôi vẫn không tìm thấy cái không khí như bên quê nhà. Mới biết quê hương đã ăn sâu, thấm đẫm trong lòng chúng tôi. Không có bất kỳ nơi nào giống và cũng không có nơi nào bằng quê tôi. Có thể nơi đây thừa mứa vật chất, giàu sang, tiện nghi đầy đủ. Những cái đó không bù đắp được cái trống rổng trong lòng tôi, những thiếu thốn nghèo nàn, những bữa ăn trong ngày tết đơn giản đạm bạc, những trẻ con xúng xính trong bộ áo quần mới rộng rinh trừ hao khi lớn lên chút đỉnh có thể mặc được. Tôi vẫn thấy mọi thứ trên quê hương nghèo nàn của tôi mang một vẻ đẹp tuyệt vời, thắm động nghĩa tình mà không nơi nào thay thế được. Sau nầy tôi định cư ngụ nhiều chổ khác nhau, nhiều tiểu bang khác nhau. Dù có bận rộn đêm 30 tết tôi vẫn chở các con đi lễ chùa, vì đó là cách tốt nhất còn gìn giử lại được một chút gì đó cho quê hương.

 

Giống như Ba tôi ngày xưa, sau khi cúng giao thừa tôi ngồi một mình uống trà. Chính lúc nầy là lúc nhớ nhà. Theo thói quen đầu năm tôi thường làm vài câu thơ mà người xưa hay bảo là khai bút:

 

“những câu thơ khiến ta chùng bước

lời ru quen đẩm nát lòng nhau

một thuở nhớ hoài thành mỏi mệt

cuối năm trời lạnh thêm nỗi sầu”

(NHỚ NGƯỜI, CHIỀU CUỐI NĂM – trong thi tập “TÁT CẠN ĐỜI SÔNG”

 

Hoặc:

 

trời lạnh, đêm tàn, một mình uống rượu

một mình ngồi giữa đêm ba mươi

tìm quanh không thấy một bóng người

lòng rũ, mắt đục mờ sương khói.”

(ĐÊM BA MƯƠI, UỐNG RƯỢU – trong thi tập”TÁT CẠN ĐỜI SÔNG”

 

Bây giờ đã hơn bốn mươi năm từ Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản. Những người Việt dồn dập đến đinh cư rải rác trên các đất nước khác nhau. Họ hội nhập hoàn toàn vào những nơi mà họ định cư, thế nhưng họ không quên được ngày tết trên quê hương. Gia đình nào cũng có vài cái bánh chưng hay vài đòn bánh tét, ăn để đỡ nhớ hay ăn để nhớ lại cảnh tết trên quê mình. Dù bây giờ việc trở về nó không khó khăn như trước đây. Thế nhưng trở về cũng cảm thấy xa lạ. Có lẽ vì xa nhau quá lâu cái tình nó cũng vơi đi ít nhiều. Đêm ba mươi nó không trầm lặng như ngày xưa, mọi người đổ ra đường chật ních, chùa hay nhà thờ không chen chân lọt bởi lẽ người thực tâm đi cúng Phật, lạy Chúa thì ít, mà người đi đến các nơi đó để phô bày thời trang, trai gái chọc ghẹo nhau thì nhiều. Sau một đêm 30 tết, cây cỏ ở chùa trụi lũi vì cái chuyện hái lộc đầu năm. Tôi là người hăng hái trở về ăn tết ở quê nhà nhiều nhất, thế mà khi trở về chứng kiến cái cảnh đón tết như vậy, xô bồ, thiếu văn hóa. Tôi sợ, ngao ngán và không cảm thấy thích thú. Tôi trở thành kẻ xa lạ ngay cả trên quên hương mình. Tôi đau vì những cái trân trọng nhất bị người ta lợi dụng, biến nó trở thành một trò chơi, giành giựt nhau ngay những chổ tôn nghiêm nhất. Xem trên internet cảnh hái lộc đầu năm tại các chùa danh tiếng ở Miền Bắc ta phải kinh hồn, chen lấn nhau, giành giựt nhau những hoa quả cúng Phật, biến bàn thờ trang nghiêm của Phật thành một bãi chiến trường, đồ đạc lăn lóc, vung vãi từ bàn thờ ra đến sân chùa.

 

Hôm nay là ngày đầu năm, tôi viết lại hồi ức nầy để tưởng nhớ, để suy ngẫm. Những điều hay cũng có, những điều không hay cũng nhiều. Tất cả đều rơi vào thời kỳ quá vãng. Dù hay dù dở nó đều gợi lại cho tôi một chút kỹ niệm vui buồn. Khi bắt đầu lớn lên chiến trường cũng bắt đầu sôi động, những cái tết trong lo âu, trong sợ hãi, trong chết chóc. Rồi tới thời kỳ quân đội Bắc Việt chiếm Miền Nam, ăn những cái tết nghèo nàn thiếu thốn, gia đình ly tán. Cho đến năm 1990 mới thực sự có tết đúng nghĩa, vì đất nước mở cửa có sự đầu tư của nước ngoài. Người dân được nới lỏng, cũng trong thời điểm nầy tôi bắt đầu rời khỏi đất nước.Tôi mong rằng từ nay về sau đất nước tôi không bị những thế lực đè lên đầu nhân dân, khiến những bất hạnh cứ đeo mãi, người dân không ngóc đầu lên nổi./

 

Những ngày đầu năm Ất Mùi (2015)

 

Phan xuân Sinh.

 

Advertisements

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

GIỌT MỰC LOANG

Posted by phanxuansinh trên Tháng Ba 2, 2015

GIỌT MỰC LOANG

Truyện của Phan Xuân Sinh

Trong lớp tôi thuở ấy có hai người con gái vừa học giỏi mà cũng vừa đẹp. Những thằng học cùng lớp không có đứa nào dám hó hé lại gần, đừng nói chi cái chuyện “cua”họ. Hà người Bắc tính tình hiền lành dễ thương. Loan người Huế tính tình chanh chua, khó ưa nhưng rất giỏi Việt văn. Trong lớp học  hai người con gái nầy như hai thái cực, có những hiềm khích. Nói cho ngay chúng tôi chỉ thấy thái độ của Loan tỏ vẻ ganh tị hiện lên hành động và trên nét mặt. Còn Hà tỏ vẻ nhu mì nhưng sẵn sàng đáp trả nếu Loan xâm phạm đến. Chính hai người nầy làm cho bọn con gái trong lớp chia làm hai phe. Phe nói tiếng Huế theo Loan, phe nói tiếng Bắc theo Hà.  Mấy bà Quảng Nam đứng trung gian. Mỗi lần đến giờ ra chơi, hai phe tụ nhau hai góc, nói xấu nhau, trì chiết nhau. Tụi con trai chúng tôi chọc đầu nầy, thọc đầu kia cho hai bên càng hiềm khích nhau hơn, lấy làm thích thú. Cho nên mấy thằng  hay đi ngang qua nghe lóm, ít thì nói cho nhiều, vẽ rắn thêm chân, câu chuyện trở thành trầm trọng khi chúng nó học lại cho phe bên kia biết. Cứ vậy hai bên càng ngày càng trầm trọng. Lúc đầu còn nguýt háy  nhau trong bóng tối, về sau công khai công kích nhau. Bài luận của Loan được thầy đọc cho cả lớp nghe là mấy bà Bắc Kỳ ghi lại những chỗ không đồng ý. Thế là tranh cãi nhau, mạ lỵ nhau một cách ranh mãnh. Lúc đầu Thầy dạy Việt Văn thích thú vì có sự tranh cãi rất sống động, làm cho giờ học sôi nổi. Sau thầy nhận thấy sự tranh cãi có phần gay gắt, mạ lỵ Thầy ra dấu “stop” không được tiếp tục làm sứt mẻ không khí học tập. Từ đó Thầy không đọc bài của Loan nữa.

 

Hà ở cùng một đường với tôi nên thỉnh thoảng đến nhà rủ tôi đi học. Hà hay hỏi tôi có biết phe Huế nói gì không? Có nghe động tịnh gì phe bên kia không? Tôi hỏi lại Hà: “Sao bạn quan tâm những thứ ấy làm gì? Để thời giờ lo học.” Hà vừa đi vừa suy nghĩ một lúc mới trả lời với tôi: “Nhiều khi Hà nghĩ thật vô lý,. Tại sao phải mất thì giờ nhiều như vậy? Thế nhưng phe Huế bên kia ép Hà quá, chịu không nỗi.” Tôi nhìn Hà thấy tội nghiệp. Tôi nói với Hà  đừng để ý, đừng nghe ngóng tự nhiên sẽ cảm thấy thanh thản. Nói cho Hà yên lòng chứ sự thật cũng khó, làm sao mà không nghe mấy cái giọng Huế chanh chua nhức đầu, xoáy vào tai như mũi khoan, mấy bà Bắc Kỳ không chịu được nên hai bên không bên nào chịu thua. Cái hồi gay cấn nhất là lúc Hà có bồ là một ông thiếu úy người Bắc, thỉnh thoảng đứng  đón Hà ở cổng trường.  Ông thiếu úy nầy cũng bảnh trai, xứng đôi với Hà. Đây là cơ hội mấy bà Huế trề môi chế giễu, trù ẻo cho ông nầy ra trận chết phứt đi cho rảnh mắt. Lời trù ẻo của mấy bà Huế nầy linh thiên thật, không thấy ông Thiếu Úy tới đón Hà như trước, nghe tin ông ấy tử trận. Tôi có hỏi khi Hà chờ tôi để cùng đi học, Hà không trả lời nhưng tự nhiên bật khóc. Trên đoạn đường tới trường, tôi hối hận đã khơi lại sự đau đớn của Hà. Từ đó không bao giờ tôi đụng chạm đến chuyện nầy. Chừng vài tháng sau tự nhiên Hà nói với tôi là người yêu của Hà chết thật, lời thú nhận nầy gây cho tôi xúc động, tôi cảm thấy thương hại cho Hà. Tuổi mới lớn bắt đầu có người tình thì nửa chừng gãy đỗ. Chuyện nầy tôi không hề hé môi cho ai trong lớp biết.

 

Sắp đến hè, đứa nào cũng bận rộn học thi. Tình trạng  ganh nghét giữa hai phe con gái Bắc và Huế cũng có phần lắng dịu. Sau kỳ thi tú tài năm đó mỗi người mỗi ngã. Năm cuối cùng lớp có tổ chức một cuộc tất niên, chị trưởng lớp nhờ tôi đứng ra làm trung gian cho Loan và Hà bắt tay nhau trong buổi tiệc tất niên đó. Tôi đại diện cho lớp cám ơn quý thầy đã dạy dỗ chúng tôi và lời bày tỏ cùng các bạn: “Thưa các bạn, như vậy sau bữa tiệc nầy chúng ta chia tay nhau vĩnh viễn, mỗi người mỗi ngã trên đường đời, thành công hay thất bại đó là số phận của mỗi người. Tuy nhiên chúng ta cũng nên nói với nhau lời cầu chúc tốt lành nhất, hoa mỹ nhất. Tôi mong rằng các bạn hãy bỏ lại sau lưng mình những tị hiềm, những ganh ghét, vì cơ hội gặp lại nhau rất hiếm. Tôi xin đề nghị chị Loan và chị Hà bước lên trên bục bắt tay nhau lần cuối. Tôi nghĩ hành động đẹp nầy của hai chị sẽ để lại dấu ấn vĩnh viễn trong lòng của những bạn cùng lớp trước khi chia tay..”  Hà và Loan e thẹn bước lên bục giảng bắt tay nhau, tự nhiên hai người bỏ tay ra ôm nhau khóc , làm  cho các chị trong lớp đều khóc sướt mướt. Các thầy rất ngạc nhiên không hiểu chuyện gì đã xẩy ra cho hai người.  Đó là niên học đáng nhớ nhất trong đời học sinh chúng tôi. Sau khi thi tú tài bạn bè ít có dịp gặp lại.

 

Chúng tôi những thằng bạn học cũ phần đông vào lính, mà lính thì biết khi nào mới gặp lại nhau.  Nói vậy chứ thỉnh thoảng về phép đi uống cà phê cũng gặp được vài thằng bạn cũ, từ đó hỏi thăm biết được thằng nầy thằng khác, có đứa chết trận, có đứa bị thương. Đứa nào cũng có vẻ hiên ngang với bộ đồ lính trên người. Còn bạn gái ít khi gặp lại nhưng cũng biết tin, phần đông các chị có chồng là l;ính nên cũng đa đoan với cuộc chiến mặc dù không trực tiếp ngoài chiến trường. Một lần tôi về phép thăm thằng bạn cũ làm thông dịch viên sở Mỹ tại Đà Nẵng. Thằng bạn hỏi tôi mầy còn nhớ con Loan không? Loan hiện làm ở đây. Tôi trả lời nhớ chứ, mầy gọi Loan qua đây chơi được không? Hắn chạy đi gọi Loan. Tôi ngồi trong phòng xem báo thì Loan vào. Tôi ngước lên nhìn, thú thật tôi không ngờ rằng Loan bệ rạc như vậy. Tôi đứng dậy bắt tay Loan, bàn tay của Loan không mềm mại, có vẻ cứng cáp. Tôi hỏi Loan có chồng con gì chưa? Loan lắc đầu, trong nét mặt có chút gì cay đắng. Loan nói với tôi nhờ bạn giới thiệu cho mình một ông lính, không cần quan tước gì cả. Tôi ngạc nhiên nghĩ trong bụng sĩ quan bà còn chê huống chi là lính. Tôi hỏi lại: “Loan có gì không vui phải không? Sao đắng cay quá vậy.” Loan lắc đầu không nói. Ngồi nói chuyện với tôi một hồi, Loan chào để trở về phòng  làm việc. Thằng bạn nói với tôi về Loan: “Gia đình Loan có một căn nhà cho  Đại Hàn thuê, không biết sao Loan có thai với thằng Đại Hàn thuê nhà. Ông bà già phải gởi Loan ra Huế sinh đẻ. Khi đứa con được ba tuổi mới đem về nuôi. Gia đình bảo rằng đứa nhỏ là con của bà chị bà con ở Huế, chồng chết Loan xin về làm con nuôi.”  Tự nhiên tôi thấy thương hại cho Loan, hèn chi khi nói chuyện với tôi Loan có vẻ không vui.

 

Một lần tôi về phép, đi uống cà phê với mấy thằng bạn cũ. Một thằng nào trong bọn nói với chúng tôi là con Hà Bắc Kỳ lấy thằng Quang. Tất cả mọi người đều trố mắt nhìn vì một sự nghịch lý mà không ai có thể ngờ. Hà học rất giỏi thi đậu dễ dàng tú tài I và tú tài II, còn ông nội Quang của chúng tôi thi mãi không đậu. Hồi đó hắn nổi tiếng học dốt nhất trong lớp, thi tú tài I năm lần bảy lược vẫn không  qua, sau phải đi lính chuyên viên Không Quân. Không biết làm sao hắn cua được con Hà nghĩ cũng lạ thật. Ngoài chuyện học giỏi, Hà cũng là một trong những con gái đẹp trong lớp. Ít ra cũng lấy được một người tương xứng. Mấy đứa ngồi uống cà phê bữa đó cứ tiếc thầm mãi. Chuyện số mạng cay nghiệt như vậy dù không tin cũng phải công nhận đã xẩy ra với Hà. Tôi nghĩ hay là Hà đã từng có người yêu là sĩ quan tác chiến, bị tử thương ngoài chiến trường nên sợ sẽ trở thành quả phụ, để yên thân Hà phải lấy một tấm chồng ngày đêm hú hí với vợ tới già, không sợ nửa đường gãy gánh. Thú thật chúng tôi chỉ đoán già đoán non chứ hoàn toàn không biết gì về cuộc sống của hai người. Tình yêu khó nói thật. Gia đình Hà đã dọn đi nơi khác từ lâu nên không còn gặp Hà như trước đây. Khi chia tay năm cuối cùng, đi về cùng đường Hà cho tôi biết nếu đậu kỳ nầy Hà sẽ đi Sài Gòn thi vào trường Phú Thọ để học kỹ sư điện. Tôi nghĩ ước mơ của Hà sẽ thành công dễ dàng vì Hà là học sinh giỏi. Tôi không biết khi lấy Quang, Hà đã đậu kỹ sư chưa?

 

Đó là cuộc đời của hai người bạn gái vừa đẹp mà cũng học giỏi, vậy mà có chút gì cản trở không suông sẻ trên đường đời. Còn bọn con trai chúng tôi, khi ra trường chừng hơn một năm sau bị chi phối bởi lệnh Tổng Động Viên. Một mẻ lưới oan nghiệt không ai thoát ra được, thỉnh thoảng được tin có thằng tử trận. Đứa nào về thành phố thì đến nhà thắp cho bạn mình một cây nhang hay tiễn bạn ra nghĩa trang. Khi ra về tìm một quán nhậu, hay quơ đại một chai rượu đế về nhà ngồi uống một mình. Cố xua đuổi nỗi buồn, cố quên những bất hạnh mà những đứa bạn lần lược nằm xuống. Tâm trạng của chúng tôi lúc nào cũng lo sợ, không biết đến bao giờ sẽ tới phiên mình. Giọt mực nhỏ xuống trang giấy không đọng lại một chỗ mà nó loang rộng làm mờ cuộc đời của chúng tôi. Tôi nghĩ những người bạn gái cũ, chắc các chị cũng không thua gì chúng tôi. Ai cũng phải lấy chồng, mà chồng của các chị cũng không thể thoát ra khỏi vòng cuộc chiến, cho nên đôi khi ra phố trông thấy các chị chít khăn tang trên đầu là biết ngay  các chị có tang chồng. Bạn trai hay bạn gái trong thời chinh chiến đều mang nỗi lòng lo sợ như nhau, đau khổ giống nhau.

 

Rồi tới 30 tháng 4 năm 1975. Tưởng rằng hòa bình mà mọi người chờ đợi sẽ tốt hơn, cuộc sống sẽ mang tới cho chúng ta niềm vui, không trông thấy cảnh chết choc. Thế nhưng mọi chuyện không như vậy. Tất cả chúng tôi đều vào tù,  những người vợ chắt chiu đi nuôi chồng mà đời sống của họ vô cùng thảm thiết.  Những tiểu thư ngày xưa nuôi những ước mơ cao sang, chỉ vài năm sau trông thấy họ te tua tội nghiệp. Mấy thắng bạn học tập trở về, trông thấy họ bệ rạc như những ông cụ non, thân hình ốm o thiếu ăn. Toàn cảnh Miền Nam lúc ấy sống trong cơ cực. Không ai giúp được ai. Tôi về Đà Nẵng nhắn mấy thằng bạn cũ tới nhà uống với nhau ly rượu thì bị Công An đến gây khó dễ. Một người bạn từ Sài Gòn về thăm bạn bè, vào kể lại cho tôi nghe là anh ấy tập trung một số bạn cũ ngồi uống rượu. Anh đi ra nhà sau đi tiểu thì trông thấy mấy ông Công An rình rập bên ngoài nghe lén. Anh sợ quá nhảy rào chạy thoát thân. Ngày mai anh nghe người nhà báo cho biết là tất cả những người ngồi nhậu đều bị bắt. Từ đó ở Sài Gòn tôi ít về thăm quê nhà. Nhìn thấy gia đình nào cũng xác xơ, lòng người rịu rã, những cán bộ thì hống hách chèn ép dân chúng. Ai sống tại Đà Nẵng thời ấy cảm thấy  ê chề ngao ngán, nhưng không dám hé răng.

 

Đến thập niên 90, có sự ban giao với Hoa Kỳ đất nước mở cửa người dân được nới lỏng. Rồi chương trình HO cho những người tù cải tạo ra đi, đời sống dân chúng còn ở lại được thoải mái đôi chút. Đất nước xem như được khởi sắc cho đến bây giờ. Tôi ra đi năm 1990, nghĩa là tôi có 15 năm sống trong nước dưới chế độ Cộng Sản, tôi biết và hiểu tường tận dân tình lúc ấy. Qua bên nầy rồi nhìn lại, thật khủng khiếp. Tôi không hiểu một chế độ như vậy mà tại sao cho đến bây giờ vẫn còn tồn tại? Những người có lương tri, có hiểu biết làm sao chấp nhận một cuộc sống bị nhà cầm quyền tước đoạt hết như vậy? Mới hay áp lực aka, tù đày đã làm dân chúng khiếp sợ và răm rắp vâng lời. Thôi chuyện đất nước dài quá, nói mãi không hết được. Tôi trở lại chuyện của chúng tôi. Giọt mực nhỏ xuống loang mãi trong đời của những thằng học sinh chúng tôi. Câu hát ngày xưa trong thời  tiểu học mà ai ai cũng biết: “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau…” Thế hệ chúng tôi, tổ quốc chối từ. Người ta cần những người không  có kiến thức, nhưng biết trung thành, biết quỵ lụy. Vì vậy tất cả những người Miền Nam đều bị loại ra khỏi các cơ quan lớn nhỏ của chính quyền. Cũng may cái phao cứu chúng tôi đúng l;úc là được định cư ở Hoa Kỳ.

 

Cách đây 10 năm, trong một lần ra mắt sách của một người bạn tại North Carolina, thì một người trong Ban Tổ Chức đến cho tôi biết là có một bà đứng bên ngoài cần gặp tôi. Tôi ra thì gặp Loan. Tôi rất ngạc nhiên không biết tại sao Loan biết tôi ở đây? Loan giới thiệu người chồng, anh đến bắt tay tôi. Nhìn  Loan với khuôn mặt vui tươi rạng rỡ, tôi biết họ đang hạnh phúc.  Vợ chồng Loan đến Mỹ năm 1991 cùng với các con. Tôi không dám hỏi Loan nhiều,  nhất là đứa con Đại Hàn của Loan. Sau nầy khi liên lạc với nhau bằng điện thoại,  Loan mới cho biết anh Nghĩa đồng ý cho Loan  mang theo đứa con ngoại hôn dị chủng đó. Tôi rất mừng cho Loan. Trong một lần điện thoại nói chuyên, Loan hỏi tôi có ai trong lớp lúc đó biết chuyện Loan có bầu không? Tôi nói thẳng thừng ai cũng biết hết và ai cũng thương cho Loan lúc ấy kể cả Hà. Loan yên lặng một hồi rồi nói với tôi  là mình ân hận chuyện trẻ con lúc ấy. Không biết lý do gì mà mình thù Hà đến như vậy, có lẽ mình ganh ghét vì Hà học giỏi hơn mình. Đến ngày chia tay hai đứa ôm nhau khóc, mình mới biết mọi chuyện đều do lỗi ở mình gây ra, Hà hoàn toàn vô tội. Ước gì bây giờ gặp lại Hà mình sẽ xin lỗi và thú nhận hết chuyện nầy, mình nghĩ chắc Hà phải cười thôi.  Tôi nói với Loan là hồi đó đi học về cùng đường, Hà cũng nói cho tôi biết là Hà muốn làm hòa với nhau, nhưng sợ Loan không đồng ý thì quê lắm,  nên giữ thái độ im lặng. Mà thật ra nhiều lần tôi muốn nói với L:oan về chuyện giải hòa, nhung lần nào trông thấy bộ mặt hầm hầm của Loan tôi không nói ra được. Loan hét trong phôn, sao bạn không nói ra lúc đó? Mình cũng đang chờ chuyện giảng hòa từ lâu. Tôi cười như vậy hai bạn đều đáng thương hết. Thời đi học ai cũng vấp phải những sai lầm, bây giờ đứa nào cũng già nhìn lại thấy vừa ân hận mà cũng vừa dễ thương. Tôi hỏi Loan  có biết Hà kết hôn với Quang không? Loan bảo biết, mình rất ngạc nhiên và thương  Hà hết sức. Bây giờ bạn biết Hà ở đâu không? Từ khi lấy chồng không ai biết Hà đang ở đâu.

 

Trong lần ra mắt tập thơ của tôi năm ngói tại Wesminster. Tôi ngồi  ký tặng sách nên không trông thấy mặt người đưa tập thơ cho tôi ký. Người đó nói với tôi nhờ anh để tên Vũ Thị Băng Hà. Tôi giật mình ngước lên, vội vàng đứng dậy nắm chặt tay Hà. Sao bạn biệt tăm không nghe tin tức gì về bạn, hơn 46 năm rồi phải không?  Hà cúi đầu nhỏ nhẹ nói với tôi, chuyện của mình không vui, nên mình tránh hết bạn bè. Tôi hỏi Quang đâu? Hà lắc đầu. Khách ra vào đông đảo nên tôi không nói chuyện được, Hà hẹn sáng mai đến khách sạn đón tôi đi uống cà phê rồi nói chuyện nhiều hơn. Tôi nhìn Hà trở về chỗ ngồi, rồi tiếp tục ký sách cho người khác.

 

Đúng 9 giờ sáng hôm sau, Hà lái xe đến đón tôi tại khách sạn. Ngồi trong xe nhìn Hà,  tôi nhận thấy Hà trông vẫn còn trẻ so với số tuổi. Chúng tôi bây giờ trên 60 hết rồi, tôi nhớ tôi thuộc thành phần nhỏ tuổi trong lớp mà đã 64 thì Hà hoặc bằng tôi, hoặc hơn tôi. Đến tiệm cà phê Hà nói trước là bữa nay Hà xin trả tiền cà phê để khỏi phải dành nhau. Tôi nói với Hà là thỉnh thoảng tôi nói chuyện với Loan. Tôi hỏi kháy Hà có còn nhớ Loan không? Hà cười, đó là nhân vật mình nhớ suốt đời, bây giờ Loan ra sao? Tôi cho Hà biết tình hình của Loan hiện thời và Loan rất hối hận về chuyện xích mích với Hà khi còn đi học. Ước gì bây giờ Loan gặp lại Hà. Tôi thấy Hà xoay tròn ly cà phê trên bàn nói với tôi, lúc đó một phần cũng tại mình, mình có thái độ khinh thường mọi người, không cần thân thiện với ai cả, vì ỷ lại mình học giỏi.  Tội nghiệp Loan ra đời vấp ngã cũng như hoàn cảnh của mình thôi.  Bây giờ đứa nào  cũng tỉnh người. Vậy là hai bạn đều lãnh phần lỗi về mình một cách chân thật. Nếu có Loan ở đây chắc Loan cảm động lắm.

 

Ngồi suy nghĩ một hồi,  Hà kể cho tôi nghe về gia đình.  Ông Bà già của Hà dọn nhà đi Sài Gòn làm ăn sau khi Hà đậu tú tài. Nhà ở Quận Tư Sài Gòn. Một hôm Hà đi phố gặp Quang, lúc đó Quang đã đi lính Không Quân. Quang rủ Hà vào quán cà phê ngồi nói chuyện. Hà xem Quang như một người bạn nên uống cà phê xong Quang chở giùm Hà về nhà bằng xe Honda.  Từ lúc đó Quang thỉnh thoảng ghé nhà chơi. Một hôm Quang đếnkhông có Hà ở nhà, Quang khóc lóc với ông bà già là Quang yêu Hà. Nếu không lấy được Hà thì Quang sẽ tự tử. Về nghe ông bà già kể lại, mình hết hồn, tưởng rằng chuyện như đùa,  gặp Quang mình sẽ cự tuyệt. Quang thường đến nhà trong lúc mình đi học, nên tỉ tê với ông bà già mãi về chuyện muốn cưới Hà. Ông bà già xuôi lòng, chỉ có mình là không biết chuyện nầy.  Một hôm ăn cơm tối xong, ông già đưa chuyện của Quang ra nói với mình, mình cự tuyệt thì ông già làm dữ. Ông bảo rằng mấy thằng sĩ quan mà mầy quen toàn là tác chiến, ông nhất định không gả. Quang dù lính trơn nhưng an toàn sống với vợ con. Từ đó mình khóc hết nước mắt  cũng không lay chuyển được ông bà già. Mình phải đành lấy Quang là vì vậy. Sống với Quang mình mang nhiều mặc cảm quá, trong đầu lúc nào cũng khinh bỉ Quang. Đến khi mình sinh đứa con đầu lòng xong thì tức nước vỡ bờ, hai đứa càng đố kị nhau không thể hàn gắn được đành chia tay. Thú thật Quang không muốn nhưng mình nhứt định dứt khoát với nhau. Mình tiếp tục đi học đến khi ra trường. và tự mình nuôi con. Từ chuyện lấy Quang, mình học được một bài học lớn trong đời. Vợ chồng khi đã khinh nhau thì không bao giờ sống chung với nhau được. Mình hối tiếc đã không quyết liệt từ lúc đầu để bây giờ phải phải bẽ bàng, nhưng tất cả đều do số mạng phải không? Tôi thành thật hỏi Hà :”Có lẽ Quang học dốt quá nên Hà mang ấn tượng nầy trong đầu?”. Hà cũng trả lời với tôi thẳng thắn: “Hà không quan tâm điều đó. Nhưng khi sống với nhau Quang hé lộ bản chất keo kiệt, ích kỷ và kiến thức thấp hèn của mình. Bao giờ cũng lớn lối với vợ con. Hà không chịu được nên phải đổ vỡ thôi”.

 

 

Mình nghe nói sau một năm ly dị, Quang lấy vợ khác và hiện giờ còn ở Việt Nam. Còn mình sau khi mất Sài Gòn vài năm thì mình gặp anh Hoàng học tập về, bị vợ bỏ. Hai đứa hiểu hoàn cảnh của nhau và tự nguyện đến với nhau. Mình và anh Hoàng có thêm hai đứa con nữa, như vậy một đứa con riêng của mình, cộng với hai đứa con chung với anh Hoàng và thêm hai đứa con của anh Hoàng với người vợ trước đều được qua Mỹ. Vài năm sau mình bảo lãnh Bố Mẹ mình qua, cũng nhờ vậy vợ chồng mình  mới rãnh tay đi cày, các cháu do ông bà chăm sóc. Đời sống bây giờ của mình đã ổn định, các cháu đều ra trường. Tôi nói lời chúc mừng với Hà, bắt đầu bây giờ bạn không còn lo nghĩ, không còn vất vả. Như vậy bạn xem như đã thành công trong cuộc sống. Tôi với Hà  kể cho nhau nghe mấy người bạn mà chúng tôi đã quen biết nhau khi ngồi trên ghế nhà trường, khi nói chuyện chúng tôi mới kiểm chứng lại số người bị vấp ngã trong cuộc sống nhiều hơn số người có một cưộc sống trôi chảy. Tất cả không ít thì nhiều đều do chiến tranh gây nên. Tôi cho Hà số phôn của Loan trước khi chúng tôi chia tay nhau. Hà cho biết đứa con trai lớn của Hà với Quang hỏi ý kiến là muốn bảo lãnh cho Quang qua định cư? Hà trả lời là tùy thuộc sự định đoạt của con, mẹ không ý kiến chuyện nầy. Trước khi bảo lãnh phải cân nhắc kỹ càng vì trách nhiệm rất nặng nề. Bây giờ thì con của Hà không đề cập đền chuyện nầy, mỗi tháng gửi cho Quang một ít tiền. Qua đây tuổi già cũng chẳng làm được gì lại phiền con cái.

 

Lần vừa rồi về Việt Nam, gặp lại các bạn cũ tôi đều kể lại chuyện có gặp Hà và Loan. Các bạn rất vui khi biết được bây giờ hai bạn ấy đã có cưộc sống ổn định. Chuyện cũ trên ghế nhà trường thuở xưa ai cũng đều hối tiếc, thế nhưng vẫn còn đọng lại một chút dễ thương, trẻ người non dạ, cứ nuôi trong lòng chút tự ái hão huyền không ai chịu dừng lại. Trong bạn bè của  chúng tôi, bây giờ ai cũng có con cháu đầy đàn nên nhìn lại chuyện cũ ai cũng tự trách mình. Tại sao khi Hà và Loan xích mích mình không đứng ra ngăn cản mà cứ để sự việc lún sâu? Không phải Hà và Loan thẹn khi đề cập lại chuyện đó, mà chính tất cả bạn bè đều thẹn vì ích kỷ, vì tị hiềm nên nhìn sự việc dửng dưng, không ai lên tiếng ngăn cản để mở ra một lối thoát cho hai người. Gần năm mươi năm sau, hai người tìm lại nhau qua điện thoại. Dù sao họ cũng nói lên được sự ân hận của họ cứ ấp ủ trong lòng , bây giờ mới thoát được.

 

Houston, ngày mồng một tết Ất Mùi (2015)

19/2/2015

Phan Xuân Sinh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 13, 2014

NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH

*Phan Xuân Sinh.

Tôi từ Sài Gòn về hôm nay thì ngày mai đám giỗ má tôi. Thằng em út tôi đề nghị sáng hôm sau dậy sớm để vào thăm mộ má trước, tới chiều mới làm mâm cơm đám giỗ má sau. Tôi quên không hỏi nó bây giờ má chôn ở đâu? Vì trước đây tất cả mồ mả được qui hoạch chôn vô một chổ, chứ không có nhiều nghĩa địa như ngày xưa. Tối hôm đó tôi đi chơi với mấy thằng bạn tới khuya mới về rồi đi ngủ, còn mọi chuyện thằng em tôi lo tất cả.

 

Sáng dậy sớm uống một ly cà phê, rồi nó chở tôi trên chiếc xe honda của nó. Tôi chỉ hỏi đường đi có xa không? Nó bảo là đi chừng một tiếng đồng hồ. Rồi hai anh em cứ thế mà đi. Hơn hai mươi năm không về Đà Nẵng, tôi không còn nhớ đường xá nhất là trong thời kỳ tốc độ xây dựng chóng mặt, nên mọi nơi chốn đều lạ lẫm với tôi. Tôi nhớ thằng em chở tôi qua cầu Trịnh Minh Thế, rồi nhắm hướng chùa Non Nước. Qua khỏi chùa Non Nước thì tôi không còn biết nơi chốn nó đi tới, vì hai bên đường nhà cửa san sát, nó không còn là đồng quê. Ngày xưa nơi đây là đồng không mông quạnh là vùng oanh kích tự do. Đơn vị của tôi thường đi hành quân trên vùng nầy, nhưng bây giờ nó đã trở thành một thị trấn khá tấp nập. Đúng là vật đổi sao dời.

 

Thằng em tôi ngừng xe lại một quán Mì Quảng bên đường, nó nói là anh em mình vào ăn một tô mì rồi đi tiếp. Nó sực nhớ là tôi ở Mỹ về nên nó hỏi: “Mà anh có ăn được không? Đây  là quán bình dân, ăn cốt cho no chứ không ngon”. Tôi gật đầu, ngầm bảo với nó là ăn được. Tôi nhớ ngày xưa còn nhỏ, nhà nghèo đâu dễ gì ăn được một tô mì dù là mì bình dân như bây giờ. Một tô mì phải độn thêm vào hai chén cơm, một muỗng nước mắm mặn. Nó không còn hương vị của mì, thế nhưng khi ăn xong vẫn còn thèm thuồng. Bà chủ quán mang ra hai tô mì, rồi bà nhìn chăm chăm vào mặt tôi như soi mói một cái gì. Có lẽ bà thấy tôi trắng trẻo mập mạp, nên bà nghi tôi không phải dân ở đây. Tôi cúi đầu hì hụp ăn như không cần biết mọi vật chung quanh mình. Tô mì rất thân quen với con mắt của tôi mặc dù mấy mươi năm mới thấy lại. Cũng vài con tôm bạc, vài lát thịt mỡ, vài cọng hành, một ít đậu phụng rang và nửa cái bánh tráng nướng. Chế biến đơn giản nhưng mùi vị y chang như thời xa xưa mà tôi đã từng nếm qua nhiều lần. Mấy chục năm trên đầu lưỡi của tôi đã tiếp nhận biết bao thứ đậm đặc gia vị, tôi nghĩ rằng cách nấu nướng đơn giản của vùng quê mình sẽ không được ngon miệng. Thế nhưng tô mì nầy đã làm cho tôi giật mình cảm thấy đã tìm về được nét “đậm đà bản sắc dân tộc” (mà người trong nước hay dùng từ nầy để chỉ những phong tục, tập quán, lễ nghi v.v…mang tính riêng của quê hương). Tôi ăn ngon lành như vừa mới khám phá ra món lạ. Thằng em ngồi bên cạnh thấy tôi ăn nó gật gù thích thú.

 

Khi ăn xong ngồi uống nước, tôi hỏi bà chủ quán về địa danh vùng nầy. Bà cho biết đây là xã Hòa Lân, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Bà hỏi tôi đã từng đi qua vùng nầy lần nào chưa? Tôi trả lời với bà trong thời chiến tranh tôi có đi lại vùng nầy vài ba lần. Tôi hỏi bà xã Hòa Lân có một cái chùa cách đây bao xa? Bà chỉ tay vào phía trong cách chừng sáu bảy trăm mét. Có lẽ bà tự hỏi tại sao ở đây tôi biết có một cái chùa? Phải là người thân quen với vùng nầy. Chính vì thế bà đọc được trên nét mặt của tôi có chút gì thân thiết, nên bà trả lời rất cặn kẽ và đượm một tí cảm tình. Tôi nhớ lại năm 1972, trong một cuộc hành quân tại vùng nầy, trung đội của tôi khám phá được một căn hầm y tế gần cái chùa của xã Hòa Lân. Dưới hầm có một nam bác sĩ và một nữ y tá. Thường thường khi phát hiện được một căn hầm thì chúng tôi cột mấy thỏi chất nổ TNT thả xuống theo đường thông hơi rồi giật sập, để tránh trường hợp mở đường máu tẩu thoát. Thế nhưng hôm đó tôi lại không cho lính làm vậy. Sau khi bố trí lính nằm chung quanh hầm  chỉ chừa một khoảng để tác xạ, rồi kêu gọi những người dưới hầm lên đầu hàng, nếu không lên chúng tôi buộc lòng phải phá sập hầm. Chúng tôi thấy từ dưới hầm chui lên hai người, một nam và một nữ, họ cho biết là dưới hầm không còn ai. Hai người đến gần tôi và yêu cầu tôi cho họ gặp người chỉ huy cuộc hành quân. Tôi nói với họ là người chỉ huy trên máy bay trực thăng, chỉ có tôi trực tiếp tại đây, anh cần gì? Anh chỉ xin một điều là đừng bắn anh. Tôi cười vỗ vai anh, không có ai làm gì anh hết, yên tâm. Anh nhìn tôi với một sự nghi ngờ không biết tôi có thực quyền che chở cho anh không? Anh cho tôi biết anh là bác sĩ và người con gái là y tá, hai người mới đến vùng nầy. Người bác sĩ trạc bằng tuổi tôi lúc đó, người Miền Bắc, khuôn mặt rất tuấn tú. Chỉ có nước da trắng xanh có lẽ vì ban ngày phải nằm dưới hầm. Tôi mời anh hút thuốc để trấn an sự sợ hãi. Có lẽ người ta tuyên truyền rằng chúng tôi là những con người khát máu, lòng dạ lang sói, không một chút tình người. Chỉ biết chém giết. Một điều may mắn cho hai người là hôm đó chúng tôi không phá sập căn hầm, cho nên hai người mới được sống sót.

 

Ngồi chờ máy bay ở sân chùa, anh thấy anh em chúng tôi nói cười vui vẻ không có một chút gì ghê gớm, trên khuôn mặt hồn nhiên. Dần dần sự sợ hãi cũng mất đi, anh thành thật trả lời những gì tôi hỏi. Thật tình thì tôi chỉ hỏi những vấn đề sinh sống ở Miền Bắc vì hiếu kỳ muốn biết, chứ không có tính cách khai thác. Tôi biết lúc ấy anh có cái nhìn khác về chúng tôi. Thì té ra chúng tôi cũng là những con người như anh vậy. Chiến tranh thật kinh khủng, không những chém giết nhau mà còn dối trá, lừa lọc. Nhét vào đầu những cái xấu xa, những hận thù. Để khi anh em gặp nhau ngỡ ngàng nghi kỵ. Không biết anh Bác Sĩ đó có còn sống sau cuộc chiến tranh khốc liệt, tương tàn nầy không? Mong rằng anh đọc được những dòng chữ nầy.

 

Chúng tôi trả tiền rồi lên xe đi tiếp. Thằng em bây giờ mới nói cho tôi biết là Má chôn ở Cẩm Hải. Tôi giật mình. Sao lại có sự trùng hợp lạ kỳ nầy vậy. Địa danh nầy tôi không thể nào quên được. Ngày 01 tháng 6 năm 1972, tôi mất một bàn chân tại Cẩm Hải trong cuộc chiến. Bây giờ má tôi lại được chôn nơi nầy. Ôi, những oan nghiệt cứ đeo mãi theo tôi thế nầy. Tôi muốn quên đi tất cả, thế mà cứ dây mơ rể má cột chặt tôi vào một nơi chốn đã làn tan nát đời tôi. Tôi bước xuống xe nhìn chung quanh, tôi không còn nhận ra một dấu vết nào của cái vùng mà ngày xưa tôi đã dẩm nát. Căn cứ Đại Hàn để lại cho Trung Đoàn 51 cũng không còn dấu vết, chỉ có mồ mã bạt ngàn. Nơi đây ngày xưa buổi sáng chúng tôi dẫn lính ra tập thể dục, rồi tắm biển. Những buổi chiều tôi hay đi một mình trên bãi hoặc ngồi nhìn sóng vỗ. Tôi thích tiếng sóng vì âm vang của nó nghe vừa êm tai mà cũng vừa như áp đảo. Tôi không hiểu tại sao người ta lại dùng một bãi biển đẹp như vậy làm nghĩa địa. Thật uổng phí mất một thắng cảnh.

 

Chúng tôi vào thăm mộ má, tôi rất hài lòng với ngôi mộ được xây dựng đơn giản nhưng rất uy nghi. Nó nói với tôi là ở đây cũng không được chắc chắn, có thể sau nầy người ta trưng dụng đất đai, lại dời mã đi nơi khác. Vì vậy không dám xây một cách hoành tráng được. Tôi bảo là không cần thiết phải làm như vậy, như thế nầy là đủ quá rồi. Trong nghĩa trang nầy dễ nhận ra được một điều là mồ mã nào xây dựng to lớn đẹp đẽ là có bàn tay của Việt Kiều. Đúng vậy, tôi đi xem mấy tấm bia người đứng tên xây dựng đang ở Mỹ, Pháp, Canada, Úc v.v…Thôi thì cũng nở mặt nở mày cho người sống cũng như người chết còn ở lại Việt Nam. Tôi nghĩ rằng họ cố gắng xây dựng mồ yên mã đẹp cho thân nhân vì sau đời họ con cái cháu chắt không còn trở về để lo cho ông bà như họ được.

 

Nhìn nghĩa địa chúng ta liên tưởng đến đời sống của cõi dương nầy. Âm, dương cũng không cách biệt nhau lắm, có kẻ giàu người nghèo. Có nhiều ngôi mộ nguy nga lộng lẫy, được xây dựng chắc chắc, chạm trổ công phu. Nhưng cạnh đó cũng có những nấm mộ vun đắp sơ sài, không hương không khói. Nằm ở giữa huyệt lạnh mà cũng không thoát được cảnh nghèo khó. Tội nghiệp cho những linh hồn bị cái cảnh dương thế chi phối nặng nề. Ai nói nằm xuống đất là hết đâu? Không cần phải nhìn đâu xa, nhìn nghĩa trang Cẩm Hải nầy cho ta liên tưởng đến một xã hội bên ngoài. Kẻ thì quá giàu còn người thì quá nghèo. Sự chênh lệch quá đổi làm cho ta phải lặng người, thương cho số phận hẩm hiu của những kiếp người bất hạnh đeo đuổi họ từ dương thế đến cõi âm.

 

Tôi lấy ba cây hương đến trước mộ má tôi khấn rằng: “Thưa Má, hôm nay con lại về trúng vào ngày giỗ Má nên con vội vàng vào thăm Má. Nơi Má nằm chính là nơi con gửi lại một bàn chân trong cuộc chiến, thương con Má cứ ôm nó vào lòng như ngày xưa Má ôm con vậy. Nếu nhớ con Má có thể vuốt ve nó vì chính nó là thân xác của con. Má không còn sợ cô đơn vì nó là da thịt xương máu của con đang cận kề bên má. Má phù hộ cho gia đình con có đầy đủ sức khỏe, ăn nên làm ra để có đủ điều kiện về thăm Má thường xuyên”. Tôi không biết Má tôi có nghe lời tôi khấn nguyện không? Nhưng tôi cảm thấy trong lời khấn nguyện thành thật của tôi, có chút chua xót, cay đắng.

 

Một người đàn ông đi tới và tự giới thiệu với tôi, ông là người chăm sóc những ngôi mộ nầy, ông gìn giữ cẩn thận nên mới được hoàn hảo như ngày hôm nay. Chứ không thì tụi chăn trâu đập phá. Ông xin tôi một số tiền thù lao mà ông đã chăm sóc bấy lâu nay. Thằng em tôi chưng hửng vì nó thường vào thắp nhang cho Má mà có thấy ai đâu, bây giờ lại gặp tình trạng khó xử như thế nầy. Nó hỏi ông đó là phải trả cho ông bao nhiêu? Ông nói một tràng không ngượng ngập, sượng sùng gì cả: “Ông cho tôi tiền nhiều thì tôi giữ cẩn thận, còn cho tôi tiền ít thì cái mộ nầy sẽ bị hư hại. Tùy theo mức độ tiền nhiều hay ít rồi tôi sẽ tự liệu”. Thằng em tôi thấy vậy, rút đưa cho ông năm chục ngàn. Ông chần chừ chê ít không chịu lấy. Nó phải rút thêm ba chục ngàn nữa, ông mới chịu đi. Sau khi ông đi thì cái đám chăn trâu không biết ở đâu bu lại cả chục thằng, lần đầu thì xin đồ cúng để ăn, sau thì xin tiền. Chúng nó nói thẳng vào mặt thằng em tôi, nếu không cho tiền thì lần sau vào sẽ thấy cái mã nầy tanh bành. Cái thằng cha vừa rồi đâu có làm gì, hắn ở đâu đâu thỉnh thoảng tới hù dọa mấy ông cho tiền ổng, còn tụi tôi ở đây hằng ngày thì làm lơ, đâu có được. Chúng nó đánh trúng vào tâm lý sợ sệt của anh em tôi, thằng em tôi rút cho mỗi thằng mười ngàn, rồi hối tôi lên xe chạy ngay chứ chần chờ sẽ có người khác đến làm phiền thêm.

 

Tôi ra khỏi nghĩa trang lòng đầy bối rối, không ngờ những chuyện nhỏ nhặt nầy để lại

cho tôi một mối suy tư về lòng dạ con người, không có một chút liêm sỉ, một chút đạo

đức nào nữa hết sao? Lâu quá rồi xa quê hương, trên xứ người tôi chưa bao giờ gặp

những tình huống làm tiền trắng trợn như vậy. Về chứng kiến những sự thật phủ phàng

trong lòng tôi ít nhiều đổ vỡ. Thằng em ngồi phía trước xe xoay ngang mặt, nói với tôi:

“Hơi sức đâu mà anh để ý mấy cái chuyện vụn vặt nầy. Ở đây có nhiều chuyện làm tiền

trắng trợn hơn nữa. Làm lớn thì ăn lớn, làm nhỏ thì ăn nhỏ. Không cần biết người khác

sống chết ra sao, miễn sao tiền bạc vô đầy túi”.

 

Thằng em chở tôi ghé vào Hội An đi vòng vòng cho biết, thăm lại thành phố nầy ngày xưa tụi tôi hay la cà mấy cái tiệm cà phê những ngày không đi hành quân. Các tiệm cà phê Chiều ở đường bờ sông, hoặc cà phê Phượng ở phía trước cổng Tiểu Khu là những quán mà chúng tôi hay ngồi nhất. Thành phố vẫn không thay đổi mấy, hình như người ta muốn giữ lại những cấu trúc thời xa xưa. Ở nước ngoài mình quen mắt với đường xá, nhà cửa đồ sộ. Về nhìn lại Hội An thấy cái gì cũng nhỏ, nhà cửa thấp lè tè nhưng rất dễ thương. Một thành phố từ đầu trên đến xóm dưới đều biết nhau, quen nhau. Không những quen biết thôi mà còn hiểu tường tận gốc gác của nhau nữa. Có lẽ đó là cái đặc thù nhất của Hội An mà dù có đi khắp thế giới tìm một thành phố mà những con người gắn bó, thân thiết như vậy cũng thật hiếm hoi.

 

Tôi nhớ hồi còn đi học thỉnh thoảng tôi hay vào Hội An chơi với mấy ông bạn “thi sĩ” của tôi: Hạ Đình Thao, Lê Văn Trung, Lê Anh Huy, Kiều Uyên v.v… Đi xuống gần Cẩm Thanh để ăn mì Bà Đợi hay qua cầu Cẩm Phô để ăn chè. Tối về thì vào chùa Phước Kiến ngủ với Thái Tú Hòa (em ruột nhà thơ Thái Tú Hạp). Thấy tôi đến bao giờ Hòa cũng gọi Cẩm (cô em gái của Hòa) mang cái tô ra bà Cảnh mua một tô cao lầu cho tôi và không quên thêm một chén cơm nguội. Tuyệt vời, không có cái gì ngon bằng. Cho đến bây giờ hơn bốn mươi năm tôi vẫn còn nhớ như mới ngày nào. Tội nghiệp tụi tôi đứa nào cũng nghèo xơ xác, mình có thể nhịn ăn nhưng khi gặp bạn bè  thì đãi bạn một cách hào phóng. Hào phóng ở đây có nghĩa là ăn một tô mì hay uống một ly cà phê chẳng hạn. Chứ làm gì có tiền đãi nhau thịnh soạn được, nhà đứa nào cũng nghèo. Mấy ông nầy ra Đà Nẵng tôi đãi một món đặc sản là đậu phụng chiên với nước mắm. Nước mắm khi khô bám vào hạt đậu, vừa dòn vừa mặn, để ăn với cơm. Ngày nào cũng vậy, chẳng có ai khiếu nại về chuyện ăn uống, để dành tiền đi uống cà phê Diệp Hải Dung.

 

*

 

Buổi trưa anh em tôi về lại Đà Nẵng để lo đám giỗ. Tôi có mời vài người bạn đến ăn đám giỗ má tôi. Lâu quá, dễ chừng gần hai mươi năm không gặp lại nhau. Bạn bè người nào cũng quá nhiều thay đổi, từ con người đến cuộc sống, tụi tôi bắt đầu bước vào tuổi già. Thế mà khi ngồi lại nói chuyện với nhau như hồi còn trẻ. Tôi kể cho tụi nó nghe về những gì mà tôi đã gặp sáng nay, tôi thấy trên khuôn mặt chúng nó không có một chút ngạc nhiên. Như vậy, chuyện như thế nầy cũng thường xẩy ra và ai sống tại quê nhà cũng thường gặp. Đời sống khó khăn, con người sinh ra nhiều biến thái.

 

Sau khi dùng cơm xong, chúng tôi rủ nhau đi uống cà phê. Tôi không nhận ra một chút gì cái thành phố mà tôi đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở đó. Bây giờ nó mang một bộ mặt khác sang trọng và lịch lãm hơn. Những con đường rộng rãi và dân cư đông đúc. Một vài người hỏi tôi nghĩ gì về những thay đổi vội vàng của Đà Nẵng. Tôi trầm tư biết trả lời sao đây? Hơn 30 năm rồi, quê hương nhiều mất mác quá. Tôi thấy hình như mọi người cố gắng chạy đua cho kịp, thể hiện cho người ta biết mình có tiền có của, mạnh ai nấy xây nhà. Những hình thù nhà cửa thật nham nhở lố lăng, thể hiện một cái thứ trưởng giả học làm sang. Tôi không biết người ngoại quốc đánh giá cách xây dựng nầy ra sao. Chứ còn tôi không chịu được, vừa cỗ của thời Louis nhưng cũng vừa hiện đại của thế kỷ nầy. Nó giống như râu ông nọ cắm cằm bà kia. Không biết vài chục năm sau, thế hệ con cháu chúng ta đánh giá lối kiến trúc nầy thế nào. Chứ riêng cá nhân tôi nhận thấy vừa hợm hĩnh nhưng cũng vừa tội nghiệp. (Có thể nhận định của tôi sai lầm, vì con mắt của tôi quá trần tục, không có đầu óc mỹ thuật. Cái nhìn có thể sai lạc).

 

Tụi tôi không còn cái tuổi ngồi hằng giờ ở mấy quán cà phê thuở trước như: Lộng Ngọc, Hạ, Ngọc Lan, Diệp Hải Dung, Thạch Thảo, Star, Danube v.v…để say sưa nghe nhạc. Một thằng bạn dẫn tụi tôi đến một quán cà phê thật yên tĩnh để dễ dàng nói chuyện. Một thằng bạn khác hỏi tôi: “Cái gì ở Đà Nẵng đã gây cho mầy “ấn tượng” nhiều nhất, khi xa nhà?”. Tôi trả lời không chút đắng đo: “Xóm Chuối”. Chúng nó cười ồ lên tưởng rằng tôi nói đùa. Ai sống ở Đà Nẵng cũng đều biết Xóm Chuối là nơi tập trung mấy cô gái làng chơi, nằm phía sau bệnh viện Toàn Khoa. Nhưng tôi cũng có một kỷ niệm sâu đậm ở đó. Tôi có một cô bồ học ở trường Bồ Đề, nhà ở trong con hẽm đường Trần Bình Trọng, con hẽm nầy ăn thông qua đường Trần Tế Xương (đường nầy có nhà in Trúc Mai). Thường thường thì cô bạn tôi theo đường Trần Tế Xương đi ra đường Yersin cho gần. Tụi tôi thường hẹn nhau ở góc Yersin (bên hông bệnh viện) và cũng gần đường vô Xóm Chuối. (Hẹn xa xa vì sợ gia đình cô ta biết) vì vậy gặp bao nhiêu chuyện phiền phức. Mấy người đàng hoàng đi ngang qua thấy tôi đứng chỗ đó thì nghĩ là tôi tìm gái làng chơi. Còn mấy cô gái làng chơi nghĩ rằng tôi đang đi tìm họ, cho nên họ chạy ra níu kéo tôi. Một lần hẹn ở đó tôi tởm tới già và cũng nhớ suốt đời cái địa danh nầy. Khi cô bạn của tôi ra ngồi trên yên sau xe, tôi mới bắt đầu càm ràm. Tôi cho rằng cô ta chơi tôi, hạ nhục tôi. Chứ không biết cái chỗ “hang hùm” ở đó sao mà lại hẹn nhau chỗ ấy? Cô ta ngồi phía sau ôm bụng cười ngất nga ngất ngẻo, còn tôi thì tức lộn ruột. Sau nầy cô ta mới nói cho tôi biết là cô ta không biết nơi đó là ổ gái mãi dâm. Tội nghiệp cho cô bạn học trò ngây thơ của tôi.

 

Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện trên đời. Phần đông các bạn trai thuộc thành phần lính tráng của Miền Nam, còn các bạn gái có chồng cũng đi lính. Nên đời sống các bạn sau nầy về kinh tế rất eo hẹp. Chúng tôi rơi vào thế hệ đứng giữa cuộc chiến khốc liệt nhất, cấp bậc không cao, phần đông bỏ thây tại chiến trường. Nếu còn sống sót cũng không đủ tiêu chuẩn đi qua Mỹ theo diện HO. Vì vậy sau khi học tập trở về đều sống lây lất, làm những công việc nặng nhọc sống qua ngày. Nhìn anh em đó tuổi đời không nhiều nhưng tinh thần lẫn thể xác già cổi trước tuổi. Lâu ngày không gặp nhau, anh em nói mãi không hết chuyện. Khi tiệm cà phê báo cho biết đến giờ đóng cửa, chúng tôi mới chia tay ra về.

 

Những ngày còn lại, thỉnh thoảng tôi đến thăm một vài người bạn. Buổi chiều tôi rủ vài người về nhà uống rượu. Chỉ có những bữa rượu anh em mới thổ lộ hết tâm tình của mình. Có một điều lạ là trước đây tôi ít uống rượu, tửu lượng của tôi một chai bia hay một ly nhỏ rượu đủ làm cho tôi say. Thế mà tôi không ngờ rằng về quê lần nầy tôi đã hạ mấy thằng bạn nát rượu. Đã làm cho nhiều người ngạc nhiên mà tôi cũng không ngờ rằng mình uống không thua gì chúng nó. Có lẽ vì vui quá, anh em lâu ngày không ngồi với nhau, về lại quê hương trong nhiều năm xa cách v.v…nhiều yếu tố làm cho tôi cảm thấy thoái mái. Vì vậy mà tôi uống được nhiều.

 

Cái nhìn của tôi về quê nhà có thể rất khiếm diện và vội vàng. Có thể làm cho nhiều người không đồng ý. Nhưng tôi biết làm sao hơn khi mà một thực thể nó đã như vậy, tôi nói lên với tất cả tấm lòng dành cho quê hương mình. Có một điều mà cho đến bây giờ vẫn không nghĩ ra được mọi người nhìn tôi với con mắt xa lạ, cách biệt trong lúc thâm tâm của tôi muốn hòa đồng, muốn thân thiện. Có một cái gì đó muốn đẩy tôi ra xa ngoài vòng tay của quê hương tôi. Sau khi trở lại Mỹ, sau nhiều đêm suy nghĩ tôi mới tìm ra được một giải trình cho mình. Có lẽ phần đông mang một mặc cảm thua thiệt vì nghèo khó, nhìn mấy ông bà Việt Kiều tiêu tiền hào phóng họ cảm thấy cách xa với họ. Cho nên họ nhìn những người trở về như một loại “cá mè một lứa”. Họ đâu biết rằng có người trước khi về họ đã dành dụm bao nhiêu năm, cũng cày sâu cuốc bẩm, cũng lao tâm lao lực mới có được tiền. Vì biết bà con bên quê nhà làm ăn khó khăn nên họ phải “gánh” cho đỡ bớt gánh nặng khi phải tiếp họ. Những thành phần thuộc tư bản trong nước bây giờ, cách vung tiền của họ mới khiếp. Các “đại gia” nầy ra tay thì các “hảo hán” có máu mặt của Việt Kiều đành phải lép vế.

 

Dù gì chăng nữa tôi vẫn thấy những ánh mắt nhìn tôi không còn thân thiện, coi tôi không phải là người dân đã sinh ra và lớn lên trên quê hương. Cái nhìn và cách đối đãi của họ với tôi như một người khách. Cách hành xử nầy làm cho tôi thấm đau như có ai đó nhổ toẹt vào mặt mình. Chúng tôi không có tội gì hết, khi xa quê hương chúng tôi đau lắm vì nơi đây chôn nhau cắt rún, cha mẹ anh em đang hiện diện ở đây và rất nhiều, rất nhiều cái lý do khác không dễ gì dứt bỏ ra được. Thế nhưng trong hoàn cảnh bắt buộc phải rời xa đất nước. Đó là điều đau lòng cho tất cả những người đang xa xứ. Trong những ngày trở về, tôi ít đi đâu vì tôi mang một mặc cảm xa lạ, nên suốt ngày quanh quẩn trong nhà. Để tìm lại những thân thiện, những tình cảm mà tôi tưởng chừng như bị đánh mất ngay cả những người ruột thịt với mình. Tôi không muốn làm một người khách lạ./

 

 

Dallas, 18 tháng 8 năm 2007

Phan Xuân Sinh

 

 

 

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

MẠCH SỐNG VẪN CHẢY

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 13, 2014

MẠCH SỐNG VẪN CHẢY

Truyện của Phan Xuân Sinh

Tôi gặp lại Hưng và vợ nó tại khu Eden, Washinton DC. Tôi đi từ Boston đến để tham dự đám cưới con của người bạn, sáng hôm sau đi dạo khu Eden thì gặp vợ chồng Hưng  đang đi mua đồ ở đó. Từ khi qua Mỹ tôi có nghe tin phong phanh là gia đình Hưng định cư tại đây, thế nhưng không liên lạc được. Lần nầy vô tình lại gặp nhau. Hưng mừng lắm vào bên trong chợ gọi vợ ra, chúng tôi dẫn nhau vào Phở Tàu Bay cho dễ dàng nói chuyện.

 

Tôi hỏi Hạnh vợ của Hưng có thường liên lạc với với Linh không? Hạnh cho biết thỉnh thoảng, thường thường đến tết gọi về Việt Nam chúc tết Linh. Khi nhắc tới Linh tôi thấy cả hai vợ chồng đều khựng lại, như có cái gì cản trở. Để xua đuổi không khí nặng nề nầy tôi lái qua chuyện khác, tôi không ngờ câu chuyện xưa cũ còn để lại trong lòng họ một nỗi đau. Tôi bảo Hưng là hơn hai mươi năm mới gặp lại bạn, bây giờ đứa nào cũng già đi nhiều. Tôi muốn tránh thế nhưng Hạnh lại muốn khui lại chuyện của Linh. Hạnh nói rằng cách đây hai năm Hạnh có về Việt Nam, có đến thăm gia đình Linh, gia đình hạnh phúc, Linh có hai đứa con trông rất bảnh và đã nghỉ làm việc cho chính phủ. Ở nhà mở một tiệm buôn bán điện máy, rất giàu, có xe hơi riêng. Linh bảo với Hạnh trước đây Linh buôn bán nhà đất.

 

Tụi tôi chia tay nhau tại đây, tôi lên xe trở vế Boston còn vợ chồng Hưng ở lại tiếp tục đi chợ. Ngồi trên xe tôi nhớ lại chuyện của chúng tôi ngày xưa. Tôi, Hưng và Linh học một lớp từ nhỏ ở Đà Nẵng. Trong ba đứa Linh là người học rất giỏi, siêng năng. Còn tôi và Hưng học rất tầm thường. Ba đứa lúc nào cũng đi chơi với nhau, thân nhau lắm.

 

Linh yêu Hạnh và hai người rất gắn bó với nhau, sau nầy đi uống cà phê tụi tôi có thêm Hạnh cùng đi. Tôi không ngờ rằng thằng Hưng cũng yêu Hạnh, nhưng không nói ra, không tỏ bày cho ai biết, cứ âm thầm giữ trong bụng. Một hôm Hưng đến nhà tôi vào phòng ngủ của tôi ngồi nói chuyện. Tôi thấy thắng nầy sao bữa nay ít nói, suy tư và có vẻ thất thần. Tôi hỏi nó hôm nay mầy có sao không, trông thấy mầy rất lạ. Hưng không trả lời, chỉ nhìn ra cửa sổ, tôi cũng chẳng cần phải hỏi thêm, cứ để cho nó suy nghĩ viễn vông. Tôi mở sách ra đọc tiếp chừng mười phút sau, thì nó quay qua tôi nói:

 

“Tau có một chuyện nầy, cần nói cho mầy biết trước khi tau nhập ngũ. Tau cảm thấy không thể để trong lòng được nữa, từ bấy lâu nay tau âm thầm chịu đựng. Mầy là thắng bạn thân, nên tau thổ lộ cho mầy biết.”

 

Tôi hỏi dồn dập:

 

“Chuyện gì mà quan trọng đến thế, sao hồi trước tới giờ mầy không nói cho tau biết, mầy có nói cho thằng Linh biết không?”

 

“Bây giờ chỉ có mầy, đừng nói cho bất kỳ ai biết, nhất là thằng Linh.”

 

Rồi nó thong thả nói với tôi:

 

“Tau yên con Hạnh”

 

“Trời đất”

 

Tôi nghe như tiếng sét bên tai mình, tôi có vẻ trách nó. Thiếu gì người mà sao lại yêu con bồ của bạn mình. Con đường rộng thênh thang không chọn, lại chọn con đường cụt không lối thoát. Nhưng khi nhìn khuôn mặt đau khổ của nó, tôi lại thấy thương hại cho nó. Nó nói xong rồi ôm mặt khóc. Tôi không có cách nào giúp được nó. Tôi bảo nó ra nhà sau rửa mặt, rồi đi uống ca phê. Tôi hỏi nó có cần rủ thắng Linh với con Hạnh đi không, nó lắc đầu.Tôi với nó đi xuống Cà phê Ngọc Lan, ngồi vào bàn nó im lặng không nói gì cả. Tôi thấy không khí nặng nề quá và hơn nữa chỉ con vài ngày nữa nó vào trại Nhập Ngũ Số 1, nên tôi đề nghị với nó là nên gọi Linh và Hạnh ra quán để cho nó nhìn Hạnh những ngày cuối cùng. Nó không ý kiến, tôi ra lấy xe đạp đến nhà Linh và bảo Linh rủ Hạnh cùng đi. Tôi đạp xe trước về lại quán Cà Phê với Hưng, chừng mười lăm phút sau hai người chở nhau tới.

 

Nhìn thấy Hưng mặt mày ủ rủ, Hạnh lên tiếng trước, anh Hưng sao hôm nay buồn bả quá vậy? Tôi chống chế, để che đi sự thật của Hưng, tôi bảo rằng sở dĩ nó buồn vì nó sắp trình diện nhập ngủ, rồi tôi, Linh và Hạnh nói chuyện vu vơ, để cho Hung chìm trong suy nghĩ của mình. Suốt trong buổi cà phê đó, Hưng không mở miệng một lời. Khi tan chầu cà phê, tôi với Hưng tách ra ngả bờ sông ngồi trên ghế đá trước sông Hàn để nói chuyện, còn Linh chở Hạnh về nhà.

 

Tôi có hỏi Hưng là chuyện của mầy với Hạnh có ai biết không? Nó lắc đầu. Tôi nói là mầy nên giữ kín, nói ra sẽ gây khó khăn thêm chứ không giải quyết được gì, sẽ làm cho Linh và Hạnh khó xử.

 

Chừng ba ngày sau, tôi qua nhà Hưng chở nó đi trình diện, nhìn theo nó bước vào cổng Trại Nhập Ngũ, tôi thấy nó thật tội nghiệp, mang trong lòng cả một sự tan nát mà không biết nói cùng ai. Vào Thủ Đức nó viết cho tôi vài lá thư thăm hỏi, tán dốc với nhau nhưng tuyệt đối không nhắc nhở gì về Hanh. Tôi nghĩ thôi như vậy cũng yên, xa cách sẽ làm cho nó quên mọi chuyện rắc rối vế Hạnh. Từ khi nó đi, tôi cũng ít đi cà phê với Linh và đứa nào cũng lo cho chuyện sinh sống của mình. Lúc nầy tôi xin đi làm sở Mỹ, chức vụ storekeeper (thủ kho) để chờ đợi lên đường theo gót chân của Hưng. Linh đi học ở Đại Học Huế, tôi thấy tương lai của nó thật sáng lạng.

 

Một đêm nọ, vào khỏan 11 giờ đêm. Hạnh chạy qua nhà tôi gỏ cửa, bước vào nhà, kéo tôi vào buồng nói nhỏ là Linh bị bắt. Nghe tin tôi sửng sốt, một thắng hiền lành, không bao giờ chú ý tới chính trị lại đi rải truyền đơn cho Mặt Trận Giải Phóng, không biết có cái gì xui khiến nó làm công việc nầy. Tôi hỏi Hạnh bây giờ phải làm sao? Hạnh lắc đầu. Thôi thì việc làm của nó, nó phải chịu thôi không ai giúp được. Tôi hoàn toàn không biết chuyện nầy có bàn tay của Hạnh, hay đúng hơn là của gia đình Hạnh. Thỉnh thoảng tôi có qua thăm Hạnh, để hỏi thăm tin tức của Linh, tôi không còn thấy mấy người anh trai của Hạnh, chỉ có bà già và Hạnh thôi. Một lần từ nhà Hạnh ra về, tôi gặp thằng Điềm học cùng lớp với tụi tôi, nhà ở cạnh nhà Hạnh, Điềm cho tôi biết là nhà của Hạnh theo quân Giải Phóng, hai người anh đã lên núi nên mấy hôm nay Cảnh Sát Chìm rình rập, trong xóm ai cũng biết. Mầy không nên tới lui nhà đó. Điềm hoàn toàn không biết thằng Linh bị bắt ở Huế.

 

Từ đó tôi không dám qua nhà Hạnh vì sợ liên lụy, chừng vài tháng sau Hạnh qua cho tôi biết có ra Huế đến Lao Thừa Phủ thăm Linh. Tôi hỏi qua loa về sức khỏe, chuyện tôi quan tâm bấy lâu nay là tôi nghi Hạnh và gia đình ép Linh vào việc rải truyền đơn nầy, vì gia đình Hạnh có ông bố tập kết, các ông anh của Hạnh đều theo Cộng Sản. Tôi gặn hỏi nhiều lần, nên Hạnh phải thú thật với tôi là người anh của Hạnh ra Huế ở chung phòng trọ với Linh, anh ấy nhờ Linh đi rải truyền đơn với anh. Linh không thể từ chối nên mới rải lần đầu thì bị bắt. Thiệt ra Linh không ở trong các tổ chức của Mặt Trận. Khi mọi chuyện đổ bể, hai người anh của Hanh bỏ lên núi. Hạnh nói là Hạnh không biết chuyện nầy, nhưng sau vài tháng không biết sao Hạnh lại nói với tôi là Hạnh có nói với Linh đi rải dùm truyền đơn cho hai anh của Hanh ở Huế.

 

Mọi chuyện đã rồi, có nói thì cũng không mang lại cho Linh một cuộc sống bình thường được, tiếc là bỏ lỡ cơ hội học hành của Linh. Gia đình của Linh sau nầy ra Huế biết được hai người anh của Hạnh cù rủ Linh, nên bà Cụ rất hận Hạnh. Mỗi lần tôi qua thăm bà cụ bà đều khóc và mắn nhiếc Hạnh thậm tệ.Đến năm 1968 khi quân đội Giải Phóng tấn công tết Mậu Thân  ở Huế, giải thoát lao Thừa Phủ. Linh đi theo họ lên núi và sau đó được đưa ra Bắc.

 

Hưng về phục vụ tại Tiểu Khu Quảng Nam, thỉnh thoảng về Đà Nẵng có đến thăm Hạnh. Có nhiều lần ra phố tôi bắt gặp Hưng chở Hanh phía sau xe honda. Tự nhiên tôi nghĩ lại chuyện cũ, khi Hưng có lần thú thật với tôi là đã yêu Hanh. Lợi dụng không có mặt Linh, có thể Hưng tiến tới để thay chỗ của Linh. Nghĩ cho cùng Linh đã đi xa miệt mài quá không biết lúc nào trở về, bắt Hạnh phải mỏi mòn trông đợi thì cũng thật bất công.Tôi hoàn toàn không có ý kiến chuyện nầy, hơn nữa Hưng sau nầy hay tránh mặt tôi, ít gặp nhau, mỗi đứa ở đơn vị khác nhau.

 

Năm 1971, tôi đi phép về nhà thì thấy một phong bì mời đám cưới để trên bàn, tuần sau đám cưới  của Hưng với Hạnh. Tôi lấy xe honda chạy qua nhà Hạnh, xem thử họ cần gì tôi giúp không? Hạnh gặp tôi rất ngỡ ngàn, tụi tôi ra ngồi ngoài hàng hiên nói chuyện. Hạnh xin lỗi, vì không thể nào chờ đợi Linh vì không biết ngày nào mới hòa bình. Gia đình chỉ có hai người đàn bà, cần một người đàn ông trong gia đình. Tôi hoàn toàn thông cảm cho mọi lý do của Hạnh đưa ra. Nếu không có Hưng thì cũng phải có một người khác.Thế nhưng sao tôi thấy trong cuộc tình tay ba nầy nó mang một ấn tượng sâu trong đầu tôi, nó vừa đẹp nhưng cũng vừa tàn nhẫn.

 

Đến năm 1974 tôi đi Sài Gòn để chuẩn bị đi học trở lại, thì mùa xuân năm đó mất Ban Mê Thuộc, rồi dần dần mất các tỉnh Miền Trung. Sài Gòn tấp nập những người Miền Trung chạy vào. Vợ chồng Hưng cũng chạy được vào Sài Gòn, mua một cái nhà nhỏ ở Gò Vấp của một người đi Mỹ bán lại, cũng may là gia đình Hạnh Cách Mạng, hai người anh của Hạnh sau 30/4 về Sài Gòn nên mới giữ được căn nhà đó cho Hạnh. Những ngày trước khi đi học tập Hưng đạp xe lên chỗ tôi bán chợ trời ngồi nói chuyện. Cái điều của Hưng lo âu là sau nầy sẽ gặp lại Linh, thì không biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Linh có tha thứ cho vợ chồng Hưng không? Tôi nói với Hưng mọi chuyện đã xong, không thể nào đổi khác. Chuyện gì tới nó sẽ tới, đừng lo âu làm gì cho thêm mệt.

 

Trước khi Hưng đi học tập, nó lên nhờ tôi là thỉnh thoảng lên thăm Hạnh và hai cháu. Tôi gật đầu và đã làm hơn những gì nó mong ước cho vợ con nó. Lúc đó đất nước kiệt quệ, khánh tận chỉ ăn toàn bo bo. Chừng hai tuần tôi mang lên cho Hạnh một hai chục ký gạo, ít ký thịt và một ít tiền để Hạnh sống nuôi hai con. Vì lúc đó tôi chưa có vợ và làm ăn cũng khấm khá. Sau nầy có mẹ của Hạnh vào, nên tôi cho Hạnh mượn một ít tiền ra ngoài buôn bán, tính ra thì cũng đủ sống.(Nói là cho mượn, sau nầy Hạnh trả lại mà tôi không lấy, hình như trị giá chừng một cây vàng). Mẹ của Hạnh rất quý tôi vì bà nghĩ  một tình bạn giữa chúng tôi với nhau quá đẹp.

 

Vào năm 1977, khi tôi làm trong hãng bột giặt ở Bình Thạnh, thì thằng bé làm cho tụi tôi vào gọi, nó bảo là có một ông bộ đội tìm tôi. Tôi ra, trông thấy một người đội nón cối, mặc bộ đồ xanh màu olive, tôi chưa kịp nhận ra thì người đó lên tiếng “Linh đây, chưa nhận ra à?”, tôi chạy ra ôm nó, hai đứa đều nghẹn ngào. Linh cho tôi biết hiện giờ nó làm việc cho cơ quan thương nghiệp, vừa mới đổi vô Sài Gòn. Nó hỏi tôi vợ chồng Hưng bây giờ đang ở đâu. Tôi hỏi lại nó, mầy hỏi để làm gì, trả thù tụi nó à. Linh mặt đanh lại, đôi lông mày nhíu lại: “Sao mầy đánh giá tau thấp vậy, chuyện cũ đã đi vào quên lãng, tau muốn thăm vợ chồng nó được hạnh phúc không, vậy thôi.”

 

Tôi bảo thằng bé làm cho tụi tôi, mang xe đạp của Linh ra sau. Tôi chở Linh bằng Honda đến thăm Hạnh, tôi cũng báo cho Linh biết là thằng Hưng đi học tập, chỉ có một mình con Hạnh. Xe tôi chạy lên Gò Vấp, lúc đó vẫn còn thưa thót người, khi chúng tôi vào nhà thì Hạnh đang cho hai đứa bé an cơm. Hạnh dừng tay đút cơm cho con, nhìn Linh rồi thốt lên: “Anh Linh”. Rồi khóc nức nở, tay run lên. Linh cũng chạy tới ôm Hạnh, mắt cũng đỏ hoe. Một cuộc gặp gỡ đầy nước mắt và thật cảm động. Hạnh hỏi Linh đã có vợ con gì chưa? Linh lắc đầu. Linh và tôi ra ngoài bàn ăn ngồi, để cho Hanh cho các con ăn cơm xong, rồi mới bắt đầu nói chuyện.

 

Linh hỏi Hạnh một câu thật bất ngờ:

“Sống với Hưng Hạnh có được hạnh phúc không?”.

 

Hạnh gật đầu.

 

Linh nói tiếp với Hạnh:

“Như vậy, Hạnh đã có một quyết định sáng suốt nhất, chọn lựa cho mình một cuộc sống thích hợp với mình. Anh ủng hộ sự chọn lựa của Hạnh”.

 

Chúng tôi xoay qua đề tài khác, để tránh những trường hợp khó xử. Trong thâm tâm tôi lúc đó tôi rất kính trọng lối hành xử của Linh, dù biết rằng không còn cách chọn lựa nào khác. Linh không có chút hằng học hay mỉa mai. Tôi nghĩ Hạnh cũng đang chờ đợi câu trách móc, để Hanh nói lên hoàn cảnh của mình lúc bấy giờ. Tôi nói với Linh là cái quan trọng hiện nay là làm thế nào để Hạnh có điều kiện nuôi con, chồng không biết đi học tập đến khi nào mới về. Linh nói với tôi là chuyện nầy để tau với mầy tính sau.

 

Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau chừng hơn nửa tiếng đồng hồ, cũng chỉ hỏi thăm người nầy người khác, vì mới gặp lại nhau nên cũng không tránh khỏi sự ngở ngàng, dù hai bên cố tình tránh để câu chuyện trở thành tự nhiên. Chúng tôi chào Hạnh rồi ra về. Tôi đưa Linh vào một tiệm ăn để vừa ăn cơm trưa vừa nói chuyện. Linh nói với tôi là ở ngoài Bắc, nó không biết Hưng với Hạnh lấy nhau, nhưng trước khi bị bắt, khi còn đi chơi chung với nhau nó biết là Hưng yêu Hạnh, vì khi tiếp xúc Hưng để lộ những cử chỉ lúng túng, mất tự nhiên nên Linh đoán ra được. Khi về Đà Nẵng được biết Hưng lấy Hạnh thì Linh cũng không ngạc nhiên.

 

Khi ăn cơm xong, Linh hỏi nhỏ tôi sao mầy không đi, ở đây sống không được với chúng nó đâu. Tôi cho nó biết là đã đi mấy lần mà không xong, thôi bây giờ chờ gia đình bảo lãnh. Khi ngồi trên xe tôi hỏi nó là mầy có vào Đảng không? Nó trả lời là không, vì lý lịch của nó có nhiều nghi vấn. Rãi truyền đơn mà không biết tổ chức của mình. Khi bị bắt, Cảnh Sát Huế đánh gần chết vì bảo rằng nó không khai rỏ tổ chức mà nó làm việc.Thằng anh của Hạnh nhờ nó rải dùm, chỉ đặt ở lề đường khi xe chạy qua truyền đơn tung tóe lên, đơn giản như vậy thôi, nó thấy cũng không nguy hiểm nên nhận lời. Đường phố giới nghiêm, nó vừa đạp xe ra khỏi nhà thì bị Cảnh Sát đi tuần chận lại, xét trong người thì thấy mấy xấp truyền đơn. Thằng anh của Hạnh thấy nó không về, biết là nó bị bắt thế nào cũng liên lụy đến mình nên thằng nầy bỏ lên núi theo quân Giải Phóng luôn.

 

Tôi hỏi Linh:

“Sau nầy mầy có gặp thằng anh của Hạnh không?”

 

“Không. Nghe nói nó làm gì lớn ở Nha Trang. Mà gặp tụi nó để làm gì. Mình ngu thì mình ráng chịu. Bây giờ tau chỉ biết cúi mặt qua trôn. Chỉ có mầy là thằng hiểu tau, đừng bao giờ nói cho ai biết chuyện của tau. Sống để bụng chết mang theo.”

 

Từ đó chúng tôi thường xuyên đến với nhau, tôi không biết Linh làm đến chức gì bên Thương Nghiệp, thỉnh thoảng nó mang đến cho tôi những cái phiếu mua nhu yếu phẩm. Lúc đó tình trang dân chúng kiệt quệ, thoi thóp sống bằng bột mì và bo bo. Hạnh và hai đứa nhỏ cũng nhờ Linh trong thời gian nầy rất nhiều. Linh đã dành cho gia đình Hạnh một ưu đãi đặc biệt.

 

Một lần tôi nghe nói Hạnh có thằng bồ khác, hằng ngày tới chở Hạnh đi đây đi đó. Tôi gọi điện thoại và nói chuyện nầy cho Linh biết, Linh bảo tôi là chiều nay hai đứa đến gặp Hanh để hỏi cho ra lẻ chuyện nầy, rồi tính sau. Linh hẹn tôi ở nhà Hạnh lúc năm giờ chiều, Tôi bận một chút công việc nên tới trễ. Khi tôi tới nơi thì mọi chuyện đã rồi. Tôi thấy Hạnh đang ôm mặt khóc, còn Linh thì mặt mày hầm hầm một đống. Linh nói với tôi là nó đã gặp thằng bồ của Hạnh ở đây và nó đã cho thằng kia một bài học, cấm thằng kia từ nay không được đến cửa nhà nầy, nếu còn lén phén nó sẽ bắn nếu bắt gặp. Tôi bảo nó chuyện gì còn có đó, sao mầy giải quyết hồ đồ như vậy, biết chuyện nầy có đúng vậy không? Hạnh bảo với tôi là Hạnh chỉ nhờ anh đó chở đi công chuyện vì Hạnh không có xe. Chứ thật tình không có chuyện nầy. Tôi cũng có nói với Hạnh là mình là gái có chồng, mà chồng lại đi học tập nên không thể đi như vậy, gây ra nhiều dị nghị.

 

Khi tụi tôi đứng dậy ra về, Linh móc bốp lấy giấy tờ xe honda và chìa khóa đặt trên bàn, rồi bảo với Hạnh: “Đây là xe honda của em, em tự đi lấy không cần ai phải chở.” Hành động của Linh đã làm cho tôi rất thán phục, hồi đó có một chiếc xe honda không phải là chuyện dễ. Cũng bắt đầu từ đó khi có xe honda Hạnh đi đây đi đó dễ dàng và chuyện buôn bán thuốc tây có mòi thành công. Chở Linh về, tôi hỏi từ nay bạn đi xe đạp à. Linh bảo là tại sao phải như vậy, ngày mai sẽ mua xe khác. Linh mới mua căn nhà bằng hóa giá tại đường Nguyễn Trải thật khang trang, tôi bảo sao bạn mới đây mà có được cơ ngơi vững vàng quá vậy. Linh cười cười bảo với tôi tất cả là tiền của chúng nó, phải xài chứ. Linh cho tôi biết là cái mùa kiểm kê nó kiếm được vài trăm cây bằng cách tráo kim loại bằng đồng, để lấy kim loại bằng vàng, nộp cho nhà nước toàn bằng đồng, dĩ nhiên phải chia đều cho các xếp lớn. Một đất nước đã rách toan hoang, kiệt lực đều do những bàn tay nầy tạo nên.

 

Chừng vài năm sau thì Hưng được thả về, nhìn thấy vợ con có một cuộc sống đầy đủ, nó mừng lắm. Mẹ của Hạnh cho nó biết sở dĩ cuộc sống như hôm nay cũng nhờ bạn bè nó giúp đỡ. Hưng chở Hạnh tới nhà tôi để nói lời cám ơn, gặp tôi nó ôm tôi rồi khóc. Nó bảo rằng trên con đường từ Tây Ninh về nhà, nó không biết chuyện gì sẽ xẩy ra cho nó. Về tới nhà nhìn thấy vợ con nó mới biết mình vẫn còn được diễm phúc. Tôi bảo nó cố gắng đến thăm thằng Linh. Ngồi nói chuyện với nhau một lúc thì vợ tôi đi làm về, tôi nói hay tụi mình đi thăm Linh rồi rủ nó ra ngoài ăn cơm chiều. Tôi điện thoại cho Linh trước để tụi tôi đến thăm, vì cán bộ thường thường buổi chiều người ta hay mời, ít có ở nhà. Linh mừng lắm, chúng tôi đi ăn và nói đủ thứ chuyện như hồi còn đi học.

 

Vài năm sau Linh cưới vợ, tóc đã bắt đầu muối tiêu. Vợ Linh lai Tàu có một cửa hàng bán vải ở Chợ Lớn. Đám cưới được tổ chức ở một nhà hàng Quận 5. Vợ chồng tôi và Hưng có tham dự. Cảm động nhất là lúc Linh mời tôi và Hưng lên giới thiệu với mọi người. Đại ý là sở dĩ Linh còn sống được, đời sống có ý nghĩa cũng bởi vì bạn bè là cái phao níu với nhau để sống. Ba đứa tôi ôm lấy nhau và đứa nào cũng ràn rụa nước măt. Tôi có vài câu thưa với quan khách tham dự là chúng tôi quen nhau lúc còn học mẫu giáo trải qua bậc tiểu học và trung học. Bây giờ lại cùng sống chung tại một thành phó xa thành phố quê hương của chúng tôi. Trong thời chinh chiến mỗi thằng mỗi ngả, nhưng bao giờ cũng nhớ về nhau. Hòa bình gặp lại nhau ở đây, cám ơn cuộc đời, cám ơn quê hương.

 

Rồi lần lược đến cuối đời, tôi và Hưng cũng bỏ đất nước  ra đi. Chỉ còn một mình Linh ở lại.

 

Houston, 6 tháng 4

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

MÓN NỢ KHÔNG TRẢ ĐƯỢC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 9, 2014

Món Nợ Không Trả Được

phan xuân sinh

 

Tôi có một người bạn tên Thanh, quê ở Đại Lộc Quảng Nam. Mỗi lần nó xuống Đà Nẵng chơi, nó thường dẫn tôi đi uống cà phê hay đi ăn. Học sinh nghèo ít có dịp đi nhà hàng, nên mỗi lần trên quê xuống chơi bao giờ nó cũng lận lưng một ít tiền để đi chơi với tôi. Một lần nó xuống với một thằng bạn cùng quê tên là Bảo, ăn ở nhà tôi hai ba ngày rồi về lại Đại Lộc. Thỉnh thoảng Bảo ghé nhà tôi chơi mặc dù không có Thanh. Tôi xem Bảo như một người bạn, có khi ngủ lại nhà tôi. Bảo tính tình cũng dễ thương, đời sống của nó không được thoải mái như Thanh nghĩa là ít khi nào có tiền trong túi. Tôi thường dẫn Bảo đi uống cà phê, dù sao tôi cũng chạy chọt được tiền để đãi bạn nghèo. Tôi xem Bảo như Thanh, một người bạn quý của tôi.

Một buổi chiều sau khi đi học về, tôi thấy thằng Bảo đứng ngoài ngõ chờ tôi. Bảo nói với tôi là tối nay nó đi ăn đám cưới ở nhà một người bà con, nhưng không có một bộ áo quần nên hình nên nó tới nhà mượn tôi một bộ đồ. Tôi không ngần ngại lấy cho nó mượn bô quần áo mới may hôm tết. Khi nó thay đồ xong đi ra, tôi nhìn thấy dưới chân nó mang đôi dép Nhật mòn lỉn, tôi cởi đôi giầy đang mang đưa cho nó luôn. Nó bảo ngày mai sẽ mang tới trả cho tôi để tôi đi học. Tôi cũng nói cho nó biết là tôi chỉ có hai bộ áo quần thay đổi và chỉ có một đôi giày nên cố gắng trả cho tôi sớm. Nó gật đầu rồi ra đi có vẻ thích thú với bộ đồ vừa vặn. Ngày mai chủ nhật ở nhà tôi chờ mãi vẫn không thấy thằng Bảo tới. Tôi đem bộ đồ của nó để lại ra xem, bộ đồ sờn rách, áo trắng đã ngả màu cháo lòng, dơ dáy hôi hám. Tôi đem đi giặt để khi nó trả đồ cho tôi, nó có một bộ đồ sạch sẻ. Tôi chờ mãi hết ngày nầy qua ngày khác vẫn không thấy nó đến trả đồ cho tôi. Tôi chỉ còn “nhứt y, nhứt quởn”  nên phải chia lịch trình thứ hai, thứ ba mặc xong thứ tư giặt đồ. Thứ năm, thứ sáu mặc xong là thứ bảy giặc đồ. Khổ nhất là đôi giày tiền đâu để mua đôi giày mới? Lúc đó học sinh trung học đệ nhị cấp phải mang giày chứ không được mang dép. Tôi đành phải cạy tủ của cậu tôi để mượn đôi giày. Chân của cậu tôi lớn nên khi tôi mang đôi giày rộng rinh, phài lấy dẻ rách độn phía trước mủi dày mới khỏi bị sút ra. Tuy thế vẫn thấy đôi dày quá khổ trông thật tức cười. Xin nói rõ cậu tôi đi lính đóng ở Quảng Ngãi thỉnh thoảng mới về phép. Mỗi lần mở tủ nhìn thấy bộ áo quần của thằng Bảo, tôi tức điên người, không ngờ mình có một thằng bạn đốn mạt như vậy. Một bộ áo quần với người khác có mất cũng không quan trọng, còn đối với tôi một thằng học trò nghèo, sắm được một bộ quần áo không phải là chuyện dễ dàng. Vì thế nên tôi cứ ấm ức mãi chuyện nầy một thời gian dài. Sau nầy tôi cũng ngôi ngoai và nghĩ lại mất một bộ quần áo không đáng tiếc, mất đi một người bạn đáng tiếc hơn. Dù sao sau nầy Bảo không mặt mũi nào gặp lại tôi.

Thanh thỉnh thoảng ra thăm tôi, trong khi ngồi uống cà phê tôi có hỏi thăm  về Bảo, Thanh cho biết Bảo đi Sài Gòn làm ăn để giúp mẹ vì gia đình nghèo. Nghe chuyện nầy thực tình tôi xúc động và cảm thấy thương nó. Cực chẳng đả nó mới làm một việc như vậy. Mấy lần thằng Thanh ra Đà Nẵng đi chơi với tôi, tôi không hề kể chuyện thằng Bảo mượn áo quần của tôi rồi đi luôn, nên Thanh hoàn toàn không biết chuyện nầy.

Chuyện của thằng Bảo xem như quên lảng, khuôn mặt của nó lâu quá tôi cũng không còn nhớ. Rồi cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt. Tụi tôi lần lược vào lính, mỗi thằng mỗi ngã ít có dịp gặp lại. Thanh ra trường về tiểu khu Quảng Tín, tôi về Trung Đoàn 51 Biệt Lập đóng quân ở Cẩm Hà, Quảng Nam với chức vụ trung đội trưởng trung đội viễn thám. Một buổi trưa nọ không đi hành quân tôi thiêu thiêu ngủ thì người thư ký của đại đội đến phòng tôi gỏ cửa và bảo với tôi rằng có ba người lính mới tăng cường bổ xung cho trung đội của tôi. Tôi ra mở cửa bất thần tôi nhìn thấy Bảo, một trong ba nười lính mới. Bảo cũng kinh ngạc khi nhìn thấy tôi, tôi chắc trong lòng Bảo lo lắng, Bảo cúi mặt không dám nhìn thẳng vào tôi. Tôi mời tất cả vào phòng, tôi nói với Bảo là đi đâu mà bao nhiêu năm biệt tích không gặp lại bạn. Bảo cho biết sau bữa đám cưới người bà con là hắn đi Sài Gòn làm ăn được vài năm thì bị bắt lính. Nó ở nhiều đơn vị, đào ngũ nhiều lần, cuối cùng trốn về quê ở Đại Lộc làm ruộng bị Nghĩa Quân xã bắt vì tội đào ngũ, đưa làm lao công đào binh sau vài tháng được cho trở về đơn vị,  Trung Đoàn 51 nhận. Tôi bảo nó thôi ở đây chứ đừng đi đâu nữa, nó hứa với tôi là nó không đào ngũ.

Chừng vài tháng sau nó nhận được thư nhà là mẹ nó đau nặng, nó nhờ tôi xin giùm cho nó về phép. Hình như những lao công đào binh khi trở lại lính chính quy, sau một năm mới được đi phép, tôi nhớ mang máng như vậy, nhưng tôi cũng xin cho nó với đại đội trưởng khi chúng tôi ngồi ăn cơm. Ông bảo với tôi trường hợp thằng Bảo khó cho nó đi vì nó đã năm lần bảy lược đào ngũ. Nói vậy, nhưng sáng hôm sau ông gọi nó lên trình diện rồi cho nó năm ngày phép. Hết năm ngày không thấy nó vào, hai mươi mốt ngày sau đơn vị báo cáo đào ngũ. Khi ngồi ăn cơm ông Đại Đội Trưởng nói với tôi: “Ông thấy không, mấy thằng lính nguyên là lao công đào binh không thể tin chúng nó được, hở ra là trốn ngay chứ đừng nói chi là đi phép. Mình giúp cho nó phương tiện đào ngũ dễ dàng. Từ nay đừng mắc phải sai lầm nầy.”  Tôi nghe ông nói cảm thấy mình có lỗi quá, từ nay về sau không xin cho ai nữa. Ai muốn đi phép lện thẳng Đại Đội Trưởng mà xin. Ông không quở trách tôi một tiếng, không nói nặng nhẹ với tôi, nhưng tôi cảm thấy đau điếng. Như vậy thằng Bảo đã hai lần sai với tôi. Lần nầy tôi cũng đoán nhận ra được là Bảo đã gặp một điều gì bất trắc, không thể giải quyết được nên đành phải đào ngũ.

Ba tháng sau tôi nhận thư của nó gửi. Trong thư nó cho biết là nó xin lỗi vì thất hứa với tôi. Nhưng không ở lại đơn vị vì mỗi sáng trông thấy tôi, nó cảm thấy xấu hổ. Xấu hổ thứ nhất là mượn áo quần của tôi khi còn đi học mà không trả, thứ hai là người bạn thành người chỉ huy của mình. Một cuộc gặp gỡ oái ăm mà nó không bao giờ muốn, thế mà trời xuôi đất khiến lại gặp nhau chỗ nầy. Nó cảm thấy cay nghiệt và nhục nhã.  Mấy tháng trong đơn vị nó lẩn tránh tôi, trường hợp bất khả kháng nó mới gặp. Nó phải làm cái gì đó để trả lại những món nợ cho tôi, những ưu ái mà tôi đã dành cho nó. Trong thư nó kể dài dòng về cuộc sống nghèo khổ của nó, người mẹ tảo tần không nuôi nổi con, cha đi tập kết bỏ hai mẹ con ở lại. Lời phân bua cho tôi biết hoàn cảnh của nó như vậy nên đưa đẩy nó làm càng. Chứ nó không phải là người đốn mạt như vậy. Nó xin tôi tha lỗi. Đọc thư nó tôi rất xúc động, nhưng mọi chuyện xem như đã an bài. Nó thề, có ngày sẽ gặp lại tôi trong một thế thượng phong chứ không như bây giờ, nói viết trong thư mà tôi có cảm tưởng như nó nhìn thẳng vào mặt tôi nhìn, chứ không như bây giờ phải cúi xuông và luôn luôn lẫn tránh. Tôi tự hỏi tại sao nó phải hành hạ nó như vậy? Trong lúc tôi hoàn toàn không ghi điều sai trái của nó trước đây trong lòng.

Có lần Thanh về phép gặp tôi ngoài phố, hai đứa đưa nhau vào cà phê. Tôi hỏi Thanh có gặp Bảo không? Thanh nói nhỏ với tôi là nó đi theo quân giải phóng rồi. Tôi có nói cho Thanh biết là Bảo trước đây ở đơn vị của tôi, ngoài ra tôi không nói gì cho Thanh biết về chuyện mà Bảo đã lấy của tôi một bộ áo quần khi còn đi học. Tất cả mọi chuyện trôi vào quên lảng. Nghe tin nó đi theo quân giải phóng, tôi giật mình, chỉ có con đường nầy mới giải quyết những rối rắm trong lòng nó. Tôi hoàn toàn không thể ngờ  rằng sự toan tính của nó sau nầy lại ứng với điều nó mong mỏi. Chuyện của Bảo dần dần quên lãng. Hằng ngày tôi vẫn đi hành quân, vẫn sống thanh thản, mỗi lần đi hành quân trong vùng Đại Lộc, Điện Bàn, Hòa Vang tôi lại nghĩ tới Bảo. Biết đâu ở phe bên kia Bảo đã đụng độ với chúng tôi. Hoặc, mỗi khi có một chiến binh Việt Cộng nào chết, tôi cũng lật lên xem mặt, biết đâu người đó là Bảo. Cứ thế nó trở thành một thói quen với tôi. Cho đến ngày tôi bị thương, nỗi ám ảnh đó mới chấm dứt.

Tôi sinh sống tại Sài Gòn từ cuối năm 74, tôi có một hảng bột giặt tại đường Đinh Bộ Lĩnh, gần ngả ba Hàng Xanh, nơi nầy chỗ ở và cũng là nơi làm việc của chúng tôi, có chừng gần năm mươi công nhân làm việc tại đây. Buổi trưa tất cả thợ thầy đều nghỉ, thì thằng cháu vào phòng gọi tôi, có một người Bộ Đội muốn gặp tôi. Tôi chạy ra thì trông thấy Bảo. Tôi rất ngạc nhiên tự hỏi tại sao Bảo lại biết tôi ở đây? Tôi đưa tay ra bắt và mời Bảo vào văn phòng nơi chúng tôi tiếp khách. Bảo nhìn quanh rồi nói với tôi: “Giải Phóng, những sĩ quan của chế độ Miền Nam ai cũng te tua sất bất, mà bạn, tôi thấy phây phây, sung túc, giỏi thật.” Tôi trả lời một cách thành thật: “Thì cái khó ló cái khôn. Người ta khỏe mạnh thì làm ruộng, đạp xích lô. Còn mình yếu đuối phải tìm cái gì đó nhẹ nhàng để làm, chứ không thì chết đói.” Ủa, sao bạn không khỏe mạnh à?  Tôi cho Bảo biết là khi bạn rời khỏi đơn vị chừng vài tháng sau là tôi bị thương mất bàn chân phải tại Cẩm Hải  trong mùa hè khốc liệt 1972. Bảo nhìn tôi rớm nước mắt rồi nói lời xin lỗi vì không có ai cho Bảo biết điều nầy. Tôi lấy xe Honda chở Bảo tới một cái quán bia hơi gần chợ Bà Chiểu vừa uống vừa nói chuyện.

Bảo kể cho tôi nghe chuyện của Bảo. Bảo kể  khi mượn bộ áo quần của tôi đi đám cươi, trong lòng nghĩ rằng ngày mai giặt giũ sạch sẽ mang trả lại cho bạn. Thế nhưng trong đám cưới gặp một người bà con ở Sài Gòn làm nghề dệt tại Ngã Tư Bảy Hiền. Họ nói với tôi đi với họ, họ cho tiền xe, vào tới Sài Gòn họ bao ăn ở. Đang khi nghèo, đói khát, nghe được tin nầy tôi đi ngay. Ngồi trên xe đò tôi nghĩ tới bạn, chắc giờ nầy bạn trông tôi tới nhà để trả lại bộ áo quần. Tôi biết bạn cũng nghèo, cũng khó khăn chứ có dư giả gì đâu. Thế nhưng dù sao bạn cũng còn một bộ áo quần lành lặn có thể cầm cự năm bảy tháng. Còn tôi bộ đồ đã sờn rách, không có khả năng may cái khác. Lại phải đi Sài Gòn cần một bộ đồ hơn. Vì vậy tôi quyết định lấy bộ đồ của bạn, chấp nhận những điều bạn nguyền rủa, khinh khi tôi.

Tôi hứa với lòng mình khi lãnh được tiền lương tôi sẽ ra tiệm may lại cho bạn hai bộ quần áo, hai đôi giày trả cho bạn, để bạn thay đổi khi đi học. Tôi đã thực hiện lời hứa nhưng không có ai quen về Đà Nẵng để tôi gửi cho bạn. Hai bộ quần áo tôi giữ năm nầy qua năm khác đến khi tôi bị bắt quân dịch. Bộ áo quần nầy đã dày vò tôi suốt năm nầy qua năm nọ, tôi khổ sở với nó. Thấy học sinh mặc đồng phục quần xanh, áo trắng là tôi nghĩ tới bạn, người đã giúp tôi có được áo quần tương đối sạch sẽ để dự đám cưới của đứa em. Trời đã phạt tôi để tôi gặp lại bạn trong hoàn cảnh nghiệt ngã, bạn là cấp chỉ huy của tôi. Bạn không hề nhắc lại bộ quần áo mà chỉ hỏi thăm sưc khỏe trong lần gặp lại đầu tiên, làm cho tôi càng thêm thẹn với lòng. Cử chỉ bao dung của một con người ở thế thượng phong, đã làm cho tôi kính nễ nhân cách cao quý của bạn. Những ngày sống trong đơn vị, tôi biết bạn đã dành cho tôi những đặc ân khó quên, chính điều nầy tôi càng thấy mình hèn hạ đáng khinh. Tôi không thể mang tâm trạng nầy mãi được, nên tôi tìm cách phải rời xa đơn vị càng sớm càng tốt, để bạn khỏi vì tôi mà không công bằng với anh em dưới quyền của bạn.

Về đến nhà tôi thẩn thờ mãi không biết phải làm gì, phải theo con đường nào cho hợp lý. Theo quân Giải Phóng thì tôi không thích mặc dù cha tôi là người của phe bên nầy. Dù sao đi nữa tôi đã sống với chế độ Miền Nam từ nhỏ tới lớn, đã quen với lối sống tự do khó chấp nhận cuộc sống khắc khổ. Còn trở lại đơn vị thì gặp bạn, tôi cảm thấy đau khổ, lương tâm tôi dày vò mãi. Tôi và bạn ai cũng trốn chạy sự thật. Bạn không nhắc lại chuyện cũ vì sợ tôi xấu hổ. Còn tôi không dám nhắc lại vì không đủ can dảm. Chính vì vậy mà hai bên cảm thấy xa nhau. Cuối cùng tôi quyết định theo quân Giải Phóng, con đường nầy đối đầu với bạn. Biết đâu một ngày nào đó phe bên tôi thắng trận, gặp lại bạn tôi không còn mặc cảm thua thiệt. Tôi có thể giúp bạn khi thấy bạn khó khăn, để trả lại món nợ cũ, một món nợ nhỏ nhoi mà trở thành vô giá với tôi. Trời không phụ lòng tôi, tôi là người vui sướng nhất khi quân Giải Phóng thắng trong cuộc chiến nầy. Tôi không còn phải cúi gầm mặt khi gặp lại bạn, tôi có thể dang tay ra gúp bạn, tôi có thể ngồi ngang hàng với bạn để nói chuyện. Khi biết sĩ quan quân đội Miền Nam bị lùa vào trại cải tạo, nếu bạn còn sống chắc chắn bạn không tránh khỏi mẻ lưới rông lớn mà Cộng Sản giăng ra quật ngả anh em.

Năm đầu, tôi phải chờ sự bố trí của thượng cấp, phải ổn định đời sống rồi tôi mới ra Đà Nẵng tìm nhà của bạn để hỏi thăm tin tức về bạn. Tôi gặp được ông già của bạn, tôi tự giới thiệu là bạn hồi nhỏ với bạn, nếu bạn đi học tập ở đâu tôi sẽ tới thăm. Bác cho tôi biết bạn đang sống ở Sài Gòn và cho tôi địa chỉ. Trên đường về Đại Lộc, tôi thắc mắc mà không dám hỏi Bác. Tại sao bạn là sĩ quan mà không đi học tập, bạn trốn học tập à? Vào đây rồi tôi mới hay là bạn bi thương, tôi thở phào nhẹ nhỏm. Nhìn cơ ngơi của bạn, nhìn cuộc sống thoải mái của bạn tôi cảm thấy mừng cho bạn. Nói cho cùng bạn xứng đáng hưởng những ân sủng của thượng đế dành cho. Thú thật, Tôi có mang vào một số tiền nho nhỏ để giúp bạn vì tôi biết các sĩ quan cũ ai cũng chật vật, cũng khó khăn, bạn cũng vậy thôi. Gặp lại bạn mới biết bạn thành công ngoài sức tưởng tượng của tôi. Thôi mừng cho bạn vậy. Món nợ của bạn tôi mang suốt cuộc đời nầy.  Tôi sẽ kể lại cho con tôi biết bài học lớn trong đời tôi. Sống trong nghèo nàn, chấp nhận túng thiếu. Dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ cho được tấm lòng ngay thẳng, chớ l;ường gạt người khác. Đó là sự nhục nhã không bao giờ rữa sạch, lương tâm cắn rứt, người đời khinh bỉ.

Bạn cho tôi được trả tiền bữa rượu nầy, xem như tôi có được cơ hội để mời bạn chén rượu tạ lỗi. Lặn lội từ Đà Nẵng vào đây mong có dịp giúp bạn, thế mà vẫn không làm được. Mong bạn hiểu cho tấm lòng của tôi, dù tôi biết bạn xem chuyện nầy không có gì. Thế nhưng vói tôi là một điều không thể tha thứ được.

Tôi im lặng nhìn và nghe Bảo nói. Nói ra được để nhẹ bớt những u uất trong lòng bao nhiêu năm nay. Tôi thấy tội nghiệp cho Bảo, nhầm lẫn một việc làm mà hối hận suốt cả cuộc đời. Ước gì lúc nầy tôi nghèo rớt mồng tơi để Bảo có dịp giúp tôi thì hay biết mấy, Bảo cảm thấy đã trả lại cho tôi một món nợ. Còn bây giờ Bảo vẫn còn mang tâm trạng một “món nợ không thể trả” dù biết mình có thừa khả năng làm chuyện nầy. Nhìn thấy Bảo trầm tư trước ly bia đầy mà không thể uống cạn, hình như có cái gì đã chặn ngang cổ họng. Để giải tỏa không khí nặng nề bao quanh bữa rượu. Tôi lên tiếng như một cách xoa dịu, một lời an ủi: “Bạn và tôi uống cạn ly bia nầy”. Chúng tôi ngửa cố uống hết. Đặt ly xuống bàn tôi nói với Bảo là mặc cảm của bạn quá lớn. Khi Thanh nói với tôi là bạn đi Sài Gòn tìm việc làm để giúp mẹ, tôi giật mình. Tôi hãnh diện được quen với một người con hiếu thảo như bạn. Nếu lúc đó biết chuyện nầy sớm thì dù bạn có mang tới trả lại bộ đồ cho tôi, tôi cũng không nhận để bạn có một bộ đồ lành lặn khi bước vào nơi làm việc đầu tiên. Bạn bè làm chung khỏi nhìn bạn với con mắt khinh khi, một thắng Quảng Nam vào ăn mặc rách rưới như một tên ăn mày. Dù sao bạn cho tôi góp một bàn tay với bạn. Nếu biết bạn đi xa như vậy thì một bộ áo quần có nghĩa chi để bạn phải bận tâm như vậy. Bạn biết không, khi bạn bước chân vào đơn vị gặp tôi, thật tình tôi vừa kinh ngạc, mà cũng vừa thương xót cho bạn. Sao lại có một cuộc gặp gỡ cay nhiệt như vậy? Cuộc đời nầy sao tàn nhẫn quá phải không? Vì vậy, sau buổi gặp lại, tôi suy nghĩ phải tìm cách giúp bạn. Với sĩ quan tép riêu như tôi thì làm sao giúp được bạn. Tôi biết gia cảnh của bạn một mẹ một con thì thế nào bạn cũng được cứu xét ở một đơn vị không tác chiến. Nhưng trường hợp của bạn trước đây là quân nhân đào ngũ thì phải ráng ở đơn vị một thời gian, thế nào rồi bạn cũng trở vế gần với gia đình. Thế rồi bạn đào ngũ và gia nhập hàng ngũ quân giải phóng, nghĩ lại lá thư bạn gửi cho tôi, không biết điềm lành hay điềm dữ. Rồi kết cuộc quân Bắc Việt thắng trận, tôi thấy ý định của bạn trở thành sự thật, thâm tâm tôi mừng cho bạn. Ngày hôm nay bạn bè ngồi lại với nhau uống ly rượu mừng là gặp lại nhau sau một cuộc chiến tương tàn, kẻ thắng người thua thân tàn ma dại. Còn lại nhau chút tình, đừng xem nhau như kẻ thù. Bạn biết đó, chúng ta chỉ là những con cờ, hãnh diện làm chi với cái thắng thua./

Houston, ngày 6 tháng 4 năm 2014

Phan Xuân Simh

Posted in Truyện ngắn | 1 Comment »

NGƯỜI GÁC CẦU DE LATTRE

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 9, 2014

Người Gác

Cầu  “DE LATTRE”

Truyện của Phan xuân Sinh

Chị Hương quen với dì tôi, những người quen với dì, tôi cũng gọi bằng dì. Nhưng riêng với chị Hương, tôi gọi bằng chị. Chị muốn tôi gọi như vậy. Chị lớn hơn tôi chừng hơn mười tuổi, chị rất đẹp. Nhà chị buôn bán ở chợ Cồn Đà Nẵng. Tôi không thấy cha của chị chỉ biết chị đang sống với người mẹ, cũng không thấy chị có anh chị em. Hồi đó, buổi sáng phải chất hàng trên chiếc xe bò, thuê người kéo phía trước, còn mẹ chị đẩy phía sau. Người đẩy xe có nhiệm vụ khi ra tới chợ phải phụ với mẹ chị bày hàng ra rồi mới đẩy xe không về nhà, chiều kéo xe ra lấy hàng về. Chị Hương lúc đó làm ở sở quế của ông Bửu, nghe nói ông nầy kinh doanh cho cậu Cẩn, em Tổng Thống Diệm.

 

Nghe chị Hương nói chuyện với dì tôi là mẹ chị Hương cần thuê một người đàn ông kéo xe và phụ giúp việc nhà. Dì tôi giới thiệu anh Quờn ở quê mới ra đang tìm việc làm. Mẹ chị Hường đồng ý ngay, thế là anh Quờn trở thành một thành viên trong gia đình chị Hương. Công việc của anh buổi sáng kéo xe hàng ra chợ, bày hàng ra sạp, chờ mẹ chị Hương ra ngồi bán, anh được sai đi lấy hàng, rồi về nhà lo cơm nước cho mẹ con chị. Từ ngày có anh Quờn mẹ con chị đỡ vất vả, mọi chuyện trong gia đình anh Quờn lo tất cả. Chuyện như vậy êm xuôi năm nầy qua năm khác. Cho đến một hôm tôi nghe tin anh Quờn cưới chị Hương. Một cái tin làm tôi sửng sốt vì anh Quờn là người cục mịch, quê mùa. Còn chị Hương là người thật đẹp, vóc dáng tiểu thơ, được nhiều thanh niên bảnh trai theo đuổi. Sao chị lại ưng một người không cân xứng với chị như vậy. Tôi hỏi chuyện nầy với dì của tôi thì bả lắc đầu không trả lời. Tôi thấy chuyện nầy có cái gì đó bí ẩn mà tôi không biết.

 

Rồi chị Hương sinh đứa con gái đầu lòng, anh Quờn săn sóc vợ chu đáo. Anh thêm một nghề mới là nuôi đẻ. Hồi trước, khi sinh nở phải có một người đàn bà lo việc giặt giũ, hơ háp, tắm rửa cho đứa bé sơ sinh. Việc nầy phải thuê một người đàn bà giúp trong vòng một vài tháng đến khi người sinh nở cứng cáp. Anh Quờn làm việc nầy không cần phải thuê ai cả đến khi chị Hương đi làm việc trở lại, ngoài những việc thường ngày trước đây, anh Quờn kiêm luôn nghề nuôi giữ con nít. Cả xóm ai trông thấy cảnh nầy của anh cũng thương cho anh. anh làm việc nhà túi bụi. tối anh phải ngủ dưới bếp. Anh rất sợ chị Hương, mỗi khi anh làm việc gì không đúng ý của chị, chị la mắng anh như một bà chủ, anh run rẩy sợ sệch thật tội nghiệp.

 

Những người bạn trai hay lui tới nhà chị, anh phải bồng con đi chơi đâu đó để chị rảnh rang tiếp chuyện với bạn trai. Tối, anh phải dỗ cho con ngủ với anh ở nhà bếp, để chị ngủ trong phòng một mình khỏi phải bị quấy rầy khi đứa bé thức giấc nửa đêm đòi sữa. Nghe nói, đôi khi chị tiếp bạn trai trong phòng ngủ mà chẳng sợ anh ghen tuôn. Chị xem anh như một bức bình phong để che đậy những việc làm tồi bại của gái đã có chồng. Sau nầy nghe nói là khi còn con gái chị quen với một ông sĩ quan đã có vợ. Khl chị có thai thì người sĩ quan kia chuồn mất. Bà mẹ quýnh quá gọi anh vào nói chuyện rồi gả chị cho anh Quờn. Như vậy đứa con nầy không phải là con của anh. Đám cưới của chị gia đình nhà gái lo hết, anh không tốn một đồng xu. Con người của anh không biết phải diễn tả như thế nào cho đúng. Khù khờ cũng không đến nỗi khù khờ mà tỉnh táo cũng không phải là người tỉnh táo. Anh rất vui vẻ xem chuyện của vợ lăng nhăng với người khác là chuyện bình thường, không dính dấp gì với anh. Khi nào vợ cần ngủ với anh thì gọi anh vào, xem như lâu lâu anh được thưởng công, hoặc đôi khi chị có mang rồi thì gọi anh vào làm tình để anh có cảm tưởng rằng đứa con đó là con của anh. Hàng xóm người ta nói đùa, anh là người thêm chân thêm tay cho đứa bé, còn người khác tạo ra hình tượng.

 

Chị quen với ông làm quản lý cho sở Quế của ông Bửu, ông nầy là xếp của chị, ông trông coi khoản chừng bốn trăm công nhân trong đó có chị.  Khi nào ông nầy tới nhà chơi, anh Quờn phải lo dọn dẹp phòng ngủ cho tươm tất, xịt dầu thơm trong phòng để không còn mùi gì khác lạ. Nửa đêm ông ấy ra về, anh phải dắt xe honda của ông đó ra ngõ rồi mới được vào ngủ, dù khuya mấy anh cũng phải chờ để làm việc đó. Sáng sớm bốn giờ, anh phải thức dậy nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, đẩy hàng ra chợ. Khi mẹ chị Hương ra chợ trông coi, anh mới được trở về. Chị Hương có thêm một đứa con gái chào đời, đứa nầy giống ông quản lý sở Quế như đúc. Nghe nói ông nầy cho chị một số tiền lớn để ếm nhẹm chuyện có con với chị. Mà chị cũng muốn như vậy vì trên thực tế chị là gái có chồng. Có thêm một đứa con thứ nhì, chị không cần phải giữ gìn ý tứ, công khai ăn nằm với người khác một cách ra mặt. Chị nói chuyện với bạn bè của chị là những đứa con mỗi đứa cha chúng nó khác nhau. Có một điều rất lạ là những đứa bé mặt mày mỗi đứa giống y hệt từng người tình ngủ với chị.

 

Người tình cuối cùng của chị là ông mắt lé. Ông nầy là một quan chức thế lực ở thành phố, con gái của ông cặp với ông Thị Trưởng nên ông dựa hơi làm ăn giàu có. Ông cặp với chị có một đứa con gái. Đứa con nầy mắt cũng lé như ông, nhìn đứa bé nầy giống ông y hệch. Thường thường mấy mối tình vụng trộm thì đứa bé hay giống cha. Trường hợp những đứa con chị Hương nói lên điều đó.

 

Khi Tổng Thống Diệm bị lật đổ, đất nước bắt đầu chìm sâu trong chiến tranh, nên những người đàn ông không tránh khỏi con đường vào lính. Anh Quờn trốn quân Dịch được ít lâu, đến hồi không còn cách trốn tránh được nữa, chị nghĩ ngay tới ông bồ cũ sĩ quan có đứa con đầu với chị, chị phải nhờ ông nầy xin cho anh Quờn vào lính đồn trú chung quanh thành phố. Chị  tìm ra được tông tích của ông sĩ quan bồ cũ của chị, ông hiện thời là Đại úy phục vụ tại Quân Trấn.

 

Một ngày đẹp trời chị đến thăm ông. Ông Đại úy nhìn thấy chị hết hồn không biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Ông mời chị ra Câu Lạc Bộ của đơn vị uống nước để tránh khỏi tai mắt những người lính trong phòng của ông. Điều trước tiên chị trách là mười mấy năm ông chưa hề bén mảng đến nhà chị thăm con, bỏ bê mẹ con chị cho trời đất. Một mình chị chống chọi với biết bao nhiêu mũi dùi đâm thọc với cái tội không chồng chửa hoang. Chị kể khổ với ông đủ điều chỉ xin ông mỗi một việc là tìm cách cho ông chồng chị, người đã đưa lưng ra gách chịu cái tai họa do ông gây ra và làm cha cho đứa con của ông. Ông Đại úy nghe nói với một cái giá rẻ mạt như vậy, trong tầm tay của ông có thể lo được. Xin cho một thằng đi nghĩa quân hay địa phương quân tại thành phố nầy thì dễ ợt. Ông hứa với chị Hương sẽ cho anh Quờn đi lính ở địa phương, không phải ra tác chiến.

 

Chừng mười hôm sau, anh Quờn đi trình diện ở đặc khu Quảng Đà và được đưa ra Phú Bài học căn bản quân sự. Hai tuần sau, chị Hương ra Phú Bài thăm anh Quờn. Không biết làm thế nào mà chị lẹo tẹo với ông Đại Đội trưởng khóa sinh, xin cho anh Quờn ở nhà tạp dịch, khỏi phải ra bãi học. Chị thường lấy cớ ra thăm chồng, nhưng quả thật là ra Huế ngủ đò với ông sĩ quan chỉ huy của anh Quờn. Đời lính sau nầy của anh Quờn sướng thân cũng nhờ ở chị. Anh Quờn về kể cho chị nghe sĩ quan nào khó tính, bắt nạt anh thì chị đi gặp ông nầy ngay. Qua một vài lần ông nào cũng được chị cho ăn nằm, nên anh Quờn được đi phép dài dài là vì vậy.

 

Một hôm, anh Quờn nghe mấy thằng lính trong đơn vị nói chuyện về gác cầu, sướng lắm, buổi tối thay phiên nhau gác, ban ngay thì ngủ hoặc về nhà. Anh đem chuyện nầy nói với chị Hương để tìm chỗ chạy chọt. Chị Hương thì không giàu nên không có khả năng mà đút lót tiền bạc, đành phải đem thân mình ra  dụ dỗ mấy cha nội quyền chức. Không biết ai cho chị biết lính tráng trong Đặc Khu đổi nơi nầy qua nơi khác là do Ban Một điều động. Trưởng Ban Một là ông thiếu tá già nhưng có máu ham gái. Nắm được yếu điểm nầy chị sửa soạn thật đẹp, đến gặp ông Thiếu Tá tại văn phòng. Không biết giữa chị và ông thiếu tá đó xẩy ra việc gì tại chỗ làm, ngày hôm sau anh Quờn được sự vụ lệnh đổi đến gát cầu De Lattre.

 

Cầu De Lattre cách trung tâm thành phố Đà Nẵng chừng gần hai cây số. Chiếc cầu sắt duy nhất thuở đó bắt qua sông Hàn, mang tên của ông Đai Tướng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Tên đầy đủ của ông tướng nầy là “Jean De Lattre De Tassigny”. Thời ông Diệm chiếc cầu được đổi tên cho một ông tướng Việt Nam theo đạo Cao Đài là Trịnh Minh Thế, thế nhưng người dân Đà Nẵng gọi tên chiếc cầu nầy theo lối cũ là cầu “Đờ-Lách”. Đến thời đó, chiếc cầu sắt nầy rất cũ kỹ, xe chạy trên cầu rung rinh như răng rụng. Thế nhưng vì chiến tranh không ai nghĩ đến chuyện làm chiếc cầu mới thay thế.

 

Anh Quờn cầm sự-vụ-lệnh đến trình diện người chỉ huy toán gác cầu, không biết ông nầy cấp bậc là gì, chắc thuộc hàng hạ sĩ quan. Thấy thằng lính mới, mặt mày tối om, thân hình cục mịch nên ông không có cảm tình. Ông bắt anh Quờn không được ra ngoài phạm vi cầu ngày cũng như đêm. Thấy tình hình căng quá, anh Quờn nhờ người nhắn cho chị Hương biết để chị tìm cách cầu cứu. Trưa hôm sau chị Hương đến chỗ cầu De Lattre, ở đó có một lô-cốt cho người chỉ huy cầu vừa làm nơi làm việc, vừa làm chỗ ngủ. Chị đi ngay vào lô-cốt, thấy ông chỉ huy đang thiu thiu ngủ trên ghế bố. Thấy chị ông vội vàng ngồi dậy tiếp chị. Chị tự giới thiệu chị là vợ của anh Quờn. Ông nầy trố mắt nhìn chị, không biết chị có đùa không? Một thằng lính ngớ ngẩn mà sao có vợ đẹp thế. Chị đẩy đưa với ông vài câu, xin ông dành cho anh Quờn những đặc ân. Không biết là chị sau nầy có ăn ngủ với ông hay không mà anh Quờn ban ngày ở nhà lo quán xuyến nhà cửa, tối mới vào đơn vị gác cầu. Thỉnh thoảng hàng xóm trông thấy người chỉ huy toán gác cầu “Đờ-Lách” đến thăm chị vào ban đêm, trong lúc đó anh Quờn đang gác cầu.

 

Chị có tất cả là bốn người con gái, con của bốn ông bồ khác nhau. Có lẽ chị cũng cảm thấy mỏi mệt với những mối tình bất chính. có chồng mà chưa cho ông chồng của mình một đứa con nào. Nhìn thấy người chồng lam lũ suốt cả cuộc đời vì mình, chăm sóc mình và các con của chị một cách tận tụy. Chị cảm thấy thương hại cho anh, cảm thấy hối hận bao lâu nay đối xử với anh một cách tàn tệ. Chính vì vậy chị cho phép anh vào phòng ngủ ăn nằm với chị. Lúc nầy chị không còn ông bồ nào khác, lbây giờ tuổi của chị đã vượt qua con số bốn mươi, không còn lực thu hút những người lắm bạc nhiều tiền. Chị tự nguyện sống với chồng con, không còn liếc mắt đưa tình với những người đàn ông khác.

 

Chị Hương nhìn  anh Quờn đang bửa củi ngoài sân, thân hình vạm vỡ khỏe mạnh, nước da sạm nắng trông thấy thật hấp dẫn. Một người chồng như thế nầy mà trước đây chị bỏ bê, chạy theo những hào nhoáng bên ngoài. Chị gọi anh vào, pha cho anh một ly nước trà, lấy khăn lau mồ hôi trên người anh, nắn bóp từng bắp thịt cuồng cuộn trên người. Bất thần chị hôn lên môi anh say đắm. Lần đầu tiên chị mới có cảm giác xao xuyến với chồng. Chị dắt tay anh vào buồng.

 

Chị bắt đầu xa lánh mấy ông bồ chỉ nghĩ tới xác thịt của chị, lợi dụng nhau để sống. Còn anh Quờn thì một lòng một dạ với chị, chân tình với chị. Chị cảm thấy có lỗi nên hối hận. Sau buổi trưa anh đang bửa củi chi gọi anh vào buồng, chị thấy trong ngườiị có những triệu chứng thay đổi đột ngột. Chị biết, chị đã mang thai với anh. Khác với những lần trước, mỗi lần mang thai là lo lắng, sợ sệt. Lần nầy chị cảm thấy vui và sung sướng. Gần mười lăm năm lấy nhau, bây giờ chị mới chính thức cho anh một đứa con, mới biết thế nào là mái ấm gia đình, mới biết cái hạnh phúc sống bên chồng. Chị không còn thấy khuôn mặt tăm tối của chồng mà tự nhiên chị cảm thấy cũng khuôn mặt đó bây giờ rạng rỡ, tươi sáng. Tình yêu nó biến tất cả mọi thứ trở thành đẹp và chị biết nâng niu nó như là một báu vật.

 

Khi chị mang thai được bảy tháng, thì một trận lụt dữ dội đã xẩy ra cho dân Quảng Nam, lụt năm thìn 1964. Người dân Đà Nẵng thì không ảnh hưởng gì tới trận lụt nầy bao nhiêu, chỉ thấy mưa to gió lớn gần một tuần lễ. Bờ sông Hàn tràn ngập, những mái nhà trôi trên sông bị nước cuốn trôi từ vùng quê đổ ra cửa sông Hàn, có người còn bu trên nóc nhà nhưng không ai có thể cứu được. Một trận lụt đã chôn vùi bao nhiêu làng mạc miền quê, giết hại không biết bao nhiêu người dân. Chiều hôm đó, anh Quờn cơm nước xong, choàng chiếc poncho, lên xe đạp chạy ra cầu “Đờ-lách” gác cầu như mọi ngày. Có biết đâu, đây là lần cuối cùng anh giã từ vợ con.

 

Mười hai giờ đêm, anh ra cầu để thay ca gác. Thường thường mỗi ca có ba người, hai người ở hai đầu cầu, một người ở giữa cầu. Đêm đó phiên anh gác giữa cầu. Anh vừa ra giữa cầu, hút chưa hết điếu thuốc thì anh nghe tiếng chuyển động, không kịp chạy thì nhịp cầu anh đang đứng đổ xuống nước, nghe một tiếng “rầm” lớn và hai người lính gác ở hai đầu cầu nghe tiếng anh kêu cứu. Tất cả mọi người đều sững sờ. Dòng nước chảy siết trong đêm đã cuốn thân thể anh trôi ra biển lớn.

 

Ngay đêm đó, người chỉ huy toán gác cầu đạp xe đến nhà chị Hương báo tin, anh Quờn đã bị nước cuốn đi trong đêm. Cả nhà thức dậy khóc lóc thảm thiết. Sáng ngày hôm sau, chị Hương nhờ người đi dọc theo hai bờ sông tìm kiếm xác anh, nhưng không thấy. Chị lập bàn thờ, chị và các con để tang cho anh. Đời anh Quờn đã chấm dứt trong mùa bão lụt năm thìn 1964, trên chiếc cầu De lattre oan nghiệt của Đà Nẵng. Sau nầy, khi cơn lụt chấm dứt, quân đội Mỹ làm một chiếc cầu dã chiến, bắt song song với cầu De Lattre đã sửa lại. Hai chiếc cầu ghi dấu hiện diện của hai quân đội Pháp và Mỹ đã có mặt trên chiến trường Việt Nam.

 

Ngày nay, Đà Nẵng có nhiều cầu bắt qua sông Hàn, hiện đại và mỹ thuật. Thế nhưng với chúng tôi học sinh thuở đó vẫn còn nhớ mãi chiếc cầu De Lattre cũ kỷ, những ngày nghỉ học đoàn học sinh chúng tôi gò lưng trên yên xe đạp vượt qua cầu để đi picnic ở Mỹ Thị, Non Nước hay Mỹ Khê, Tiên Sa, Sơn Chà. Riêng đối với tôi, mỗi lần đạp xe trên cầu, tôi nhớ lại anh Quờn, người lính gác cầu năm xưa đã bỏ mình trong trận lụt năm thìn. Điều an ủi vong linh của anh, là anh còn để lại một đứa con trai nối dõi tông đường./

 

Houston, đầu năm Quý Tỵ (10.2.2013

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

THƯ PHẢN HỒI CHO MỘT ĐỘC GIẢ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Ba 26, 2012

THƯ PHẢN HỒI CHO MỘT ĐỘC GIẢ.

Thưa anh N.A.T,

Tôi được tòa soạn báo Trẻ forward email của anh cho tôi. Trong email anh cho biết là trong một chuyến đi thăm người bạn ở Washington DC, vô tình anh đọc được truyện ngắn “CHUYỆN KỂ BÊN LY RƯỢU” của tôi đi trên tuần báo Trẻ mà anh đã lấy trong một tiệm phở. Theo anh cho biết sau khi đọc xong anh rất xúc động vì nội dung câu chuyện kể tương tự như chuyện đã xẩy ra trong đời anh. Sau đó tôi và anh có điện thoại trao đổi với nhau nhiều lần và tôi được biết thêm tình tiết mà anh đã kể. Thật tình một câu chuyện như thế nầy nó đã xẩy ra cho rất nhiều người, trùng hợp với rất nhiều người nên sau tuần báo Trẻ, bài nầy được đi trên các tờ báo Saigontimes, Sài Gòn Nhỏ và một vài tờ báo của các tiểu ban trên nước Mỹ. Tôi đã nhận được email phản hồi của độc giả tương đối khá nhiều. Nhưng xét tất cả thì trường hợp của anh là một trường hợp ngoại lệ, nên tôi viết thư nầy trả lời với anh và cũng vừa bày tỏ một chút tâm tình.

Anh tên là N.A.T (tạm thời không viết rỏ tên họ của anh), học trung học Tabert (một lớp với nhạc sĩ Trường Kỳ), sau đó thì học đại học Y Khoa Sài Gòn từ năm 1966 đến 1973. Anh ra trường hành nghề với chức danh Bác Sĩ, bị động viên và phục vụ tại Tiểu Đoàn Quân Y thuộc Sư Đoàn 21/ Bộ Binh. Sau năm 1975, cũng như bao nhiêu sĩ quan của Quân Đội Miền Nam, anh đi Cải tạo từ 75 đến cuối năm 77 mới được thả. Trước khi đi học tập anh lấy vợ trong một thời gian rất ngắn thì anh vào trại cải tạo.

Sau hơn 2 năm rưởi, anh  được tha trở về nhà sống với vợ. Anh hoàn toàn không biết trong thời gian cải tạo, vợ anh có dang díu với một người đàn ông khác cho đến khi anh về họ vẫn chưa dứt ra được. Cây kim trong túi lâu ngày cũng lòi ra, khi anh biết được thì họ công khai liên hệ trước mặt anh không cần dấu diếm. Anh đã gặp người tình nhân của vợ và đã bao lần anh xin người đó đừng liên hệ với vợ anh nữa. Thế nhưng lời anh nói họ không cần phải nghe và cứ tiếp tục đến với nhau. Có một đêm người đàn ông đó đến nhà anh rủ vợ anh đi với họ. Anh bắt gặp và nói với người nầy hãy tha cho vợ anh. Người đó trả lời một cách “ngang ngược” là anh ta cần  đi với vợ anh trong đêm nay. Vợ anh không nói một lời với anh, xách gói ra đi với người tình nhân, xem anh như một cục đá vô tri, không thèm để ý. Đêm đó anh trằn trọc không ngủ được, cứ tưởng tượng vợ mình đêm nay trong tay người đàn ông khác, đêm nay họ vui sướng với nhau trên gường. Nghĩ tới điều nầy anh đau khổ biết chừng nào. Anh thức trắng đêm và anh tức cho mình là làm chồng một người đàn bà mà quá bất lực không giữ được vợ, bị vợ cắm sừng trước mắt mà không biết làm gì.

Ngày hôm sau, anh dọn đồ đạt ra ở riêng. Từ đó anh sống độc thân cho đến bây giờ. Anh cũng cho tôi biết thêm sau vài tháng chia tay, anh cũng biết người đàn ông đó đã bỏ rơi vợ anh. Vợ anh trở lại với anh nhưng anh không chấp nhận nên vợ anh đành phải ra đi. Dĩ nhiên anh có kể thêm cho tôi biết về cuộc sống của vợ anh sau nầy. Nhưng tôi nghĩ không cần phải biết thêm, xem như cuộc sống chung chạ với nhau đã gãy cánh từ đó.

Có một điều quan trọng bây giờ vợ anh và đứa con trai của anh hiện thời đang sinh sống ở Mỹ, anh đang bắt liên lạc với họ. Sau hơn 35 năm yên nghỉ, anh nhìn đời không còn hằn học. Một đoạn đường dài trôi đi, anh đã trãi nghiệm qua những cay đắng, những hận thù trong lòng bây giờ anh rút ra được tất cả đều nằm trong cái lẽ vô thường, thì giữ làm gì cho nó thêm mệt và hãy để đầu óc thanh thản nghỉ ngơi trong tuổi  về chiếu. Trong cái quan niệm tha thứ đó, anh định sẽ trở về sống lại với vợ con. Hãy dẹp bỏ quá khứ không tốt lành đó qua một bên, sống với nhau như một đôi bạn già, giúp nhau trong những đêm tối lửa tắt đèn, tìm vui với con chau.

Tôi rất kính phục trong sự sắp xếp cuộc sống của anh trong tương lai, anh tha thứ tất cả những lỗi lầm của vợ trước đây. Anh xem đó như một vấn nạn đã qua mà cái oan khiên từ đau đó ụp trên đầu mình. Không trách ai cả, cái nghiệp dĩ của mình bắt mình phải trả một giá rất đắt cho cuộc sống. Trường hợp của anh cũng giống rất nhiều người cùng hoàn cảnh khi đất nước hổn loạn, đạo đức bị chà đạp, tình người điên đảo. Gia đình của những sĩ quan trẻ tuổi của Miền Nam đi học tập phần đông bị tan vỡ vì vợ còn quá trẻ, không chịu được sự cám dổ của cuộc sống nên thường rơi vào hoàn cảnh thương tâm nầy.

Anh đã tha thứ những lổi lầm của vợ, thì anh còn giữ làm gì những hằn học hận thù với người đàn ông “tình nhân” trước đây của vợ? Anh nên nhớ một điều quan trong trong vấn đề ngoại tình. Tất cả đều do người đàn bà. Nếu một người đàn bà chính chuyên thì không có một thằng đàn ông nào hó hé lại gần. Thì đừng nên trách làm gì người đàn ông loại nầy. Lúc đó họ cũng còn rất trẻ, họ không thể kiềm hảm những đòi hỏi xác thịt khi người đàn bà tự nguyện hiến dâng. Tất cả, cả hai đều lầm lỗi chứ không riêng gì ai. Cho nên khi anh đã biết vợ anh lầm lổi vì quá trẻ tuổi ăn chưa no lo chưa tới, thì anh cũng nên nghĩ lại người đàn ông ấy, lúc đó họ cũng còn quá trẻ tuổi như vợ anh. Bây giờ bước vào tuổi già, ai cũng nhìn lại đoạn đường đi qua của mình. Sẽ hối hận những lầm lỗi của mình trước đây. Thế thì tại sao anh không dành cho họ một con đường thoát và nó sẽ mang lại cho anh một niềm vui vì chính  trong lòng anh đã ẩn hiện một sự tha thứ.

Anh N.A.T,

Lá thư trao đổi với anh hôm nay đã dài, mạng phép anh được công bố thư nầy trên báo Trẻ rồi sau đó trên các website đã đăng tải truyện “CHUYỆN KỂ BÊN LY RƯỢU” xem đây như một trường hợp hản hửu. Để những người cùng hoàn cảnh với anh, được biết tấm lòng mở rộng tha thứ của anh, để họ lấy đó suy ngẩm cho chính mình. Mong rằng sau nầy trở lại sống với vợ, anh sẽ dành một sự thương yêu với chị mà lâu nay anh đã đánh mất nó. Chúc anh chị chung sống êm ả trong niềm vui cho những ngày còn lại cuối đời.

Trân trọng

Houston, ngày 23 tháng 3 năm 2012

Phan Xuân Sinh

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

CHUYỆN KỂ BÊN LY RƯỢU

Posted by phanxuansinh trên Tháng Hai 10, 2012

CHUYỆN KỂ BÊN LY RƯỢU
Phan Xuân Sinh

Uống cà phê với anh Bửu nhiều lần, nhưng chưa lần nào anh kể cho tôi nghe về đời sống của anh. Tôi cứ nghĩ rằng anh sống một cách thanh thản, thì chắc đời sống cũng bình thường như mọi người. Một lần anh rủ tôi tới nhà chơi uống với nhau chén rượu. Chiều ý bạn tôi tới. Việc trước tiên theo thói quen, tôi quan sát tất cả thành viên trong gia đình Bửu. Người vợ cao ráo mặt mày tươi tắn. Tôi thầm nghĩ trong bụng vợ anh khi còn trẻ chắc đẹp lắm. Có bốn  người con còn đi học. Gia đình mới qua Mỹ hơn một năm nên còn thiếu thốn đủ thứ, tuy nhiên họ bằng lòng chấp nhận những gì đang có. Nhìn thấy họ là biết ngay một gia đình hạnh phúc. Tôi rất thán phục con người và phong cách sống của anh.

Trên bàn nhậu để sẵn một dĩa thịt vịt quay còn nóng mới mua về , một dĩa đậu phụng rang, một ổ bánh mì baguette một chai Johnnie Warker Red Labe và hai chai soda Perrier. Vợ anh Bửu và bốn đứa con, hai trai hai gái hôm nay đi chợ ở San Jose. Khi tôi tới cũng là lúc họ chuẩn bị ra xe. Tôi cũng nói rỏ hơn là gia đình tôi và Bửu lúc đó đang sống tại Oakland, California.vào khoản năm 1992. Mỗi sáng thứ bảy anh em cựu quân nhân thường tập trung ở quán cà phê đường E.14.

Uống được vài ly, tôi mở đầu câu chuyện, hỏi Bửu:

–    Anh chị có bốn cháu thôi sao?

Bửu cười cười:

–    Còn kẹt hai cháu lớn ở Việt Nam.

Anh trầm ngâm một hồi rồi nói tiếp:

–    Vợ tôi hiện giờ là người thứ hai. Người vợ trước chúng tôi có hai con gái và chia tay năm 1980. Nghĩa là sau năm năm học tập trở về, tôi và bà đó đành chia tay trong ngậm ngùi, u uất. Lỗi ở tôi một phần và phần nhiều là lỗi của bà đó.

Anh đưa ly cụng với tôi rồi nốc cạn ly của mình. Để ly xuống bàn anh rót thêm cho mình một ly nữa rồi đưa lên uống cạn với một tiếng “khà” rất điệu nghệ. Uống rượu kiểu nầy thì chắc tôi phải thua. Khi vào nhậu anh có nói với tôi là ai uống được bao nhiêu cứ uống, không ép nhau. Tôi yên lòng nên từ từ uống phần của mình. Hình như tôi đã đụng tới vết thương của anh nên khi hỏi tới gia đình anh trầm ngâm vừa muốn kể cho tôi nghe nhưng cũng vừa muốn quên đi chuyện đó. Tôi không muốn làm khó khi anh không muốn đụng tới gia đình. Tôi lái sang chuyện khác hỏi về công ăn việc làm của vợ chồng anh hiện nay. Anh cho biết là anh chị đang đi làm ở hãng điện tử, hai người cùng làm một hãng nên cũng tiện cho việc đi lại. Nhưng có lẽ anh không thích đổi đề tài. Anh muốn tâm sự với tôi những điều ấp ủ trong lòng anh, những điều đã dày vò những tháng năm sau khi chia tay:

–    Anh biết không, tôi lấy vợ năm 1972 đến năm 1975  khi tôi đi học tập thì lúc đó chúng tôi có hai con. Tôi biết những năm tháng nằm trong trại cải tạo vợ tôi bên ngoài chống chọi với cuộc sống rất khó khăn. Tôi không màng vợ tôi thăm nuôi vì tôi nghĩ thân gái yếu đuối với một gánh nặng lo cho hai con còn nhỏ dại đã đuối sức, còn lấy đâu ra để thăm nuôi chồng. Tôi bằng lòng sống với sự thiếu thốn, thèm đủ thứ, đói rát ruột, vẫn mong vợ con bên ngoài khỏe mạnh là mừng rồi. Suốt trong năm năm trường tôi đã gửi về mấy chục lá thư vẫn không có hồi âm thì làm sao có được một lần thăm nuôi của vợ. Tôi nhờ các bạn tù có thăm nuôi nhắn với người nhà họ đến địa chỉ nhà tôi xem thử gia đình tôi ra sao? Tất cả đều cho tôi biết là căn nhà đã bán cho người khác và họ không biết vợ con tôi hiện giờ ở đâu. Trước khi tôi được tha, có một anh bạn tù đến nói với tôi là căn nhà của anh vẫn còn vợ con anh đang sống ở đó, nhưng vợ anh đã có chồng khác. Sỡ dĩ không nói thật chuyện nầy với anh vì sợ anh nghe tin nầy anh sẽ đột quỵ, chi bằng nói láo để anh còn nuôi hy vọng trở về gặp lại vợ con. Nghe tin nầy tôi không đứng vững, tôi biết sẽ gặp muôn vàn khó khăn khi tôi trở về nhà. Nhưng bây giờ biết phải đi đâu?

Nói tới đây mắt anh mờ đục, anh ôm đầu. Anh đưa tay rót thêm ly rượu khác rồi lại uống cạn. Tôi thấy anh uống nhiều nhưng rất tỉnh táo, lời kể chuyện của anh trôi chảy. Rượu vào giúp anh thêm phần can đảm khi đụng tới phần gai góc cuộc đời:

–    Từ lâu tôi ôm chuyện nầy trong lòng không kể cho ai nghe. Đây là lần đầu tiên tôi kể với anh vì tôi thấy anh là người trầm tĩnh, có chiều sâu và được biết thêm anh là người đọc sách, anh sống với chữ nghĩa. Tôi nghĩ anh hiểu thấu đáo được tâm trạng của tôi. Tôi chỉ mong một người hiểu tôi như vậy tôi đã thấy ấm lòng.

Tôi bước vào đầu hẽm, những bà con hàng xóm cũ chạy đến chào hỏi tôi như người thân. Tôi tần ngần bước vào cổng nhà thì vơ tôi chạy ra vì nghe tiếng lao xao hàng xóm hỏi thăm tôi. Vợ tôi chưng hửng nhìn tôi với đôi mắt vừa ngạc nhiên, vừa thất thần. Tôi nhớ mãi đôi mắt vô hồn đó, nó đi theo mãi với tôi suốt trong cuộc đời sau nầy. Đôi mắt mà ngày xưa thật dịu hiền đã làm tôi mê mệt khi gặp nhau lần đầu, rồi yêu nhau lấy nhau. Tôi đã chết vì đôi mắt đó. Còn bây giờ thì tôi cũng chết vì nó, nhưng chết trong sự xua đuổi, trong hất hủi : “Anh về đây làm gì? Anh là người dư thừa. Anh hãy ra đi ngay lập tức vì bây giờ tôi đã có chồng khác. Tôi không muốn có mặt anh ở đây”.

Bà con hàng xóm thấy vợ tôi ức hiếp tôi, họ la ó đẩy tôi vào nhà. Một bà thân hình vạm vỡ, chỉ tay vào mặt vợ tôi: “Nầy, con đàn bà lăng- loàn kia. Mầy và thằng tình nhân của mầy ra khỏi căn nhà nầy chứ không phải là ông Bửu. Mầy không biết xấu hổ với chồng con còn lên giọng kẻ cả, bà đấm vỡ mặt mầy ra bây giờ”. Bà quay qua tôi ra lệnh: “Đây là căn nhà của ông, ông cứ ở đây không đi đâu hết. Không có đứa nào đụng tới ông sợi lông chưn. Bà con hàng xóm chung quanh đây đứng sau lưng ông, con nào hó hé chúng tôi đánh vỡ mặt nó ngay”. Hình như lời hăm dọa của bà, đã làm cho vợ tôi khiếp sợ trốn trong buồng không dám ra..

Hai đứa con gái tôi đi học chưa về, tôi mong gặp lại con tôi sau năm năm. Chắc nó không thể nào nhận ra tôi vì khi tôi vào trại cải tạo chúng nó còn quá nhỏ. Một người đàn ông đẩy xe honda vào nhà, ông gật đầu chào tôi rồi dựng xe xong đi thẳng vào buồng. Đó là người tình nhân của vợ tôi. Ông vào nói chuyện gì đó với vợ tôi chừng mười phút rồi đi ra nói chuyện với tôi. Ông là người Bắc trạc bằng tuổi tôi, hỏi tôi những câu xã giao rồi nói là anh cứ việc ở đây, anh muốn ở hay đi tùy ý. Tôi thấy anh nầy ăn nói rất khéo léo nên tôi trả lời với anh rằng là tôi mới về, chưa tìm ra được chỗ ở nên xin ông bà cho tôi tạm ngủ ở ngoài phòng khách một thời gian ngắn. Chúng tôi chỉ trao đổi vài câu rồi ông ấy trở vào buồng. Tôi ngồi suy nghĩ miên man, muốn ra đi ngay nhưng biết nơi nào chấp chứa mình. Tôi sẽ đi tìm mấy người bạn cũ để xin những ý kiến và sự giúp đở, nhưng trước hết tôi phải gặp hai đứa con trước đã.

Chiều chừng bốn giờ, hai đứa con gái tôi đi học về. Hình như ở đầu ngỏ người ta báo cho chúng nó biết là ba nó mới về. Đi sau nó là mấy đứa trẻ hàng xóm đứng bên ngoài chỉ tôi rồi nói với nó là ba mầy đó vô đi. Tôi nhìn ra hai đứa con gái tôi rụt rè đi chầm chậm về phía tôi. Tôi dang tay ôm hai con vào lòng nước mắt tôi trào ra, mặt mày hai đứa ngơ ngác. Chúng nó còn bé quá làm sao hiểu được sự sung sướng của tôi khi gặp lại hai đứa con, hiểu được vì sao tan rả của gia đình. Vợ tôi rốn rén bước ra cửa phòng nhìn cha con tôi ôm nhau khóc. Tôi ngất mặt lên nhìn thấy mắt nàng cũng rớm lệ. Tôi mới biết rằng tất cả cũng chỉ vì hoàn cảnh, đã lỡ phóng lao không dừng lại được nữa rồi. Tôi mang hai cháu xuống tắm rửa thay áo quần, rồi dẫn chúng ra quán mua mấy cây kẹo, trong số tiền trại cho đi đường chi phí xe cộ. Tài xế xe đò thấy tôi cải tạo được tha nên họ không lấy tiền. Bà chủ quán bán kẹo hiểu hoàn cảnh của tôi bà cũng không lấy tiền kẹo. Tôi thấy mọi người đều tốt với tôi ngoại trừ vợ tôi.

Người hàng xóm mang qua cho tôi một tô cơm lớn với thịt kho mặn, tôi xớt cho hai con cùng ăn chung với nhau. Đêm đó tôi nằm bên ngoài trên một chiếc chiếu manh trải dưới đất, hai con tôi nằm trên chiếc gường tre nhỏ, còn vợ tôi với người tình nhân nằm trong buồng. Nằm gác tay lên trán ngủ không được. Ước gì tôi có cây súng tôi sẽ bắn chết hết cả gia đình rồi tự tử. Làm sao tôi chịu được cái cảnh vợ tôi đang thì thầm với một gả đàn ông khác trong phòng. Tiếng nói của họ làm cho tôi muốn điên lên mà phải cắn răng chịu đựng.. Chờ các con ngủ say, tôi ngồi dậy mở cửa ra ngoài hiên ngồi để khỏi còn nghe thấy tiếng họ thì thầm. Bây giờ tôi mới thấy mình là kẻ thừa thãi trong gia đình nầy, bằng mọi cách phải ra đi càng sớm càng tốt.

Nói tới đây anh lại đưa tay ra rót rượu rồi lại nốc cạn một hơi. “Cuộc đời của tụi mình sao nó đen hơn mõm chó, Mất tuổi thơ, mất tuổi trung niên, tuổi già thì xa quê hương. Gia đình ai cũng gặp nhiều vấn nạn không ít thì nhiều.” Rồi anh lại trầm ngâm kể tiếp câu chuyện dở dang:

Sáng hôm sau khi các cháu chưa ngủ dậy thì tôi đã ra khỏi nhà tìm đến những người bạn cũ vì sợ họ đi làm. Tôi đến nhà Dinh gõ cửa, Dinh nhận ra tôi ngay nhìn tôi từ đầu tới chân rồi vào mở tủ lấy ra một bộ quần áo cũ cho tôi thay, rồi hai đứa mới ngồi nói chuyện. Tôi kể cho Dinh nghe hoàn cảnh gia đình tôi hiện thời. Dinh không ngạc nhiên vì đã trông thấy vợ tôi nhiều lần đi với người đàn ông khác. Cái khó của tôi là phải trình diện công an phường mà theo địa chỉ giấy tờ ra trại đã ghi, nên không thể nào đi nơi khác. mỗi tuần phải trình diện một lần, buổi tối bất kỳ lúc nào họ đến nhà kiểm soát phải có mặt tôi. Dù có chỗ ở khác cũng không thể rời khỏi căn nhà nầy. Mỗi đêm nằm bên ngoài với các con, tôi cứ nghe tiếng rù rì hay đùa giỡn của hai người trong phòng. Tôi cảm thấy đau nhói như ai đó đang tra tấn tôi. Vợ tôi có những hành động khinh khi tôi, cố tình bêu xấu tôi cho tôi tức giận để tôi không chịu được phải ra đi. Tôi biết, nhưng làm sao bây giờ nên phải chịu đựng.

Một người bạn tìm được cho tôi một việc làm thủ kho cho một cơ sở làm đồ nhựa của người Tàu vùng Chợ Lớn. Tôi đến công an phường trình giấy tờ việc làm cho tôi cư ngụ nơi đó. Công An họ cũng hiểu hoàn cảnh của tôi nên chấp nhận ngay. Từ đó tôi như người thoát được địa ngục, không còn chứng kiến cảnh trái tai gai mắt. Thỉnh thoảng tôi đạp xe trở về thăm con, gặp con ở ngoài đường chứ tôi không vào căn nhà đó. Ban ngày tôi lấy mối đồ nhựa đi bỏ ở các sạp hàng trong Chợ Lớn, ban đêm ngủ tại kho đồ nhựa. Cuộc sống tôi dần dần ổn định.

Thỉnh thoảng đến rủ Dinh ra quán của Phượng, người em gái của Dinh uống vài ly bia hơi. Phượng trước đây có chồng là phi công bị tử trận năm 1974, có hai con một trai một gái. Cửa hàng của Phượng buôn bán rất đông khách nhưng lại thiếu người trông coi. Có lần Dinh nói với tôi hay mầy ưng con Phượng để giúp nó một tay, tụi bây rổ rá gặp nhau tau thấy có lý đó. Chính đầu dây mối nhợ nầy tôi mới lấy được bà xã của tôi bây giờ. Sau khi từ trại cải tạo ra, chừng hai năm sau tôi lấy Phượng. Phượng lúc đầu thuê căn nhà mở quán bia hơi, sau nầy có tôi phụ giúp nên mua lại căn nhà đó. Chúng tôi ăn nên làm ra rất nhanh và có thêm hai cháu nữa.

Lúc nầy Bửu đã ngà ngà say, nhưng khi anh kể tới đây tôi thấy đôi mắt anh bỗng dưng sáng lên chứ không còn mờ đục. Anh gật gù đưa tay ra rót rượu cho cả hai. Chai rượu 750 ml đã vơi gần một nữa. Tôi đổi đề tài khác hỏi anh là ngày xưa khi còn chiến tranh chắc anh uống rượu khá lắm phải không? Anh cười ha hả: “Hồi đó còn trẻ, ngày nào không đi hành quân là ngồi vô uống từ sáng tới chiều. Rượu đế bất kể ngon hay dở đều làm láng. Câu Lạc Bộ đơn vị bán rượu ghi sổ, cuối tháng thanh toán chẳng còn đồng nào. Nghĩ lại vui thiệt”. Tôi cũng như anh vậy, dân tác chiến cái chuyện uống rượu xem như một hình thức giải khây. Chỉ có rượu và gái điếm bất kể ngon dở xấu đẹp, miễn sao có để giải quyết, có để làm nguồn vui. Anh Bửu có một lối kể chuyện rất hay, chậm rãi để người nghe thấm những lời mình nói. Tôi hỏi anh sao anh không mang hai đứa con gái riêng của anh với người vợ trước qua Mỹ, mà anh lại mang hai đứa con riêng của vợ? anh nghe tôi hỏi, anh đưa tay nốc cạn ly rượu, mặt anh cúi xuống rồi ngẩng lên trả lời với tôi:

Chương trình đi Mỹ tôi không bao giờ nghĩ tới. Một thằng bạn tù chạy tới nhà bảo tôi nộp đơn qua tại tòa  Đại Sứ Mỹ ở Thái Lan,  có một đường dây của mấy thằng cán bộ làm ở Bưu Điện Sài Gòn gởi cho, chỉ có tụi nó mới gởi được. Nó copy cho tôi bộ đơn, tôi ghi rồi nhờ nó gửi giùm. Chờ dài cổ năm nầy qua năm khác xem như không có gì. Thì đến năm 1990 có người ta rục rịch ra đi thì tôi nhận được giấy báo từ tòa Đại Sứ Mỹ chấp nhận cho tôi đi theo diện HO. Lúc nầy thì tôi lại mệt thêm một lần nữa, tôi phải đến gặp Loan (người vợ cũ) để xin cho hai đứa con gái được đi Mỹ theo với tôi. Dù gì thì Loan cũng là người nuôi nấng chúng nó từ nhỏ tới nay. Còn tôi trên danh nghĩa là cha nhưng chưa có một ngày nào nuôi con. Tôi sống với Phượng cùng hai đứa con riêng của Phượng. Tôi xem chúng như con ruột của mình nên hết lòng yêu thương chúng. Sau nầy chúng tôi có thêm hai đứa con chung. Như vậy nếu được đi Mỹ tôi mang được đến sáu đứa con, nếu Loan đồng ý cho hai đứa con gái theo tôi.

Tôi đến căn nhà cũ, căn nhà mà tôi đã  bỏ ra đi gần mười năm trước đây. Tôi đến đúng vào ngày chủ nhật nên các con tôi ở nhà, Loan đang nấu cơm dưới bếp. Đứa con gái lớn xuống gọi mẹ lên cho tôi nói chuyện. Nhìn Loan tôi hết hồn. Sự tàn tạ đã phá hủy dung nhan của một người đàn bà một cách thô bạo, chỉ có mười năm sau không gặp mặt mà Loan bên ngoài hoàn toàn là một người khác. Tôi mỗi tháng đều mang tiền tới phụ thêm cho Loan nuôi con nhưng chỉ gặp các con thôi, chứ không vào nhà. Chưa bao giờ gặp lại Loan lần nào. Tôi sắt se không nói được nên lời trước mặt Loan. Những sự đối xử tàn tệ của Loan với tôi trước đây tự nhiên bay đâu mất. Tôi hỏi Loan về sức khỏe về gia đình, bỗng nhiên Loan bật khóc.  Các con tôi đến ôm mẹ rồi chúng nó cũng khóc theo mẹ. Tôi nói với Loan trong thổn thức: “Mọi chuyện đã cũ rồi không nên nhớ lại. Anh không trách gì em hết. Đó chỉ là sự chọn lựa nhầm lẫn nên nó bị trượt chân, thế thôi. Mà ai biết được cái gì sẽ xẩy ra? Có điều mình nên biết cái lỗi của mình để sửa”. Tôi nói với Loan một cách nhẹ nhàng như vậy. Rồi tôi đi thẳng vào vấn đề đi Mỹ của các con.

Loan nói với tôi rằng hồi nào đến giờ mẹ con sống với nhau không xa nhau được.Nếu đi thì đi hết, còn nếu không thì thôi. Lại thêm một quyết định sai lầm. Bây giờ tôi đã có vợ con, nếu tôi chọn cho mẹ con Loan đi thì phải bỏ lại mẹ con của Phượng, mà Phượng đâu có lỗi gì với tôi. Tôi cho Loan trong vòng một tháng để suy nghĩ quyết định, nếu không trả lời thì xem như Loan từ chối cho các con đi với tôi. Tôi cũng bảo rằng sau vài năm các con ổn định sẽ bảo lãnh mẹ qua. Loan vẫn khư khư giữ quyết định của mình. Tôi cũng cho anh biết thằng tình nhân của Loan vài tháng sau mà tôi đã gặp trong nhà,nó cuốn gói về Bắc, không liên lạc gì với Loan nữa..Từ đó đến nay cũng chẳng thấy Loan cặp với ai.

Vừa rồi tôi nhận được thư của con gái tôi xin tôi khiếu nại để được đi Mỹ. Tôi có đi hỏi luật sư, thì họ bảo rằng cho đến bây giờ vẫn chưa có thay đổi gì chờ một thời gian nữa. Còn nếu không thì phải chờ năm năm sau khi tôi vào quốc tịch mới bảo lãnh cho con. Nghĩa là trước sau gì tụi nó cũng đoàn tụ với tôi, sớm hay muộn thôi.

Tôi nhìn chai rượu mất đi hai phần ba. Anh hỏi tôi còn uống được nữa không? Tôi lắc đầu. Hình như anh cũng đã tới chỉ. Anh đi pha một bình trà uống với nhau cho giải rượu trước khi tôi lái xe ra về. Ngồi nói chuyện bâng quơ với nhau. Anh nói với tôi: “Đàn bà, họ yêu ai là yêu chết bỏ. Đến khi họ không còn yêu nữa thì họ cũng tàn nhẫn một cách khiếp đảm. Trường hợp của tôi chứng minh cho điều đó. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ. Tôi nhớ cái đêm cuối cùng trước khi tôi đi học tập, Loan khóc hết nước mắt. Cho nên trong thời gian năm năm học tập, tôi vẫn tin tưởng rằng vợ tôi sẽ không bao giờ bỏ tôi. Thế mà mới chừng vài năm sau Loan đã quay ngược đầu lại. Cho đến bây giờ nghĩ lại mình cũng không thể trách được. Lúc đó mình còn quá trẻ vợ cũng vậy, mà đi học tập chẳng biết ngày nào về. Làm sao người đàn bà còn quá trẻ không bị cám dỗ bởi những vật chất bên ngoài, trong lúc mình thiếu thốn đủ thứ mà chồng thì biệt tăm không có ngày về. Nên thôi, ai gặp phải những nghịch cảnh như tôi cũng đừng lấy đó làm thù hận”.

Tôi đồng ý kinh nghiệm sống của anh Bửu trong hoàn cảnh nhiểu nhương cũa đất nước. Rốt cuộc rồi chỉ có sự tha thứ mới giải quyết được mọi vấn đề. Khi tôi đứng dậy ra về, thì chị Bửu va bốn đứa con cũng về tới. Chị nhìn chai rượu rồi nhìn anh. Anh cười cười: “Bữa nay uống rượu ngon thiệt”./

Houston, Sau tết Nguyên Đán Nhâm Thìn (2012)

.

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

NHẬT NGÂN, ….NGƯỜI ĐƯA EM SANG SÔNG

Posted by phanxuansinh trên Tháng Hai 8, 2012

NHẬT NGÂN, NGƯỜI …ĐƯA EM SANG SÔNG.

Phan Xuân Sinh

 

 

Tôi không biết bản nhạc “Tôi đưa em sang Sông” của Nhật Ngân  ra đời từ lúc nào, nhưng khi tôi học đệ lục hay đệ ngũ gì đó ở Đà Nẵng bản nhạc nầy đã có rồi. Trong một giờ học nhạc, thầy Phạm Thế Mỹ có đề cập tới bản nhạc nầy. Thầy Mỹ cho rằng bản nhạc nầy âm điệu mới lạ và Nhật Ngân nếu sau nầy có tiếp tục sáng tác thì cũng rất khó có bản nhạc nào qua mặt được bản nầy. Suốt một đời làm nhạc của Nhật Ngân có rất nhiều bản nhạc rất hay, nhưng khi nói tới Nhật Ngân ai ai cũng nghĩ ngay tới bản “Tôi Đưa Em Sang Sông”, nó là bản nhạc đầu tay của anh và nó cũng là bản nhạc mà theo bạn bè ghi nhận là tiêu biểu của Nhật Ngân,

 

Ở Đà Nẵng thuở ấy đám học sinh tụi tôi đứa nào cũng ngêu ngao vài khúc nhạc của anh. Anh là một trong những người gắn bó với Đà Nẵng, cho nên tác phẩm của anh về Đà Nẵng cũng nhiều, dù biết rằng chữ “Đà Nẵng” đọc ra rất nghịch tai chứ đừng nói chi đến chuyện làm nhạc, thế mà những bản nhạc về Đà Nẵng của anh lại rất hay. Mỗi lần gặp nhau trong các buổi văn nghệ dành cho Đà Nẵng, hoặc trên bàn tiệc Nhật Ngân ôm đàn say sưa hát và không bao giờ thiếu bài “Tôi Đưa Em Sang Sông”, đã nghe anh hát nhiều lần bài nầy, thế nhưng mỗi lần anh hát lại thấy nó hay một cách khác. Anh có tâm sự với nhiều người là bài hát được sáng tác vào đầu thập niên 1960 tại Đà Nẵng, nó đã được rò rỉ ra ngoài và một số người lúc đó đã nghe anh hát. Sau nầy anh mới gửi vào cho nhạc sĩ Y Vân xem để trước khi xuất bản. Nhạc sĩ Y Vân có sữa một số chữ để tránh kiểm duyệt và vì lúc đó anh còn quá trẻ nên nhạc sĩ Y Vân đề nghị để thêm tên một người nữa đã có kinh nghiệm sáng tác đứng chung với anh, như vậy thuận lợi hơn. Cho nên trên nhạc phẩm “Tôi Đưa em Sang Sông” mới có thêm tên Y Vũ đứng chung với anh. Chứ thực tế Y Vũ không sáng tác chung trong nhạc phẩm nầy.

 

Anh là một người hiền hòa và rất dễ thương. Một lần đến California tôi đến quán cà phê Factory rất sớm (đây là nơi gặp gỡ anh chị em văn nghệ), Tôi đã thấy anh ngồi một mình, tôi bảo với anh là tôi đi gọi cà phê thì anh bảo là họ thấy anh ngồi thế nào cũng mang cà phê ra cho anh, cà phê của anh rất đặc biệt. Quả thật đúng như vậy, tôi thấy sửa nhiều hơn cà phê vì anh đau bao tử nên không uống được cà phê đậm. Anh bảo rằng ngày hôm qua nghe anh em nói tôi đã đến Cali, thế nào hôm nay cũng đến đây uống Cà phê sớm nên anh ra trước để chờ, lúc nầy còn vắng khách mình nói chuyên dễ dàng hơn. Lời anh nói làm cho tôi rất cảm động, dù gì chăng nữa anh là một nhạc sĩ tiếng tăm, còn tôi chỉ là một thằng đàn em vô danh mà anh đã dành cho một sự biệt đãi. Tôi rất kính phục vô cùng.

 

Một lần Hội Quảng Đà tổ chức Đại Hội Liên Trường tại Santa Ana. Tiền đại hội có một cuộc picnic tại Square  one mile. Anh Nhật Ngân, anh Thành Tôn và tôi cùng ngồi trên ghế đá nói chuyện, thì có một nhà thơ đến ném trước mặt chúng tôi một tập thơ mới xuất bản của anh. Anh ấy nói với Nhật Ngân là thơ của tôi như thế nầy mà anh không phổ nhạc trong tập “10 Thi Sĩ Quảng Nam”, đó là một thiệt thòi lớn cho dân Quảng Nam. Thú thật chúng tôi rất bàng hoàng và ngạc nhiên trước một thái độ vừa trịch thượng vừa khiếm nhả như vậy. Thế mà anh Nhật Ngân vẫn từ tốn trả lời là xin lỗi anh, đó là một thiếu xót của tôi. Tôi và anh Thành Tôn nhìn nhau lắc đầu. Ai cũng có quyền tự cho mình làm  thơ hay, nhưng họ lại quên một điều rất quan trọng là người đọc họ cũng có quyền đánh giá thơ của người khác bằng một nhận định khách quan, vô tư. Và chính họ mới có thẩm quyền định đoạt mức độ thơ hay, dở, của người khác. Hơn nữa chuyện phổ thơ là sự cảm nhận của nhạc sĩ với bài thơ họ thích. Chứ thơ hay mà người nhạc sĩ không thích thì cũng chịu thôi. Chính vì thái độ nầy về sau tôi tìm đọc các tác phẩm của nhà thơ nầy một cách cẩn trọng, và tôi rút ra một kết luận là anh Nhật Ngân không chọn ông đó trong số 10 Thi Sĩ Quảng Nam là một sự chính đáng.

 

Trong cách chọn thơ để phổ nhạc, anh Hoàng Lộc có kể cho tôi nghe là anh có hỏi Nhật Ngân là những nhà thơ Quảng Nam cũng nhiều và cũng có nhiều bài thơ của người Quảng Nam rất hay mà không thấy bài nào phổ nhạc được nỗi thiếng. Nhật Ngân có trả lời rằng dòng thơ Quảng Nam các ông lý sự nhiều quá, chính cái chất lý sự làm cho bài thơ hay, nhưng ngược lại thơ mang chất lý sự đọc lên cảm thấy khúc mắc, trắc trở, khó khăng cho người nhạc sĩ. Vì vậy nên không phổ nhạc được. Chúng ta cũng biết rằng chính trong thơ đã có nhạc điệu, những bài thơ không mang nhạc điệu mà chỉ có lý sự thì khó phổ nhạc cho hay.

 

Khi tập nhạc “10 Thi Sĩ Quảng Nam” ra đời ( gồm có các nhà thơ: Luân Hoán, Thành Tôn, Nguyễn Nam An, Hạ Quốc Huy, Hồ Thành Đức, Trần Trung Đạo, Phan Xuân Sinh, Thái Tú Hạp, Trần Yên Hòa, Hoàng Lộc) của Nhật Ngân. Các Hội Quảng Nam của các tiểu bang cũng tiếp sức phổ biến cho anh thế nhưng cũng chẳng được bao nhiêu và theo anh cho tôi biết anh đã bị một số thi sĩ Quảng Nam không có tên trong số đó, gọi điện thoại chất vấn và làm phiền anh không ít. Họ nêu lý do là anh lấy tiêu chuẩn nào để chọn bài. Anh trả lời thẳng thắn là không tiêu chuẩn nào cả, tôi “cảm” bài nào là tôi phổ bài đó bất kỳ của ai. Một cách trả trả lời đầy trách nhiệm và khôn ngoan. Xin nói rỏ hơn anh Nhật Ngân chỉ chọn 10 nhà thơ Quảng Nam hiện đang sinh sống tại hải ngoại.

 

Tôi định tháng 3/2012 tôi sẽ đi một chuyến Cali vùng Wesminster.,vì cũng lâu quá không có cơ hội thăm các anh, nhưng khi nghe tin anh Nhật Ngân mất làm tôi cũng mất đi hứng thú. Chiều ngày 21,1,2012, tôi điện thoại nói chuyện với anh Thành Tôn, anh Thành Tôn cho biết là anh Nhật Ngân bệnh nặng khó qua khỏi, nghe tin nầy tôi cũng xót xa. Chừng 10 phút sau xem TV đài SBTN thì được báo tin Nhạc sĩ Nhật Ngân vừa mất sáng nay. Tôi thật sửng sốt và tôi mới biết anh Thành Tôn đã biết tin nầy, nhưng không dám thông báo với anh em, thế nào rồi anh em cũng biết, còn chính anh không đủ can đảm thông báo một tin quá buồn như vậy trong dịp năm hết tết đến.

 

Những ngày sau khi Nhật Ngân mất, tôi đã điện thoại nói chuyện cùng bạn bè tại Cali và tất cả chúng tôi ai ai cũng thương tiếc anh. Ngày thăm viếng và tang lễ của anh đã được rất nhiều người tham dự., đó cũng là niếm an ủi cho những thân nhân của anh còn lại. Bài viết nây thay mặt cho anh em cầm bút Quảng Nam và “10 Thi Sĩ Quảng Nam” gửi đến gia đình anh lời chia buồn cũng như sự hối tiếc về tấm lòng của anh trước đây dành cho. Mong anh thanh thản bay vào miền miên viễn, những tác phẩm của anh vẫn sống mãi ./.

 

Houston, ngày 1 tháng 2 năm 2012

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

MỘT CHẶN ĐỜI RỐI RẮM

Posted by phanxuansinh trên Tháng Sáu 24, 2011

 

MỘT CHẶNG ĐỜI RỐI RẤM
Truyện của Phan Xuân Sinh

*Viết dành tặng Phúc và Khiết.

Chuyện xẩy ra với anh như là một định luật, hoàn cảnh lúc bấy giờ không ai có thể đi ngược lại, nó như một mắc xích cứ tuần tự nối theo nhau, không ngừng lại được. Chuyện xẩy ra cho đời anh, nó cũng tương tự như muôn ngàn người khác, sống trong cùng một hoàn cảnh, một thế hệ, một thời điểm. Nó đã nhận chìm biết bao nhiêu gia đình cùng thời, nó đã phá vở bao nhiêu ước vọng của đời trai. Bây giờ ngồi nhìn lại nó, anh còn sợ và tự nghĩ tại sao mình vượt qua được như là một “định mệnh”, mà từ lâu anh không tin vào sự an bài của bề trên. Bây giờ ở vào cái tuổi trên sáu mươi, nhìn lại mọi chuyện bằng một sự trầm lặng, suy luận và diễn giải một cách hợp lý, nó không bồng bột, nông nổi, háo thắng như hồi còn trẻ.  Cốt lõi của mọi vấn đề xẩy ra trong đời sống tùy thuộc vào cung cách sống của mỗi người. Cái nhân nào nó đều có cái quả đó. Sự chăm sóc vun trồng nó sẽ mang tới một kết quả mong muốn. Đó là lẽ tất nhiên mà ta không chối cãi được.

Thời đó anh là một sĩ quan hải quân của miền Nam. Anh chọn lựa bởi sự thôi thúc của tuổi trẻ, sống một đời tang bồng lênh đênh trên biển cả. Ý nghĩ lãng mạn nầy anh đã nuôi trong lòng từ lâu, khi còn là học sinh ở Huế, nhìn thấy bộ quân phục trắng của các sĩ quan hải quân đi dạo phố thấy nó vừa kiêu hãnh mà cũng vừa sang trọng làm sao. Nếu sau nầy có cơ hội phải phục vụ trong quân đội, thì anh sẽ chọn hải quân. Chuyện của thời tuổi trẻ có nhiều ước mơ thế nhưng mấy ai chụp bắt được mơ ước của mình, tuy nhiên anh đã đạt được điều đó Những năm anh vào đại học, chiến cuộc càng ngày càng leo thang, càng ngày càng khốc liệt. Những thanh niên lần lượt bước vào quân trường mà không có một sự chọn lựa. Nhiều đêm suy nghĩ, trong thời điểm nầy nếu bước vào quân đội anh còn được sự chọn lựa binh chủng nào anh thích, nếu lỡ mất cơ hội sau nầy anh không còn được sự chọn lựa nữa, mà chính quân đội sẽ chọn lựa tới anh. Anh ghi danh vào khóa 22 sĩ quan hải quân.

Rồi cũng như bao nhiêu người khác sau hai năm, anh ra đơn vị. Bây giờ thực sự anh mới thấy những ước mơ ngày xưa tưởng chừng như sụp đổ. Đời của một thủy thủ nó chẳng có gì đẹp, những lúc biển động say sóng, ói mửa, suốt ngày tháng lênh đênh trên biển không thấy một bóng người, bay bướm với ai khi đối diện với trời rộng biển xanh. Chỉ có những lúc tàu cặp bến được lệnh lên bờ đi bát phố. Có lẽ đời của những người lính hải quân hạnh phúc nhất là những phút giây nầy. Thật tình mà nói, trong thời chiến cái khổ cực và chịu đựng của hải quân làm sao so sánh với bộ binh được, nội sự di chuyển thôi đủ thấy họ dùng đôi chân băng rừng vượt suối, còn các anh đi đâu cũng bằng tàu chỉ khác nhau tàu lớn hay tàu nhỏ, đường biển hay sông lạch. Dĩ nhiên không ai có những tị hiềm, những so đo với nhau, công việc ai nấy làm, nhiệm vụ ai nấy giữ.

Anh yêu chị những ngày tàu anh cặp bến Sài Gòn. Chị là một người con gái đẹp, đài các. Chuyện tình yêu của anh chị nó bình thường cũng như hằng vạn cuộc tình nhân khác. Yêu nhau, lấy nhau, tạo nên một gia đình. Trong thời chiến người thiếu phụ nào có chồng là lính cũng đều mang một tâm trạng chờ đợi. Sự chờ đợi làm cho lòng người mỏi mòn, héo hắt. Chị cũng ở trong hoàn cảnh trông chờ như vậy. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt thì sự mong chờ càng ngày càng dài thêm. Giữa tháng 3 năm 1975 Huế mất, gia đình anh di chuyển vào Đà Nẵng. Con tàu của anh phục vụ vùng duyên hải Miền Nam gần cuối tháng 3 năm 1975, thì có lệnh của thượng cấp quay đầu đi Đà Nẵng để di chuyển những đơn vị bộ binh. Nhân dịp nầy anh về nhà người chú để hỏi thăm tin tức gia đình ở Huế thì gặp đại gia đình của anh tạm trú tại đây, anh mang tất cả xuống tàu, lúc nầy đang có lệnh di tản khỏi Đà Nẵng cùng với các chiến hạm khác, chở theo các đơn vị bộ binh và dân chúng.

Trong khi di chuyển từ Đà Nẵng vào Sài Gòn vợ anh chuyển bụng và sinh đứa con gái thứ hai của trên chiến hạm anh đang công tác. Một điều lạ là đứa bé có đôi mắt lóng lánh xanh như màu đại dương. Đó là một kỷ niệm rất đặc biệt không thể nào quên đối với vợ chồng anh. Khi tàu cập bến Sài Gòn anh mang gia đình về nhà, vì trước đây ba của anh có mua môt căn nhà để dành cho các con có nơi ăn học, và đôi khi ông có dịp đi công tác Sài Gòn ở lại đó. Sắp xếp mọi việc cho gia đình, rồi anh xuống tàu ra đi công tác khác.

Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, tất cả những chiến hạm phải tuần tiểu liên tục trên vùng duyên hải Miền Nam, anh không có dịp về Sài Gòn để thăm vợ con. Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 Sài Gòn thất thủ, tàu của anh còn lênh đênh trên biển cả không thể vào bờ được. Sĩ quan và thủy thủ có lệnh mang tàu qua Phi Luật Tân. Giờ phút buồn nhất khi cặp bến Phi Luật Tân, cờ quốc gia Việt Nam được kéo xuống, tàu được sơn phủ, xóa đi dấu vết của Hải Quân Việt Nam. Anh em đứng bên nhau chứng kiến cảnh nầy, đôi mắt rưng rưng, lòng đầy luyến tiếc. Anh biết bọn anh sẽ vĩnh viễn không còn dip phục vụ đất nước, không còn đi trên những chiếc tàu chiến tuần tra trên vùng duyên hải Việt Nam. Cũng bắt đầu từ nay cuộc đời sẽ trôi giạt vào một ngã đường khác, vĩnh viễn chia tay với quá khứ mà những gì tuổi trẻ đã chọn. Chiến tranh đã lùi xa  khỏi cuộc đời, khỏi quê hương. Hòa bình thực sự đã tới, nhưng tới bằng chia lìa mất mát, bằng khổ đau oằn oại. Những người trên tàu được chuyển qua một chiến hạm của Mỹ để đi đến căn cứ Guam. Anh và mọi người bắt đầu một cuộc sống tị nạn.

Một thân một mình trên đất lạ quê người, tất cả làm lại từ đầu. Xa gia đình, nhớ vợ con đó là một sự khắc khoải nhất của anh. Anh nghe tin có một số người đòi Mỹ trả họ trở về Việt Nam, nhiều khi nhớ vợ con anh cũng muốn bước xuống tàu Việt Nam Thương Tín cùng đi với họ. Lại nghe những tin rất xấu về chế độ Cộng Sản, những cuộc trả thù, những trại cải tạo lao động thiếu ăn đã làm cho anh chùng bước. Sợi dây liên lạc với gia đình bị cắt đứt, anh không còn biết gia đình bên quê nhà sống ra sao. Những tin tức về quê hương càng ngày càng xấu đi. Những người thắng trận lập phòng tuyến gắt gao, kiên cố, chia cắt người trong nước với thế giới bên ngoài, không có cách nào liên lạc được. Anh cũng mua một radio để hằng đêm mở đài VOA nghe tin tức quê nhà, chỉ có cách nầy mới hiểu chút ít về cuộc sống nhân dân Việt Nam thời ấy, mới biết được những trại cải tạo giam giữ sĩ quan và công chức của Miền Nam một cách khắc nghiệt, phải chết dần mòn. mới biết những cuộc đổi tiền làm khánh tận biết bao nhiêu gia đình, lập lên những vùng kinh tế mới đày những gia đình sĩ quan, công chức như một cuộc sống khổ sai, cải tạo công thương nghiệp để vơ vét tài sản của nhân dân. Chính vì vậy anh mới biết sự hà khắc của cộng sản, họ xáo trộn và bần cùng hóa cuộc sống, không để người dân ngơi nghỉ.

Anh sống trong tuyệt vọng và nghĩ rằng anh và gia đình vĩnh viễn không còn gặp nhau được. Mỗi ngày lái xe đi làm về, anh lang thang trên đường phố hoặc vào bar uống rượu để tìm quên. Anh sợ về nhà, sợ nhìn căn phòng lạnh ngắt, sợ sự cô đơn. Nhiều khi thức dậy nửa đêm, anh bước ra cửa sổ đứng nhìn ra ngoài, nhìn bóng đêm anh thấy lạnh cả người. Lúc nầy là lúc nhớ vợ con quay quắt, nhưng không biết phải làm sao. Anh mới thấy sự cần thiết của gia đình, thiếu vắng một hơi ấm của gia đình, một tiếng cười khúc khích của vợ con để trong căn phòng sống động lên. Tất cả ao ước đơn giản đó anh đã có, thế nhưng hiện nay bị một làn sóng thời cuộc đã đẩy anh rời xa tất cả, xô anh đến một vùng đất xa lạ. Nghĩ lại đôi khi anh bật khóc trong đêm tối vắng lặng. Vợ anh, người đàn bà nhan sắc mới hai mươi mấy tuổi, chưa từng lăn lóc với đời làm sao chống chọi với cuộc sống, lại còn hai con nhỏ bên cạnh chị phải xoay sở làm sao? Tất cả đã làm cho anh rối trí khi nghĩ về gia đình xa cách., biết những khó khăn của vợ mà không làm sao giúp được. Người bên quê nhà đã khổ, mà người tha hương lại càng khổ hơn.

Rồi cuộc sống cứ lặng lẽ trôi, đến một ngày anh không còn chịu đựng nổi sự cô đơn và cũng chính thời điểm nầy, anh gặp một người đàn bà mang đến cho anh những điều anh thiếu, lấp vào khoảng trống của đời anh, tiếp cho anh một hơi thở tưởng chừng như hụt hẫng, và đúng hơn là một cái phao để anh níu lên đó khi anh cảm thấy đuối sức. Anh không còn tâm trí cân nhắc, không còn chọn lựa thiệt hơn. Đời sống quá cô đơn đã làm cho con người thèm khát đủ thứ, miễn sao có người bên cạnh để an ủi khi vấp phải những buồn phiền, chia sẻ những vui buồn và tiếp sức cho nhau đi trên đoạn đường xứ lạ quê người. Hai người dễ đến vì đều mang một tâm trạng như nhau, cùng một kiếp sống tha hương nên đồng lòng trợ giúp. Anh vẫn luôn luôn nghĩ đây chỉ là một cuộc tình cũng như những cuộc tình mà anh đã đi qua trong cuộc đời. Sau nầy khi Hoa Kỳ và Việt Nam giao thương, anh lại trở về với vợ. Cũng qua đài VOA anh mới biết làn sóng vượt biên bắt đầu ồ ạt, lúc đầu còn lẻ tẻ càng về sau càng đông đảo, bất kể sự bắt bớ, bất kể hiểm nguy miễn sao ra đi để vượt thoát khỏi một đất nước bạo tàn, dùng những chính sách khắc nghiệt trên đầu nhân dân. Anh theo dõi kỹ càng trong những người ra đi đó có gia đình anh không, có ai thân quen có thể cung cấp tin tức về gia đình của anh. Thế nhưng anh không gặp được người nào biết rỏ cuộc sống của vợ con anh. Cuộc vượt biên đã đánh động được lương tâm thế giới, các nước tây phương phải sửng sốt và mở rộng cánh cửa đón nhận làn sóng tị nạn.

Chính những tháng năm sống với người tình, tinh thần được cân bằng và anh bớt đi uống rượu, bớt đi la cà trên đường phố, bớt đi tuyệt vọng để chăm chú vào công việc làm, tạo dựng một mái nhà tương đối ấm cúng mặc dù theo anh vẫn chỉ là tạm bợ. Còn chuyện vợ con bên quê nhà biệt vô âm tín, anh đã tìm mọi cách nhưng không bắt được liên lạc với gia đình. Mọi tin tức về quê nhà đều xấu đi. Những thành trì kiên cố tạo dựng để ngăn cách với thế giới bên ngoài. Sống với người tình được vài năm thì anh nhận được tin của vợ và cũng chính lúc nầy, người tình của anh mang thai. Thêm một sự rắc rối với anh, thêm một oan khiên ụp trên đầu anh. Đứng giữa vợ và người tình anh thêm một lần nữa đắn đo. Năm sau đứa con gái đầu của anh vượt biên qua tới trại tị nạn, anh phải làm giấy bảo lãnh để nó nhanh chóng qua được Mỹ. Đây là chiếc cầu nối chắc chắn nhất giữa anh với gia đình nói chung và giữa anh với vợ nói riêng. Anh được biết thêm vợ anh ở Sài Gòn sống chung với cha mẹ anh. Một tay chị tần tảo bán buôn nuôi con và nuôi gia đình chồng. Những chuyện nầy đã làm anh thức tỉnh, anh không đắn đo và quyết định một cách sáng suốt trở về lại với vợ.

Người tình nhân bồng đứa con trai nhỏ ngậm ngùi ra đi. Chị ấy không thể tiếp tục cuộc sống với anh khi mà phải tận mắt chứng kiến cảnh nhà đoàn tụ của anh. Dù sao chị cũng ở Mỹ, hấp thụ được nề nếp văn minh, luật pháp không chấp nhận một người đàn ông có hai vợ, mà dù có cho phép thì chị cũng không thể ở lại vì như vậy chính chị chà đạp lên nhân cách của mình, mặc dù thâm tâm chị vẫn còn gắn bó với anh. Chị phải quyết định trước chuyện nầy, vì tự ái chị không thể nào để anh phải mở miệng nói lên một sự thật, chị là người thừa thải trong căn nhà nầy. Dắt con lầm lủi ra đi trước cái nhìn nghiệt ngã của anh, lòng anh cũng tan nát không thua gì chị. Một vấn đề mà không thể nào giải quyết ổn thỏa, bên nào cũng nặng nợ phải cần một sự hy sinh thì mới giải quyết được vấn đề. Chị chọn sự hy sinh dù sao đi nữa chị cũng là người đến sau. Trước khi đến với nhau, anh cũng đã cho chị biết anh là người đã có vợ con, thế nhưng thời thế lúc ấy mịt mù quá, biết khi nào sự ngăn cách trầm trọng giữa hai nước mới nối lại với nhau, đông tây lại xa xôi dịu vợi và nhất là ai còn giữ được sự thủy chung, khi mà những cám dổ của cuộc sống đang bủa vây quanh những người đàn bà trẻ trung nhan sắc. Chính những suy nghĩ nông cạn đó chị phải hứng chịu một kết quả bẻ bàng hôm nay, những gì chị nghĩ đều trái lại với ý muốn của chị. Dù là “tình địch’ trong lòng chị vẫn kính phục vợ của anh, sống giữa bầy thú dữ vợ anh vẫn giữ được sự thủy chung, vẫn hiên ngang đứng vững, không bị sa ngã vào những cám dỗ đã giăng ra bao vây chị. Đó là một người đàn bà đáng kính phục. Chị cũng không thể ở lại thành phố nầy, phải dẫn con đi thật xa để không phải nhìn cảnh gia đình của anh đang ấm cúng hạnh phúc để rồi phải luyến tiếc, phải đau nhức. Chị phải cố quên tất cả để sống với con.

Còn anh thì sao? Lúc đầu anh đến với người tình để tìm một sự khỏa lấp trong những ngày sống xa vợ con. Những năm tháng đầu anh nghĩ chỉ đùa vui cho qua ngày đoạn tháng, hai người tình nguyện đến với nhau như bèo nước. Một lúc nào cảm thấy không còn cần nhau nữa thì chia tay. Một ý nghĩ thật đơn giản, thế nhưng lại đầy nhiêu khê. Tình cảm của con người nó không vô tri như gỗ đá, đụng vào nó rồi dễ gì thoát ra được, mà dù có thoát ra thì cũng ân hận suốt đời. Chính mình là thủ phạm, tay đã nhúng chàm không thể nào rửa sạch được, lại là một người có trách nhiệm nên trong lòng anh luôn luôn có sự cấu xé, dằn vặt, làm sao chu toàn những nghĩa tình cho trọn vẹn. Bao nhiêu đêm thao thức, không tìm ra được một đáp số hợp lý. Nhìn người tình và đứa con trai say ngủ, anh thấy thật tội nghiệp, thật đáng thương, nhưng biết làm sao hơn khi nghiệt ngã của sự thật cay đắng đang tới gần với họ. Rồi mai đây mỗi người mỗi ngã vì dù sao đi nữa vợ con anh vẫn trên hết, vẫn đứng sừng sửng trong lòng anh. Anh không thể để họ bơ vơ nơi xứ lạ quê người.

Vợ anh, người đàn bà đẹp. Khi còn bên quê nhà chị đã biết anh đang cặp bồ với người đàn bà khác, chị cho đó là sự thường tình của đàn ông khi xa gia đình quá lâu. Chị không trách anh, chỉ buồn. Chị tin tưởng rằng khi gia đình đoàn tụ, cuộc sống êm ấm thì sẽ xô đẩy quá khứ vào một chỗ khác. Chị tin tưởng rằng với một tấm lòng thương chồng, với sự nhiệt tình xây dựng, chăm lo hạnh phúc sẽ cầm được chân anh. Cái gì đã qua hãy để cho nó trôi vào quên lảng. Chị hứa với lòng mình đừng khơi dậy đống tro tàn, đừng đay nghiến với quá khứ, đừng chê trách sự lầm lỗi. Hãy tha thứ để sống. Bao năm sống trên quê nhà, chị đã nhẫn nhục chịu bao nhiêu đắng cay để mong có ngày gặp lại chồng, thì không vì lý do sai trái để đánh đổ hạnh phúc, làm tan rả gia đình. Nhất là các con của chị cần có một gia đình êm ấm, cần phải học hành, cần một tương lai. Không vì sự ghen tuông ích kỷ phải đánh mất tất cả. Chị nguyện với lòng mình phải luôn luôn bồi đắp hạnh phúc, vì chính nó sẽ mở ra được những khúc mắc, mang lại niềm vui để tin tưởng vào cuộc sống.

Bây giờ đã bắt đầu bước vào tuổi già, hai đứa con gái lớn của anh đã có gia đình và có con, đứa con trai với người tình thuở nào bây giờ đã trưởng thành, đang phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ cũng thường đến thăm anh chị. Nhìn lại những chặn đường anh đã đi qua tưởng chừng khó vượt thoát được, thế rồi thời gian, tha thứ và tấm lòng của vợ, của người tình giải quyết được mọi vấn đề một cách suôn sẻ, tốt đẹp.  Dĩ nhiên trong hai người đàn bà phải có một sự hy sinh, phải có một sự độ lượng. Người đàn bà nào mà không ghen tuông, thế nhưng họ biết kềm chế, xử sự mọi việc trong vòng hợp lý, tránh né những phiền phức tới cho mình cũng như cho kẻ khác. Ghen làm gì nữa khi mọi chuyện nó đã rồi, đã qua. Có nổi máu ghen lên thì cũng không giải quyết được gì, lại làm thương tổn đến con cái, hư sự. Người khôn ngoan là biết tha thứ, chỉ có tha thứ mới mang lại một sự kính phục của mọi người. Dù sao chăng nữa anh cũng phải cám ơn vợ anh, người đã vun trồng lên một mái gia đình vững chắc đến ngày hôm nay. Nhân cách của chị rực sáng, là tấm gương soi cho anh và con cái nể sợ.

Houston, ngày Fatherday (19/6/2011)

PHAN XUÂN SINH

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

MẠCH SỐNG VẪN CHẢY

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 7, 2011

 

MẠCH SỐNG VẪN CHẢY

 

Truyện của Phan Xuân Sinh

 

 

 

Tôi gặp lại Hưng và vợ nó tại khu Eden, Washinton DC. Tôi đi từ Boston đến để tham dự đám cưới con của người bạn, sáng hôm sau đi dạo khu Eden thì gặp vợ chồng Hưng đang đi mua đồ ở đó. Từ khi qua Mỹ tôi có nghe tin phong phanh là gia đình Hưng định cư tại đây, thế nhưng không liên lạc được. Lần nầy vô tình lại gặp nhau. Hưng mừng lắm vào bên trong chợ gọi vợ ra, chúng tôi dẫn nhau vào Phở Tàu Bay cho dễ dàng nói chuyện.

 

Tôi hỏi Hạnh vợ của Hưng có thường liên lạc với với Linh không? Hạnh cho biết thỉnh thoảng, thường thường đến tết gọi về Việt Nam chúc tết Linh. Khi nhắc tới Linh tôi thấy cả hai vợ chồng đều khựng lại, như có cái gì cản trở. Để xua đuổi không khí nặng nề nầy tôi lái qua chuyện khác, tôi không ngờ câu chuyện xưa cũ còn để lại trong lòng họ một nỗi đau. Tôi bảo Hưng là hơn hai mươi năm mới gặp lại bạn, bây giờ đứa nào cũng già đi nhiều. Tôi muốn tránh, thế nhưng Hạnh lại muốn khui lại chuyện của Linh. Hạnh nói rằng cách đây hai năm Hạnh có về Việt Nam, có đến thăm gia đình Linh, gia đình hạnh phúc, Linh có hai đứa con trông rất bảnh và đã nghỉ làm việc cho chính phủ. Ở nhà mở một tiệm buôn bán điện máy, rất giàu, có xe hơi riêng. Linh bảo với Hạnh trước đây Linh buôn bán nhà đất.

 

Tụi tôi chia tay nhau tại đây, tôi lên xe trở vế Boston còn vợ chồng Hưng ở lại tiếp tục đi chợ. Ngồi trên xe tôi nhớ lại chuyện của chúng tôi ngày xưa. Tôi, Hưng và Linh học một lớp từ nhỏ ở Đà Nẵng. Trong ba đứa Linh là người học rất giỏi, siêng năng. Còn tôi và Hưng học rất tầm thường. Ba đứa lúc nào cũng đi chơi với nhau, thân nhau lắm.

 

Linh yêu Hạnh và hai người rất gắn bó với nhau, sau nầy đi uống cà phê tụi tôi có thêm Hạnh cùng đi. Tôi không ngờ rằng thằng Hưng cũng yêu Hạnh, nhưng không nói ra, không tỏ bày cho ai biết, cứ âm thầm giữ trong bụng. Một hôm Hưng đến nhà tôi vào phòng ngủ của tôi ngồi nói chuyện. Tôi thấy thắng nầy sao bữa nay ít nói, suy tư và có vẻ thất thần. Tôi hỏi nó hôm nay mầy có sao không, trông thấy mầy rất lạ. Hưng không trả lời, chỉ nhìn ra cửa sổ, tôi cũng chẳng cần phải hỏi thêm, cứ để cho nó suy nghĩ viễn vông. Tôi mở sách ra đọc tiếp chừng mười phút sau, thì nó quay qua tôi nói:

 

“Tao có một chuyện nầy, cần nói cho mầy biết trước khi tao nhập ngũ. Tao cảm thấy không thể để trong lòng được nữa, từ bấy lâu nay tao âm thầm chịu đựng. Mầy là thắng bạn thân, nên tao thổ lộ cho mầy biết.”

 

Tôi hỏi dồn dập:

 

“Chuyện gì mà quan trọng đến thế, sao hồi trước tới giờ mầy không nói cho tao biết, mầy có nói cho thằng Linh biết không?”

 

“Bây giờ chỉ có mầy, đừng nói cho bất kỳ ai biết, nhất là thằng Linh.”

 

Rồi nó thong thả nói với tôi:

 

“Tao yêu con Hạnh”

 

“Trời đất”

 

Tôi nghe như tiếng sét bên tai mình, tôi có vẻ trách nó. Thiếu gì người mà sao lại yêu con bồ của bạn mình. Con đường rộng thênh thang không chọn, lại chọn con đường cụt không lối thoát. Nhưng khi nhìn khuôn mặt đau khổ của nó, tôi lại thấy thương hại cho nó. Nó nói xong rồi ôm mặt khóc. Tôi không có cách nào giúp được nó. Tôi bảo nó ra nhà sau rửa mặt, rồi đi uống ca phê. Tôi hỏi nó có cần rủ thắng Linh với con Hạnh đi không, nó lắc đầu.Tôi với nó đi xuống Cà phê Ngọc Lan, ngồi vào bàn nó im lặng không nói gì cả. Tôi thấy không khí nặng nề quá và hơn nữa chỉ còn vài ngày nữa nó vào trại Nhập Ngũ Số 1, nên tôi đề nghị với nó là nên gọi Linh và Hạnh ra quán để cho nó nhìn Hạnh những ngày cuối cùng. Nó không ý kiến, tôi ra lấy xe đạp đến nhà Linh và bảo Linh rủ Hạnh cùng đi. Tôi đạp xe trước về lại quán Cà Phê với Hưng, chừng mười lăm phút sau hai người chở nhau tới.

 

Nhìn thấy Hưng mặt mày ủ rủ, Hạnh lên tiếng trước, anh Hưng sao hôm nay buồn bả quá vậy? Tôi chống chế, để che đi sự thật của Hưng, tôi bảo rằng sở dĩ nó buồn vì nó sắp trình diện nhập ngủ, rồi tôi, Linh và Hạnh nói chuyện vu vơ, để cho Hung chìm trong suy nghĩ của mình. Suốt trong buổi cà phê đó, Hưng không mở miệng một lời. Khi tan chầu cà phê, tôi với Hưng tách ra ngả bờ sông ngồi trên ghế đá trước sông Hàn để nói chuyện, còn Linh chở Hạnh về nhà.

 

Tôi có hỏi Hưng là chuyện của mầy với Hạnh có ai biết không? Nó lắc đầu. Tôi nói là mầy nên giữ kín, nói ra sẽ gây khó khăn thêm chứ không giải quyết được gì, sẽ làm cho Linh và Hạnh khó xử.

 

Chừng ba ngày sau, tôi qua nhà Hưng chở nó đi trình diện, nhìn theo nó bước vào cổng Trại Nhập Ngũ, tôi thấy nó thật tội nghiệp, mang trong lòng cả một sự tan nát mà không biết nói cùng ai. Vào Thủ Đức nó viết cho tôi vài lá thư thăm hỏi, tán dóc với nhau nhưng tuyệt đối không nhắc nhở gì về Hanh. Tôi nghĩ thôi như vậy cũng yên, xa cách sẽ làm cho nó quên mọi chuyện rắc rối vế Hạnh. Từ khi nó đi, tôi cũng ít đi cà phê với Linh và đứa nào cũng lo cho chuyện sinh sống của mình. Lúc nầy tôi xin đi làm sở Mỹ, chức vụ storekeeper (thủ kho) để chờ đợi lên đường theo gót chân của Hưng. Linh đi học ở Đại Học Huế, tôi thấy tương lai của nó thật sáng lạng.

 

Một đêm nọ, vào khỏang 11 giờ đêm. Hạnh chạy qua nhà tôi gõ cửa, bước vào nhà, kéo tôi vào buồng nói nhỏ là Linh bị bắt. Nghe tin tôi sửng sốt, một thắng hiền lành, không bao giờ chú ý tới chính trị lại đi rải truyền đơn cho Mặt Trận Giải Phóng, không biết có cái gì xui khiến nó làm công việc nầy. Tôi hỏi Hạnh bây giờ phải làm sao? Hạnh lắc đầu. Thôi thì việc làm của nó, nó phải chịu thôi không ai giúp được. Tôi hoàn toàn không biết chuyện nầy có bàn tay của Hạnh, hay đúng hơn là của gia đình Hạnh. Thỉnh thoảng tôi có qua thăm Hạnh, để hỏi thăm tin tức của Linh, tôi không còn thấy mấy người anh trai của Hạnh, chỉ có bà già và Hạnh thôi. Một lần từ nhà Hạnh ra về, tôi gặp thằng Điềm học cùng lớp với tụi tôi, nhà ở cạnh nhà Hạnh, Điềm cho tôi biết là nhà của Hạnh theo quân Giải Phóng, hai người anh đã lên núi nên mấy hôm nay cảnh sát chìm rình rập, trong xóm ai cũng biết. Mầy không nên tới lui nhà đó. Điềm hoàn toàn không biết thằng Linh bị bắt ở Huế.

 

Từ đó tôi không dám qua nhà Hạnh vì sợ liên lụy, chừng vài tháng sau Hạnh qua cho tôi biết có ra Huế đến Lao Thừa Phủ thăm Linh. Tôi hỏi qua loa về sức khỏe, chuyện tôi quan tâm bấy lâu nay là tôi nghi Hạnh và gia đình ép Linh vào việc rải truyền đơn nầy, vì gia đình Hạnh có ông bố tập kết, các ông anh của Hạnh đều theo cộng sản. Tôi gặn hỏi nhiều lần, nên Hạnh phải thú thật với tôi là người anh của Hạnh ra Huế ở chung phòng trọ với Linh, anh ấy nhờ Linh đi rải truyền đơn với anh. Linh không thể từ chối nên mới rải lần đầu thì bị bắt. Thiệt ra Linh không ở trong các tổ chức của Mặt Trận. Khi mọi chuyện đổ bể, hai người anh của Hanh bỏ lên núi. Hạnh nói là Hạnh không biết chuyện nầy, nhưng sau vài tháng không biết sao Hạnh lại nói với tôi là Hạnh có nói với Linh đi rải giùm truyền đơn cho hai anh của Hanh ở Huế.

 

Mọi chuyện đã rồi, có nói thì cũng không mang lại cho Linh một cuộc sống bình thường được, tiếc là bỏ lỡ cơ hội học hành của Linh. Gia đình của Linh sau nầy ra Huế biết được hai người anh của Hạnh cù rủ Linh, nên bà Cụ rất hận Hạnh. Mỗi lần tôi qua thăm bà cụ bà đều khóc và mắng nhiếc Hạnh thậm tệ. Đến năm 1968 khi quân đội Giải Phóng tấn công tết Mậu Thân ở Huế, giải thoát lao Thừa Phủ. Linh đi theo họ lên núi và sau đó được đưa ra Bắc.

 

Hưng về phục vụ tại Tiểu Khu Quảng Nam, thỉnh thoảng về Đà Nẵng có đến thăm Hạnh. Có nhiều lần ra phố tôi bắt gặp Hưng chở Hanh phía sau xe honda. Tự nhiên tôi nghĩ lại chuyện cũ, khi Hưng có lần thú thật với tôi là đã yêu Hanh. Lợi dụng không có mặt Linh, có thể Hưng tiến tới để thay chỗ của Linh. Nghĩ cho cùng Linh ở xa tít, miệt mài quá không biết lúc nào trở về, bắt Hạnh phải mỏi mòn trông đợi thì cũng thật bất công.Tôi hoàn toàn không có ý kiến chuyện nầy, hơn nữa Hưng sau nầy hay tránh mặt tôi, ít gặp nhau, mỗi đứa ở đơn vị khác nhau.

 

Năm 1971, tôi đi phép về nhà thì thấy một phong bì mời đám cưới để trên bàn, tuần sau đám cưới  của Hưng với Hạnh. Tôi lấy xe honda chạy qua nhà Hạnh, xem thử họ cần gì tôi giúp không? Hạnh gặp tôi rất ngỡ ngàng, tụi tôi ra ngồi ngoài hàng hiên nói chuyện. Hạnh xin lỗi, vì không thể nào chờ đợi Linh vì không biết ngày nào mới hòa bình. Gia đình chỉ có hai người đàn bà, cần một người đàn ông trong gia đình. Tôi hoàn toàn thông cảm cho mọi lý do của Hạnh đưa ra. Nếu không có Hưng thì cũng phải có một người khác.Thế nhưng sao tôi thấy trong cuộc tình tay ba nầy nó mang một ấn tượng sâu trong đầu tôi, nó vừa đẹp nhưng cũng vừa tàn nhẫn.

 

Đến năm 1974 tôi đi Sài Gòn để chuẩn bị đi học trở lại, thì mùa xuân năm đó mất Ban Mê Thuột, rồi dần dần mất các tỉnh Miền Trung. Sài Gòn tấp nập những người Miền Trung chạy vào. Vợ chồng Hưng cũng chạy được vào Sài Gòn, mua một cái nhà nhỏ ở Gò Vấp của một người đi Mỹ bán lại, cũng may là gia đình Hạnh cách mạng, hai người anh của Hạnh sau 30/4 về Sài Gòn nên mới giữ được căn nhà đó cho Hạnh. Những ngày trước khi đi cải tạo Hưng đạp xe lên chỗ tôi bán chợ trời ngồi nói chuyện. Cái điều của Hưng lo âu là sau nầy sẽ gặp lại Linh, thì không biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Linh có tha thứ cho vợ chồng Hưng không? Tôi nói với Hưng mọi chuyện đã xong, không thể nào đổi khác. Chuyện gì tới nó sẽ tới, đừng lo âu làm gì cho thêm mệt.

 

Trước khi Hưng đi học tập, nó lên nhờ tôi là thỉnh thoảng lên thăm Hạnh và hai cháu. Tôi gật đầu và đã làm hơn những gì nó mong ước cho vợ con nó. Lúc đó đất nước kiệt quệ, khánh tận chỉ ăn toàn bo bo. Chừng hai tuần tôi mang lên cho Hạnh một hai chục ký gạo, ít ký thịt và một ít tiền để Hạnh sống nuôi hai con. Vì lúc đó tôi chưa có vợ và làm ăn cũng khấm khá. Sau nầy có mẹ của Hạnh vào, nên tôi cho Hạnh mượn một ít tiền ra ngoài buôn bán, tính ra thì cũng đủ sống.(Nói là cho mượn, sau nầy Hạnh trả lại mà tôi không lấy, hình như trị giá chừng một cây vàng). Mẹ của Hạnh rất quý tôi vì bà nghĩ  một tình bạn giữa chúng tôi với nhau quá đẹp.

 

Vào năm 1977, khi tôi làm trong hãng bột giặt ở Bình Thạnh, thì thằng bé làm cho tụi tôi vào gọi, nó bảo là có một ông bộ đội tìm tôi. Tôi ra, trông thấy một người đội nón cối, mặc bộ đồ xanh màu olive, tôi chưa kịp nhận ra thì người đó lên tiếng “Linh đây, chưa nhận ra à?”, tôi bước ra bắt tay nó, hai đứa đều nghẹn ngào. Linh cho tôi biết hiện giờ nó làm việc cho cơ quan thương nghiệp, vừa mới đổi vô Sài Gòn. Nó hỏi tôi vợ chồng Hưng bây giờ đang ở đâu. Tôi hỏi lại nó, mầy hỏi để làm gì, trả thù tụi nó à. Linh mặt đanh lại, đôi lông mày nhíu lại: “Sao mầy đánh giá tao thấp vậy, chuyện cũ đã đi vào quên lãng, tao muốn thăm vợ chồng nó được hạnh phúc không, vậy thôi.”

 

Tôi bảo thằng bé làm cho tụi tôi, mang xe đạp của Linh ra sau. Tôi chở Linh bằng Honda đến thăm Hạnh, tôi cũng báo cho Linh biết là thằng Hưng đi học tập, chỉ có một mình con Hạnh. Xe tôi chạy lên Gò Vấp, lúc đó vẫn còn thưa thớt người, khi chúng tôi vào nhà thì Hạnh đang cho hai đứa bé ăn cơm. Hạnh dừng tay đút cơm cho con, nhìn Linh rồi thốt lên: “Anh Linh”. Rồi khóc nức nở, tay run lên. Linh cũng chạy tới ôm Hạnh, mắt cũng đỏ hoe. Một cuộc gặp gỡ đầy nước mắt và thật cảm động. Hạnh hỏi Linh đã có vợ con gì chưa? Linh lắc đầu. Linh và tôi ra ngoài bàn ăn ngồi, để cho Hanh cho các con ăn cơm xong, rồi mới bắt đầu nói chuyện.

 

Linh hỏi Hạnh một câu thật bất ngờ:

“Sống với Hưng, Hạnh có được hạnh phúc không?”.

 

Hạnh gật đầu.

 

Linh nói tiếp với Hạnh:

“Như vậy, Hạnh đã có một quyết định sáng suốt nhất, chọn lựa cho mình một cuộc sống thích hợp với mình. Anh ủng hộ sự chọn lựa của Hạnh”.

 

Chúng tôi xoay qua đề tài khác, để tránh những trường hợp khó xử. Trong thâm tâm tôi lúc đó tôi rất kính trọng lối hành xử của Linh, dù biết rằng không còn cách chọn lựa nào khác. Linh không có chút hằn học hay mỉa mai. Tôi nghĩ Hạnh cũng đang chờ đợi câu trách móc, để Hanh nói lên hoàn cảnh của mình lúc bấy giờ. Tôi nói với Linh là cái quan trọng hiện nay là làm thế nào để Hạnh có điều kiện nuôi con, chồng không biết đi học tập đến khi nào mới về. Linh nói với tôi là chuyện nầy để tao với mầy tính sau.

 

Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau chừng hơn nửa tiếng đồng hồ, cũng chỉ hỏi thăm người nầy người khác, vì mới gặp lại nhau nên cũng không tránh khỏi sự ngỡ ngàng, dù hai bên cố tình tránh để câu chuyện trở thành tự nhiên. Chúng tôi chào Hạnh rồi ra về. Tôi đưa Linh vào một tiệm ăn để vừa ăn cơm trưa vừa nói chuyện. Linh nói với tôi là ở ngoài Bắc, nó không biết Hưng với Hạnh lấy nhau, nhưng trước khi bị bắt, khi còn đi chơi chung với nhau nó biết là Hưng yêu Hạnh, vì khi tiếp xúc Hưng để lộ những cử chỉ lúng túng, mất tự nhiên nên Linh đoán ra được. Khi về Đà Nẵng được biết Hưng lấy Hạnh thì Linh cũng không ngạc nhiên.

 

Khi ăn cơm xong, Linh hỏi nhỏ tôi sao mầy không đi, ở đây sống không được với chúng nó đâu. Tôi cho nó biết là đã đi mấy lần mà không xong, thôi bây giờ chờ gia đình bảo lãnh. Khi ngồi trên xe tôi hỏi nó là mầy có vào Đảng không? Nó trả lời là không, vì lý lịch của nó có nhiều nghi vấn. Rãi truyền đơn mà không biết tổ chức của mình. Khi bị bắt, cảnh sát Huế đánh gần chết vì bảo rằng nó không khai rõ tổ chức mà nó làm việc.Thằng anh của Hạnh nhờ nó rải giùm, chỉ đặt ở lề đường khi xe chạy qua truyền đơn tung tóe lên, đơn giản như vậy thôi, nó thấy cũng không nguy hiểm nên nhận lời. Đường phố giới nghiêm, nó vừa đạp xe ra khỏi nhà thì bị cảnh sát đi tuần chận lại, xét trong người thì thấy mấy xấp truyền đơn. Thằng anh của Hạnh thấy nó không về, biết là nó bị bắt thế nào cũng liên lụy đến mình nên thằng nầy bỏ lên núi theo quân Giải Phóng luôn.

 

Tôi hỏi Linh:

“Sau nầy mầy có gặp thằng anh của Hạnh không?”

 

“Không. Nghe nói nó làm gì lớn ở Nha Trang. Mà gặp tụi nó để làm gì. Mình ngu thì mình rán chịu. Bây giờ tao chỉ biết cúi mặt qua trôn. Chỉ có mầy là thằng hiểu tao, đừng bao giờ nói cho ai biết chuyện của tao. Sống để bụng chết mang theo.”

 

Từ đó chúng tôi thường xuyên đến với nhau, tôi không biết Linh làm đến chức gì bên Thương Nghiệp, thỉnh thoảng nó mang đến cho tôi những cái phiếu mua nhu yếu phẩm. Lúc đó tình trang dân chúng kiệt quệ, thoi thóp sống bằng bột mì và bo bo. Hạnh và hai đứa nhỏ cũng nhờ Linh trong thời gian nầy rất nhiều. Linh đã dành cho gia đình Hạnh một ưu đãi đặc biệt.

 

Một lần tôi nghe nói Hạnh có thằng bồ khác, hằng ngày tới chở Hạnh đi đây đi đó. Tôi gọi điện thoại và nói chuyện nầy cho Linh biết, Linh bảo tôi là chiều nay hai đứa đến gặp Hanh để hỏi cho ra lẻ chuyện nầy, rồi tính sau. Linh hẹn tôi ở nhà Hạnh lúc năm giờ chiều, Tôi bận một chút công việc nên tới trễ. Khi tôi tới nơi thì mọi chuyện đã rồi. Tôi thấy Hạnh đang ôm mặt khóc, còn Linh thì mặt mày hầm hầm một đống. Linh nói với tôi là nó đã gặp thằng bồ của Hạnh ở đây và nó đã cho thằng kia một bài học, cấm thằng kia từ nay không được đến cửa nhà nầy, nếu còn lén phén nó sẽ bắn nếu bắt gặp. Tôi bảo nó chuyện gì còn có đó, sao mầy giải quyết hồ đồ như vậy, biết chuyện nầy có đúng vậy không? Hạnh bảo với tôi là Hạnh chỉ nhờ anh đó chở đi công chuyện vì Hạnh không có xe. Chứ thật tình không có chuyện nầy. Tôi cũng có nói với Hạnh là mình là gái có chồng, mà chồng lại đi học tập nên không thể đi như vậy, gây ra nhiều dị nghị.

 

Khi tụi tôi đứng dậy ra về, Linh móc bốp lấy giấy tờ xe honda và chìa khóa đặt trên bàn, rồi bảo với Hạnh: “Đây là xe honda của em, em tự đi lấy không cần ai phải chở.” Hành động của Linh đã làm cho tôi rất thán phục, hồi đó có một chiếc xe honda không phải là chuyện dễ. Cũng bắt đầu từ đó khi có xe honda Hạnh đi đây đi đó dễ dàng và chuyện buôn bán thuốc tây có mòi thành công. Chở Linh về, tôi hỏi từ nay bạn đi xe đạp à. Linh bảo là tại sao phải như vậy, ngày mai sẽ mua xe khác. Linh mới mua căn nhà bằng hóa giá tại đường Nguyễn Trải thật khang trang, tôi bảo sao bạn mới đây mà có được cơ ngơi vững vàng quá vậy. Linh cười cười bảo với tôi tất cả là tiền của chúng nó, phải xài chứ. Linh cho tôi biết là cái mùa kiểm kê nó kiếm được vài trăm cây bằng cách tráo kim loại bằng đồng, để lấy kim loại bằng vàng, nộp cho nhà nước toàn bằng đồng, dĩ nhiên phải chia đều cho các xếp lớn. Một đất nước đã rách tan hoang, kiệt lực đều do những bàn tay nầy tạo nên.

 

Chừng vài năm sau thì Hưng được thả về, nhìn thấy vợ con có một cuộc sống đầy đủ, nó mừng lắm. Mẹ của Hạnh cho nó biết sở dĩ cuộc sống như hôm nay cũng nhờ bạn bè nó giúp đỡ. Hưng chở Hạnh tới nhà tôi để nói lời cám ơn, gặp tôi nó ôm tôi rồi khóc. Nó bảo rằng trên con đường từ Tây Ninh về nhà, nó không biết chuyện gì sẽ xẩy ra cho nó. Về tới nhà nhìn thấy vợ con nó mới biết mình vẫn còn được diễm phúc. Tôi bảo nó cố gắng đến thăm thằng Linh. Ngồi nói chuyện với nhau một lúc thì vợ tôi đi làm về, tôi nói hay tụi mình đi thăm Linh rồi rủ nó ra ngoài ăn cơm chiều. Tôi điện thoại cho Linh trước để tụi tôi đến thăm, vì cán bộ thường thường buổi chiều người ta hay mời, ít có ở nhà. Linh mừng lắm, chúng tôi đi ăn và nói đủ thứ chuyện như hồi còn đi học.

 

Vài năm sau Linh cưới vợ, tóc đã bắt đầu muối tiêu. Vợ Linh lai Tàu có một cửa hàng bán vải ở Chợ Lớn. Đám cưới được tổ chức ở một nhà hàng Quận 5. Vợ chồng tôi và Hưng có tham dự. Cảm động nhất là lúc Linh mời tôi và Hưng lên giới thiệu với mọi người. Đại ý là sở dĩ Linh còn sống được, đời sống có ý nghĩa cũng bởi vì bạn bè là cái phao níu với nhau để sống. Ba đứa tôi ôm lấy nhau và đứa nào cũng ràn rụa nước măt. Tôi có vài câu thưa với quan khách tham dự là chúng tôi quen nhau lúc còn học mẫu giáo trải qua bậc tiểu học và trung học. Bây giờ lại cùng sống chung tại một thành phó xa thành phố quê hương của chúng tôi. Trong thời chinh chiến mỗi thằng mỗi ngả, nhưng bao giờ cũng nhớ về nhau. Hòa bình gặp lại nhau ở đây, cám ơn cuộc đời, cám ơn quê hương.

 

Rồi lần lượt đến cuối đời, tôi và Hưng cũng bỏ Linh ra đi. Chỉ còn một mình Linh ở lại đất nước.

 

Houston, 6 tháng 4 năm 2011

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

TÌNH ĐÃ NGỦ SAY

Posted by phanxuansinh trên Tháng Sáu 16, 2010

HỒI KÝ.
tình đã ngủ say

Khi người đụng trái tim ta
là bao nhiêu mộng vỡ òa theo nhau
khi tình ta mãi lún sâu
là lòng người nhạt sắc màu yêu thương
PXS

Từ khi chúng tôi chia tay nhau cho đến bây giờ đã gần 40 năm rồi, hơn một nửa đời người. Nhưng mỗi lần nghĩ tới Sách tôi đều cảm thấy đau nhói, không phải vì tôi còn “yêu” Sách, mọi chuyện đối với tôi nó đã chết theo thời gian. Không ai còn chung tình vớ vẩn như vậy, tất cả chúng tôi mỗi người đếu có một cuộc sống riêng, con cháu đầy đàn, hồn ai nấy giữ. Thế nhưng mỗi lần gặp lại tự nhiên tôi cảm thấy ray rứt, nhìn Sách thật tội nghiệp với một cuộc sống kham khổ, hạnh phúc bị tước đoạt, con người héo hon trong u uất. Tôi tự hỏi Sách chịu đựng một hoàn cảnh sống như thế nầy cho đến bao giờ? Chúng tôi đã từng đến với nhau, đã từng gặp gỡ sau những ngày dài khi chia tay. Chúng tôi vẫn giữ với nhau ở một vị thế mà không bị xé rào hay sự đòi hỏi làm chúng tôi mờ mắt. Chúng tôi quý mến nhân cách của nhau mặc dù không cần thiết như vậy. Thế nhưng cái đó đã thể hiện ý thức tôn trọng, một rào cản chắc chắn chúng tôi không nên vượt qua để vi phạm. Cuộc đời của đứa nào cũng te tua bầm giập, còn gì đâu để còn phải giữ gìn.

Tôi nhớ năm 1976, sau khi tôi lấy vợ được vài tháng thì Sách từ Đà Nẵng vào Sài Gòn thăm tôi. Lúc nầy người chồng đầu tiên của Sách vừa mới mất (tại mặt trận Pleiku 1975) trước ngày hòa bình chừng hai tháng. Tôi ngạc nhiên là Sách cùng đi với Ngọc Bích, người bạn gái của tôi sau nầy. Ngọc Bích có một người anh trai là bạn cùng khóa Không Quân với chồng của Sách. Vì thế Ngọc Bích và Sách quen nhau bởi dây mơ rễ má như vậy, chứ một người ở Đà Nẵng và một người ở Sài Gòn làm sao quen nhau. Tôi mời hai người ra ngoài quán café để dễ dàng nói chuyện, vì trong sở làm việc của tôi ồn ào, người ra kẻ vào nhiều gây trở ngại trò chuyện của chúng tôi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp lại Sách kể từ ngày Sách đến thăm tôi tại Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng mùa hè 1972, khi tôi bi thương từ mặt trận được trực thăng chở về.

Trong suốt câu chuyện tôi không hỏi gì về cái chết chồng của Sách, vì tôi không muốn cho Sách hiểu lầm rằng tôi quan tâm vì để thỏa mãn lòng tự ái. Tôi chỉ ngồi nghe hết chuyện nầy tới chuyện khác mà trong những câu chuyện, Sách tin tưởng rằng người chồng vẫn còn sống, có thể bị bắt học tập cải tạo đâu đó, hoặc đang sống tại nước ngoài chưa tiện liên lạc được với vợ con. Tôi cũng mừng thầm mong rằng sự tin tưởng của Sách là sự thật, một ngày nào đó gia đình Sách được đoàn tụ dù ở bên nầy hay bên kia đất nước. Ngồi nói chuyện, tôi chú ý từng hành động, từng cử chỉ của Sách. Sách không còn như xưa. Cái liến thoắng lanh lẹ, cái trì chiết đanh đá mà sau khi có chồng, va chạm với cuộc sống thật ngoài đời, đã dạy cho Sách những kinh nghiệm chống chọi. Tôi không ngạc nhiên điều đó, cái ngạc nhiên nhất của tôi là được Sách dài dòng kể lể về cái hạnh phúc trước đây đã sống với chồng con, cái hạnh phúc ngắn ngủi nhưng rất tuyệt vời nầy đã làm vết thương cũ của tôi dậy lên và cảm thấy nhức nhối. Cũng bắt đầu từ đó tôi khinh Sách, nhìn Sách với con mắt không mấy thiện cảm. Đúng ra khi gặp lại tôi, một người tình đầu đời của Sách, Sách phải tỏ ra có một chút hối tiếc, một chút đau đớn, vì khi chia tay nhau, tôi không có một lầm lỗi nào với Sách, thì không lẽ gì Sách kể những chuyện hạnh phúc để trả thù tôi. Cái ấn tượng gặp gỡ lúc ban đầu, đã làm cho tôi có thái độ phủi tay lánh mặt. Không cần phải nhớ đến trước đây mình có một con “bồ” đang sống trong kham khổ hiện thời, Có ai đó bên quê nhà nhắc tới Sách, tôi tìm cách tảng lờ như không biết. Bởi vì tôi không thể chấp nhận một người tình trước đây đi lấy chồng, và khi gặp lại nhau không có một câu hỏi han nào về cuộc sống của tôi, chỉ ba hoa kể về cái hạnh phúc đã trôi qua của mình. Đó là một loại người vong tình, không có đầu óc và tôi không cần phải nhớ tới làm gì cho uổng công.

Có một năm vợ chồng tôi về Đà Nẵng ăn Tết, khi tôi đến thăm cậu mợ bà con bên ngoại thì mợ Tâm khuyên tôi cố gắng đến thăm Sách. Mồng ba Tết để vợ ở nhà, tôi một mình đến thăm Sách theo sự yêu cầu của bà mợ. Trong câu chuyện trao đổi tôi có nói với Sách là nếu có tái giá hãy tìm một người đàn ông rộng lượng, vững vàng trong cuộc sống có thể cưu mang thêm hai đứa con, để chúng nó có cơ hội học hành. Tôi bảo với Sách là bây giờ phải hy sinh cuộc đời mình cho con, hãy gạt ra ngoài tai những lời tán tỉnh bóng bẩy, phải tìm một người đàn ông biết thương yêu con của vợ như con ruột của mình. Còn nếu không thì nên sống độc thân buôn bán nuôi con. Thế nhưng vài năm sau tôi nghe Sách tái giá, lấy một người chồng nghèo. Mang hai đứa con về quê ở Túy Loan giao cho bên nôi. Tự nhiên trong lòng tôi thấy xót xa, một việc làm điên rồ, mờ mắt thiếu suy xét. Cái ấn tượng không tốt về con người nông nổi của Sách lại càng làm cho tôi thất vọng. Tội nghiệp cho hai đứa bé đã mất cha, bây giờ coi như thêm một lần mất mẹ. Từ câu chuyện nầy tôi suy luận viễn vông, một con người như vậy thì làm sao đòi hỏi họ chung tình với ai. Mang đầu óc không thiện cảm, tôi nhìn Sách cay nghiệt hơn và thú thật trong lòng tôi càng khinh Sách hơn.

Tôi nhớ một lần ở Huế, Sách từ Đà Nẵng ra thăm tôi. Chúng tôi ở với nhau trong một căn phòng nhỏ hơn một tuần lễ. Tôi có hỏi Sách lý do tại sao ra thăm tôi mà không báo trước, Sách làm thinh không nói dù tôi đã gặn hỏi nhiều lần. Sau đó thì Thê (vợ của Đức, bạn tôi) là bà con với Sách ra Huế tìm, tôi mới biết Sách giận gia đình nên bỏ nhà ra đi. Giận về chuyện gì thì tôi cũng chưa hề nghe Sách nói. Tôi bảo là Sách nên ra về với Thê, vì tôi không muốn mang tiếng dụ dỗ con gái gây ra sự hiểu lầm cho gia đình Sách, mặc dù chúng tôi chưa hề vi phạm, giữ sự trong trắng, tôi tôn trọng đời con gái của Sách. Nhưng có ai biết điều đó, khi mà đôi tình nhân sống chung với nhau ngày nầy qua ngày khác, mà không xẩy ra điều đáng tiếc? Cái khắt khe giáo dục của gia đình, cái ý thức trách nhiệm nặng nề về tinh thần, đã thắng sự đòi hỏi nhục dục của tôi. Tôi trở thành một người thánh thiện.

Sách về Đà Nẵng chừng vài tháng thì tôi nghe tin Sách sắp lấy chồng. Thú thật nghe tin nầy tôi rất bàng hoàng, tôi muốn gặp Sách để hỏi cho ra lẽ. Và khi đó tôi tiếc là không phá đời con gái của Sách cho thỏa mãn lòng tự ái của tôi. Lạy trời, cũng may mà tôi không làm điều đó, chứ nếu đã xẩy ra thì chắc tôi ân hận suốt đời. Cho đến bây giờ Sách vẫn còn kính trong tôi về chuyện nầy, hơn ai hết Sách biết tôi không muốn phá hoại đời con gái của Sách. Khi về Đà Nẵng tôi gặp Sách vài lần, tôi không thèm hỏi về chuyện lấy chồng của Sách. Tôi xem như đó là một chuyện không đáng cho tôi quan tâm, và từ đó tôi tránh gặp mặt dù tôi đã nhiều lần về lại Đà Nẵng thăm nhà. Tối một mình đi uống café thiếu Sách bên cạnh, tôi cũng cảm thấy buồn và cô đơn, nhưng tôi không thể làm gì hơn khi người ta muốn quên đi dĩ vãng, muốn quên sự hiện diện của tôi. Trong lúc nầy ở Huế tôi cũng có một người bạn gái cao ráo và đẹp hơn Sách, học trường Bồ Đề Thành Nội. Lúc đó tôi nghĩ có một ngày nào đó tôi phải đứng trước một sự chọn lựa giữa Sách và Nguyện, thế nhưng không ngờ rằng chính tôi là người bị gạt ra trước cuộc sống tình cảm của Sách. Tôi rất bực bội nhưng nghĩ cho cùng, cũng giúp cho tôi một lối thoát mà không mang tiếng phụ tình với Sách. Sau nầy, tôi cũng quyết định chia tay với Nguyện.

Ngày tôi bị thương nằm điều trị ở Tổng Y Viện Duy Tân thì Sách có đến thăm. Lúc đó Sách vừa mới sinh đứa con đầu lòng. Tôi thấy Sách khóc mà ngược lại tôi rất dửng dưng. Tôi cho rằng giọt nước mắt của Sách là vui mừng đã tránh được một tai họa. Nhiều đêm nằm nghĩ về Sách, tôi tự hỏi tại sao tôi nặng nợ với Sách nhiều vậy. Về phương diện thẩm mỹ thì nhan sắc của Sách không so bằng những cô bạn gái của tôi trước hoặc sau Sách, về phương diện tình cảm thì Sách là người hời hợt, không thâm trầm và phụ tình một cách trắng trợn, thế nhưng để lại trong đời tôi nhiều vết chém nhất mà vết sẹo nào cũng sâu và đau. Mỗi khi nghĩ lại thấy nó nhức nhối khó chịu nhất. Có lẽ Sách và tôi đến với nhau lâu dài, có nhiều kỷ niệm khó quên. Chính vì lẽ nầy nên gây ra chấn động ầm ỹ trong lòng tôi mỗi khi nghĩ tới. Tôi chuẩn bị đi Sài Gòn, thì Đức đến nhà cho tôi biết là chồng của Sách bị tử thương trên mặt trận Pleiku, và Sách chuẩn bị mang hai đứa con nhỏ về Đà Nẵng. Nghe tin nầy, thú thật lòng tôi không có chút xúc động vì từ bao nhiêu năm nay tôi gạt Sách ra hẳn mọi suy nghĩ của tôi. Tôi cho đây là chuyện thị phi không cần phải quan tâm tới. Thế nhưng khi ngồi trên máy bay tự nhiên hình ảnh Sách hiện lên trong đầu: Một người đàn bà góa bụa còn rất trẻ với hai đứa con thơ, nhào ra cuộc đời đầy sóng gió, đầy nhiễu nhương như vậy, thì làm sao chen lấn trong cuộc sống nầy cho nổi.

Tôi quên đi sự phản bôi của Sách, quên đi sự lọc lừa và trí trá thuở nào. Tự nhiên những thứ nầy xóa mất trong tiềm thức của tôi. Đọng lại trong lòng tôi là sự thương hại, tôi thầm cầu nguyện cho Sách vượt qua tất cả để sống trong bình yên, ổn định tâm hồn để nuôi con khôn lớn. Tôi không còn trách móc ai cả, tôi cho đây là một sự nhầm lẫn của tuổi trẻ mà không ai biết trước được. Tôi và Sách cũng chỉ là nạn nhân của chiến tranh, tôi bị thương trong cuộc chiến và vẫn còn hiện diện trên đời, mặc dù mất một phần thân thể. Còn chồng của Sách xem như xóa sổ vĩnh viễn trong cuộc sống. Hơn ai hết tôi hoàn toàn thông cảm cho cái đau rưng rức trong người của Sách phải gánh chịu. Cho đến bây giờ, khi tôi ngồi viết lại dòng hồi ký nầy, tôi xem Sách vẫn là người tình thuở nào, một người bạn thân thiết và là một người em gái đáng thương nhất của tôi.

Vài năm sau đó, tôi có dịp về Đà Nẵng thăm nhà. Tôi nhờ Đức, một người bạn cùng xóm thân thiết nhau từ nhỏ, chở tôi bằng xe honda lên Nam Ô thăm gia đình Sách. Chúng tôi đến bất thần vào bữa cơm trưa, bữa cơm thật đạm bạc. Cơm ghế khoai, một tô canh rau và vài con cá mặn. Vợ chồng con cái ngồi quanh mâm cơm hì hụp thật tôi nghiệp. Tôi nhìn Châu, người chồng của Sách sau nầy, thua tôi chừng vài tuổi, một thanh niên dễ coi và hiền hậu. Tôi yên tâm là Sách có thêm một gia đình cũng tạm ổn, mặc dù sự hối tiếc và trách móc của tôi về Sách vẫn còn mang trong đầu, chưa xóa được. Vài ngày sau, tôi có mời vợ chồng Sách ra nhà hàng dùng cơm, tôi thấy họ xứng đôi và tôi nghĩ chắc họ được hạnh phúc. Nhưng khi dùng cơm ngồi đối diện với Châu, tôi nhận ra một điều là Châu mang một mặc cảm vì nghèo, vì thua thiệt. Chính vì cái nghèo, cái thua thiệt đó mà phải lấy một người đàn bà có con, vợ mình là gái “nạ dòng”. Những điều nầy thì làm sao Sách biết được, Sách là một loại người chỉ biết hình thức, suy nghĩ hời hợt, không biết sâu thẩm trong lòng của chồng mình. Trong đầu óc của Châu khi sống với vợ có tôn trọng vợ không? Mà vợ chồng sống với nhau lâu dài, chỉ giây phút nào đó nhá lên ý nghĩ thua thiệt của mình, tại sao mình là thằng con trai lớn lên lại lấy một người đàn bà có con. Ngồi nói chuyện nhưng tôi nghĩ miên man, tôi nghiệp cho hai người sống trong một hoàn cảnh u uất, không ai chịu bày tỏ sự thật của lòng mình. Tôi là đàn ông nên tôi hiểu tâm trạng của Châu, cái u uẩn trong lòng mà không ai biết được. Đến một lúc nào đó không còn chịu đựng được, sợi dây tình lận đận kia sẽ bung ra. Khi còn ở Sài Gòn, tôi có gặp Thanh (em gái của Sách), có kể cho tôi nghe về chuyện gia đình Thanh không thích người chồng trước của Sách, chính Sách chọn lựa chứ không có gia đình xía vào chuyện nầy. Hình như trong ngày cưới có một chuyện gì đó xẩy ra đáng tiếc cho Sách, (tôi chỉ nghe Thanh kể mà không chú ý lắm, một phần cũng lâu ngày quá rồi nên chi loáng thoáng nhớ lại). Và người chồng sau nầy cũng không được gia đình đồng ý, nhưng không có cách nào ngăn cản lại được. Hơn nữa con gái mình cũng lỡ thời, nên không còn con đường nào khác chọn lựa. Thanh có nói thêm (hình như là để an ủi tôi chăng?) gia đình em thích anh hơn.

Tôi qua California thăm người chị bà con mới từ Úc qua. Chị cho tôi biết là vừa rồi có về Việt Nam thăm nhà, chị mới nghe tin Sách đã ly dị với người chồng sau, chị hỏi tôi có biết tin nầy chưa? Tôi lắc đầu. Không biết tại sao tôi không ngạc nhiên về chuyện nầy. Từ lâu tôi nghĩ rằng Sách sẽ không được hạnh phúc với người chồng sau nầy. Tôi có cảm giác như vậy, còn lý do vì sao tôi mang ý nghĩ nầy thì quả thật khó giải thích. Tôi nghĩ trong đầu Sách sẽ khổ hơn, sẽ gặp rắc rối hơn khi tiếp tục sống với nhau. Thà như vậy, đường ai nấy đi để giải thoát những bế tắc cho nhau mà không nói ra được. Sách đúng là người đàn bà cao số. Sau khi nghe tin tức không may của Sách về chuyện gia đình, tự nhiên tôi thấy thương Sách hơn. Suốt một cuộc đời lao đao với chuyện chồng con, chỉ có nước mắt âm thầm trong đêm, khóc cho người chồng nầy rồi khóc cho người chồng khác. Gần cuối cuộc đời sống trong lẻ loi cô quạnh. Đời một người đàn bà chỉ có một lần có quyền được chọn lựa, sơ sẩy xem như đi đong không thể trở lại. Sách nằm trong trường hợp nầy. Nói thế không phải vì Sách không chọn tôi nên mới gặp những trường hợp đáng tiếc xẩy ra. Biết đâu khi chọn tôi trường hợp xẩy ra còn thê thảm hơn thì sao? Cuộc đời dài lắm và cũng ngắn ngủi lắm, làm sao biết được chuyện gì sẽ xẩy ra.

Tôi đi Mỹ (1990) không có cơ hội gặp được Sách. Hình như tôi có gửi cho Sách một vài lần tiền nhờ người quen mang về. Nhưng sau đó thì bặt tin, tôi không liên lạc được do mất địa chỉ vì tôi dọn nhà đi nhiều lần. Gần hai mươi năm sau tôi mới có dịp gặp lại Sách khi tôi trở về Việt Nam thăm nhà vào dịp tết 2008. Không biết ai báo tin cho Sách tôi mới về. Một buổi tối sau khi dùng cơm với gia đình xong, tôi ngồi ở phòng khách xem tivi, thì đứa em vào báo có một chị bạn tìm tôi. Tôi nhìn ra ngoài hiên, ánh đèn mờ quá tôi không nhận ra Sách, mà thú thật Sách đổi khác nhiều quá. Bao nhiêu tai ương ụp xuống đời một người đàn bà, cộng với sự nghèo khổ, chăm lo cho gia đình và các con, đã làm cho Sách héo hon, tiều tụy. Sách khép nép nhìn tôi, trong một giây phút bất thần tôi không nhận ra được. Sau đó thì Sách cười tôi mới nhận ra. Nụ cười của Sách rạng rỡ tôi không bao giờ quên được. Vì mới gặp nhau chúng tôi chỉ trao đổi những thăm hỏi, khi đụng tới chuyện gia đình thì Sách bảo là buồn lắm để khi khác sẽ kể cho tôi nghe. Quả thật Sách không biết ở Mỹ, tôi đã biết về chuyện ly dị của Sách trước đây mấy năm.

Trong thời gian vào dịp Tết, tôi cũng bận rộn nhiều chuyện. Lâu ngày mới về nên phải đi thăm bà con chỗ nầy chỗ kia, đi thăm bạn bè. Thì giờ đi thăm thì không tốn mấy, nhưng sau khi gặp nhau thì uống với nhau vài ly rượu, sa đà vào chuyện nầy không còn thì giờ đâu để làm chuyện khác. Tôi có gặp Sách vài lần ngắn ngủi, những lần gặp nhau tôi chú ý tới một điều là Sách đã thay đổi tính tình rất nhiều. Đăm chiêu và nói chuyện cay đắng hơn. Có lẽ những đau đớn về chuyện đổ vỡ gia đình, đã cho Sách những bài học muộn màng về tình người, sâu sắc trong cuộc sống, thận trong trong giao tiếp. Đúng ra bài học nầy Sách phải biết trước đây vài chục năm, thì chắc rằng đã cứu vớt cuộc đời của Sách sau nầy. Không bị lún sâu trong những quyết định bồng bột, non nớt, để phải trượt chân trên đường đời một cách thê thảm như vậy. Mà cũng chính sự đau khổ nầy cho Sách nếm qua cái mùi “bội bạc” của người khác dán lên đầu mình, nặng hơn ngàn cân mà mình phải gánh chịu. Cái gì của Sách đối đãi với tôi ngày trước, bây giờ Sách nhận lấy cái hậu quả đau đớn gấp trăm lần mà tôi đã chịu. Những lọc lừa, dối trá, mà trước đây Sách đã dùng để đối xử với tôi, bây giờ người ta cũng dùng “chiêu” nầy để đối xử với Sách mà tàn nhẩn hơn, khốc liệt hơn. Ngày đó tôi yêu Sách thật, nhưng song song với Sách tôi cũng có người yêu khác. Mất Sách tôi cũng buồn nhưng tôi có Nguyện. Tuổi trẻ chuyện bồ bịch đến hay đi cũng bình thường, buồn một thời gian rồi quên ngay.

Một buổi tối tôi mời vợ chồng Đức và Sách đi ăn cơm và sau đó đi uống cà phê. Tôi ngồi nghe Sách kể về lý do ly dị với người chồng sau. Một lý do đơn giản là Châu đi chơi đâu đó, gặp một người đàn bà khác. Sau một thời gian ngắn thì Châu tuyên bố chia tay với Sách, về sống với người đàn bà kia. Sách nói với tôi là rất ngạc nhiên về chuyện nầy vì vội vàng và nhanh chóng quá. Thế nhưng khi nghe xong chuyện, tôi không ngạc nhiên. Chuyện Châu quyết định bỏ Sách cho đến thời điểm đó thì đã quá muộn, đúng ra chuyện nầy đã xẩy ra sớm hơn. Sách không nhìn rõ để thấy chuyện nầy. Lấy Sách nhưng lòng của Châu bao giờ cũng nhìn đi nơi khác, trông chờ có cơ hội sẽ buông tay với Sách ngay. Từ lâu nhìn Châu tôi đã thấy được chuyện nầy. Nhưng thôi đây chỉ là dự đoán của tôi, tôi mong rằng không đúng. Tuy nhiên Sách phải hiểu rõ một điều thực tế. Một người con trai khi lớn lên lấy vợ, ai cũng mong rằng người vợ của mình còn trong trắng. Nếu người vợ không dành cho chồng cánh hoa tươi rói đó thì người chồng có cảm giác mình bị cắm sừng. Huống gì đây người vợ đã có vài mặt con thì trong lòng họ cảm thấy bị thiệt thòi biết mấy. Châu ở vùng quê mùa, đầu óc không thoáng lắm, còn quan niệm lỗi thời và còn bị ràng buộc bởi gia đình cổ hủ. Tôi nghĩ khi Sách về làm dâu nhà nầy đã nghe tiếng chì tiếng bấc về chuyện nầy. Sở dĩ hai người có con với nhau nên nhẹ bớt đi cái chuyện xỉa xói của gia đình.

Đúng ra Châu nên có tấm lòng bao dung, hiểu được hoàn cảnh đau thương của vợ, mình lấy họ tức là mình đã cứu vớt cuộc đời của họ, phải sống với nhau bằng tình thương yêu. Nếu thấy rằng lòng mình không rộng lượng như vậy, thì từ đầu mình nên rút lui, để đừng gây thêm đau khổ cho mình và cho người khác. Sách thì không chịu hiểu cái điều thâm sâu bí hiểm đó, nên đau khổ và trách móc đủ thứ.

Trước khi tôi rời Đà Nẵng, Sách đến thăm tôi lần cuối. Có lẽ là lần đầu tiên tôi mới nghe Sách nhận xét về tôi. Sách nói trong nghẹn ngào: “Cuối cùng rồi em mới thấy được, không có ai yêu thương em bằng anh”. Tôi nhìn Sách và thầm nghĩ rằng: “Anh cũng không được như vậy, chỉ có chính em mới thương em”. Đến một cái tuổi nhìn cuộc đời trải qua những bon chen, danh lợi. Những tranh giành, hơn thua. Rồi đến một lúc nào đó ta thấy tất cả chỉ là trò hề. Chỉ còn đọng lại chút tình còn sống lại trong lòng. Hãy sống với nhau bằng thủy chung, chân thật. Tôi biết Sách cay đắng với đoạn đường đã trải qua, những nghiệt ngã giáng xuống đời một cách cay nghiệt, cũng bởi vì khi còn trẻ không trân trọng sự chân thật, chạy đua để nắm bắt được danh lợi, nên phải trả một giá rất đắt bằng chính cuộc đời của mình. Không ai có đủ quyền năng can thiệp được những chuyện nầy, nên khi nhận thức được thì đã muộn màng. Trước khi lên taxi ra về, Sách chạy đến ôm tôi, tôi cúi xuống hôn lên trán Sách rồi Sách lầm lũi lên xe. Đức và Thê đứng nhìn cảnh nầy cũng ngậm ngùi, rưng nước mắt. Tôi biết Sách khi lên xe sẽ khóc, nhưng biết làm sao hơn khi chính mình định đoạt cuộc sống của mình, thì mình phải lãnh hậu quả của sự quyết định đó./

Houston, tháng 6 năm 2010.
Phan xuân Sinh

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

THUỞ ĐẤT TÌNH LÊN NGÔI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Một 8, 2010

Truyện Lịch Sử

THUỞ ĐẤT TÌNH LÊN NGÔI

Phan Xuân Sinh

Ngày cúng thành hoàng làng Nghi An năm đó (1890), tiên chỉ, lão làng đang dâng hương cầu xin quốc thái dân an, nghi lễ cúng bái trang trọng và thành tâm, thì có một thằng bé đứng bên ngoài nói lớn:

-“Quốc thái dân an” là do mình tranh đấu mới có. Cớ sao lại xin xỏ tầm phào như vậy?

Nói xong thằng bé đó bỏ chạy.

Các chức sắc trong làng ngẩn ngơ, không ngờ có người to gan dám nói lên điều cấm kỵ. Hỏi thằng bé đó là con nhà ai mà dám xúc phạm đến uy danh thần linh như vậy. Có một tráng đinh bước lên chấp tay thưa:

-Đó là thằng bé con ông Hương Tân đang có mặt ở đây. Tên hắn là Thái Phiên.

Các chức sắc và lão làng mời ông Hương Tân đến hỏi chuyện về sự ngỗ nghịch của thắng bé. Hương Tân tái mặt, không ngờ thằng con mình làm điều hổn láo như vậy. Mới tám tuổi mà đã đụng đến điều húy kỵ, thì thằng nầy không còn dạy được nữa rồi. Ông chấp tay xin lỗi và hứa sẽ về dạy con. Mọi người trong làng cũng vị nể ông vì dù sao ông cũng thuộc hàng hương mục của làng, một gia đình danh gia thế phiệt, có sự đóng góp đáng kể mỗi khi làng Nghi An cần có sự quyên góp. Ông nghiến răng tỏ vẻ tức giận, sau bữa tiệc cúng làng, về nhà ông sẽ cho nó một trận đòn nên thân. Ông ngồi ăn mà cảm thấy mắc cở với chức sắc và dân làng. Ông cúi đầu cố nuốt trôi miếng ăn cho xong bữa rồi vội vàng đứng lên”kiếu” tất cả mọi người ra về. Ông hầm hầm trong bụng, sẽ đánh thằng con nát thây cho nó chừa cái tội hổn láo, làm nhục gia cang.

Từ đằng xa nhìn về nhà, ông thấy thằng Phiên con ông ngồi nói chuyện với ông nội như có điều gì đắc ý, ông cháu ôm nhau cười, ông càng cảm thấy lộn ruột. Bước vào hiên nhà, ông la lên:

-Thằng kia tới đây cho tao biểu.

Ông nội của Phiên đứng lên, đưa tay như che chở cháu mình:

-Chuyện chi còn có đó, từ từ hỏi cho ra lẽ rồi hãy đánh nó, chưa muộn.

-Hắn phá đám bữa cúng làng hôm nay, cha nghĩ coi có tức không?

Ông nội từ tốn trả lời:

-À, thì ra chuyện nớ. Thằng Phiên có nói lại với tao. Tao khen nó mới chừng đó tuổi
mà có chí khí, sau nầy làm được việc lớn.

-Trời đất, cha che chở cho hắn làm bậy?

-Ai bảo là nó làm bậy. Chỉ có những người bậy mới không chấp nhận lời ngay thẳng của thằng bé. Giặc giã hoành hành khắp nước, không lo tìm cách chống trả. Đi lo cái chuyện cúng bái vu vơ, cầu xin những điều không thể thần thánh làm được. Chỉ có con người, chỉ có sức mạnh của con người mới làm được. Thế thì xin xỏ làm chi ở thần thánh vô ích.

Ông Hương Tân giật mình. Ai dạy cho thằng bé nầy cái ý nghĩ sâu xa như vậy? Chính ông cũng chưa nghĩ ra được thì nó đã nói ra điều nầy. Cơn giận dữ của ông tự nhiên tan mất. Mấy ngày nay, ông Tú không để ý câu nó đọc sang sảng trong nhà: “Quốc vinh ngô thân vinh, quốc nhục ngô thân nhục”*. Mới có tám tuổi đầu mà đã biết được “vinh nhục” của đất nước. Những xáo trộn bên ngoài đã nhập tâm vào đời sống trẻ thơ. Ông lẳng lặng vào nhà, trong lòng ông có chút gì như thỏa mãn. Thế nhưng ông biết con người “hiểu biết” sớm quá, biết “lo” sớm quá cuộc đời sẽ khổ. Biết làm sao hơn khi mà con người không thể nào cưỡng lại được với số mạng. Thôi thì vận nước trong thời loạn, ai cũng có trách nhiệm đóng góp dù trách nhiệm đó đi đến chỗ phân thây.

Thái Phiên học hành rất thông minh nhưng cũng rất ngỗ nghịch. Giữa thời mạt vận của chữ nghĩa thánh hiền, ông không đi thi và sau nầy chuyển qua tây học. Ông mau chấp nhận nền học thuật của tây phương và tỏ ra xuất sắc, am tường kim cổ, đông tây nên ông hành xử mọi việc một cách hợp tình hợp lý. Gia đình giàu có mà lại con một, nên ông được cha mẹ chìều chuộng. Ông phải nghe lời cha mẹ lấy bà Trịnh Thị Nhuận khi mới mười sáu tuổi để có con nối dõi tông đường. Ông nổi tiếng ăn chơi trác táng, chuyện gia đình không hề ngó ngàng tới, một tay người vợ đảm đang. Còn cha mẹ ông, sau khi ông lấy vợ vài năm thì cha mẹ qui tiên. Ông càng buồn càng uống rượu và đi đây đó nhiều nơi. Chính cái chuyện đi nhiều, hiểu biết rộng, lại có tấm lòng nên ông lại càng đau khổ cho vận mệnh đất nước. Người ta nghĩ rằng ông không chấp nhận đường lối nào hết để đi theo. Ông cao ngạo không phục ai vì thế ông lại càng đắm chìm trong chén rượu. Thế nhưng ai biết được lòng ông?

Một hôm ông đến Cẩm Lệ, ghé qua một quán rượu bên đường. Người chủ quán là một cô gái mặn mòi xinh đẹp. Vừa uống rượu vừa tán tỉnh, giễu cợt chơi. Thử xem cô gái thuộc loại nào cho biết. Cô gái không trả lời một tiếng, chỉ cười. Ông thấy thái độ của cô gái có chút gì không bình thường, trong đôi mắt của cô có vẻ khinh khi ông. Từ trước tới nay, đi đâu ông cũng được người ta cung phụng, nể nang. Đây là lần đầu tiên ông gặp một người không nể ông dưới con mắt của họ. Ông thấy cô gái nầy toát lên một cái gì đó có một chút kiêu hãnh, một chút hiểu biết thầm kín mà ông cảm thấy quý trọng. Ông không còn có thái độ khinh bạc như lúc mới bước vào, ông trầm ngâm uống rượu và giữ mình không đến độ phải say để đi nghiêng ngã. Ông thấy trong người vừa đủ, ông đứng lên trả tiền rồi ra về.

Ngày nào cũng vậy, từ Nghi An ra Cẩm Lệ đoạn đường cũng xa, thế nhưng ông thấy không có một nơi nào trong vùng có rượu ngon như quán cô gái đó. Vì vậy ông là vị khách thường xuyên của quán. Làm gì mà không có rượu ngon, hay là ông phải lòng cô gái đó cũng chẳng biết. Bao giờ bước vào quán ông cũng có cái cảm tưởng như trút bỏ cái trần tục ra bên ngoài, lòng ông thanh thoát như tiên, như Từ Thức mà gặp phải Giáng Kiều. Ông chọn một góc quán, để có cái nhìn rộng và hình như cũng để quan sát cô gái.

Vợ ông mấy lúc rày trong mình không được khỏe, bà đến nhà người thầy thuốc làng bên để hốt vài thang thuốc. Người thầy thuốc bắt mạch và cho bà biết là mạch của bà yếu và hình như có một triệu chứng khác thường, một chứng bệnh hung hãn đang bắt đầu hoành hành. Bà lo lắng không biết nếu có mệnh hệ nào, không thể sống được thì gia đình con cái ra sao. Người chồng suốt ngày rượu chè với bạn bè, không hề biết một chút xíu những công việc quán xuyến gia đình thì làm sao bà yên tâm. Chính những lo lắng nầy đã làm cho bà càng ngày càng yếu thêm, bà biết là bà đang bị cơn bệnh tấn công sắp đến giai đoạn khẩn trương, sức khỏe xuống rất thấp. Một hôm nghe người làm trong nhà báo cho bà biết, là ông thường đến Cẩm Lệ để uống rượu trong quán của một cô gái. Tự nhiên mắt bà sáng lên, bà nghĩ ngay đến chuyện phải kiếm tìm cho ông một người vợ kế để thay cho bà sau nầy, nếu không may bà mất đi. Người mà ông phải lòng lại càng tốt, sẽ giúp cho gia đình thuận lợi, suông sẻ. Bà chưa gặp cô gái nầy nhưng bà có linh cảm người nầy sẽ giúp được gia đình bà qua cơn nguy ngập.

Bà gọi người xà ích tới nhà để chở bà đi Cẩm Lệ. Bà cho người xà ích biết là bà muốn tới quán rượu mà ông Phiên nhà bà hay lại đó. Người nầy tưởng rằng bà ghen tuông muốn tìm tình địch, nên nói thẳng cho bà hay đây là quán của một cô gái đàng hoàn, ông nhà chỉ uống rượu chứ hai người không có tình ý gì với nhau. Bà gật đầu cười và có vẻ hiểu biết, trên nét mặt hiền từ tươi tắn, không tỏ một chút ghen tương. Nên người xà ích cũng yên lòng chở bà đi. Buổi trưa quán vắng khách, bà bước vào dở nón ra đến ngồi bên góc quán, vô tình bà ngồi vào chỗ nơi ông thường ngồi. Cô chủ quán từ dưới bếp bước ra thấy bà gật đầu chào, bà tươi cười chào lại. Bà xin một bát nước chè tươi và tự giới thiệu là vợ của ông Phiên, người khách thường đến uống rượu ở quán nầy. Cô chủ quán “à” lên một tiếng ngạc nhiên và hỏi bà có gì xin dạy bảo.

Bà ngần ngừ rồi xin cô ngồi xuống cho bà được hầu chuyện. Bà trình bày bệnh tình của bà, một chứng bệnh nan y mà bà nghĩ rằng không thoát được. Bà không thể yên lòng nhắm mắt khi các con còn quá nhỏ, gia đình bộn bề công việc không ai chăm sóc. Bà thực sự muốn tìm một người vợ kế cho ông để bà yên lòng nhắm mắt, người đó được bà trông thấy và biết trước thì lòng bà được bình yên hơn. Khi trông thấy cô, linh tính cho bà biết ngay đây là người đảm đan mà bà tìm kiếm, người ân nhân cho chồng con bà sau nầy, người có thể thay thế bà quán xuyến gia đình trong tư thế tề gia và nội trợ. Bà trình bày hết tất cả ý nguyện của mình và khẩn khoản nhờ cô giúp. Cô chủ quán suy nghĩ vì bất thần quá cô không chuẩn bị kịp. Thế nhưng cô thấy tôi nghiệp cho bà, một người đàn bà sắp chết vẫn còn lo lắng cho chồng con. Dưới mắt của cô, ông Phiên cũng là người có phong cách đặc biệt, người mang nhiều suy tư, chất chứa u uất mà thường thấy ở các sĩ phu khi đất nước lâm nguy. Đây là cơ hội để cô tìm hiểu thêm về con người có chút bí mật nầy.

Cô nắm lấy tay bà, rồi nói:

-Thôi được để rồi tôi định đoạt sau. Thế nhưng còn phải ý kiến của ông nhà, ông ấy có chịu cho tôi về làm vợ lẻ không?.

-Chuyện đó cô khỏi lo, tôi có cách sắp xếp cho ổn thỏa.

Rồi bà từ tạ ra về. Không quên lấy về cho ông mấy bầu rượu.

Vài tháng sau, căn bệnh của bà trầm trọng. Ông phải ở nhà chăm sóc vợ nhưng cơn bệnh ngặt nghèo bà không qua khỏi. Bà mất để lại cho ông mấy đứa con thơ dại. Lúc nầy ông mới hối hận, không giúp vợ trong cuộc sống gia đình. Từ xưa tới giờ ông không làm gì, chỉ biết đi uống rượu, mọi chuyện do vợ quán xuyến. Bây giờ vợ mất ông lúng túng và phải xoay sở để nuôi con. Ông thèm và nhớ đến cái quán rượu nho nhỏ bên vệ đường, gần một tháng nay ông không tới được. Người phu xe thổ mộ trước đây mỗi ngày chở ông ra quán, cũng buồn thiu. Thấy ông người nầy chỉ biết cúi đầu chào, chứ không dám nhắc ông ra quán uống rượu giải khuây. Vợ mới mất, cái tình, cái đạo nghĩa nó không cho phép ông tìm vui trong chén rượu. Ông không muốn để người ngoài chê cười cho cái không biết giữ lễ của mình. Mặc dù ông sống bạt mạng, bỏ ngoài tai những dị nghị, nhưng những cái đó là không tổn hại đến gia đình con cái. Còn đằng nầy nó nằm trong vòng lễ giáo mà ông là người thấm nhuần chữ nghĩa của thánh hiền, ông phải giữ nó cho phải đạo.

Mỗi ngày sau bữa cơm, ông rót ra một chén rượu ngồi nhâm nhi một mình. Hôm nay cũng vậy, ông vừa rót rượu ra chén thì người nhà vào báo cho ông biết có một người khách đến thăm. Một người khách đến thăm vào chạng vạng tối, ông chỉ đoán ra đây là người quan trọng vì những bạn bè chung quanh đây người nhà đều quen mặt. Người nầy phải ở xa. Ông cho người mời vào. Ông đứng dậy đón khách, người khách dỡ nón ra chào lại. Khách thuộc tuổi trung niên, khuôn mặt quắc thước, có một nụ cười cởi mở. Khách nhìn quanh không có ai, rồi thưa:

-Thưa ông Thái Phiên, tôi đường đột tới đây trước là thăm ông, sau có một vài chuyện thưa với ông.

-Thưa, ông chưa cho tôi biết ông tên gì và đang làm việc ở đâu? Trước khi chúng ta bàn qua chuyện khác.

Người khách cười ha hả:

-Ông thật sự muốn biết tên tôi? Thì tôi cũng không giấu giếm ông làm gì. Chắc ông không biết, nhưng tôi vẫn nói, tôi là Trần Cao Vân.

-À, thì ra tên ông không những người dân Quảng Nam thôi, mà cả nước đều biết. Tên ông vang lừng bốn bể. Tại sao ông nghĩ rằng tôi không biết.

Trần Cao Vân lại cười to hơn và cũng nói to hơn:

-Tôi nghe người ta nói ông cao ngạo, không cần biết ai thì cái tên Trần Cao Vân đâu là gì với ông.

Thái Phiên cũng cười hả hả, trả lời:

-Đó là đối với bọn sâu dân mọt nước, chứ còn như ông tôi phải cúi đầu.

-Cám ơn lời đối đáp thiệt lòng của ông. Còn ông là người tôi mến phục.

Thái Phiên gọi người nhà làm một con gà nấu cháo, gọi người khác qua nhà người xà ích chạy đi Cẩm Lệ lấy mấy bình rượu ngon đãi khách. Hai người uống rượu, nói chuyện thâu đêm. Trần Cao Vân ở lại đó ba ngày. Không biết đã nói với nhau chuyện gì, sáng sớm Trần Cao Vân lên xe ngựa ra đi, Thái Phiên đến tận xe tiễn bạn mà lòng còn bịn rịn.

Vài hôm sau ông đón xe ra Cẩm Lệ, đến quán và trở lại ngồi vào góc quán thong thả uống rượu. Ông gọi thêm một bầu rượu nữa thì cô chủ quán bảo rằng hết rượu. Ông ngạc nhiên la lớn:

-Quán thế nầy mà không đủ rượu sao?

-Nước mà cạn kiệt, thì rượu làm sao còn.

-Thế thì phải làm sao?

Cô chủ nhìn thẳng vào mặt của ông, đưa hai bàn tay lên, trả lời một cách đanh thép:

-Góp đôi tay thì được tất cả.

Ông sững sờ, trố mắt ra nhìn cô chủ. Không ngờ một người con gái mà có lòng với đất nước như vậy, thì đây không phải là người tầm thường. Cô ta chỉ mang ra cho ông một chén rượu khác để trước mặt, như có lời nhắn nhủ phải để thời giờ lo chuyện khác, nên chấm dứt uống rượu giải sầu.

Cô chủ thấy vắng khách nên đến ngồi trước mặt ông:

-Mấy hôm trước có một người khách lạ đến đây uống rượu. Người đó hỏi tôi về ông. Rồi đến thăm ông.

-Cô biết gì về tôi mà trả lời với họ?

-Tôi không những biết rõ về ông mà còn biết rõ người khách kia là ai?

Rồi cô gái nhìn quanh không thấy ai, nói nhỏ vào tai ông:

-Ông là người tôi ngưỡng phục, ông làm những chuyện to tát mà không ai biết. Ai cũng nhìn ông là thằng nát rượu, không thấy được cái âm thầm theo đuổi việc vì dân vì nước của ông một cách thâm trầm. Ông qua mặt tất cả, chỉ trừ tôi.

-Thế thì cô là ai?

-Trần Thị Băng, Việt Nam Quang Phục Hội.

Thái Phiên đứng dậy hỏi dồn dập:

-Người của ai?

-Lâm Quảng Trung.

-Mấy hôm nay có gì lạ?

-Tiến sĩ Trần Quý Cáp mới bị chém ở tỉnh Khánh Hòa hôm qua.

Ông ngồi xuống thở dài, rồi bưng chén rượu uống một hơi. Nước mắt ông chảy xuống, cô Băng kéo vạt áo lên lau mặt cho ông. Ông chưa ráo nước mắt cho vợ thi bây giờ lại rơi nước mắt cho người đồng chí, chỉ có thế thôi đã hiểu được lòng ông.

-Bây giờ, tôi không còn con đường chọn lựa. Núp trong bóng tối hoạt động lâu nay không thấy kết quả, không giúp gì được nước nhà. Tôi phải ra mặt, tôi phải dấn thân. Nhưng ngặt một điều, vợ mới chết, con còn thơ dại, gia đình đơn chiếc, không ai quán xuyến gia đình, tôi không nỡ lòng ra đi. Mỗi lần nghe bạn bè tôi bị nạn, ruột tôi quặn đau như có ai cắt từng đoạn.

-Thưa ông, nếu có người tình nguyện thay cho vợ ông lo chuyện gia đình để cho ông rảnh tay rảnh chân, không còn nghĩ tới chuyện nhỏ nhoi nầy, ông có chịu không?

-Nếu vậy, tôi phải quỳ lạy cám ơn họ trước.

Cô Băng, suy nghĩ một chút rồi nói:

-Nếu như ông không chê bai tôi quê mùa, thì tôi sẽ tình nguyện làm chuyện nầy giúp ông. Trên danh chánh ngôn thuận, chúng ta phải làm một lễ cưới nhỏ thì tôi mới bước vào cửa nhà ông được. Còn chuyện vợ chồng thực tế, nếu có duyên nợ với nhau thì hà tất phải thành, không biết trước được. Nhưng trước mắt chúng ta phải lo cho đại cuộc.

-Như vậy thì Phiên nầy có chết cũng hả dạ rồi. Ơn nghĩa của cô dòng họ Thái nhà tôi trả không bao giờ hết được.

Cuộc nói chuyện với Trần thị Băng tại quán rượu sau vài tháng, Thái Phiên cho người dạm hỏi và sau đó lễ cưới được tổ chức trong vòng thân tộc. Trong đêm tân hôn, bà Băng đưa ra cho ông một lá thư của vợ ông gửi cho bà trước khi mất. Trong thư bà gửi gấm chồng bà cho bà Băng chăm sóc, như vậy hai người đã ngấm ngầm thông đồng với nhau mà ông chẳng hề hay biết. Bà Băng về nhà chồng, sống với ông được hai mặt con, bà lo cho cho gia đình và chồng con vẹn toàn. Ông tối ngày đi đây đi đó tiếp xúc với các sĩ phu lo chuyện đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Ông cùng với Trần Cao Vân sát cánh bên nhau đẩy mạnh phong trào cứu nước đến một đỉnh cao, chờ thời cơ hành động.

Năm 1914. Chiến tranh thế giới bùng nổ. Chính quyền Pháp cho bố ráp bắt những trai tráng xung vào lính mang về chính quốc để phục vụ chiến tranh. Phong trào Việt Nam Quang Phục Hội len lỏi vào hàng ngũ thanh niên chống lại việc tòng chinh sang Pháp, các truyền đơn kêu gọi anh em rời bỏ hàng ngũ do Pháp tuyển mộ, được anh em hưởng ứng nhiệt tình.

Lê Ngung thay mặt cho Quang Phục Hội, một mặt gửi thư xin ý kiến với cụ Phan Bội Châu, một mặt gửi thư cho Thái Phiên để khởi binh vì cơ hội đã đến. Chụp cơ hội chính quyền Pháp rối loạn lo chiến tranh bên chính quốc, vùng thuộc địa chểnh mảng. Nhận thấy lỗ hổng quá to, toàn dân nhân cơ hội nầy đứng dậy lật đổ. Thế nhưng mọi thứ chưa chuẩn bị chu đáo, các tổ chức chưa thống nhất, nhân dân còn hoang mang. Một cuộc họp khẩn cấp các thủ lãnh lại để quyết định. Nhận thấy còn nhiều trở ngại cho cuộc nổi dậy, tất cả đồng ý trì hoãn lại một thời gian để tăng cường lực lượng, tổ chức lại thành phần nồng cốt. Để yên lòng dân, mời vua Duy Tân, một người yêu nước gia nhập tổ chức, để tổ chức có tiếng nói chánh trực, để toàn dân tin tưởng.

Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh nhiệm vụ đi gặp đức vua. Dĩ nhiên chuyện gặp riêng nhà vua không phải dễ, vì chung quanh ngài bọn tay sai nhiều quá, nhứt cử nhứt động của ngài sẽ được báo cáo cho quan thầy. Hai người biết là vua Duy Tân chiều thường ra ngồi ở Phu Văn Lâu hóng mát, nhìn sông nước. Chiều nay hai người mang cần câu và một bình rượu ra ngồi đó trước.

Vừa thả cần vừa uống rượu. Khi vua tới thì lính hầu đuổi hai người đi chỗ khác, hai người không chịu đi, cãi lại với lính hầu:

-Sông nước nầy là của chung, không của riêng một mình ai. Tôi câu ở đây có mắc mớ chi tới mấy ông đâu?

Vua Duy Tân thấy hai người nầy ăn nói có chút gì khác thường, nên bảo mấy người lính hầu hãy để cho họ ngồi câu. Nhà vua trầm ngâm nhìn ra sông, mơ màng suy nghĩ.

Hai người nói chuyện lớn giọng, dù không muốn nghe cũng lọt vào tai vua. Họ mượn một câu hỏi và trả lời của người xưa để nói chuyện khơi khơi, thử xem lòng dạ vua thế nào. Nếu vua là người có lòng yêu nước thì thế nào cũng nao núng, phải gặp hai ông. Còn nếu vua là thứ “bù nhìn”, yên phận, không hiểu câu trao đổi của hai ông thì thứ nầy nên cần phải lánh xa, không cần gặp làm gì:

-Tay dơ lấy gì rửa?

-Nước.

-Chớ nước dơ lấy gì rửa?

-Máu.

Vua giật mình, đây không phải là người tầm thường. Ông lên tiếng:

-Hai anh kia quê mô? Đến đây nói chuyện chơi.

Nhà vua nói với lính hầu:

-Đem rượu ra đây mời khách, rồi tụi bay đi chỗ khác chơi.

Các lính hầu cứ nghĩ đây là hai tay nhà quê câu cá kiếm cơm, nên không thèm để ý.

Hai người tới sụp lạy, rồi nói nhỏ cho vua đủ nghe:

-Thưa bệ hạ, hạ thần ở Quảng Nam ra tìm cách gặp bệ hạ, bẩm báo đôi điều.

-Hai anh cứ nói thật lòng, không sợ chi hết.

-Việc nước đã đến hồi khẩn trương, như nhà cháy không chữa không được. Xin bệ hạ nghĩ tới dân tộc, nước nhà, tham gia với thần dân đánh đuổi quân xâm lược. Sự có mặt của Bệ hạ cốt để yên lòng dân. Hạ thần đã chuẩn bị chu đáo. Cuộc tổng khởi nghĩa toàn quốc sẽ bắt đầu vào giờ tý, ngày 2 tháng 4 năm Bính Thìn (tức 1giờ sáng ngày 3 tháng 5 năm 1916). Khởi điểm tại kinh đô Huế. Súng thần công sẽ được bắn lên mở đầu cho cuộc binh biến của toàn dân. Bệ hạ sẽ lãnh đạo toàn quốc nổi lên đánh đuổi quân xâm lược.

Nhà vua ngồi lắng nghe, lòng ông như mở hội. Từ lâu ông không biết cách nào để khuấy động lòng dân, chỉ có cơ hội nầy thôi:

-Chuyện thế nầy rất hợp lòng trẫm. Trẫm có một người thân tín liên lạc với các khanh sau nầy. Hạn chế gặp nhau để tránh tai mắt dòm ngó, hư đi đại sự.

Hai người đứng dậy uống với ông chén rượu, rồi lạy tạ ra về.

Trần Cao Vân lo chỉnh đón thực lực nghĩa quân các tinh, còn Thái Phiên lo liên lạc các nơi để đúng ngày giờ hành sư. Vào lúc 11 giờ đêm ngày 3-5-1916. Vua Duy Tân cải dạng thường dân đi xe kéo ra bến Thương Bạc rồi xuống thuyền, có Thái Phiên và Trần Cao Vân bố trí đứng đợi, Một người có chân trong nghĩa hội làm phản, báo cáo mọi sự việc cho Tòa Khâm Sứ Thừa Thiên biết vua Duy Tân buông tẩu.

Lập tức Tòa Khâm cùng với tay sai Nam triều, đuổi theo chiếc thuyền vua Duy Tân và hai ông Thái Phiên, Trần Cao Vân, bắt lại. Đưa vua trở về kinh thành, còn hai ông giam vào ngục. Một cuộc bố ráp trong đêm để tìm các tổ chức nghĩa quân. Các tỉnh Nam Ngãi, Bình Phú không nhận được tin tức, cũng bị nội gián báo cáo nên các thủ lãnh đều bị bắt. Cuộc khởi nghĩa bất thành. Tất cả những người chủ trương đều lên đoạn đầu đài.

Từ quê nhà Nghi An, Quảng Nam. Bà Trần Thị Băng hay tin chồng bị bắt, bà vội vàng đón xe tìm cách ra Huế để nhìn mặt chồng. Bà may sẵn một bộ đồ tang vì bà biết lấy một nghĩa sĩ trong thời loạn lạc, thì sớm hay muộn không tránh được cái chết. Khi còn trong gia đình thời con gái, bà được cha truyền những môn võ gia truyền để phòng thân. Nhất là các bộ tẩu mã, vi hành, bà rất xuất sắc.

Bà được tin ngày 16 tháng 4 âm lịch (tức là ngày 17-5-1916) các thủ lãnh đêm nổi loạn gồm có: Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị chém tại cửa An Hòa, ngoại thành Huế. Bà đến đó trước nghiên cứu đường đi nước bước, để cố làm sao đoạt được thủ cấp của chồng đem về Quảng Nam chôn cất tử tế. Bà cùng với anh em nghĩa quân còn lại, bàn luận để làm sao đoạt thủ cấp một cách an toàn, sắp đặt một chiếc thuyền sẵn vì bà biết nếu đi trên đường bộ thế nào cũng bị phát hiện. Sáng sớm ngày hành quyết một số anh em nghĩa quân và bà Trần Thị Băng có mặt tại pháp trường An Hòa. Các nghĩa quân sẵn sàng trong tư thế ngăn cản nếu có người đuổi theo bà. Mọi chuyện đều do bà định đoạt.

Người đầu tiên lên pháp trường là ông Thái Phiên, ông hiên ngang bước lên, như một tráng sĩ, mặt không chút sợ hãi. Ông nhìn xuống thấy vợ mặc đồ tang, ông gật đầu rồi cười ha hả. Quan chỉ huy pháp trường hỏi ông cần nói gì lần cuối. Ông dõng dạc hô to: “Đả đảo tụi tây và bọn tay sai”. Ông hô to ba lần như vậy, trước khi cúi đầu cho đao thủ phủ chặt đầu. Hành động ngang tàng và dũng cảm của ông đã làm cho những người đứng xem và ngay cả kẻ thù phải thán phục.

Đầu ông vừa rơi xuống, bà Băng phóng tới căng vạt áo tang hứng đầu chồng không cho rơi xuống đất. Rồi bà ôm đầu chồng phóng chạy. Tất cả lính tráng Nam Triều bất thần ngẩn ngơ không trở tay kịp, khi họ định thần chạy đuổi theo bà thì bà đã chạy quá xa, họ không đuổi kịp. Để đánh lạc hướng bà chạy vào rừng, một số nghĩa quân núp sẵn ngăn chận những người đuổi theo. Quân lính phải trở ra vì sợ nghĩa quân trong rừng phục kích. Đến khi tối trời một số nghĩa quân tại địa phương dẫn đường ra bờ sông, chiếc thuyền đang chờ sẵn nhổ neo khi bà bước xuống. Bà xỏa tóc dưới ánh đèn, lấy tóc mình lau sạch vết máu trên đầu chồng, rồi lấy khăn tang bọc đầu chồng lại. Thuyền theo cửa Thuận An ra khơi, hướng về Quảng Nam. Bà không gội đầu ba năm, để những vết máu của chồng trên tóc bà được nằm yên. Một cách thờ chồng, để tang cho chồng mà ai nghe qua cũng đều kính phục.

Thái Phiên, bút hiệu là Nam Xương, sinh năm Nhâm Ngọ (1882) tại làng Nghi An, huyện Hòa Vang, Quảng Nam, là con trai duy nhất của ông bà Thái Duy Tân và Lê Thị Tý. Ông theo phong trào Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bội Châu, chủ trương đánh đuổi quân xâm lược Pháp ra khỏi bờ cõi. Ông là một trong những lãnh đạo tài giỏi của Phong Trào tại Quảng Nam. Ông bị giặc bắt cùng với Trần Cao Vân trong đêm chính biến 2-4 năm Bính Thìn ( tức là ngày 3-5-1916), tại Huế. Thái Phiên và Trần Cao Vân cùng với hai thủ lãnh khác lên đoạn đầu đài tại An Hòa, Huế sáng sớm ngày 16-4 năm Bính Thìn (tức là ngày 17-5- 1916), lúc ấy ông mới có 34 tuổi./

Houston, ngày 05 tháng 01 năm 2010
PXS

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

NGƯỜI ĐÀN EM CŨ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Hai 30, 2009

NGƯỜI ĐÀN EM CŨ
Phan Xuân Sinh

Xe đò từ Mỹ Tho vào xa cảng Miền Tây vừa ngừng lại, thì những chiếc xe honda ôm vâyquanh mời mọc. Tôi từ trên xe đò bước xuông, thì người đi xe ôm đứng phía sau đưa tay lên vẫy và gọi tên tôi. Trông thấy anh khuôn mặt quen lắm nhưng không thể nào nhớ tên được. Tôi đang lúng túng tìm trong trí nhớ để xem anh ta là ai mà tôi đã quen. Anh cũng biết là tôi chưa nhận ra, anh nói tên khi tôi đến gần:

“Em là Lộc, ở Trinh Sát Trung Đoàn 51, với anh đầy”.

Tôi “à” một tiếng rồi đến ôm Lộc. Gần hai mươi năm không gặp lại, kể từ năm 1972, cái năm mà tôi bị thương rời bỏ đơn vị. Tôi bảo với Lộc tìm một quán bia hơi đâu đó để uống vài ly, nói chuyện với nhau chơi. Lộc chở tôi đến một quán bia hơi bên lề đường Nguyễn Tri Phương, gọi một dĩa mồi và một “can” bia năm lít, hai đứa ngồi nhâm nhi. Bây giờ tôi mới nhìn rỏ Lộc, khuôn mặt cằn cỗi, nước da đen mốc, thân hình ốm tong. Có lẻ Lộc vất vả trong đời sống nên chưa bao nhiêu tuổi mà trông thấy già. Tôi nói với Lộc cần gọi gì ăn cho no cứ gọi, Lộc gọi một
dĩa cơm sườn và cho tôi biết là từ sáng đến nay chưa ăn gì cả, uống bia vào bụng đói mau say lắm. Tội nghiệp, bản chất hiền hậu, thành thật mà chạy xe ôm thì không biết phải làm sao tranh giành được khách.

Ngồi uống được vài ly, tôi mới dần dần nhớ ra những ngày Lộc sống với tôi tại đại đội Trinh Sát của Trung Đoàn 51. Hồi đó Lộc còn trẻ vào khoảng chừng 18 tuổi, trong Sài Gòn đổi ra ngoài đó. Lính mà ở trong Nam đổi ra Trung thì cũng có nhiều vấn đề, bất phục tùng hay đào ngũ nhiều lần thì mới đi xa như vậy. Khi sống trong đơn vị Lộc rất dễ thương, lãnh lương xong nhờ bưu tín viên của đại đội mua một cái “manda” gửi tiền về cho mẹ. tháng nào cũng vậy. Đó là một hành động ít thấy ai giống như thế, lương lính không bao nhiêu, nhịn ăn tiêu để gửi về cho mẹ. Nên tôi rất thương Lộc.

Tôi nhớ tối ba mươi Tết, anh em tổ chức ngồi nhậu từng nhóm. Lộc chạy lên mời tôi xuống nhậu với anh em. Tôi không biết uống rượu nên ngần ngừ, Lộc nói với tôi rằng nếu không uống được cũng xuống ngồi với anh em chơi. Tôi miễn cưởng bước xuống phòng của anh em. Lộc ngồi bên tôi nói nhỏ vào tai là anh bưng rượu chỉ nhắp môi rồi đưa qua cho em uống thay. Tôi gật đầu và nghĩ trong bụng, hôm nay uống
thử một lần cho biết mùi say như thế nào. Tôi liều mạng bưng ly tu hết, cả nhóm vỗ tay hoan hô rầm trời, mấy nhóm bên kia thấy vậy cho người bưng rượu qua mời tôi. Cùng một trung đội, uống bên nầy mà không uống bên kia thì không công bình. Sau bốn ly rượu mời, tôi thấy máu trong người chạy rần rần, mặt mày đỏ phừng, đôi mắt tôi muốn hoa lên, nếu tiếp tục ngồi lại thì phải ói ra tại chỗ. Vì vậy
tôi xin mọi người cho tôi về nằm. Nửa đêm thức dậy khát nước, tôi lấy chai nước trên đầu giường tu một hôi, nghe bên kia phòng anh em to tiếng cười giởn, tôi biết cuộc nhậu còn tiếp tục. Tôi nhấc điện thoại gọi xuống Câu Lạc Bộ, cho tôi bốn lít rượu mang xuống cho trung đội viễn thám bảo là của chuẩn úy Sinh mời anh em. Mười lăm phút sau, tôi nghe tiếng gõ cửa phòng tôi, tôi hỏi ra thì Lộc trả lời: “Họ không chịu uống rượu vì không có mặt của chuẩn úy”. Tôi tung mền đi xuống, lần nầy thì mấy nhóm kia tụ tập lại thành một nhóm, trong đó có trung
úy đại đội phó, và bốn sĩ quan trưởng toán. Tôi nhìn xuống thì thấy rượu thịt ê hề, tôi biết là mấy ông sĩ quan nầy cung cấp. Tôi cùng với tất cả uống cho tới sáng và tôi mới biết được tửu lượng của tôi cũng khấm khá.

“Anh nhớ không, đêm ba mươi Tết năm đó uống rượu vui quá, làm cho các anh em ở xa không còn nhớ nhà. Lần đầu tiên thấy anh uống rượu cũng rất cừ”.

Tôi ngạc nhiên, sao Lộc đọc được cái suy nghĩ của tôi về cuộc rượu năm đó? Tôi nói cho Lộc biết đó là lần đầu tiên tôi uống rượu, và cũng từ đó mới khám phá ra là tôi cũng uống được rượu. Vì quá vui tôi uống được nhiều mà không thấy say. Có lẽ chỉ có bữa rượu đó cơ thể của tôi thu nạp được rượu nhiều như vậy. Những lần sau có nhiều cuộc rượu, sau vài ly tôi đã say túy lúy. Lộc cho tôi biết là đã có vợ và hai cháu trai. Vợ buổi sáng phải đi bán xôi trong xóm, chứ chạy xe ôm của Lộc không đủ tiền nuôi con. Lộc mời tôi lúc nào rảnh ghé lại nhà chơi.
Chính vì gặp được Lộc lần đó mà tôi và Nguyễn Xuân Âu (Đại đội trưởng Trinh Sát 51 sau nầy) mới gặp lại một số anh em thuộc đơn vị cũ đang sinh sống tại Sài Gòn.

Một lần đơn vị đi hành quân về, Lộc nhận được điện tín của người bà con báo cho biết là mẹ của Lộc đau nặng. Lộc đến gặp tôi trình cho tôi xem tờ điện tín và thút thít khóc, nhờ tôi giúp đỡ. Tôi, một thằng sĩ quan “tép riu”, thân còn lo chưa nổi, làm sao giúp đỡ được cho ai. Những quân nhân từ Sài Gòn chuyển ra mặc dù không chính thức “cúp phép”, nhưng phải phục vụ hai năm mới được giải quyết cho đi phép, vì các ông “thần” nầy cho đi xem như mất tiêu, đừng hòng họ trở về đơn vị cũ. Đây là trường hợp ngoại lệ của Lộc, tôi lai không chịu được tiếng khóc
thảm thiết nầy, nên tôi cầm lá đơn xin đi phép của Lộc với ý kiến tha thiết của tôi, người chỉ huy trực tiếp theo hệ thống quân giai. Tôi đề nghị 10 ngày phép, trực tiếp mang lên cho đại đội trưởng. Ông đại đội trưởng của tôi, gọi tôi lên xài xể một trận là tôi không biết mẹ gì hết, thứ nầy mà cho đi phép xem như mất một tay súng. Đại đội không có quyền cho đi phép quá 3 ngày, nếu ở ngoài quân khu  phải là cấp Trung đoàn. Tôi bảo đảm với đại đội trưởng là thằng nầy sẽ trở về đơn vị sau khi đi phép. Ông hỏi lại tôi là lấy gì đảm bảo chuyện nầy. Tôi ú ớ. Ông bảo thôi được, ông chuyển lên trung đoàn cho họ quyết định, với ý kiến tha thiết giống như tôi đề nghị.

Hai ngày sau, đại đội đi hành quân về. Tôi được trung đoàn phó gọi lên trình diện. Tôi đến văn phòng của Trung Tá trung đoàn Phó vào trình diện ông, sau khi chào và đọc cấp bậc, số quân, chức vụ, chờ lệnh. Ông mời tôi ngồi, trước mặt ông là tờ đơn của thằng Lộc. Ông chưa đá động gì về chuyện đi phép của Lộc, chỉ nói với tôi là mấy lúc gần đây trung đội viễn thám của tôi làm ăn được lắm, đi hành quân diều hâu lúc nào cũng thâu hoạch chiến lợi phẩm. Ông khen tôi là sĩ quan xuất sắc, có tương lai. Rồi ông mới hỏi tôi có còn giữ ý định cho Trần Văn Lộc
đi phép không? Tôi thưa với ông là còn. Ông nhìn thẳng vào mặt tôi rồi nói: “Qua tin lời đề nghị xác đáng của em”. Ông viết chữ “thuận” trên đơn xin đi phép của Lộc, rồi đưa cho tôi mang xuống phòng Tổng Quản Trị để làm giấy đi phép trở lên cho ông ký.

Tôi mang giấy phép về trình cho Đại đội trưởng, rồi mang xuống gọi Lộc lên phòng tôi nhận để ngày mai đi phép. Tôi nói với Lộc là đừng đào ngũ, sau khi hết phép nên đến quân vận xin máy bay để trở về đơn vị. Tôi đã hết lòng xin xỏ, đừng làm cho tôi phải thất vọng. Rồi còn những anh em sau nầy gặp trường hợp khẩn cấp, làm sao tôi giúp họ, ai tin tôi. Lộc có vẻ xúc động, đứng yên lặng nghe tôi nói, và sau cùng Lộc hứa với tôi là sẽ trở lại. Thế nhưng sau khi Lộc đi rồi, tôi nghĩ rằng Lộc sẽ không trở lại vì xa xôi cách trở quá. Sống giữa Sài Gòn đô hội, nhiều thụ hưởng, làm sao trở ra Miền Trung nơi địa đầu giới tuyến. Nếu Lộc không trở ra, tôi làm sao ăn nói với Đại đội trưởng và từ nay về sau tôi sẽ
không bao giờ đề nghị cho ai đi phép được, chuyện nầy sẽ do đại đội trưởng quyết định. Những ngày Lộc đi phép là những ngày tôi hoang mang lo nghĩ, tôi thấy mình quá cả tin trong chuyện nầy, thấy mình sai lầm đề nghị một chuyện mà ai cũng biết rằng sự việc sẽ ngược lại sự mong muốn của mình.

Mười lăm ngày sau vẫn chưa thấy Lộc xuất hiện. Tôi nghĩ rằng, Lộc đã đào ngũ. Mỗi buổi chiều các sĩ quan trong đại đội ngồi ăn cơm, ông đại đội trưởng nhìn tôi như dò xét, như hạch tôi. Tôi tảng lờ mặc dù trong lòng tôi thấy xấu hổ vì quyết định non nớt của mình. Rồi ngày nầy qua ngày khác, tôi xem như binh nhì Trần Văn Lộc đào ngũ, tôi không cần quan tâm tới chuyện nầy vì quá thất vọng. Nên nhớ rằng ngày đó trong luật lệ quân đội, sau phép 21 ngày xem như đào ngũ và đơn vị sẽ lập báo thị tầm nã. Còn một hai ngày gì đó là đủ 21 ngày, đang thiu thiu ngủ trưa tôi nghe tiếng vui mừng của mấy thằng lính dưới trung đội viễn thám la lên: “Thằng Lộc về rồi, thằng Lộc về rồi”. Tôi chạy ra cửa nhìn xuống trung đội thấy anh em bu quanh Lộc vui mừng. Lòng tôi lúc đó như mở hội, không ngờ thằng nầy lại trở về với anh em. Tôi lên giường ngủ tiếp, nhưng không làm sao chợp mắt được. Lòng tôi cứ nghĩ vơ vẫn, tôi nghiệm ra một điều là mình có tấm lòng thì không có ai
phụ bạc mình cả. Tôi biết Lộc phải bị giằn vặt ghê lắm khi dứt khoát trở lại đơn vị cũ. Giữa Sài Gòn và đơn vị, hai thái cực khác xa. Một bên ấm áp trong mái gia đình, một bên xa xôi đối diện với cái chết. Nếu đặt trường hợp của tôi, thì chưa chắc tôi chọn đơn vị.

Xế chiều Lộc thập thò trước cửa phòng tôi, rụt rè gõ tay vào cửa phòng. Tôi nằm đọc sách trên võng nói vói ra: “Vào đi”. Lộc trên tay ôm mấy trái xoài tượng: “Chào chuẩn úy, em mới về”. Tôi ngồi dậy: “Mang gì nhiều thế, để đây chừng một hai trái, còn mang xuống cho anh em”. Lộc nói là anh em đều có phần cả rôi, Phần nầy dành cho tôi và các sĩ quan trưởng toán. Tôi hỏi thăm về gia đình, về sức khỏe
của mẹ Lộc, tất cả đều tốt. Lộc cho tôi biết là sau 10 ngày phép, Lộc đến Quân vận xin máy bay, nhưng phải chờ đợi. Lộc sợ đơn vị báo cáo đào ngũ nên có đến trình diện tại Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn và nơi đây có đánh điện ra Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn. Đại đội trưởng của tôi có biết chuyện nầy, nhưng ông không nói cho tôi hay, chỉ nhìn tôi cười cười, để cho tôi lo lắng chơi. Thú thật, nhìn thấy Lộc lòng tôi thanh thản hết sức. Dù sao đi nữa tôi cũng có một phần trách nhiệm nếu như Lộc đào ngũ. Không có ai làm gì tôi, nhưng tôi cảm thấy mình đề nghị sai đối
tượng. Bây giờ Lộc trở lại, tôi thấy việc làm của tôi rất hợp tình hợp lý.

Chúng tôi uống hết nửa “can” bia, mà thấy trong người vẫn còn tỉnh táo. Lộc cho tôi biết là lúc về phép mẹ đau nặng, thật tình bà không đau nhưng quá nhớ con bà không chịu được, nên nhờ người bà con đánh điện giùm, bà không hy vọng Lộc sẽ được về. Thế nhưng khi trông thấy Lộc bà cứ nghĩ rằng mình đang nằm mơ, bà đến sờ con, nén bóp chân tay xem thử có thật không, lúc đó bà mới tin. Một mẹ một con,
nhưng vì Lộc thuộc diện bất phục tùng nên không được hưởng quy chế “không tác chiến”, bị bắt và đưa ra tận miền Trung, sau khi ra khỏi quân trường. Phục vụ tại Trung Đoàn 51 mất mấy năm, Lộc được trở về Biệt Khu Thủ Đô. Lộc nói với tôi: “Trở về Sài Gòn, em mới thấy nhớ đơn vị cũ. Anh em thương nhau. Sống với nhau hết mình, bằng cả một chân tình”.

Tôi hỏi Lộc: “Khi đi phép, sao Lộc không trốn luôn ở Sài Gòn? Lý do gì em lại trở ra đơn vị?”. Lộc cười và khai báo thành thật với tôi: “Em cũng dự trù đào ngũ vì em không đành lòng xa mẹ em. Thế nhưng nghĩ lại, anh đã hết lòng xin cho em đi. Cấp trên tin
lời anh. Trung tá Nhàn hỏi đi hỏi lại anh có bảo đảm là em sẽ trở về không. Anh tin chắc như vậy. Sau nhiều ngày suy nghĩ, em không thể phụ lòng anh được. Em phải trở lại đơn vị để cho anh khỏi mang tiếng với cấp trên. Lúc đầu mẹ em không chịu cho em ra đi, nhưng sau khi nghe em nói là anh bảo đảm với cấp trên, nên bà hối em sau khi hết phép phải ra lại miền trung ngay”. Rồi Lộc nói với tôi: “ Lúc nào rảnh, mời anh ghé lại nhà em cho mẹ em gặp mặt. Chắc bà vui lắm. Mẹ em thỉnh thoảng lại nhắc tới anh. Không ngờ hôm nay anh em mình lại gặp nhau”. Tôi hứa, thế nào tôi cũng phải đến thăm gia đình Lộc.

Chúng tôi ngồi cưa hết “can” bia, rồi Lộc lấy xe đưa tôi về. Tôi bảo Lộc vào nhà chơi, uống ly nước rôi hãy về, luôn tiện tôi giới thiệu vợ tôi với Lộc. Tôi nói với vợ tôi là đứa em thuộc đơn vị cũ. Khi Lộc ra về, tôi không quên giúi vào túi quần cho Lộc một ít tiền. Lộc không chịu nhận, tôi nài nỉ mãi và bảo đây là số tiền cho các cháu, sắp vào trường sắm cho các cháu một ít đồ đi học. Lộc nhìn tôi cảm động muốn khóc: “Lúc nào lòng anh cũng rộng lượng với em út. Hằng gì khi anh bị thương cả trung đội đều rơi nước mắt”. Lộc đi rồi, tôi vào ngồi trên ghế lòng tôi thấy vui. Chúng tôi là những thằng còn sót lại sau cuộc chiến, gặp lại nhau quý lắm.

Bẳng đi một thời gian sau tôi gặp Nguyễn Xuân Âu, Âu trước đây học cùng lớp với tôi, sau khi đơn vị chuyển ra Huế sáp nhập vào Sư Đoàn I, còn địa phận Quảng Nam giao lai cho Sư Đoàn 3 chịu trách nhiệm. Lúc đó Âu làm đại đội trưởng một thời gian trước khi đi học kỹ sư công binh. Hai đứa tôi thỉnh thoảng tập trung một số anh em cũ trong đơn vị, nhậu chơi hoặc đến thăm nhau vào những dịp Tết, hoặc trong gia đình của anh em có chuyện vui hay buồn đều có mặt tụi tôi. Anh em đó bây giờ xem tụi tôi như bạn với nhau, tuy nhiên trong khi nói chuyện, anh em vẫn giữ sự kính nễ Âu, cũng như tôi. Đó là một điều rất quý của những người lính cũ.

Thỉnh thoảng Lộc chở vợ con đến thăm tôi và thỉnh thoảng tôi cũng hay ghé thăm thân mẫu của Lộc. Anh em dẫn ra quán làm một hai xị đế. Mỗi lần uống rượu Lộc đều nhắc lại cuộc nhậu của Tết năm đó trong đơn vị. Một cuộc nhậu lần đầu tiên trong đời tôi, từ đó tôi mới bắt đầu tham gia vào làng nhậu với anh em một cách năng động, xả láng. Đời lính dạy cho tôi nhiều thứ, đối với nhau bằng tấm lòng, thì anh em
sẽ không bao giờ bỏ mình được. Người chỉ huy trong tác chiến lại càng phải sống gần gũi với anh em, hòa đồng với anh em bất cứ hoàn cảnh nào. Mội lần nhậu với anh em, ai cũng đều nhớ lại những tháng năm cùng khổ, cận kề với chết chóc nhưng cái tình đãi với nhau chân thật và hết lòng./

Houston, Ngày tết Dương lịch 2010.
Phan Xuân Sinh

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

LỤC LẠI MỘT CHÚT HỒI ỨC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Hai 30, 2009

LỤC LẠI MỘT CHÚT HỒI ỨC
Phan Xuân Sinh

Sáng 30-4-75, tôi dựng xe honda ở bờ sông Sài Gòn, đứng nhìn một chiếc tàu hải quân cuối cùng rời bến. Người ta bỏ lại xe hơi, xe honda chạy xuống tàu vội vã như một chuyến đi du lịch. Trong đầu tôi không có một chút xíu nào nghĩ rằng đó là lần đi vĩnh viễn của họ rời đất nước. Thế nhưng không hiểu sao tôi lại đứng như trời trồng, không làm theo như họ. Làm một cuộc viễn du cũng thích thú lắm chứ. Nếu như đất nước sau nầy tốt, đối xử tử tế thì mình lại trở về, có sao đâu. Cái ân
hận nầy làm cho tôi ray rứt mãi, nhất là những ngày đói khát, thất tha thất thểu
ở Sài gòn…

Những đêm tập trung nhân dân ra phường hội họp, ngồi dưới đất nghe những người thắng trận trong rừng mới ra, mang dép râu, đội nón tai bèo,  xối xả chửi vào mặt những người ngồi nghe là thứ bán nước, theo chân đế quốc, “ngụy” tặc. Thấm đau cho cái ngu si không biết chọn lựa của mình, để bây giờ phải lỡ khóc lỡ cười.  Tôi lên xe chạy qua Khánh Hội, người ta đang mở kho vơ vét. Tôi dừng xe ngồi nhìn. Một tay thuộc loại “anh chị” khiêng bao gạo 50 kí-lô trên vai hỏi tôi có cần mua gạo không? Tôi gật đầu. Anh ta ném bao gạo trên yên sau xe honda của tôi, không cần biết tôi đưa bao nhiêu tiền, anh trở vào kho vác bao khác ra ngoài, đứng dáo dác không có ai mua, anh cho tôi thêm một bao nữa để phía trước xe của tôi mà không lấy tiền thêm. Cửa kho mở rộng ai muốn vào lấy cũng được, tội gì phải bỏ tiền ra mua. Tôi chạy xe về nhà người bạn mà tôi đang ở nhờ. Yên tâm trong bụng không sợ đói. Tôi chạy qua lại tìm mua một thùng nước mắm, hàng “hôi của” nên trả bao nhiêu tiền cũng được. Như vậy tôi vững bụng không còn sợ thiếu ăn trong những ngày sắp tới, trong những ngày tranh tối tranh sáng, vô chính phủ. Về nhà mua một lít đế, mấy miếng khô cá, tôi và thằng bạn nhâm nhi vừa mở radio nghe ông Dương Văn Minh đọc diễn văn bàn giao đất nước lại cho người thắng trận. Xem như hạ màn một cách nhanh chóng, chế độ Miền Nam cáo chung, nhường sân khấu cho Cộng Sản điều hành đất nước. Hòa bình mà toàn dân khao khát đang thực sự “hiện thực”.

Thế nhưng lòng người tan hoang, những chính sách sắt máu ụp trên đầu dân chúng. Đốt sách, cải tạo, đánh tư sản mại bản, đổi tiền v.v.. những món ăn mà dân Miền Nam không thể nuốt trôi, ói ra máu. Đường phố áo quần lính chất đống, người người đi trên phố khuôn mặt ngơ ngác, không có ai biết được mình sẽ đi về đâu. Mấy người trai trẻ hàng xóm mà tôi biết đó là những người lính Miền Nam, đi ngang qua nhà nhập vào uống rượu với tụi tôi, hết lít nầy họ chạy đi mua lít khác, tụi tôi ngồi nhậu tới chiều. Một bữa nhậu mà không có một tiếng nói to, âm thầm uống, hồn ai nấy giữ. Xong cuộc nhậu tự động ra về, chỉ chào nhau bằng cái gật đầu nhè nhẹ. Tôi thấy mọi người đều “xanh mặt”, mệt mỏi, lo sợ, như chờ đợi một cái gì không may ụp trên đầu mình.

Ngày hôm sau có những người mang băng đỏ trên tay xuất hiện trong xóm và điều khiển xe cộ trên đường phố. Trong xóm tôi ở đường Minh Mạng, Phú Nhuận, có một ông ca sĩ nổi tiếng Sài Gòn, lái chiếc xe jeep của người anh trước đây là trung tá của Miền Nam đi Mỹ để lại, trên xe ông và  những người mang băng đỏ chạy khắp Phú Nhuận, hò hét như các tay “cách mạng” thứ thiệt. Có lẽ thời điểm nầy tôi đã chứng kiến được biết bao khuôn mặt tráo trở, họ không có một chút xíu ngượng ngùng, tiếp tay chỉ điểm, đắc lực làm tay sai. Quả thật tụi tôi hồi đó không sợ những người Cộng Sản mà sợ những thành phần nầy, họ làm bất cứ việc gì để lấy điểm. Nên tụi tôi thấy họ phải lo tránh xa. Không loại trừ thành phần nào trong xã hội Miền Nam, đâu cũng có thứ nầy. Qua Mỹ lại thấy ông ca sĩ nầy mặc đồ lính rằn ri hát những bài ca của lính, họ thay đổi còn hơn tắc kè. Đúng là cuộc sống đầy những nhiễu nhương.

Còn giới cầm bút thì sao? Một anh bạn kể lại cho tôi nghe những ngày sinh hoạt của giới cầm bút, nó cũng bát nháo như xã hội bên ngoài, chỉ điểm, hại nhau, đưa ra những “quan điểm” như một tay cộng sản thứ thiệt, những thành phần nầy còn “đỏ” hơn những thành phần trong bưng biền ra “tiếp thu”. Anh em thiêm thiếp nhận “khuyết điểm” rồi làm “kiểm điểm” như một cái máy, không dám hở môi hay ý kiến. Bây giờ các ông đã từng sinh hoạt ở Sài Gòn có cơ hội qua được đây, những người từng hầm hét, la ó, chắc rằng nghe những chuyện nầy thẹn mặt phải không?  Trong cái giới mà thiên hạ quý trọng về cái “thiên chức nhà văn” mà còn hành xử với nhau tráo trở, coi nhau như kẻ thù, tìm cách dìm người khác xuống bùn đen, thì đừng trách chi những thành phần khác trong xã hội. Hồi đó anh em gặp nhau rỉ tai “Coi chừng thằng cha đó, mang băng đỏ đó”, vừa khinh tởm nhưng cũng vừa sợ sệt, là thứ “cách mạng ba mươi” mà anh em ai cũng đều lánh mặt.

Bây giờ kể lại những chuyện nầy như kể chuyện đời xưa, nghe lại thấy tức cười. Tội nghiệp cho những con người yếu đuối, vì tìm một chỗ yên thân mà họ phải tán tận lương tâm, làm những chuyện ruồi bu. Mấy ông có người thân đi tập kết về thì dựa hơi, bắt nạt người khác, hoặc to tiếng khẳng định lập trường của mình. Trong lúc chưa có người thì người ta để yên, mượn tay các ông để răn đe người khác. Khi có đầy đủ nhân sự thì cho các ông “chầu rìa”. Lúc đó các ông mới biết cái “lố bịch” của mình đối xử với anh em thì đã muộn. Có người phải tránh mặt anh em vì khi gặp nhau ngượng ngùng mắc cở. Có người bắt đầu ngồi quán café chửi đổng vì bị thất sủng.

Có lẽ trong buổi giao thời, tranh tối tranh sáng,mình mới thấy được những bộ mặt “ghê tởm” nầy xuất hiện. Họ như những tên hề đứng trên sân khấu múa may mà không biết trơ trẽn, cũng may những cây bút nầy “cách mạng” không cho viết thoải mái trên báo chí, chứ họ được cầm bút thì họ sẽ “phơ” không biết bao nhiêu đầu rụng vì họ. Không biết họ phải ăn nói thế nào với anh em bây giờ? Những người đàng hoàng họ tránh xa những loại nầy.

Vụ án “Hồ Con Rùa”, những tay “biệt kích” cầm bút, đều có thành phần nầy đứng bên trong chỉ điểm, chứ một mình Huỳnh Bá Thành không thể lập hồ sơ thanh toán các văn nghệ sĩ có máu mặt của Sài Gòn trước đây được. Nói thế để biết rằng anh em nạn nhân đều đoán biết ai hại mình, nhưng vì không có bằng chứng xác đáng nên họ lờ đi. Bây giờ có đem chuyện nầy ra tranh cãi cũng chẳng đi tới đâu, gây thêm sứt mẻ, thù oán nhau. Cái bối cảnh lúc ấy thật nhố nhăng, thật sắt máu, nghi kỵ lẫn nhau, chà đạp nhau để kiếm điểm, để vươn lên. Những người lập công cho “cách mạng” kiểu nầy dần dần bị đào thải, anh em thì xa lánh. Họ thui thủi như một bóng ma. Cho đến bây giờ thời gian quá lâu, mọi chuyện đã phôi pha, trong lòng mọi người không có ai muốn nhớ lại. Một bài học cho con người về xử thế.

Những năm đầu “giải phóng” người Miền Nam không có ai ra được Miền Bắc để trông thấy ngoài ấy ra sao? Tôi có một thằng bạn thuộc “gia đình cách mạng”, muốn đi một chuyến ra Bắc thế nhưng phải năm lần bảy lượt mới đi được, phải cái cỡ thứ trưởng bảo lãnh mới được cấp giấy cho đi. Sau khi trở về hỏi gì nó cũng không nói chỉ lắc đầu. Một bữa tôi với nó đi uống café, nó nói nhỏ vào tai tôi là trước khi nhận giấy được đi ra Bắc, người ta dặn không được nói với ai về cuộc sống ngoài đó, nên nó không dám nói chuyện nầy với ai. Sau mấy đêm suy nghĩ, nó tự thấy như vậy là không đúng, tại sao không nói cho thiên hạ biết “chiếc nôi” của Chủ Nghĩa Xã Hội, cái thiên đường nầy đã đánh đổ Miền Nam để cả nước cùng tiến lên. Nó không thể nào tưởng tượng Miền Bắc nghèo đói và lạc hậu đến thế. Phố xá cũ kỷ dơ bẩn, ngoài đường áo quần chỉ mỗi một màu ô-liu, thỉnh thoảng mới thấy màu xanh đậm hình như cho công nhân, họa hoằn lắm mới thấy chiếc áo trắng,  còn xe đạp bạt ngàn, không thấy có một chiếc xe gắn máy nào, nếu có thì chắc từ Miền Nam mang ra. Hà Nội dưới mắt nó sao thấy thảm thương quá chừng. Sau đó nó nói với tôi bằng giọng mỉa mai; “Tiến lên xã hội chủ nghĩa như vậy đủ rồi, còn tiến mạnh tiến nhanh thì chắc chết quá mầy ơi”.

Mười năm sau (1985), tôi có một việc phải ra Miền Bắc vì mấy cái hợp đồng với thương nghiệp ngoài đó. Tôi đứng giữa Hà Nôi mà lòng thấy se thắt. Mấy chục năm người dân “văn vật” chịu đựng một cách dai dẳng mà không nổi loạn nghĩ cũng lạ thật. Áo quần nghèo nàn nhưng con gái Hà Nội mặt mày sáng trưng, phần đông người con gái đẹp hơn các thành phố trong Nam. Dưới con mắt của tôi, cái nét thanh lịch chỉ còn lại trên nét mặt của người con gái Hà Nội, còn bao nhiêu cái khác sau hai mươi năm Xã Hội Chủ Nghĩa đã tẩy sạch hết, tiêu tan hết.

Mấy năm trước đây có nhiều văn nghệ sĩ Hà Nội qua Boston theo chương trình của William Joiner mà tôi đã gặp. Trong lúc trà dư tửu hậu tôi có nói với họ về chuyện ra Miền Bắc của tôi năm 1985, họ đều cười và nói với tôi rằng có dip bây giờ nên ra Miền Bắc một chuyến, mọi thứ đều thay đổi một cách chóng mặt. Thế thì cái chính sách Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ còn trên lý thuyết, mọi người dân bây giờ giàu có và không còn tiến nhanh tiến mạnh như khi xưa, mà họ chạy đua theo kịp đà tiến hóa của tư bản. Đó là một bước tiến đáng mừng cho dân chúng, để họ
được hưởng những tiện nghi, những phúc lợi mà thế giới đã giành được trong những phát minh phụng sự cho con người.  Đứng trên phương diện nhân bản thật đáng mừng cho những mảnh đời tưởng rằng sẽ sống trong tăm tối mãi mãi. Bây giờ ấm no hơn, thoải mái hơn tuy nhiên vẫn còn bị những rào cản về tự do, dân chủ còn siết chặt.

Tôi có dịp lên Thái Nguyên nhìn những cánh đồng chè bạt ngàn, những người hái chè buổi sáng sớm trong sương mù thật tội nghiệp, đồng lương công nhân của công ty chè quốc doanh không bao nhiêu, mà phải chịu cực khổ một cách nặng nề. Tôi cũng có dịp đi Quảng Ninh trông thấy công nhân mỏ than lam lũ trong hầm mỏ. Không biết những nhà lãnh đạo của giai cấp nầy trước đây có giống như anh chị em công nhân, mặt mày lấm lem, sống trong điều kiện kham khổ như vậy không. Chứ bây giờ nhìn họ thấy không khá nổi. Còn nhiều cảnh thật tang thương cho một chế độ xã hội chủ nghĩa mà họ ca tụng như là thiên đường. Thú thật tôi vỡ mộng.

Trước đây tôi không tin những gì mà bộ máy tuyên truyền của Miền Nam khi nói về Miền Bắc. Tôi không tin những tác phẩm của Xuân Vũ nói về chế độ Miền Bắc. Tôi cho đây chỉ là những tuyên truyền rẻ tiền để hạ nhau, chứ thực tế không đến nỗi như vậy. Sau khi ra Hà Nôi, tận mắt nhìn thấy đời sống dân chúng, chứng kiến cảnh làm việc, nhìn thấy sinh hoạt của người dân từ nông thôn đến thành thị, trật tự xã hội bị đổ nhào, đạo đức văn hóa không ai cần phải giữ gìn, những cảnh trắng trợn liệm người không cảm thấy xấu hổ. Tàu hỏa và xe buýt là nơi bọn đầu trộm đuôi cướp hoành hành trắng trợn mà cơ quan công lực không làm gì được. Dân chúng bị hà hiếp không biết kêu than nơi đâu. Phải công nhận là người dân Miền Bắc chịu đựng cái cảnh tai trời ách nước một cách cay nghiệt, mà họ không hề phản kháng, chỉ cắn răng chịu đựng. Mà phản ứng làm gì được khi mà bao tử đói meo, chỉ lo mỗi cái ăn chưa xong, hơi đâu phải ôm đồm chuyện khác.

Xe chạy đến huyện Kỳ Anh (tôi không nhớ thuộc tỉnh nào vì lâu quá, ( hình như là Hà Tĩnh). Chúng tôi vào một quán cơm bên đường, người con gái bán cơm rất đẹp, nói giọng Hà Nội. Tôi nghĩ giữa một một nơi đồng không mông quạnh, lại có người nho nhã, ăn nói lễ phép và đồ ăn rất ngon. Trong lúc đó ngay tại Hà Nội chưa có quán ăn nào vừa ý. Tôi cũng xin nói thêm chỗ nầy, Hà Nội lúc đó tìm một quán café cũng rất khó. Đi ăn phở phải xếp hàng và trả tiền trước. Đặc biệt khi chúng tôi cũng xếp hàng thì người giữ trật tự mời vào ngồi bàn trước, ăn xong mới
trả tiền (ưu tiên cho dân Miền Nam). Tôi hỏi người thu tiền tại sao chúng tôi được đặc ân như vậy. Thì họ trả lời là phải thu tiền trước để biết họ muốn ăn bát phở giá bao nhiêu, thì làm đúng với giá tiền, nếu không họ chỉ trả ít hơn thì mình không biết phải làm sao, hoặc ăn xong không trả tiền rồi bỏ chạy. Còn các anh ở Miền Nam đã quen với cái lối trả tiền sau, các anh nhắm mình có đủ tiền mới vào quán và nếu có bỏ chạy thì các anh không biết đường nào mà chạy thoát được. Vì vậy chúng em phải tiếp các anh như ở Sài Gòn vậy. Chính quyền cách mạng xem tụi tôi như một thứ ghẻ lở, nhưng bà con Miền Bắc thì lại xem tụi tôi rất thân tình. Sau khi ăn xong, tôi hỏi về gia đình và giọng nói của cô gái khác với những người chung quanh đây. Cô ấy cho biết là cha mẹ cô là dân Hà Nôi chính gốc, sau 54 bị tịch thu nhà cửa và đi kinh tế mới nên phải trôi giạt vào đây. Cô hiện thời là sinh viên, cuối tuần phải về để giúp đở cha mẹ bán cơm. Nhìn hình ảnh của cô tôi liên tưởng đến những bà con ở Sài Gòn đi kinh tế mới. Chắc chắn họ không được may mắn như gia đình cô hiện thời, cái gốc Sài Gòn của họ rồi cũng sẽ mất. Nhà to cửa lớn của họ đã được các “quan cách mạng tiếp thu”, đổi chủ một cách hà khắc.

Chưa có một cuộc sống nào cay nhiệt người dân phải chịu đựng oan ức như trong cái thời “giải phóng”. Tôi nhìn ra cánh đồng xa xa những chiếc áo tơi (chầm bằng lá buông mà vào khoảng thập niên 60 không còn thấy xuất hiện tại Miền Nam), nhấp nhô trên đồng ruộng. Tôi hỏi cô gái trời nắng như vậy mà tại sao phải mặc áo tơi. Cô ta cho biết, làm gì có áo mặc để làm ruộng, họ mặc áo tơi để thay cho áo
vải. Nhìn qua cánh đồng khác tôi thấy người kéo cày thay cho trâu bò. Một cái cảnh lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy, thân hình thiếu ăn ốm o, choàng sợi dây trên vai kéo cái cày có một đứa bé đứng phía trên, thật tội nghiệp. Những năm của Miền Bắc đi trước Xã Hội Chủ Nghĩa đã gặt hái những gì tốt hơn cho người dân? Cái cảnh trông thấy trước mắt mà tôi có dịp ra Miền Bắc, cho tôi một bài học là phải bằng mọi cách tìm đường ra nước ngoài, nếu không thì quá trễ và viễn ảnh cho thấy cuộc đời sẽ khốn nạn, thê thảm, bần cùng như bà con ruột thịt Miền Bắc
đang gánh chịu.

Một chuyện buồn cười, xe của chúng tôi tới phà Bến Thủy chờ lên phà để về lại trong Nam. Đoàn xe nối đuôi nhau dài cả cây số, tôi nghĩ trong bụng ở đây chờ ít nhất phải hai ngày trời mới tới phiên mình, vì lúc ấy chiếc “phà” chỉ chở được bốn chiếc xe vừa qua lai mất cả tiếng đồng hồ. Nói là “phà” cho nó oai vậy chứ quả thật là mấy cái phao cột dính lại với nhau, một chiếc tàu nhỏ như ca-nô kéo đi. Tôi nghe các tài xế chạy trên đường xuyên Việt kể lại rằng trong mùa nước lũ, phà bị đứt dây trôi mất là chuyện thường. Tôi hỏi thế thì xe và người trên phà phải làm sao? May mắn thì được vớt, còn không thì chết thôi. Chuyện quan trọng như vậy mà người kể chuyện xem như thường và những cơ quan có trách nhiệm điều hành về phà qua lại trên sông, tỉnh bơ xem đó không quan trọng, không phải trách nhiệm của mình. Chiếc phà bao năm vẫn không thay đổi. Cho nên mấy chiếc phà bắt qua bắc Cần Thơ hay bắc Vàm Cống thấy rất an toàn. Đang ngồi trên xe tán chuyện với nhau, thì người phu cầm cờ đỏ chạy đến xe chúng tôi hỏi có cần phải qua phà nhanh không? Người tài xế hỏi ông giá bao nhiêu. Ông trả lời muốn đi ngay thì cho nhiều một chút, muốn qua phà chậm thì ít hơn. Người phu cầm cờ đỏ đưa hai ngón tay (có ý là hai  trăm đồng) chạy ngay.  Hai trăm đồng lương công nhân thuở đó là năm mươi đồng một tháng. Ông ta cầm cờ đỏ giơ cao chạy trước, miệng la lớn: “Anh em Miền Nam giúp đở anh em Miền Bắc”. Họ xem cái chuyện đút lót nầy là bình thường, là công khai cho những chiếc xe khác noi theo. Chiếc xe của tụi tôi ưu tiên xuống trước. Đứng trên phà qua sông, thật tình tôi ngao ngán cho một xã hội mà tôi đã chứng kiến trên Miền Bắc. Rồi đây Miền Nam của chúng tôi sẽ lăn trên vết xe của đồng bào ngoài kia đã trải qua. Bây giờ chúng tôi đã thấy ngột ngạt khó thở, người ta đã bắt đầu áp dụng đường lối cứng rắn để uốn nén
dân Miền Nam rập khuôn Miền Bắc.

Xe chạy đến Quảng Bình, thành phố xem như bình địa vì bị bom của Mỹ rải nát, mười năm sau vẫn còn nguyên si, không sửa chữa. Thành phố lợp tranh trên những nền nhà cũ. Nhà thờ chính Quảng Bình chỉ còn trơ lại gác chuông. Dấu tích chiến tranh vẫn chưa xóa, nhìn thành phố chúng ta đủ biết nơi đây đã nhận biết bao nhiêu bom đạn. Chúng tôi vào uống nước tại một căn nhà tranh trên quốc lộ, người chủ quán là một anh thương binh trạc tuổi tôi. Lúc đầu mới vào anh nói chuyện với chúng tôi sặc mùi Cộng Sản. Chẳng hạn như về những năm tháng chiến tranh mà Quảng Bình nhận lãnh hậu quả nặng nề nhất. Anh nói rất tự hào: “Quảng Bình quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Người dân Quảng Bình kiên cường đứng đầu cả nước chống giặc xâm lăng Mỹ”. Tụi tôi chỉ lắng nghe anh thao thao bất tuyệt về chiến tranh, về chính sách, về con người sống thế nào cho phù hợp chế độ. Luận điệu nầy tôi đã từng nghe những người thắng trận lớn lối nói ra rả vào tai tụi tôi. Anh hỏi tôi trước khi hòa bình tôi làm gì ở Miền Nam. Tôi không trả lời ngay câu hỏi của anh, tôi vén ống quần cho anh thấy cẳng chân giả làm bằng plastic của tôi. Tôi chỉ trả lời vổn vẹn: “Tôi là người lính của Miền Nam”. Sau khi nhìn thấy sự mất mát thân thể của tôi, sau khi nghe tôi xác định một cách chắc nịch về con người thật của tôi. Con người mà đứng trên chiến tuyến là đối nghịch với anh. Tôi nói không có một chút thù hận, không tranh cãi với anh, tôi chấp nhận danh phận không may mắn của tôi. Thái độ nầy tôi làm cho anh bất ngờ lúng túng. Tôi thấy anh ngồi suy tư, nhìn tôi có chút ngậm ngùi. Anh thấy những gì anh nói với tôi đều là những câu tuyên truyền không cần thiết, mười năm “giải phóng” tôi đã hiểu rõ chân tướng của chế độ, có đánh bóng nó cách mấy cũng không thể che đậy cách trả thù hèn hạ trên đầu anh em chúng tôi. Tôi trả tiền nước rồi ra xe, anh chạy theo bắt tay tôi thật chặt, anh nói là anh cảm thấy mắc cở ăn nói quá nhiều hàm ý tuyên truyền, khi nhìn thân thể tôi, anh biết không dễ gì lay chuyển được tôi. Dù là người bại trận, đang sống dưới chế độ thù nghịch, tôi vẫn không tránh
né về thân phận của mình.

Từ Quảng Bình về Quảng Trị con đường gập ghềnh, lởm chởm. Xe qua cầu Hiền Lương, chiếc cầu lịch sử ngăn chia Nam Bắc. Chiếc cầu nhỏ nhắn, dễ thương, nó đứng giữa ranh giới chứng kiến biết bao nhiêu tai ương đổ xuống trên đầu nhân dân hai miền Nam-Bắc. Nó ngăn cách không những chế độ bên nầy, bên kia, mà nó còn ngăn cách cả lòng người, xé tan tình tự của dân tộc. Bao nhiêu năm hòa bình mà ấn tượng, đố kỵ còn nặng nế quá vẫn chưa biết làm sao nối lại được. Chiến tranh chỉ trong vòng 20 năm, mà đến 35 năm sau sống trong hòa bình vẫn chưa có cách nào chung sống trong tình anh em ruột thịt. Tuy không còn cầm súng giết hại nhau, không còn ranh giới phân chia chiến tuyến, thế nhưng bức tường chắn giữa lòng người (nói theo kiểu Tưởng Năng Tiến) vẫn còn kiên cố ngăn cách đôi bên, không ai chịu phá bỏ và quên đi cái thời xa xưa nhục nhã của dân tộc.

Chút hồi ức nầy không dụng ý khơi dậy đống tro tàn, nhưng để nói lên cho chúng ta biết “có một thời như thế”, một thời mà không muốn nhớ lại, và rồi, cũng không thể nào quên được !!!

Houston, ngày 01 tháng 01 năm 2010.

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

MỘT GIAI ĐOẠN NGẬM NGÙI (PHẦN I)

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 28, 2009

MỘI GIAI ĐOẠN NGẬM NGÙI

Hồi ký của Phan Xuân Sinh

Phần I

Cũng như phần đông các sĩ quan miền Nam, sau 75, tôi cũng phải đi trình diện, mặc dù tôi đã bị thương (mất một bàn chân phải trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 tại Quảng Nam). Bởi vì tôi cứ kéo dài tình trạng tại ngũ để được ăn lương, không chịu ra hội đồng giải ngũ sớm. Mỗi khi chuẩn bị đưa tôi ra hội đồng, tôi lại khai còn đau chỗ nầy, đau chỗ nọ nên nằm mãi tại Trung tâm I Hồi lực, được 29 ngày tái khám. Tính trạng kéo dài năm nầy qua năm khác… Đến khi tôi vào Sài Gòn mới chuyển qua Trung tâm III Quản trị, chờ ngày ra Hội đồng để lượng định mức độ tàn phế thì quá muộn. Quân Giải phóng đã cận kề Sài Gòn. Như vậy sau 30 tháng 4, trên danh nghĩa tôi vẫn còn tại ngũ, nhưng trên thực tế tôi là một phế binh.

Khi trình diện tại trường trung học kỹ thuật Don Bosco (Gò Vấp), tôi bỏ chân giả ở nhà, đi bằng nạng gỗ đến trình diện Ủy ban Quân quản. Cuối ngày họ gọi tôi lên cấp cho một cái giấy chứng nhận có trình diện, cho về lại địa phương quản lý (vì phế binh), khi nào có lệnh gọi đích danh tôi mới đi cải tạo. Như vậy, họ thấy tôi trở ngại quá cho việc tập trung cải tạo, nên đựơc cho về là vì vậy.

Yên tâm về chuyện không đi cải tạo, lúc bấy giờ tôi mới lo đến chuyện kiếm cơm sống qua ngày. Tôi và hai thằng bạn khác ra ngoài chợ trời Trương Minh Ký (Trương Minh Giảng nối dài), thuê một chỗ kê một cái bàn nhỏ, mua bán các các đồ vật dụng cũ mà khách hàng chính lúc đó là các lính bộ đội miền Bắc mới vào Sài Gòn còn rất ngu ngơ, chưa biết đường đi nước bước. Một cái đồng hồ không người lái, một cửa sổ trị giá 30 đồng bán ra gấp ba, bốn lần (lâu quá không còn nhớ giá cả lúc ấy), hàng bán như tôm tươi: Radio, quạt máy, bàn ủi điện, đồng hồ, máy may, v.v… không có món gì mà ế ẩm hết. Tốt, xấu, cũ, mới, mang ra là bán được ngay lập tức. Tiền lúc ấy vô dễ quá mà đầu ra cũng dễ như vậy.

Bạn bè của ba đứa tôi, từ miền Trung chạy vào thất tha thất thểu, đói lên đói xuống, tứ cố vô thân, gặp nhau giữa cái đất Sài Gòn phải giúp nhau thôi. Chết thì chết chùm chứ không thể bỏ được. Ban ngày tản mác đi khắp nơi, đến 12 giờ trưa tập trung lại chừng hai chục thằng khố rách áo ôm. Mỗi thằng đến tiệm cơm bình dân gần đó lãnh một dĩa cơm sườn, một điếu thuốc, một ly trà đá, (thật tình tụi tôi thấy bạn bè đói rách quá tự nguyện làm chuyện nầy). Đến chiều tối trước khi dọn dẹp ra về, tôi mang tiền qua trả cho chủ tiệm cơm bình dân ấy. Cầm cự được vài tháng như vậy thì hết vốn, tiền lời không đủ nuôi chừng đó miệng ăn, hơn nữa lúc sau không còn bán đắt hàng như lúc trước. Thêm vào đó, công an áo vàng đuổi không cho tập trung buôn bán bên lề  đường nữa (lần đầu chúng tôi mới thấy bộ đồ vàng của công an), đành dẹp tiệm. Bạn bè tản mác, mỗi thằng phải tự lo thân, không dựa vào nhau được.

Sáng nào ba thằng bán chợ trời chung, cũng gặp nhau ở tiệm cà phê, bàn tính chuyện làm ăn khác. Nhưng bí, không tìm ra phương cách sống, tiền thì không còn. May cho tôi, ba tôi từ Đà Nẵng vào tìm vì không biết tin tức của tôi sống chết ra sao. Ba tôi bảo phải về Đà Nẵng sống với gia đình. Vì hơn ai hết, ba tôi biết tôi là một phế nhân, không thể đi cày, đạp xích lô, đi lao động được. Về với gia đình đùm bọc lẫn nhau, có mắm ăn mắm, có muối ăn muối, nhưng tôi không chịu, với lý do đơn giản là ngoài đó khó sống, những người thắng trận quá sắt máu, dìm những thành phần thuộc diện sĩ quan như tụi tôi đến chết, bắt tụi tôi tay không đi gỡ mìn đủ toi mạng rồi (bao nhiêu đứa bạn không chết trong chiến tranh, nhưng đã chết vì đi gỡ mìn trong lúc hòa bình).  Dù sao thì ở Sài Gòn cũng dễ thở hơn. Những đêm nằm ngủ với tôi, ba tôi nhận thấy điều tôi trình bày chí lý.

Một buổi sáng ông dậy sớm, pha trà rồi gọi tôi dậy để cha con nói chuyện, trước khi ông về lại quê nhà. Ông trao cho tôi một cái đãy nhỏ trong đó chứa ba lượng vàng, đây là số vàng dành dụm suốt một đời đi dạy học của ông. Tôi đưa ba tôi ra xe đò, lòng tôi trĩu nặng. Lúc đó tôi mới thấy thương ông, với số tuổi đã cao mà không còn nghĩ tới bản thân vẫn lo lắng cho con dù con đã lớn rồi. Xe đò rời khỏi bến, nhìn theo ba, tôi rưng rưng nuớc mắt, đến khi xe chạy khuất, tôi mới đạp xe trở về.

Hồi đó hàng tiêu dùng đã bắt đầu khan hiếm, bao nhiêu hàng hóa trong Nam đều chở ra Bắc, tạo nên một lỗ hổng to lớn. Không biết ai gợi ý, tụi tôi bắt đầu làm xà bông bột. Ba thằng đều thuộc loại có vấn đề với chế độ mới, là cựu sĩ quan “ngụy quân”, giấy tờ tùy thân không có, hộ khẩu không có, phải tìm một thằng có lý lịch “cách mạng” để đứng mũi chịu sào. Người đó là bạn của một người bạn tôi, trước năm 75 cũng làm xà bông nhưng sạt nghiệp, có một lý lịch tuyệt vời là trốn quân dịch, cha tập kết. Đúng với mong ước của tụi tôi. Mỗi đưa hùn vốn ba cây vàng. Anh Hùng (người bạn mới)  không có tiền, nhưng có bộ khuôn in bản hiệu trên bao nylon đựng bột giặt hiệu Bạch Long, xem như góp vốn. Anh Hùng đứng ra xin giấy phép sản xuất tại số 212 Bạch Đằng, Phường 24, quận Bình Thạnh (Căn nhà nầy lúc đầu thuê, sau tụi tôi mua luôn).

Chúng tôi xem như làm một canh bạc lớn trong đời. Tôi có biết sơ qua cách làm bột giặt vì có học của một người bạn, nhưng chỉ có ý niệm sơ sơ thôi. Thế nhưng khi bốn thằng họp nhau lần cuối để quyết định, để các bạn tin tưởng, tôi quả quyết là tôi làm được bột giặt. Chính lời hứa ngu xuẩn nầy làm cho tôi mất ăn mất ngủ mấy tháng trời. Tôi cũng đi mua hóa chất về làm y như người bạn chỉ dạy trước đây, thế nhưng bột giặt của tôi làm ra như một thứ cháo đặc, không phóng thích nước ra được. Tôi mò mẫm đêm nầy qua đêm khác, đi hỏi những người chuyên môn về hóa chất, lượm lặt ý kiến mỗi người mỗi ít.

Tôi không dám làm thí nghiệm ban ngày vì sợ mấy thằng hùn vốn thấy tôi quờ quạng, nên chờ khi chúng nó về nhà, tối tối tôi mới mang đồ ra làm. Sáng nào tôi cũng thấy tụi nó mặt mày méo xẹo, tuyệt vọng, xem như chín cây vàng đi đời, mong gì gỡ gạc lại cho nổi. Thế nhưng trời thương hại kẻ khù khờ,  tôi đã thành công cách phóng thích được nước, bột giặt khô ráo, nở phồng (cám ơn Trời Phật, cám ơn ý kiến mỗi người một ít giúp tôi). Đêm đó một mình tôi bỏ hóa chất vào máy trộn đến sáng, một tấn bột giặt. Sáng ngày mấy thằng bạn tới, mở cửa thấy bột giặt chất cao tràn ngập, thằng nào cũng mừng chảy nước mắt. Tụi nó dẫn tôi ra tiệm hủ tiếu thưởng cho một tô, bù lại mấy tháng chỉ ăn cơm với nước mắm. Nên nhớ lúc đó giá thành một đồng, bán ra mười đồng (Lâu quá không nhớ chính xác giá cả, nhưng khoảng chừng vốn một, lời mười).

Nguồn vốn khởi đầu 9 cây vàng, vừa hóa chất vừa máy móc. Sau 4 tháng nguồn vốn lên 400 cây vàng. Chỉ có anh Hùng có vợ con, còn ba đứa còn lại độc thân, mới 26 tuổi, sống trên đống bạc, bấy giờ là lúc tiêu tiền cho biết mặt. Chẳng có thằng nào biết dành dụm, cất giấu. Tiền dư đi mua thêm đồ về tiếp tục làm, càng nhiều càng tốt, thuê một kho hàng chất đồ. Lúc đó cả nước đói khổ, đi toàn xe đạp. Tụi tôi mỗi thằng chơi một chiếc xe hơi. Chính cái cách chơi trội nầy, đã giết tụi tôi trong tức tửi sau nầy.

Tụi tôi thường mang sản phẩm đi kiểm nghiệm. Phòng Kiểm nghiệm của thành phố lúc đó có một người kỹ sư hóa học ở Cộng hòa Dân chủ Đức về, người đó trạc tuổi cỡ chúng tôi nhưng phách lối và hợm hĩnh, coi trời bằng vung. Ông mặc áo blue trắng, bên ngoài đeo súng như một tay cao bồi. Dưới quyền của ông nầy là vài giáo sư đại học Sài Gòn, các kỹ sư của miền Nam, thuộc diện khoa học kỹ thuật.  Buổi sáng mọi người xếp hàng để cho ông ấy điểm danh (ở hải ngoại chắc cũng còn một vài vị làm việc tại Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Thành phố HCM lúc 75-76, còn nhớ chuyện nầy). Thân phận của kẻ bại trận thật nhục nhã, thật tồi tệ.

Nhớ có lần tôi có hỏi ông kỹ sư nầy, trong phòng toàn những người trí thức, chân yếu, tay mềm, ông mang súng làm gì? Ông trả lời một cách xấc xược: “Nếu chúng nó không nghe lời, thì nỏ vào đầu chúng nó”. Thế đó, tư cách của một người trí thức thắng trận rất phách lối, chà đạp nhân phẩm, hiu hiu tự đắc, không chịu được. Những người cô thế như các vị khoa bảng miền Nam bị thất trận, đành cúi đầu nhẫn nhục.

Mỗi buổi sáng, người đứng xếp hàng mua bột giặt dài thườn thượt ngoài đường. Mỗi người được năm ký lô, đem ra chợ bán lại có được một ngày đi chợ mua thức ăn đơn giản, đạm bạc cho gia đình. Còn các bạn bè của chúng tôi thì được 50 ký lô giao ở cửa sau, trong số đó có gia đình anh Tường Linh (nhà thơ), và ông Vũ Hạnh (nhà văn) còn sống ở Việt Nam. Không biết các ông còn nhớ giai đoạn khó khăn nầy không? Tôi nhớ anh Tường Linh mang bà Vũ Hạnh tới chỗ sản xuất bột giặt Bạch Long gặp tôi. Đây là cơ hội giúp đỡ bạn bè và người thân. Lấy hàng đi bán, chiều thu tiền mang lại trả. Có khi bị công an hốt sạch thì xí xóa, lấy cái khác đi bỏ mối. Giai đoạn nầy cả nước khốn khổ. Thú thật, người ta để yên cho tụi tôi sản xuất thì phải chi từ trên xuống dưới, ăn nhậu, đút lót, quà cáp,… người đứng ra làm chuyện nầy là anh Hùng, vì có cái mác gia đình cách mạng.  Chi cho công việc cũng nhiều, mà chi cho riêng ảnh cũng nhiều. Thế nhưng tiền kiếm được cũng khá nên lờ đi mấy cái chuyện lẻ tẻ nầy.

Sau đó thì đến giai đoạn đổi tiền, anh em tôi phải vác hai “bao tạ” tiền đi đổi (loại bao bố tời đựng 100 kg gạo hồi ấy); hai nhân viên đếm tiền riêng cho tụi tôi mất một ngày, rồi tụi tôi lãnh 500 đồng tiền mới (lúc ấy mỗi gia đình được 200 đồng. Cơ sở sản xuất được 500 đồng). Tụi tôi mất vố nầy khá đậm. (Anh bạn thân hay đến chỗ chúng tôi chơi, hiện đang sống tại Canada là TCN, biết rất rõ về tụi tôi trong giai đoạn tranh tối, tranh sang nầy nhất. Anh là độc giả của talawas, chắc anh sẽ đọc hồi ký nầy.)

Tôi cũng xin nói qua về khung cảnh xã hội Sài Gòn lúc đó. Tất cả đều tê liệt, cán bộ đến từng nhà kêu gọi đi kinh tế mới bằng mọi thủ đoạn như dọa nạt cũng có mà năn nỉ cũng có, nhất là đối với các gia đình quân nhân, công chức của chế độ cũ. Rồi bắt ép mọi người mua công khố phiếu, gửi tiền tiết kiệm, đi thanh niên xung phong, làm thủy lợi.  Một ông cụ bên nhà tôi, hưởng ứng gửi tiền tiết kiệm, nghe những cám dỗ đường mật lọt tai. Trong nhà có gì vơ vét hết, bán đồ trong nhà để có tiền gửi lấy lời sống qua ngày. Sau hai năm số tiền lớn ông gửi vào ngân hàng, lời đâu không thấy, khi lấy ra cả vốn lẫn lời không đủ tiền mua một bao gạo, gia đình ông khóc hết nước mắt.

Cái dễ sợ nhất và tàn nhẫn nhất là “Đánh tư sản mại bản”. Toàn dân miền Nam từ giàu tới nghèo như ngồi trên đống lửa, không biết nhà nước giở trò gì đây, mà trò gì cũng từ chết tới bị thương. Không biết lúc nào người ta đóng chốt nhà mình để kiểm tra. Khi kiểm tra nhà nào là nội bất xuất, ngoại bất nhập. Họ đào xới không chừa một chỗ nào, không thể giấu đâu được với họ. Rồi tống những gia đình nầy đi kinh tế mới, lấy nhà giao cho cán bộ. Nhà lớn thì giao cho cấp lớn, nhà nhỏ thì giao cho cấp nhỏ. Một cuộc cướp bóc trắng trợn và bất nhân. Người dân nuốt hận ê chề và cũng chính lúc nầy phong trào vượt biên bắt đầu lớn mạnh, họ bất kể sống chết, bất kể tới đích hay không. Phải trốn thoát khỏi một chế độ kinh người. Rất nhiều gia đình treo cổ tự tử lúc đó vì uất hận.

Ông Bảy Quân (phó chủ tịch quận Bình Thạnh), trong một buổi họp công thương nghiệp, nói về chuyện tự tử của dân chúng. “So với sự hy sinh của cách mạng quá to lớn trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, thì cái chết lẻ tẻ của những gia đình tư sản nầy chỉ là giọt nước trong biển cả. Họ chết thì cứ chết, ta cứ tiến lên.” Dễ sợ và khát máu chưa?  Người dân không có gạo, ăn bo bo. Con nít tối nào cũng tập trung hát hò ca tụng Bác Hồ, người lớn đi họp để nghe rao giảng sự đẹp đẽ của chế độ, do những cán bộ từ trong rừng ra chủ trì, ba hoa lớn lối, trình độ học vấn chẳng có bao nhiêu, người dân cứ ngủ gà ngủ gật.

Tôi nhớ một lần ở cư xá Thanh Đa, trong đêm  trao trả quyền công dân cho những “ngụy quân, ngụy quyền” trong đó có tôi. Khi gọi tôi ra trình diện trước dân chúng, một người hàng xóm không quen biết có ý kiến về tôi: “Anh nầy là người tốt, hay giúp đỡ bà con chòm xóm. Tôi đề nghị trả quyền công dân cho ảnh để đi bầu cử”. Đồng bào bên dưới vỗ tay rần rần. Khi ra về, tôi tìm tới ông nầy để nói lời cảm ơn. Ông nầy nói nhỏ vào tai tôi: “Khi anh lên, không có ai biết anh là ai, nên không có ý kiến. Thấy vậy tôi đứng lên nói cho xong chuyện để về nhà ngủ sớm còn mai phải đi làm. Chứ để cù cưa cú cứa biết khi nào xong”. Đúng, dân Sài Gòn phần đông họ rộng lượng với những người thuộc chế độ cũ. Quả thật dân chúng quá ngán ngẩm những buổi họp như thế nầy, cắn răng chịu đựng. Sống trong sự giả dối, ăn nói giả dối, làm việc giả dối v.v… từ cán bộ cho tới dân chúng ai cũng biết như vậy, nhưng răm rắp tuân theo như thật.

(Còn tiếp)

© 2009 Phan Xuân Sinh
© 2009 talawas blog

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

MỘT GIAI ĐOẠN NGẬM NGÙI (PHẦN II)

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 28, 2009

MỘI GIAI ĐOẠN NGẬM NGÙI

Hồi ký của Phan Xuân Sinh

Phần II

Sau khi cơ sở làm bột giặt của tụi tôi thành công, chúng tôi đi mua một cơ sở lớn hơn tại số 9  đường Đinh Bộ Lĩnh, Phường 24, Bình Thạnh. Đây là một building lớn của ông chủ hãng tôn lợp nhà bằng nhựa, vì sa cơ thất thế và cũng sắp sửa đi Pháp nên ông bà đó bán lại cho tụi tôi. Chúng tôi dọn cơ sở làm bột giặt về đây, còn căn nhà trên đường Bạch Đằng chúng tôi thành lập tổ hợp làm bột trẻ em hiệu Đông Phương. Chúng tôi gọi bạn bè góp vốn, ai có tiền thì trả, ai không có tiền thì chúng tôi cho mượn vốn trả sau (đây là một quyết định sáng suốt, tránh khỏi một tai họa giáng xuống đầu chúng tôi sau nầy). Building nầy nằm giữa hai building của hai người đều nổi tiếng. Nhà số 7 của ông Nguyễn Quang Minh (hiện nay ở Pháp), tiến sĩ kinh tế, Tổng Giám đốc Việt Nam Thương tín của ông Nguyễn Tấn Đời. Căn nhà số 11 của ông Mười Thơ, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố.

Nhà ông tiến sĩ Minh mở cái quán cà phê trước cổng vào nhà, ông đứng pha cà phê cho khách. Thật chạnh lòng cho một trí thức bị thất sủng, ai vào gọi cà phê, ông “dạ” rất lớn và khúm núm bưng cà phê ra cho khách. (Ngoài tụi tôi ra, không ai biết đây là một trí thức danh tiếng của miền Nam trước 75. Sau nầy ông vượt biển qua Mã Lai, được chính phủ Pháp tiếp nhận ngay.) Thế nhưng ông có một hành động rất dũng cảm. Một lần ông Mười Thơ cho người qua mời ông qua nhà, nhờ ông giảng giải về kinh tế của tư bản mỗi đêm. Ông thẳng thừng từ chối nêu lý do vì sức khỏe ông phải ngủ sớm, con mắt ban đêm lem nhem và sách vở bị tịch thu, không còn tài liệu. Người em cột chèo với ông, anh Nguyễn Tiến Khải (em của bác sĩ Nguyễn Tiến Hỷ, nhà chính trị tên tuổi của miền Nam trước 75, anh Khải bây giờ cũng đang sống tại Pháp) nói với tôi rằng, làm sao ông giảng giải kinh tế cho một người mà trình độ chưa qua tiểu học. Từ chối cho nó khỏi lôi thôi.

Ông Phó Chủ tịch Phường 24, Bình Thạnh tên Minh, vào cơ sở tụi tôi mượn chiếc xe Renault 10 (chiếc xe nầy tụi tôi mua lại của ông Giám đốc hãng Renault Sài Gòn, trước khi ông về Pháp bán lại), để đám cưới cho đứa con. Có một người bạn mượn xe nầy đi Đà Lạt chưa về. Anh Hùng nói với ông là xe đã cho mượn không có ở đây. Ông Minh nghĩ rằng tụi tôi làm khó không cho ông mượn, ông ghim chuyện nầy trong lòng, rồi lợi dụng lúc Chủ tịch Phường đi vắng ông mang một đoàn kiểm kê đến đóng chốt cơ sở bột giặt Bạch Long, lúc đó phong trào cải tạo thương nghiệp đang ở cao điểm, không ai có thể cản trở được, mặc dù chúng tôi thuộc diện công nghiệp (tức là nơi sản xuất của cải vật chất), không ở trong diện cải tạo. Đoàn kiểm kê này làm việc cả tuần lễ, người trưởng đoàn nói chuyện với tôi là ông Minh ra lịnh đóng chốt ở đây, vì nghi ngờ đây là cơ sở mua gian bán lận. Khi vào mới biết đây là cơ sở sản xuất, trưởng đoàn có trình lên cấp trên nhưng vì đã đóng chốt rồi không thể rút lui. Thi hành trước, khiếu nại sau. Như vậy vì thù vặt cá nhân, biến công cuộc cải tạo thương nghiệp thành một cuộc trả thù. Tụi tôi tưởng rằng một Phó Chủ tịch Phường mà làm được gì, thế nhưng khi nằm trong danh sách đã bị cải tạo mới biết tất cả đều do phường báo cáo lên trên, phát sinh những nhà buôn bán mới mà chưa kịp báo cáo, ngay tức khắc dẫn dắt các toán kiểm kê đóng chốt (cơ sở của tụi tôi ở trong trường hợp nầy).

Dĩ nhiên phường không xơ múi gì được những đồ tịch thu, xe của thành phố tới chở đi. Tất cả cái gì có trong cơ sở đều bị vơ vét, tụi tôi bước ra mình không với vài bộ áo quần cũ và chuẩn bị đi vùng kinh tế mới. Từ những người có nhà lầu, xe hơi, tiền bạc vào ra như nước, sau một đêm trở thành những kẻ bần cùng, thân tàn ma dại. Những người thân, bạn bè cũ một phần sợ liên lụy, một phần sợ nhờ vả, không ai dám gặp tụi tôi. Đứng ngoài đường nhìn đoàn xe chở đồ đạc của mình đi nơi khác, anh em ôm nhau rơi nước mắt. Chị vợ của anh Hùng có mấy lượng vàng của hồi môn cha mẹ để lại, khi làm biên bản tịch thu để câu: “kim khí màu vàng”, chứ không xác định đó là vàng. Anh Hùng thắc mắc chuyện nầy thì ông trưởng đoàn giải thích, không có đồ phân loại cho nên không thể xác nhận là vàng được, ghi như vậy cho cấp trên giải quyết. Tôi nghĩ trong bụng khi mà tới kho nhà nước toàn là đồ đồng, vàng thật đã vào tay cán bộ.

Ngày xưa bước đến Ủy ban Nhân dân Phường, mọi người chào hỏi nhau như người thân. Còn bây giờ ra phường chờ đợi giấy tờ, ngồi trong góc chẳng ai thèm hỏi han, ai cũng muốn tránh né. Những bộ mặt thân thiện ngày nào, bây giờ thay đổi một cách nhanh chóng, lạ lẫm. Chúng tôi là loại tội phạm của chế độ, không có thuốc “ba con năm” để mời nhân viên, nên họ nhìn mình bằng cặp mắt xa lạ. Cũng may chiếc xe Renault 10 cho một người bạn mượn  đi Hà Nội nên không bị tịch thu. Chỉ tịch thu bốn chiếc xe đang đậu trong hãng. Tụi tôi chờ đợi đi kinh tế mới, nơi tụi tôi chọn là Phương Lâm  (Định Quán).

Trong khi chờ đợi, một người bạn rủ tụi tôi đi Cai Lậy chơi, luôn tiện mua một “thùng” gạo (khoảng chừng 10 ký lô) để dành về ăn, đến trạm Tân Hương kiểm soát thấy tụi tôi chở gạo, nên xe bị giữ lại. Hai ngày sau tụi tôi xuống Mỹ Tho nhận lại xe thì được biết chiếc xe Renault 10 bị tịch thu. Chở chỉ 10 kí gạo mà tịch thu một chiếc xe, đó là hành động ăn cướp. Tụi tôi làm đơn khiếu  nại nhưng không có nơi nào giải quyết. Số phận của chiếc xe không mất trong kiểm kê thì mất trong trường hợp cướp cạn nầy. Vừa rồi về Việt Nam nhìn cảnh dân oan của mấy tỉnh phía Nam lên Sài Gòn kiện tụng đất đai, tôi nghĩ lại chuyện thưa kiện của mình mà thương cho họ, có ngồi mòn đít quần, tốn tiền tốn của, chỉ thiệt thân cho mình thôi. Làm sao con kiến mà kiện củ khoai cho được. Các cấp chính quyền không có ai thương xót, mặt họ lạnh như băng. Chỉ có dân chúng qua lại thông cảm nỗi đau của họ, nhưng chẳng giúp được gì.

Sống trong nước giữa thời điểm đó có quá nhiều bất trắc cho dân chúng, các ông Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Trường Chinh, ráng gân cổ gào thét: “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”. Nhưng dân chúng đều thờ ơ, ngơ ngác, đói rát ruột, áo quần te tua, làm sao tiến nhanh, tiến mạnh được. Cỗ xe cứ ì ạch chạy không nổi. Sao con đường bước đến xã hội chủ nghĩa dài và nhiêu khê quá vậy, biết bao giờ mới tới được nơi đó. Đời cha tới đời con đều còng lưng kéo lê cuộc đời vô sản vẫn chưa thấy được một chút ánh sáng le lói nơi chân trời, chỉ đi mãi trong tăm tối. Thật quá ngao ngán và mệt mỏi. Đường phố Sài Gòn các xe chạy bằng xăng sửa lại, gắn một cái thùng phía sau chạy bằng than như hồi đầu thế kỷ 20. Muốn bước qua thiên đường, phải bước qua ngưỡng cửa địa ngục trước, đúng vậy.

Tụi tôi sửa soạn lên đường đi kinh tế mới thì bố của anh Hùng ngoài Bắc vào. Ông thuộc loại cách mang năm 30 còn lại (tức là những đảng viên kỳ cựu của thời mới thành lập Đảng). Ông thấy con cháu ông sắp sửa rời thành phố, cũng đau lòng nên ông mang đơn gặp thẳng ông Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) kêu cứu cũng mất mấy ngày. Một buổi chiều nọ, ông hớn hở mang giấy về, tạm hoãn cho tụi tôi đi kinh tế mới, vì đây thuộc diện công nghiệp, được ở lại thành phố tiếp tục sản xuất.

Anh em tụi tôi bám vào Bột trẻ em Đông Phương đã thành lập trước đây. Chở vợ con trên chiếc xe đạp đi làm (lúc nầy tôi đã có cháu đầu lòng), bây giờ mới thấy sáng mắt cho cái chuyện phùng xòe của tuổi trẻ, khi bị tống ra khỏi hãng Bạch Long không có đứa nào còn tiền. Không có nơi ở, chạy đôn chạy đáo mượn tiền mua một cái nhà nhỏ trong con hẻm chợ Cây Thị , Phường 11, Quận Bình Thạnh. Thề trong bụng, sau nầy làm ăn khấm khá cũng không bao giờ mua nhà to cửa rộng, chỉ mua vừa đủ chỗ cho vợ con chui rúc ra vào.

Vợ chồng cùng làm trong hãng bột nuôi trẻ Đông Phương, đây là một tổ hợp đúng nghĩa. Tình trạng sữa cho trẻ em khan hiếm, Bột Đông Phương đáp ứng kịp thời, mỗi ngày sản xuất hàng tấn bột. Những gia đình đi thăm nuôi các anh em trong trại cải tạo đến đặt hàng cũng nhiều. Tinh thần mấy đứa tụi tôi bắt đầu khôi phục, chia lời cho mỗi thành viên trong tổ hợp cũng khá, nên cuộc sống cũng bắt đầu khởi sắc. (Tổ hợp Đông Phương sau nầy có 40 thành viên.)

Lúc nầy quân đội Khmer Đỏ khuấy nhiễu biên giới tây nam. Bộ đội chuẩn bị tấn công Campuchia. Một buổi sáng, một chiếc xe bộ đội đổ trước cửa Bột Đông Phương, một số sĩ quan bước vào muốn gặp Ban Chủ nhiệm. Anh Tường Linh (nhà thơ) lúc đó là tổ trưởng Bột Đông Phương tiếp chuyện. Sau một hồi anh Linh gọi tôi ra cho biết là Quân khu 7 muốn đặt một số bánh lương khô phát cho binh sĩ (kèm theo mẫu lương khô của Tàu). Tôi trả lời có thể làm được, chỉ tương tự chứ không giống hẳn như bánh của Tàu (lúc đó tôi giữ phần kỹ thuật sản xuất). Tất cả đều đồng ý. Tuần sau họ tới lấy mẫu để về trình lên cấp trên. Thật tình thì lương khô nầy cũng bao gồm hàm lượng dinh dưỡng đại khái, không có gì đặc biệt lắm, nên cũng không đòi hỏi kỹ thuật và chất lương cao.

Quận Bình Thạnh cấp cho tụi tôi một cơ sở rộng rãi ở đường Đinh Bộ Lĩnh (cơ sở nầy trước đây là Viện bào chế thuốc Tây của dược sĩ Phạm Doãn Điềm) để sản xuất lương khô. Chúng tôi phải trang bị thêm máy ép bánh, máy sấy, máy rang ngũ cốc, máy xay v.v… trong thời gian ngắn nhất, để đáp ứng với nhu cầu cần cho bộ đội tiến đánh Campuchia. Việc sản xuất cũng trôi chảy không trở ngại. Chừng một tháng thì phòng sấy bị cháy, lửa bốc lên ngùn ngụt thiêu rụi một khu nhà sản xuất. Đến lúc nầy mới thấy mệt. Những người có mặt tại hiện trường lúc cháy phải trình diện công an điều tra vì bị nghi ngờ phá hoại, cản trở sự tiến quân của bộ đội vào Campuchia (dưới con mắt của người cộng sản, cái gì cũng có thể nghi ngờ và cái gì cũng nhuộm màu sắc chính trị). Nghe tin nầy đứa nào cũng sợ té  đái, vì lòi ra toàn là thứ “ngụy quân, ngụy quyền” của chế độ cũ. Đoàn kiểm tra của Quân khu 7 tới xác nhận đây là “sự cố” kỹ thuật, phải dọn dẹp ngay và trang bị kịp thời để tái sản xuất (bên công an phải ngưng điều tra). Trong lúc sửa chửa cơ sở thì bộ đội đã tiến vào Nam Vang, Quân khu 7 thông báo cho biết là chấm dứt hợp đồng. Tụi tôi mừng hết lớn, thoát ra được cái vòng kim cô siết mình vào toàn những chuyện không đâu, mất ăn mất ngủ mấy tháng trời.

Trong giai đoạn nầy cả nước lâm vào tình trạng bi đát. Hàng hóa của thân nhân từ hải ngoại gửi về bị hải quan lục xét một cách tận tình và thô bạo; để tìm dollar cất giấu, các típ kem đánh răng được tháo ra, quậy nát. Không có đồng dollar nào chui lọt được. Mức thuế trên những thùng hàng hóa gửi về thật nặng nề và tùy tiện. Sau khi đến tay người nhận chỉ còn vào khoản 20% – 30%. Tình trạng cấm vận gây cho người dân nghèo mạt rệp. Giữa lúc nầy ở phía Bắc, lính Trung Quốc tràn qua biên giới “dạy cho cộng sản Việt Nam” một bài học vì đã tráo trở, quên công ơn họ giúp trước đây. Không biết Đảng Cộng sản có nhận bài học nầy không, chứ còn nhân dân thì lãnh đủ. Vừa đói, vừa giặc giã hết biên giới phía Nam, đến biên giới phía Bắc, người dân khốn đốn trăm bề.

Vài năm sau tôi thấy tình hình có vẻ ổn định, tôi muốn về nhà mở một cơ sở làm kem đánh răng (còn vợ tôi vẫn làm ở Đông Phương). Tôi lấy hiệu là kem đánh răng Mimosa. Trước khi mở cơ sở tôi phải làm mẫu để đi kiểm nghiệm. Không biết tại sao công an phường cứ vài ngày đi xét nhà tôi một lần, liên tục như vậy cả tháng. Lần cuối họ hỏi thẳng tôi vì thấy những mẫu kem để trên bàn không có nhãn hiệu. Tôi bảo với họ là tôi chuẩn bị sản xuất kem đánh răng, nên phải làm mẫu kiểm nghiệm. Khi tôi ra phường xin phép thì bà Thùy Trâm (dân Quảng Nam,) bí thư, cho tôi biết là phường đã nghe dân chúng báo cáo là tôi làm kem giả. Hèn gì công an xét nhà tôi bao nhiêu lần mà không thấy gì cả là vì vậy. Bắt đầu tôi mới thấy sợ sự kiểm soát khắt khe trong dân chúng, tai mắt của họ khắp nơi, nhứt cử nhứt động không qua được họ.

Lúc đó kem đánh răng khan hiếm trên thị trường, nhất là các tỉnh phía Bắc. Tôi ký hợp đồng với thương nghiệp cung cấp kem cho các tỉnh. Giá thành trong hợp đồng quá thấp, vì vậy kem đánh răng chất lượng rất tồi, để một thời gian lâu sẽ bị khô. Với giá cả quá thấp như vậy không thể nào tốt được. Nhưng thương nghiệp quốc doanh cần như vậy, có còn hơn không. Thế nhưng vẫn bán được và sản xuất đều đặn. Không có cái gì tốt hơn và cũng không có loại nào khác hơn để mua, buộc lòng dân chúng phải mua đồ “dỏm” nầy để dùng.

Một điều khó và giết chết những nhà sản xuất lúc đó là ngân hàng. Các công ty thương nghiệp trả bằng check, cầm cái check nộp vào ngân hàng thì không được lãnh tiền ra ngay vì nhiều lý do. Ngân hàng không có tiền, chế độ quan liêu bè phái, hối lộ cửa sau v.v… người sản xuất trăm bề khó khăn. Đồng bạc càng ngày càng mất giá, tất cả tính toán bằng giá vàng trên thị trường. Mua hàng hóa sản xuất trị giá bằng vàng, nhưng khi bán hàng của mình cho nhà nước thì trị giá bằng tiền. Sự khác biệt nầy gây cho nhiều cơ sở sản xuất phải khánh tận (giá vàng lên nhanh quá, theo không kịp). Tôi đã khốn đốn khổ sở rất nhiều trong thời gian nầy. Làm ăn quần quật nhưng rốt cuộc chẳng còn gì, bao nhiêu tiền vợ chồng dành dụm đều mất sạch (khoản thời gian nầy chắc anh Đào Hiếu hiểu rõ, vì lúc đó ảnh có tham gia làm kem đánh răng ở một chỗ khác.)

Lúc bấy giờ mới nghĩ tới chuyện vượt biển, chạy ra Phước Tỉnh (Bà Rịa – Vũng Tàu) mua ghe, vài anh em hùn vốn. Đến ngày lên đường thì mới biết mình bị lường gạt. Tàu đã chở nhóm người khác ra khơi trước một đêm, đúng giờ ra chỗ hẹn, chờ dài cổ vẫn biệt tăm. Bị công an phát hiện chạy trối chết, một số bị bắt. Chưa có lúc nào ngao ngán lòng người như vậy. Lấy tiền xong chỉ điểm cho công an đến bắt, không tin vào ai được. Tiền của không còn, về lại Sài Gòn làm lại cuộc đời, chờ đợi ông già vợ bảo lãnh cho chắc ăn.

Hồ sơ bảo lãnh cho gia đình, tôi nộp vào năm 1979, thế nhưng không biết lạc nơi đâu. Những người nộp hồ sơ sau tôi đều lần lượt ra đi. Tôi làm đơn khiếu nại tại văn phòng Bộ Nội vụ ở đường Nguyễn Trãi, Sài Gòn, nhiều lần, nhưng không thấy trả lời. Đến khi có chương trình HO, tôi mang hồ sơ đến trung tâm dịch vụ của Bộ Nội vụ (đây là nơi làm tiền một cách trắng trợn, nhưng rất được việc), vài tháng sau họ báo cho biết là tôi sẽ được cấp visa và chuẩn bị phỏng vấn. Còn hai cái ải quan trọng mà tôi phải bước qua là thuế và nhà đất.

Tôi là người có đứng tên trên vài cơ sở làm ăn sau nầy,  nên phải thanh toán tất cả nợ nần thiếu thuế trước khi rời khỏi đất nước. Một nhân viên ra cho tôi biết là tôi còn thiếu thuế nhiều quá nên chưa thể cấp giấy cho tôi được (một cú đánh phủ đầu trước, cho tôi choáng váng mặt mày). Ngày hôm sau, có người làm trong phòng thuế quen với tôi tới nhà cho biết là tôi phải chi một ít tiền, vài ngày sau tới nhận giấy chứng nhận không thiếu thuế. Giờ phút nầy họ đòi bao nhiêu cũng phải bóp bụng đưa, chứ không còn con đường nào khác hơn. Rồi đến nhà đất cũng vậy. Qua xong hai cái ải nầy, rồi đến cái ải phi trường. Không biết mình có bị giữ lại không? Đến khi máy bay cất cánh mới biết mình không việc gì, mới thở phào. (Tôi ra đi cùng một lúc với các anh chị cải tạo HO 4 – tháng 6 năm 1990.)

Từ năm 1975 đến 1990, tôi đã sống đúng 15 năm trong xã hội chủ nghĩa. Tôi đã chứng kiến những chiếc xe tăng T54 phá sập cổng chính Dinh Độc Lập (xem như thành trì cuối cùng Việt Nam Cộng hòa bị xô ngã). Tôi đã sống trong một đất nước hòa bình, người dân không còn lo sợ súng đạn, nhưng sợ sự đố kỵ, sự phân biệt, sự kỳ thị. Tôi đã ngụp lặn trong một cuộc sống đầy rủi ro, chấp nhận những miệt thị lớn lối của kẻ thắng trận. Họ được quyền chà đạp nhân phẩm của người khác, rêu rao vẽ vời một chủ nghĩa xa lạ và bắt dân chúng thuần phục như những tín đồ.

Tôi đã chứng kiến cảnh “ngăn sông cấm chợ”, chứng kiến những anh em, bạn bè  của mình đi học tập cải tạo, đi kinh tế mới, đi vượt biên. Chứng kiến một xã hội băng hoại, tham nhũng có tổ chức, chèn ép dân chúng để hối lộ, bao che cho nhau những việc làm vô đạo đức. Những cảnh “sửa sai, sai sửa”, hy sinh hết lớp nầy đến lớp khác v.v…, còn nhiều thứ không kể hết. Nhưng bao giờ tôi cũng mong, vẫn tin tưởng một ngày nào đó những tệ nạn ấy không còn bao trùm trên đầu dân chúng. Một giai đoạn “không đẹp” mà tôi đã bước qua, sẽ trôi vào quên lãng, chôn kín, và xem đây như một lầm lỗi, lịch sử không lặp lại.

Houston, 23/7/2009

© 2009 Phan Xuân Sinh
© 2009 talawas blog

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

NHẶT LẠI NHỮNG MẢNH VỤN

Posted by phanxuansinh trên Tháng Sáu 27, 2009

NHẶT LẠI
NHỮNG MẢNH VỤN

Phan Xuân Sinh

30 năm ngồi nhặt lại những mảnh vỡ, xếp lại cho thật hoàn chỉnh, nhưng cố gắng bao nhiêu vẫn không xóa mờ được những vết nứt. Tuy những tì vết nầy nó không còn đậm nét, không còn tách lìa như trước đây, thế nhưng nó vẫn còn những vạch chia cắt không hết được. Tôi tự hỏi với chính mình, tại sao cũng còn có một số người vẫn muốn  thu tay đấm vào những mãnh vỡ đó, cho nó tan nát thêm ra. ..

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

LỜI GIỚI THIỆU CỦA TRẦN DOÃN NHO

Posted by phanxuansinh trên Tháng Sáu 27, 2009

Vài suy nghĩ về
“Sống với thời quá vãng” của Phan Xuân Sinh.

Đây là tác phẩm thứ năm của Phan Xuan Sinh và là tác phẩm văn xuôi thứ hai của anh. Ba tập kia là ba tập thơ. Anh vốn là một người làm thơ và nhiều bài thơ của anh đã đi vào lòng độc giả với cái “chất” hiện thực chan hòa trong lối lý sự rất riêng của Phan Xuân Sinh.

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Sống với thời quá vãng

Posted by phanxuansinh trên Tháng Sáu 27, 2009

svtqv

Posted in Sống với thời quá vãng | Leave a Comment »

Bơi trên dòng nước ngược

Posted by phanxuansinh trên Tháng Sáu 27, 2009

btrdng

Posted in Bơi trên dòng nước ngược | Leave a Comment »

Bơi trên Dòng Nước Ngược

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

BƠI TRÊN GIÒNG NƯỚC NGƯỢC

Phan Xuân Sinh

Tôi yêu Như khi còn đi học, cái nghề gia sư đã khiến tôi gần gũi với nàng. Ðúng như lời người dân ngoài tôi hay nói: “Thứ nhất lần đân, thứ nhì cận thân”. Ði cua gái mà chai mặt thì thế nào cũng dính, cứ chưởi bới tha hồ mặt vẫn trơ trơ như chẳng hay biết chuyện gì, xem lời chưởi mắng như lời thỏ thẻ dễ thương, thứ đàn ông nầy bao giờ cũng lấy được vợ đẹp. Còn loại thứ hai không được có cái mặt chai lì đó, nhưng kề cận người đẹp mãi ngày nầy qua ngày khác thì cũng lấy được vợ ngon lành…. Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Căn Nhà, Không Có Bóng Đàn Bà

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

CĂN NHÀ, KHÔNG CÓ BÓNG ÐÀN BÀ

Phan Xuân Sinh

Anh sống với vợ chừng hơn bốn năm, được hai mặt con thì Miền Nam bị mất. Anh học tập theo diện sĩ quan cải tạo. Vợ phải ra sức nuôi con, không còn trông vào những đồng lương của anh như lúc trước. Chị chạy ngược chạy xuôi, buôn tảo bán tần để kiếm tiền nuôi con còn thơ dại. Hai đứa con lúc đó còn quá nhỏ, nhưng vì không thể gửi cho ai được, mà bồng bế theo thì rất trở ngại. Thuê người giữ thì không có tiền trả, vì vậy chị cứ để hai đứa nhỏ ở nhà một mình, nhờ mấy bà già hàng xóm thỉnh thoảng qua lại coi chừng giùm. Hàng xóm cũng thương cho hoàn cảnh mẹ cút con côi của chị. Họ chăm sóc hai đứa bé mà không lấy một chút thù lao nào. Thỉnh thoảng hôm nào khấm khá, chị mua biếu mấy bà già đó một ít quà tượng trưng lấy thảo, để đền bù cho công lao chăm sóc hai đứa bé khi chị vắng nhà.

Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Chút Kỷ Niệm Thoáng Qua Trong Đời

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

CHÚT KỶ NIỆM
THOÁNG QUA TRONG ÐỜI

Phan Xuân Sinh

Mùa hè năm đó vừa thi xong đệ thất, Ba tôi cho tôi về quê nghỉ hè. Quê nội tôi nằm ven bờ sông Thu Bồn. Tôi ôm chiếc va li nhỏ xíu đón xe đò mà lòng tôi như mở hội, bởi vì không quan trọng sao được khi mà tôi tưởng tượng đến cảnh đặt chân trước cổng làng, những chào hỏi thân thương của bà con hàng xóm với Nội tôi, những người thân trong gia đình chiều chuộng tôi như một cậu ấm, những đứa bé trạc tuổi tôi nhìn tôi với con mắt thèm thuồng… Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Đà Nẵng Của Tôi

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

ÐÀ NẴNG CỦA TÔI

Phan Xuân Sinh

Từ lâu tôi chờ đợi một người nào đó viết về quê tôi, như Phan Nhự Thức viết về Quảng Ngãi, Nguyễn xuân Hoàng viết về Nha Trang, Trần Doãn Nho viết về Huế. Thế nhưng chẳng có ai làm điều nầy giùm tôi, hoặc có người viết rồi mà tôi chưa được đọc, thôi thì bây giờ tôi viết về Ðà Nẵng của tôi vậy. Thật tình thì Ðà nẵng cũng không có nhiều danh lam thắng cảnh, cũng ít nơi thơ mộng. Người dân chúng tôi nòi văn chương chữ nghĩa cũng ít, nhưng nói ” móc họng” thì nhiều. Danh nhân thì đếm trên đầu ngón tay các ông Thái Phiên, Án Nại.mà những người chính tông Ðà Nẵng cũng ít người biết. Còn ông Phan Châu Trinh, Trần Quý cáp, Nguyễn Duy Hiệu v.v.. tiểu sử các ông ai ai cũng biết… Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Một Chút Tình Cho Mộ Đức

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

MỘT CHÚT TÌNH CHO MỘ ÐỨC

Phan Xuân Sinh

Như một định luật khi di chuyển trên quốc lộ số 1 từ Ðà Nẵng vào Sài Gòn, xe bắt đầu đến địa phận Quảng Ngãi, là tôi sửa soạn để chuẩn bị đón nhận một người nào đó, nhất là xe tiến vào Quận Mộ Ðức. Nhưng rồi tâm trạng nầy bị mất hút, suy sụp ngay sau khi xe lăn bánh ra khỏi Quảng Ngãi, tôi như bị đau nhức bởi một vết thương cũ hoành hành, thẩn thờ như mất hồn. Mỗi lần xe đến vùng nầy dù trong đêm khuya tôi cũng mở to mắt để tìm một cái gì, một cái gì…đã mất… Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Người Của Muôn Năm Cũ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

Người của muôn năm cũ

Phan Xuân Sinh

Nhận được điện tín của gia đình báo là ba tôi đau nặng, tôi phải về gấp. Tôi sắp xếp mọi chuyện rồi lên xe đò về Đà Nẵng, thành phố nầy tôi đã bỏ đi hơn ba năm nay. Hơn ba năm cái gì đã xẩy ra nơi đó, những người thân sống ra sao, bạn bè còn ở lại hay tản mác? Tất cả tôi đều không hay biết. Trước ngày tôi rời khỏi thành phố nầy, tôi hay tin chồng của Hương vừa tử trận trên mặt trận Pleiku, và Hương chuẩn bị mang con cái về lại Đà Nẵng. Mẫu tin của một người bạn làm cho tôi xao xuyến trong thời gian sống xa nhà, dù giữa chúng tôi không còn gì để lưu luyến. Hương trở về chốn cũ thì tôi lại ra đi. Đó cũng là cái may để chúng tôi khỏi có dịp nhìn nhau trong ngỡ ngàng…

Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Quảng Nam, Tào Lao Chi Sự

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

Phiếm:

QUẢNG NAM, TÀO LAO CHI SỰ

Phan Xuân Sinh
Hồi tôi mới vào Sài Gòn, một vài người không nghe quen cái giọng nặng trịch của tôi nên họ hỏi đi hỏi lại, tôi cho rằng họ trêu ghẹo tôi, họ cố tình xúc phạm tôi. Nhiều bữa đóng cửa phòng trọ tôi tự nói một mình để xem cái giọng của tôi có đượm chút gì trắc trở, mà khi nói chuyện với những người trong Nam làm cho họ phải tức cười. Tôi thấy giọng nói tôi nghe ra cũng không đến nổi tệ, không thanh như chuông thì cũng không đến nổi rè, không êm ái thì cũng không đến nổi chan chát, mặt mày không thuộc loại đẹp trai nhưng thấy cũng sáng sủa. ..

Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Quê Tôi Và Những Ân Tình

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

QUÊ TÔI VÀ NHỮNG ÂN TÌNH

Phan Xuân Sinh

Thành phố Ðà Nẵng có hai cái chợ, hai cái chợ nầy đều mang mỗi một cái tên cộc lốc, nếu không để chữ “chợ” ra phía trước thì hai cái tên đứng chơ vơ nghe rất lạ tai: “Hàn” và “Cồn”. Nghèo quá ngay cả cái tên tiêu biểu cho sự sinh sống của toàn dân trong thành phố, nắm ngay cái bao tử của mọi người mà cũng không được thêm một chữ nữa cho êm tai. ..

Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Rừng Không Đổi Màu

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

RỪNG KHÔNG ĐỔI MÀU

PHAN XUÂN SINH

Mùa thu tới, khi nhìn thấy lá trên cây đổi màu ngoài phố, là thế nào tôi cũng lái xe lên vùng White Moutain thuộc New Hampshire một vòng, để xem lá vàng. Cái thú trưởng giả nầy không tốn đồng xu cắc bạc nào hết, nhưng khi một mình lái xe đi cũng không dám cho ai biết, kể cả vợ. Nói ra chuyện nầy, người khác sẽ cho rằng qua đây bắt chước dân Mỹ, hết hưởng thụ vật chất lại bày đặt hưởng thụ tinh thần…

Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Thư Tình Thời Đi Học

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

THƯ TÌNH,THỜI ÐI HỌC

Phan Xuân Sinh
Trong thời còn là học sinh, ai cũng có những mối tình. Có thể thương thầm nhớ trộm, có thể có một chút tình ý với nhau, có thể tiến xa hơn là hai bên đã phải lòng với nhau. Từ xưa cho đến nay tình yêu bao giờ cũng tiến triển tuần tự theo các giai đoạn đó. Thời trước như thế nào thì tôi không biết, chứ thời học sinh của thế hệ tôi, chỉ chừng hơn ba mươi năm trước thôi, tình yêu lúc ấy sao cũng còn lắm rào cản của định kiến chi phối. ..

Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

Tuổi Nhỏ, Một Thời Ngậm Ngùi

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 29, 2009

TUỔI NHỎ, MỘT THỜI NGẬM NGÙI
Phan Xuân Sinh

Tôi không biết cái làng Nại Hiên Tây có tự bao giờ. Hồi tôi còn nhỏ làng nầy còn thưa thớt dân chúng, phía trong có lũy tre, bờ ruộng. Trong ngõ vào nhà tôi hàng tre mát rượi, rắn rít thỉnh thoảng bò qua lại trên đường (người ngoài tôi thường gọi là đường kiệt). Nhà trong hẻm cũng chẳng có bao nhiêu cái. Phần đông nhà tranh vách đất, tối thắp những ngọn đèn dầu lù mù. Riêng nhà tôi là một trong những ngôi nhà ngói hiếm hoi trong con hẻm. Nhà nầy của ông nội tôi xây dựng từ lâu lắm mà nay trở thành nhà thờ của giòng họ tôi ở Ðà Nẵng…

Đọc tiếp »

Posted in Bơi trên dòng nước ngược, Truyện ngắn | Leave a Comment »

QUAY NHÌN LẠI MỘT ĐOẠN ĐỜI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan Xuân Sinh

QUAY NHÌN LẠI
MỘT ĐOẠN ĐỜI

Lâu lắm tôi không trở lại Huế, bởi nhiều lý do nhưng có lẽ lý do chính đáng nhất, tôi thường né tránh là tôi sợ nhìn lại những gì đã đánh mất. Thật tình thì những nơi chốn tôi dừng lại lâu ngày đều có ít nhiều mất mát. Thế nhưng với Huế thì lại khác đi, bởi lẽ cái khung cảnh trầm lặng cố hữu gây cho người đến một cái buồn mang mác, rưng rức. Huống gì trước đây đã sống ở Huế một thời gian khá lâu như tôi, lại có một vài kỷ niệm thật buồn nên chuyện trở lại thăm Huế làm cho tôi có cảm giác vừa hăm hở nhưng cũng vừa sờ sợ, vừa mong muốn nhưng cũng vừa hối tiếc. Nghĩa là tâm trạng của tôi thật bất ổn và đối nghịch nhau khi nghĩ về Huế.

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

SỐNG VỚI THỜI QUÁ VÃNG

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan Xuân Sinh

SỐNG VỚI THỜI QUÁ VÃNG

Lâu quá tôi mới trở lại quê nhà, thấy thiếu vắng một số bạn bè và người thân. Đủ biết tuổi của tụi tôi không còn nhỏ, đã bắt đầu xếp hàng để chờ nghe tên Chúa gọi. Gặp một số bạn bè cũ mà không ngờ rằng tuổi già đến nhanh thế, nhìn thấy một vài đứa như các ông cụ. Như vậy, mình mới thấy được chính mình cũng thế thôi, lẫn thẩn, già cổi, và cuối cùng cũng đi vào con đường mà không ai thoát khỏi, không ai lẩn tránh được. Tôi dự những bữa tiệc bạn bè thiết đãi, cũng như đi uống cà phê buổi sáng. Mặc dù chúng tôi gọi nhau “mi – tau”, nhưng trong tiếng gọi đó nó có vẻ như ngượng ngập. Đúng ra trong cái tuổi của tụi tôi cách xưng hô với nhau cũng khác đi cho phù hợp, lớp con cháu nghe gọi trẻ trung như vậy thì chúng cười chết.

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

NHỮNG CON NGƯỜI HIỂN THÁNH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Truyện lịch sử

Phan Xuân Sinh

NHỮNG CON NGƯỜI HIỂN THÁNH

Rừng núi tràn ngập ánh trăng, một ánh trăng tẻ lạnh chìm trong đêm đông. Mặc dù trời lạnh ông Hường Hiệu cùng với người phụ tá của của mình là Phan Bá Phiến đang bàn định một việc quan trọng. Thường thường những chuyện quan trọng không muốn để bất cứ một người thứ ba nào biết, dù người đó thân tín với mình. Hai ông thường ra ngồi trước sân cờ nói chuyện. Mấy lúc gần đây những tin tức bất lợi cho Nghĩa Hội càng xấu đi, các tin tức khắp nơi báo về cho biết, những phòng tuyến rải rác các huyện Hòa Vang, Đại Lộc, Thănh Bình bị thủng, mặc dù các nghĩa sĩ của Nghĩa Hội một lòng xả thân chống đỡ. Nhưng làm sao dao mác chống lại với súng đạn. Những quân lính của Nam Triều (dưới thời Đồng Khánh) được bọn Tây Đương trang bị súng đạn để chống lại các cuộc nỗi dậy của dân chúng. Cái độc ác của ngoại bang là dùng những tay sai của bản xứ đàn áp người bản xứ. Nguyễn Thân, Lê Khiết, Phan Liêm, (1) những tên “khuyển mã” núp bóng Nam Triều, phụng sự đắc lực cho quan thầy Tây dương để tiêu diệt các tổ chức yêu nước. Họ không ngần ngại chém giết đồng bào, miễn sao được lòng quan thầy.

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan Xuân Sinh

NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH

Tôi từ Sài Gòn về hôm nay thì ngày mai đám giỗ má tôi. Thằng em út tôi đề nghị sáng hôm sau dậy sớm để vào thăm mộ má trước, tới chiều mới làm mâm cơm đám giỗ má sau. Tôi quên không hỏi nó bây giờ má chôn ở đâu? Vì trước đây tất cả mồ mả được qui hoạch chôn vô một chổ, chứ không có nhiều nghĩa địa như ngày xưa. Tối hôm đó tôi đi chơi với mấy thằng bạn tới khuya mới về rồi đi ngủ, còn mọi chuyện thằng em tôi lo tất cả…

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn, Uncategorized | 1 Comment »

MỘT NIỀM VUI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan Xuân Sinh

MỘT NIỀM VUI

Tôi vào Câu Lâu thăm người chị (con người cô ruột). Địa danh Câu Lâu nằm trên Quốc lộ 1, phía nam cầu Câu Lâu thuộc quận Duy Xuyên và phía bắc cầu thuộc quận Điện Bàn, hai quận nầy đều thuộc tỉnh Quảng Nam. Chị Hai tôi ở phía nam cầu. Chị trước đây là một người sắc hương của vùng đó, chị có một đứa con trai và chồng tập kết… Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | 2 Comments »

KHI CON ĐƯỜNG KHÔNG LỐI THOÁT

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan xuân Sinh

KHI CON ĐƯỜNG KHÔNG LỐI THOÁT

Sau nhiều đêm suy nghĩ, không còn cách nào khác hơn chị dẫn con về quê anh gửi cho bà nội chúng nó, dù chị biết rằng đó là một gánh nặng cho bà. Nhưng giữ chúng nó thì lấy gì ăn? Có rảnh tay rảnh chân thì mới bương chải kiếm tiền nuôi con, trong lúc chồng còn trong trại cải tạo. Chứ còn ôm lấy con thì chết đói sao? Vì vậy, chị mang các con về giao cho bà nội, một giải pháp mà theo chị cân nhắc là ổn thỏa nhất. ..

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

HAI TAY QUY HÀNG

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

HAI TAY QUY HÀNG

Phan xuân Sinh

tình vừa ngủ quên dưới bóng tối tăm
một đời về không hai tay quy hàng

Trịnh Công Sơn

Khi tôi còn bé, mặc quần sà loỏn rong chơi trong xóm thì anh Giang đã mang lon thiếu úy, người dân trong xóm tôi gọi anh là Quan Một. Tính tình anh ương ngạnh và ngang bướng, môt mẫu người Quảng Nam tiêu biểu, sẵn sàng trong tư thế trừ gian diệt bạo. Thấy chuyện gì ngoài đường chướng tai gai mắt là anh xăn tay áo nhào vô, bất kể nguy hiểm hay bất lợi cho anh. .. Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

GIÓ BỤI MỘT THỜI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan Xuân Sinh

GIÓ BỤI MỘT THỜI

Tôi rời Đà Nẵng gần cuối năm 1974 để vào sống tại Sài Gòn. Trong dự trù, sau khi giải ngũ tôi được lãnh số tiền trợ cấp hàng tháng để yên tâm đi học trở lại. Số tiền nầy dư giả cho tôi trang trải mọi chi phí về chuyện ăn ở tại Sài Gòn mà không cần sự trợ cấp của gia đình. Tất cả hồ sơ giải ngũ của tôi từ Trung Tâm I Quản Trị được gửi vào Trung Tâm III Quản Trị. Nếu không có biến chuyển gì thì tháng 4 năm 75 tôi sẽ ra Hội Đồng để duyệt xét mức độ tàn phế. ..

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

CƠN ĐAU KHÔNG DỨT

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan Xuân Sinh

CƠN ĐAU KHÔNG DỨT

Khi má tôi mất, tôi mới mười môt tháng tuổi. Bà ngoại đem tôi về nuôi. Ba tôi bị tù vì tội tham gia cách mạng không biết ngày nào ra. Sau nầy khi tôi lớn, ngoại kể cho tôi nghe về những năm tháng thiếu mẹ. Tôi có tật nửa đêm thức giấc tìm vú mẹ, miệng ngậm vú bên nầy, tay sờ vú bên kia tôi mới chụi ngủ tiếp, nếu không có thì khóc thét lên. Những đêm đầu má tôi mất, ngoại phải ôm tôi thay cho má tôi, nhưng vú của ngoại đã khô sữa từ lâu lại bèo nhèo, ..

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

CHUYẾN VỀ QUÊ NHÀ IV

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan xuân Sinh

CHUYẾN VỀ QUÊ NHÀ

IV/ TRỞ LẠI SÀI GÒN,

Tối ngày 24-2-2008, bạn bè thân thích cũ rủ tôi đi uống café, đêm cuối cùng trước khi rời Đà Nẵng. Đêm nay họ hỏi tôi nhiều chuyện và cái thắc mắc quan trọng nhất là tôi chắc có dính líu đến chính trị nên không về được. Không nhớ quê sao mà 15 năm mới trở về? Tôi yên lặng để nghe họ suy luận đủ điều về trường hợp của tôi. Có một điều mà họ không nghĩ ra được là tôi rất bận rộn với công việc làm.

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

CHUYẾN VỀ QUÊ NHÀ III

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan Xuân Sinh

CHUYẾN VỀ QUÊ NHÀ

III/. ĐẾN HUẾ.

Mồng 7 Tết, chúng tôi hẹn với anh Đặng Tiến đi chơi Huế. Trên xe của Uyên Hà còn có anh Đặng Tiến,  Phạm Ngọc Lư, Hạ Đình Thao và tôi. Ngày xưa từ Đà Nẵng đi Huế mất 105 km, trong đó phải trèo qua đèo Hải Vân mất 20 km. Bây giờ người ta đào một cái hầm dài 6 km xuyên qua núi, nhờ thế đoạn đường ngắn lại 15 km và không còn nguy hiểm khi phải vượt đèo như thời trước..

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

CHUYẾN VỀ QUÊ NHÀ II

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan Xuân Sinh

CHUYẾN VỀ QUÊ NHÀ

II/ ĐẾN ĐÀ NẴNG.

Tôi về Đà Nẵng bằng máy bay. Phi trường của một thành phố nhỏ, lượng máy bay không nhiều, nhìn chung vẫn còn hoang sơ. Ngồi trên xe  phi trường về nhà, từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác, đường phố Đà Nẵng lạ hoắc, không còn một chút xíu nào trong trí nhớ của tôi. Đây là thành phố mà tôi đã sinh ra và lớn lên, tôi nhớ tên từng con đường, từng góc phố và thậm chí tên những người con gái đẹp cùng thời với tôi dù ở những hang cùng ngỏ hẽm… Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn | Leave a Comment »

CHUYẾN VỀ QUÊ NHÀ I

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Phan xuân Sinh

I/- ĐẾN SÀI GÒN.

11giờ đêm máy bay mới đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt. Ngày cận Tết người về tấp nập, nên khi nhận hành lý và kiểm soát của hải quan phải mất 2 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, sự chậm chạp nầy không làm cho tôi bực mình, mà ngược lại tôi cảm thấy dễ thở và thoải mái hơn cái hồi tôi về lần trước (1993) sau khi Ba tôi mất. Phi trường bây giờ rộng rãi hơn, được tân trang quy mô hơn nhưng có một cái gì đó không ổn dưới dưới con mắt của tôi, không được lộng lẫy bằng phi trường Đại Hàn hay Thái Lan…

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng, Truyện ngắn, Uncategorized | Leave a Comment »

ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 14, 2009

Sau khi lên ngồi phía sau xe taxi, Hiền nói với người tài xế: “Tôi muốn đi tìm nhà người quen ở Thanh Khê. Lâu quá rồi tôi không đến đây nên chỉ còn nhớ mang máng. Từ ngã ba Thanh Khê vào một con hẻm lớn chừng hai trăm thước, rồi lại quẹo phải chừng năm mươi thước, căn nhà đó nằm bên phải. Người bạn tôi tên Lượm, dân cố cựu vùng nầy. Nhờ anh tìm giùm. Anh đừng lo, tôi sẽ bồi dưỡng cho anh hậu hỉ”…

Đọc tiếp »

Posted in Sống với thời quá vãng | 1 Comment »