Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for the ‘Thời Cuộc’ Category

NHÀ THƠ THÀNH TÔN, DƯỚI MẮT TÔI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Hai 23, 2012

 

NHÀ THƠ THÀNH TÔN, DƯỚI MẮT TÔI
Bài viết của Phan Xuân Sinh

Một lần Hạ Đình Thao rủ tôi đi thăm anh Thành Tôn ở Đà Nẵng, thế nhưng khi chúng tôi đến thì anh đi vắng nên không gặp. Bây giờ hỏi tôi lúc đó anh Thành Tôn ở đâu tôi cũng không nhớ ra được, vì quá lâu và hơn nữa chưa thấy mặt anh nên không để lại trong trí nhớ của tôi. Khi còn ở trên Boston nghe tin anh Lâm Chương báo cho biết anh Thàn T6n  vừa mới qua Mỹ theo diện HO hơi muộn màng. Tôi nhớ ngay Hạ Đình Thao có lần nói với tôi anh Thành Tôn là người chậm chạp trong mọi vấn đề, đàn hoàn và chín chắn đến độ như một ông thánh.

Tôi không biết anh đã đọc được gì của tôi sau khi qua Mỹ, thế nhưng khi gặp nhau lần đầu ở Cali anh rất quý và thương tôi. Có lẽ theo tôi nghĩ anh biết tôi không vì văn nghệ, mà vì bạn bè văn nghệ của anh có nói với anh về tôi. Điều thứ nhất tôi là dân Quảng Nam cùng một nòi với anh. Điều thứ hai những người bạn văn nghệ của anh phần nhiều họ đều quen biết tôi. Nên khi chúng tôi gặp nhau cảm thấy thân thiết nhau. Tôi đã đọc của anh những bài thơ trên các báo văn nghệ ở Sài Gòn khi tôi còn ngồi trên ghế nhà trường. Thơ anh nó cũng “đàn hoàn” như con người của anh vậy, tôi thích lắm. Văn phong của anh chửng chạc nhưng đượm chất bay bướm, vượt thoát ra khỏi những gò bó, khuôn mẫu. Như người con gái ngám ngầm che dấu những tinh tế và luyến  thoắn một cách kín đáo.

Một lần nhà thơ Thái Tú Hạp tổ chức một buổi ra mắt sách tại Santa Ana gồm các tác giả từ xa: Lân Chương, Hoàng Lộc, Đức Phổ và tôi. Đó là lần tôi gặp anh Thành Tôn đầu tiên và sau nầy khi đến Nam Cali tôi là người làm phiền anh nhiều nhất. Anh biết tôi không có xe nên đi đâu anh cũng đến chở thăm người nầy, thăm người kia và cũng nhờ anh một phần tôi mới có dịp đến thăm các bậc văn nghệ đàn anh. Một lần tôi nghe anh nói với anh Nguyễn Mạnh Trinh là anh photocopy những bài thơ rãi rác của Nguyễn Mạnh Trinh mà anh có dịp đọc qua. Hành động nầy làm cho anh Nguyễn Mạnh Trinh xúc động. Và cũng vì hành động nầy tôi được học của anh cung cách trân quý thi ca và tôn trọng chữ nghĩa. Một hành động mà tôi rất thán phục. Cũng qua anh tôi gặp được chị Trinh vợ anh, một người đàn bà mẫu mực, hiền thục, đảm đan…nghĩa là một người rất hoàn toàn . Bao giờ qua Cali chị cũng đãi tôi một chầu các món Quảng Nam chị tự tay làm lấy. Cái quý mến bạn bè văn nghệ của anh đã đành lại truyền sang chị. Đó là một cặp vợ chồng hoàn hảo nhất đối với anh em.

Tôi nhớ Hạ Đình Thao khi ra trường Thủ Đức được đổi vào Quảng Tín. Tụi tôi gặp nhau uống cà phê trước khi ra đơn vị. Tôi nói với Thao nghe nói anh Thành Tôn làm bí thư cho đại tá Hoàng Đình Thọ Tiểu Khu Trưởng Quảng Tín, Mầy thân với anh Thành Tôn nhờ ảnh nói với ông Thọ một tiếng để ấm thân chút đỉnh. Nó trả lời với tôi là không được đâu, anh Thành Tôn rất ngại những chuyện nầy đừng làm khó ảnh tôi nghiệp. Chính lúc đó tôi mới biết cái tính ngay thẳng của anh Thành Tôn, ngồi một cái nơi dễ dàng tham nhũng, sống giữa một đám tham nhũng có hệ thống mà anh không một chút hệ lụy với nó. Như vậy đủ biết con người của anh như thế nào còn hơn một vị Bồ Tát.

Tôi với Đức Phổ tới Nam Cali thường ngủ ở Little Saigon Inn cho dễ dàng gặp anh em. Buổi sáng thường thường anh Thàn Tôn đến chở tụi tôi đi uống cà phê. Sáng tắm rửa xong, chờ anh Thành Tôn tới cùng đi với anh, chờ mãi không thấy ai gỏ cửa, cửa đóng vì có máy lạnh. Tôi mở cửa dòm thử thì đã thấy anh ngồi trước cửa phòng chờ cả tiếng đồng hồ mà không chịu gỏ cửa. Hỏi anh vì sao không gỏ cửa, anh bảo là để các bạn ngủ mình chờ không sao. Con người của anh sợ làm phiền người khác, còn mình thì thiệt thòi mấy cũng được. Anh quả đúng là người rất dễ thương trên mọi phương diện.

Nói về con người của anh Thành Tôn bao nhiêu lời cũng không đủ, bao nhiêu chữ cũng còn thiếu. Trong một bài thơ dành cho bạn bè, khi nói về  anh Thành Tôn, tôi viết:

“bao năm qua nhìn anh vẫn vậy
một mẫu người chừng mực của thế gian
anh mang tấm lòng hiền như Phật
một đời ta ao ước cũng không màng”.

Tôi không phải là bạn bè của anh. Về tuổi tác cũng như trong sinh hoạt văn nghệ, tôi chỉ là một đứa em còn rất nhiều thói hư tật xấu, thế nhưng anh đối với tôi như bát nước đầy. Sự thân tình của anh dành cho tôi đó là một điều tôi phải luôn luôn ghi nhớ và xem anh như là một tấm gương về nhân cách cũng như ứng xử, để tôi phải tự coi lại mình và lấy đó làm chuẩn mực cho việc xử thế trong cuộc sống./

Houston, 20 tháng 2 năm 2012

Advertisements

Posted in Thời Cuộc | Leave a Comment »

MỘT GÓC NHÌN VỀ ĐẤT NƯỚC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 22, 2011

 MỘT GÓC NHÌN VỀ ĐẤT NƯỚC    

*Phan Xuân Sinh

(Bài viết nầy tôi viết vào tháng 4/2010.  Bây giờ sắp đến 30/4/2011, tôi xin đăng lại trên đây để bạn đọc cùng suy ngẫm. Sau 36 năm hòa binh đất nước vẫn còn nhiều khao khát. Người tranh đấu nổi bậc về dân chủ, TS Cù Huy Hà Vũ đã bị guồng máy Chính Quyền trong nước cố tình nghiền nát bằng những thủ đoạn đê hèn, bất chấp sự can thiệp của thế giới. Đứng bên ngoài đất nước, những người quan tâm đến sự sống còn của dân tộc phải tức tưởi lên tiếng. Bài nầy xem như một sự lên tiếng. Trân trọng)

Mới đó đã ba mươi lăm năm rồi (1975 – 2010). Một chặng đường trải qua bao nhiêu biến đổi, một khúc quanh của lịch sử, một bức tường lòng (cách nói của Tưởng Năng Tiến) dựng lên ngăn chia giữa người và người đã kéo dài từ đó tới nay. Hàng triệu người rạng rở và ngược lại cũng có hàng triệu người đau khổ (như ông Võ văn Kiệt từng nói). Như vậy thực sự hòa bình có đến không? Đó là một câu hỏi tự đáy lòng của những ai còn quan tâm tới đất nước. Chiến tranh không có chiến trường thực sự trên đất nước, nhưng đôi bên vẫn lập nên những chiến tuyến kiên cố, nả “đại pháo” điên cuồng vào niềm tin của dân tộc, hủy diệt ước mơ của toàn dân khao khát. Công tội do ai? Vì ai? Cho đến bây giờ vẫn còn quá sớm để toàn dân luận bàn chuyện nầy, lịch sử lại càng câm lặng không dám hở môi. Người thắng trận thì hiu hiu tự đắc, dùng những đòn thù phủ lên đầu người thua trận, dành lấy quyền xây dựng đất nước mà thực sự phải trên tay của toàn dân, thì ưu tiên xây dựng chổ ngồi vững chắc cho bè phái. Trừng trị thẳng tay những ai còn léng phéng đụng vào “dân chủ”.  Dân chủ phải do nhà cầm quyền ban bố, phân phát, được chừng nào hay chừng đó chứ dân chúng không có quyền đòi hỏi, ai mà lên tiếng thì cho đó là những “thế lực thù nghịch” đánh phá, hoặc những kẻ muốn “lật đổ chính quyền” phải trừng trị ngay. Những tiếng nói lương tâm tức tưởi tắt nghẻn.

Còn phe thua trận thì sao? Gầm gừ uất ức, chưởi bới, mắng mỏ.  Ba mươi lăm năm nay vẫn sao y bổn cũ, kêu gọi biểu tình hò hét liên miêng. Có nhiều người cho chuyện nầy chỉ “gải ngứa” không thấm vào đâu. Thế nhưng nghĩ cho cùng, không có chuyện nầy thì chắc những thành phần như ông Luật Sư Nguyễn Hữu Liêm không cần phải về dự “Đại Hội Việt Kiều” để được hát “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng…” , mà ông sẽ dõng dạt hát to trên đường phố Bolsa, trung tâm điểm của người tỵ nạn một cách nghênh ngang. Không có những người chống cộng kiểu nầy thì vợ chồng Tiến Sĩ Trần Thanh Vân cần gì phải về trong nước mới nhận lãnh bằng khen, bằng thưởng. Lập ngay một khán đài giữa Paris, giữa mắt những người tỵ nạn để vợ chồng ông lên lãnh các thứ nầy hiên ngang, do tòa đại sứ Việt Nam tại Pháp trao cho, không phải sợ ai cả. Như vậy, người thua trận cũng biết vận dụng “có gì dùng gì, có nấy dùng nấy” (kiểu nói của Lý Đợi) để ngăn chận những thành phần điên rồ, thích làm nổi. Biết đâu cái lợi thế nhỏ nhoi của người thua trận, đã tạo nên chướng ngại cho các nhà lãnh đạo trong nước khi viếng thăm nước Mỹ phải dè chừng, phải tránh né, phải tự coi lại việc làm của mình (cho đến bây giờ họ chẳng thèm coi lại làm gì cho mất công, cứ đàn áp thẳng tay là chắc ăn nhất). Thì cần gì phải có súng đạn, có công an, vẫn tạo nên được một sức mạnh, không làm lộn nhào chế độ trong nước, nhưng cũng góp phần gây rắc rối nhà cầm quyền trong nước không ít,và cũng xoa dịu được tự ái thua thiệt.

Trước đây có một cán bộ trong nước qua Mỹ du lịch, gặp tôi họ hỏi ngay: “Sao những người biểu tình có vẻ hung dữ quá?”. Đó là người lớn lên từ miền Bắc, ông ấy chưa bao giờ nhìn thấy cảnh biểu tình tự phát của dân chúng, mà chỉ thấy biểu tình do nhà nước huy động. Tôi hỏi lại ông ấy : “Ông thấy có hung dữ bằng biểu tình tố cáo địa chủ của cải cách ruộng đất trước đây không?”. Ông ta ú ớ. Tôi giải thích cho ông ấy biết rằng, những người biểu tình như vậy vẫn còn hiền hòa, không gây hại cho ai, không đụng chạm đến người khác. Họ là những người phần đông bị tù tôi, bị đối xử tồi tệ, bị gia đình tan nát bởi chế độ trong nước gây ra. Thể hiện lòng căm thù bằng biểu tình như vậy thì cũng không có gì quá lắm. Gây rối loạn, mất trật tự công cộng là cảnh sát Mỹ can thiệp ngay, chứ đừng nói gì đến chuyện đụng chạm người khác. Ở trên đất nước tự do ai cũng có quyền thể hiện chính kiến của mình, những chính kiến có vẻ ngược ngạo như trường hợp ông luật sư Nguyễn Hữu Liêm thì cũng chẳng có ai dám đụng vào sợi lông chân của ông, chỉ hơi bị búa rìu dư luận phang tới tấp cho vui vậy thôi. Ông ấy vẫn ung dung rung đùi và cũng có thể cười nhạo báng “làm gì được tau”.

Trong lúc đó ở trong nước, những người cũng bày tỏ chính kiến của mình thì họ được lao tù đón tiếp nồng hậu, chăm sóc kỷ càng (khi tôi viết bài nầy thì tòa án trong nước đã xử xong bốn nhà tranh đấu dân chủ, với một tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền” mà trong tay của họ chẳng có một thanh sắt). Còn những người khác như Điếu Cày, Trần Khải Thanh Thủy, tiếng nói của họ liệm tắt ngay bởi những tội danh trốn thuế, lường gạt, ấu đả v.v..không ăn nhập gì đến hoạt động cao quý của họ. Không có tội danh chính trị, chỉ có tội về hình sự. Thú thật chính quyền nghĩ ra các tội danh nầy thì quá sức “độc địa” không ai ngờ tới. Thế nhưng sao thấy nó hạ cấp quá, một chính quyền như vậy thì làm sao kham nổi những “chuyện lớn”. Hải ngoại biểu tình, các nước trên thế giới lên án, can thiệp. Tất cả dưới mắt nhà cầm quyền trong nước đó chỉ là các “thế lực thù nghịch” không cần đếm xỉa tới, cứ kêu gào, cứ đòi hỏi, không ăn nhập gì tới họ.  Có nước nào gay gắt mà buộc lòng phải trả lời thì họ lên tiếng “xen vào nội bộ của Việt Nam” hoặc “nhân quyền của Việt Nam khác với nhân quyền của các nước khác” , đại loại như vậy. Chúng ta đã nghe luận điệu nầy lặp đi lặp lại, không tỏ thái độ đáp ứng. Đường ta ta cứ đi, ai cản lại phải lập tức nghiền nát chúng. Phải công nhận rằng các nhà tranh đấu dân chủ tại Việt Nam rất dũng cảm, chống chọi với một chính quyền chẳng coi ai ra gì, chẳng cần tới ai, bất chấp dư luận. Chỉ cần đạt được mục đích bằng bất cứ giá nào. Tiếng kêu than của toàn dân xem như đồ bỏ. Tranh đấu như vậy chỉ thiệt thân, chỉ còn héo hon trong nhà tù. Họ đúng là những con người bất khuất.

Hòa bình thực sự đã được 35 năm, nhưng hai phe lâm chiến vẫn còn kình chống nhau quyết liệt. Có thể nói một mất một còn. Ai thiệt thân? Chỉ có đồng bào trong nước lãnh đủ. Thế thì chính quyền phải tìm mọi cách để hàn gắn lại, chẳng lẽ cứ để mãi tình trạng như thế nầy sao? Người ta chỉ lo cho chiếc ghế đang ngồi, lo cho tập đoàn vững mạnh, để đè bẹp ngay những kẻ đụng tới “chỗ nhạy cảm” của chính quyền. Lãnh vực nào cũng có kẽ hở, nhưng lãnh vực đàn áp thì không có ai thoát được dù đó là đảng viên.

Chỉ cần một lời xin lỗi của ông Nguyễn Minh Triết (như trong bài viết của anh Tiêu Dao Bảo Cự trên Talawas “Thư gửi Nguyễn Hữu Liêm”) thì ông Triết có thể sẽ nắm được dân Việt ở Bolsa. (Thực tế chuyện nầy cũng chưa chắc), thế nhưng dù sao cũng thể hiện sự hiểu biết, sự bao dung. Thế nhưng làm sao có được chuyện nầy khi mà kẻ chiến thắng luôn luôn đứng phía trện không thể cúi xuống được. Một đường lối “kẻ cả” qua bao nhiêu đời vẫn không thay đổi, cho đến bây giờ vẫn tự hào Mac- Le vô địch, không thua ai. Miệng thì nói vậy nhưng toàn bộ đất nước chạy theo tư bản, ì à ì ạch kéo theo cái rờ-mót  Chủ Nghĩa Xã Hội một cách nặng nề, không đành lòng vứt bỏ được. Ông Chủ tịch nước mới đây đến Cuba trong bài nói chuyện, ông ví von đất nước mình là tên công an (hay lính gì đó) canh gác hòa binh thế giới, nghe qua đủ khiếp. Trong lúc đó cái hòa bình nhỏ nhoi của dân tộc chưa giải quyết xong, vẫn còn dây dưa 35 năm rồi không có tiến triển đoàn kết dân tộc. Thế mà vương cánh tay dài ra ôm đồm cả thế giới. Nghĩ cũng lạ thật.

Người dân hải ngoại cũng như trong nước cầu mong đất nước thay đổi theo đường lối dân chủ, để đôi bên sáp lại gần nhau, không còn nói tới chuyện hận thù, chia rẻ. Nhưng chờ dài cổ, tan nát cả cuộc đời vẫn chưa thấy một chút ánh sáng về chuyện nầy le lói. Biết tới bao giờ nó mới trở thành sự thật? Không ai biết được. Các nhà lãnh đạo Việt Nam họ hiểu một cách tường tận về lòng mong muốn của toàn dân. Nhưng nếu họ thay đổi thì sụp đổ tất cả, kéo theo biết bao nhiêu hệ lụy và ngay cả chính họ cũng chưa chắc được an toàn. Cho nên người nầy níu chân người kia tạo thành một bức tường kiên cố, quyết tâm bảo vệ. Họ coi nhẹ cái chuyện dân tộc hay đất bước. Nếu các thứ nầy phải hy sinh để cho họ tồn tại thì họ sẵn sàng chấp nhận.

Mới đây lại thêm một trò chơi mới (rập khuôn theo Trung Quốc) ra đời: “Tin Tặc”. Cho đến bây giờ không ai tự nhận những tên tin tặc do mình cầm đầu, thế nhưng người Việt dùng internet khắp thế giới đều khẳng định chắc chắn tin tặc do một bộ phận của nhà nước cầm đầu, để phá vỡ những website dám đụng vào chỗ nhạy cảm của chính quyền trong nước. Việc làm phạm pháp tày trời nầy họ dám làm, dám nghĩ ra, thì họ không từ nan những chuyện đê hèn khác mà họ đã áp dụng trên đầu dân chúng. Một đất nước được điều khiển với những khối óc nhỏ nhen như vậy thì làm sao dân chúng khá nổi. Ăn rồi chỉ lo nghĩ tới chuyện trừng trị, phá đám thì làm sao xây dựng một đất nước văn minh cho được.

Đất nước ta rơi vào cái bất hạnh nầy mà không cách nào dứt phăng ra được. Phải có một đấng cứu thế như Mikhail Gorbachev, như một tổ chức công đoàn Đoàn Kết thì họa may mới cứu vãng được. Chỉ còn biết trông chờ và cầu nguyện. Hết lớp nầy tới lớp khác bước lên cầm quyền cũng lăn trên vết xe cũ. Hết đại hội đảng nầy, đến đại hội đảng khác cũng chẳng thấy thay đổi. Đến khi hết cầm quyền thì mới bày đặt chỉ trích nọ kia, để cho người dân biết rằng mình có tâm huyết gióng lên tiếng nói của dân. Lúc đó dù có mang phèn la đến đánh vào tai những ông có chức quyền thì họ cũng giạt pheng ông ra, chằng thèm nghe đâu. Trước đây ông Phan văn Khải có thèm nghe ông Võ văn Kiệt? Và bây giờ ông đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết bao nhiêu kiến nghị ngăn cản khai thác bau-xit, họ vẫn cứ làm. Xem như những tiếng nói của quý ông như một lủ già điên rồ, không cần phải để ý. Ông Nguyễn Hữu Liêm lấy tư cách gì khẳng định sau kỳ đại hội đảng sẽ thấy thay đổi? Ông đâu có phải Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng? Hay ông chỉ tưởng tượng cũng như những người dân trong nước mỗi lần có một sự cố thay đổi, họ ngóng cổ trông chờ. Nhưng mọi chuyện không hề thay đổi. Sống ở nước ngoài quá lâu, ông Liêm không mang tâm trạng “trông chờ” như những người trong nước. 35 năm rồi những khao khát của con người đã hóa đá, thế nhưng mọi thứ vẫn y sì.

Người dân Việt Nam đi suốt quảng đường một cách nhọc nhằng, nhiều rủi ro. Không có một cuộc chọn lựa trong cuộc sống, răm rắp tuân theo như một trại lính. Ba hồi Trung Quốc là anh em “môi hở răng lạnh”, thì người dân cũng nói theo “răng lạnh môi hở”. Ba hồi Trung Quốc là bọn “bành trướng Bắc kinh”, thì người dân cũng riu ríu “Bắc Kinh bành trướng”. Nhiều trò, nhiều kiểu, người dân ngao ngán quá. Họ tập cho con người ăn nói như vẹt, ai nói ngược lại thì búa rìu bổ lên đầu ngay. Ông Nguyễn Hữu Liêm có ăn nói ngược ngạo với những người tỵ nạn, thì cũng chẳng có ai làm gì được ông, cho nên ông tha hồ chọc giận. Ông không bị hình phạt, nhưng ông bị người đời chê cười cho cái ngớ ngẫn của ông. Người trí thức mà lãnh những gáo nước lạnh nầy nghĩ cũng buồn thật. Dù là người bình tỉnh nhất còn thấy chướng tai với những lập luận triết học ngô nghê như vậy, thì người không bình tỉnh phẩn nộ tới chừng nào.

Nhìn lại từ 1975 tới nay, ta chỉ thấy đường phố đông hơn, nhà cửa xây dựng nhiều hơn, đời sống dân chúng có đổi khác, có tiến bộ. Phải biết bây giờ đã 35 năm rồi, những gặt hái nho nhoi như vậy không đáng kể, so với tiến hóa chóng mặt của thế giới. Mức độ chênh lệch giữa thôn quê và thành thị quá xa, thu nhập của cán bộ và người dân quá khác biệt. Tham nhũng hoành hành lộng trời. Đất cát của người dân bị chiếm đoạt oan ức. Tôn giáo thì Tam Tòa, Bát Nhã thẳng tay trừng trị. Nhà nước dùng những phương tiện hạ cấp, côn đồ đối với những thành phần chống đối như nếm phân vào nhà, du đảng đành đập, đụng xe đến chết. Nghĩa là trên thế giới chưa có một chính phủ nào dùng những thủ đoạn đê hèn như vậy. Thế thì chúng ta trông chờ những gì? Khi mà nhà cầm quyền thanh toán nhân dân như là băng đảng, tồi tệ đến mức như vậy, thì chúng ta không thể trông chờ họ có thể đưa đất nước đến chỗ cực thịnh được.

Con đường bế tắc thế nhưng vẫn cứ đi. Chỉ có người dân kham khổ, những quyền lợi bị tước đoạt. Hé môi than vãn là mang tội chống đối nhà nước, sẽ lãnh những hình phạt nặng nề. Phần đông dân chúng phải cúi đầu. Bánh xe cứ lăn trên đường, sẳn sàng nghiền nát những chướng ngại. Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Tiến Trung và thêm ai nữa thì cũng sẽ bị dạt qua hai bên đường để nhà cầm quyền thênh thang cất bước. Trong giới lãnh đạo ai cũng giàu sụ, nhà cao cửa rông, cho nên không ai dám thay đổi. Ai cũng bảo vệ chế độ một cách nghiêm ngặt, bảo vệ chiếc ghế vững chắc dù họ biết việc họ làm trái với ý dân. Nếu thuận với lòng dân  thì họ sẽ mất trắng, không vinh thân phì da được. Từ trên xuống dưới quyết bảo vệ cái thành trì nầy cho đến chết. Như vậy 35 năm nay đứng về mặt nhận thức chẳng có gì thay đổi cả./

Houston, tháng 04 năm 2010

Posted in Thời Cuộc | Leave a Comment »

LỤC LẠI MỘT CHÚT HỒI ỨC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 15, 2010

Phan Xuân Sinh – Lục lại một chút hồi ức
15/04/2010 | 12:47 sáng | 1 phản hồi
Tác giả: Phan Xuân Sinh
Chuyên mục: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975
Thẻ: hồi ức về 30.4.1975

Sáng 30-4-75, tôi dựng xe honda ở bờ sông Sài Gòn, đứng nhìn chiếc tàu hải quân của VNCH cuối cùng rời bến. Người ta bỏ lại xe hơi, xe honda, xuống tàu thong thả như một chuyến du lịch. Trong đầu tôi không có một chút xíu nào nghĩ rằng đó là lần họ vĩnh viễn rời đất nước. Thế nhưng không hiểu sao tôi lại đứng như trời trồng, không theo họ. Làm một cuộc viễn du cũng thích thú lắm chứ. Nếu như đất nước sau nầy tốt, đối xử tử tế thì mình lại trở về, có sao đâu. Cái ân hận nầy làm cho tôi ray rứt mãi, nhất là những ngày đói khát, thất tha thất thểu ở Sài gòn… Những đêm tập trung “ngụy quân, ngụy quyền” ra phường hội họp, ngồi dưới đất nghe người thắng trận trong rừng mới ra, mang dép râu, đội nón tai bèo, xối xả chửi vào mặt người ngồi nghe là thứ bán nước, theo chân đế quốc, “ngụy” tặc. Thấm đau cho cái ngu si không biết chọn lựa của mình, để bây giờ phải lỡ khóc lỡ cười.

Tôi lên xe honda chạy qua Khánh Hội, người ta đang mở kho vơ vét. Tôi dừng xe ngồi nhìn. Một tay thuộc loại “anh chị” khiêng bao gạo 50 kí-lô trên vai hỏi tôi có cần mua không? Tôi gật đầu. Anh ta ném bao gạo trên yên sau xe honda của tôi, không cần biết tôi đưa bao nhiêu tiền, anh trở vào kho vác bao khác ra ngoài, đứng dáo dác không có ai mua, anh cho tôi thêm một bao nữa để phía trước xe mà không lấy tiền thêm. Cửa kho mở rộng, ai muốn vào lấy cũng được, tội gì phải bỏ tiền ra mua. Tôi chạy xe về nhà người bạn tôi đang ở nhờ. Yên tâm trong bụng không sợ đói. Tôi chạy qua lại tìm mua một thùng nước mắm, hàng “hôi của” nên trả bao nhiêu tiền cũng được. Như vậy, tôi vững bụng không còn sợ thiếu ăn trong những ngày sắp tới, trong những ngày tranh tối tranh sáng, vô chính phủ.

Về nhà mua một lít đế, mấy miếng khô cá, tôi và thằng bạn vừa nhâm nhi, vừa mở radio nghe ông Dương Văn Minh đọc diễn văn bàn giao đất nước lại cho người thắng trận. Xem như hạ màn một cách nhanh chóng, chế độ Miền Nam cáo chung, nhường sân khấu cho cộng sản điều hành đất nước. Hòa bình mà toàn dân khao khát đang thực sự “hiện thực”. Thế nhưng lòng người tan hoang, những chính sách sắt máu ụp trên đầu dân chúng. Đốt sách, cải tạo, đánh tư sản mại bản, đổi tiền v.v… toàn những món dân Miền Nam không thể nuốt trôi, ói ra máu.

Đường phố áo quần lính chất đống, người người đi trên phố khuôn mặt ngơ ngác, không ai biết được mình sẽ đi về đâu. Mấy người trai trẻ hàng xóm mà tôi biết là những người lính Miền Nam, đi ngang qua nhà nhập vào uống rượu với tụi tôi. Hết lít nầy họ chạy đi mua lít khác. Tụi tôi ngồi nhậu tới chiều. Một bữa nhậu mà không có một tiếng nói to, âm thầm uống, hồn ai nấy giữ. Xong cuộc nhậu tự động ra về, chỉ chào nhau bằng cái gật đầu nhè nhẹ. Tôi thấy mọi người đều “xanh mặt”, mệt mỏi, lo sợ, như chờ đợi một cái gì không may ụp trên đầu mình.

Ngày hôm sau, có những người mang băng đỏ trên tay xuất hiện trong xóm và điều khiển xe cộ trên đường phố. Trong xóm tôi ở đường Minh Mạng, Phú Nhuận, có một ông ca sĩ nổi tiếng Sài Gòn, lái chiếc xe jeep của người anh trước đây là trung tá của Miền Nam đi Mỹ để lại, trên xe ông và những người mang băng đỏ chạy khắp Phú Nhuận, hò hét như các tay “cách mạng” thứ thiệt. Có lẽ thời điểm nầy tôi đã chứng kiến biết bao khuôn mặt tráo trở, họ không có một chút xíu ngượng ngùng, tiếp tay chỉ điểm, đắc lực làm tay sai. Quả thật, tụi tôi hồi đó không sợ những người cộng sản, mà sợ những thành phần nầy, họ làm bất cứ việc gì để lấy điểm. Nên tụi tôi thấy họ phải lo tránh xa. Không loại trừ thành phần nào trong xã hội Miền Nam, đâu cũng có thứ nầy. Qua Mỹ lại thấy ông ca sĩ nầy mặc đồ lính rằn ri hát những bài ca của lính. Họ thay đổi còn hơn tắc kè. Đúng là cuộc sống đầy những nhiễu nhương.

Bây giờ kể lại những chuyện nầy như kể chuyện đời xưa, nghe lại thấy tức cười. Tội nghiệp cho những con người yếu đuối, vì tìm một chỗ yên thân mà họ phải táng tận lương tâm, làm những chuyện ruồi bu. Mấy ông có người thân đi tập kết về thì dựa hơi, bắt nạt người khác, hoặc to tiếng khẳng định lập trường của mình. Trong lúc chưa có người thì người ta để yên, mượn tay các ông để răn đe người khác. Khi có đầy đủ nhân sự thì cho các ông “chầu rìa”. Lúc đó các ông mới biết cái “lố bịch” của mình đối xử với anh em thì đã muộn. Có người phải tránh mặt anh em vì khi gặp nhau ngượng ngùng mắc cỡ. Có người bắt đầu ngồi quán café chửi đổng vì bị thất sủng.

Có lẽ trong buổi giao thời, tranh tối tranh sáng, mình mới thấy được những bộ mặt “ghê tởm” nầy xuất hiện. Họ như những tên hề đứng trên sân khấu múa may mà không biết trơ trẽn, lớn tiếng chỉ trích anh em có chút máu “ngụy”, như một tay cách mạng chính hiệu. Cái trò chỉ điểm, tố cáo để kiếm điểm, tìm một chút địa vị, lúc ấy thật đáng sợ, anh em thiêm thiếp chịu trận, không dám hé răng. Cái bối cảnh lúc ấy thật nhố nhăng, thật sắt máu, nghi kỵ lẫn nhau, chà đạp nhau để vươn lên. Những người lập công cho “cách mạng” kiểu nầy dần dần bị đào thải, anh em thì xa lánh. Họ thui thủi như một bóng ma. Cho đến bây giờ thời gian quá lâu, mọi chuyện đã phôi pha, trong lòng mọi người không ai muốn nhớ lại.

Những năm đầu “giải phóng” người Miền Nam không ai ra được Miền Bắc để trông thấy ngoài ấy ra sao. Tôi có một thằng bạn thuộc “gia đình cách mạng”, muốn đi một chuyến ra Bắc, thế nhưng phải năm lần bảy lượt mới đi được, phải cỡ thứ trưởng bảo lãnh mới được cấp giấy cho đi. Sau khi trở về hỏi gì nó cũng không nói chỉ lắc đầu. Một bữa tôi với nó đi uống café, nó nói nhỏ vào tai tôi là trước khi nhận giấy ra Bắc, người ta dặn không được nói với ai về cuộc sống ngoài đó, nên nó không dám nói chuyện nầy với ai. Sau mấy đêm suy nghĩ, nó tự thấy như vậy là không đúng, tại sao không nói cho thiên hạ biết “chiếc nôi” của chủ nghĩa xã hội, cái thiên đường đã đánh đổ Miền Nam để cả nước cùng tiến lên. Nó không thể nào tưởng tượng Miền Bắc nghèo đói và lạc hậu đến thế. Phố xá cũ kỹ dơ bẩn, ngoài đường áo quần chỉ mỗi một màu ô-liu, thỉnh thoảng mới thấy màu xanh đậm, hình như cho công nhân, họa hoằn lắm mới thấy chiếc áo trắng, còn xe đạp bạt ngàn, không thấy có một chiếc xe gắn máy nào, nếu có thì chắc từ Miền Nam mang ra. Hà Nội dưới mắt nó sao thấy thảm thương quá chừng. Sau đó nó nói với tôi bằng giọng mỉa mai, “Tiến lên xã hội chủ nghĩa như vậy đủ rồi, còn tiến mạnh tiến nhanh thì chắc chết quá mầy ơi”.

Mười năm sau (1985), tôi có việc phải ra Miền Bắc vì mấy cái hợp đồng với thương nghiệp ngoài đó. Tôi đứng giữa Hà Nội mà lòng thấy se thắt. Mấy chục năm, người dân “văn vật” chịu đựng một cách dai dẳng mà không nổi loạn nghĩ cũng lạ thật. Áo quần nghèo nàn nhưng con gái Hà Nội mặt mày sáng chưng, phần đông đẹp hơn các thành phố trong Nam. Dưới con mắt tôi, cái thanh lịch chỉ còn lại trên nét mặt của người con gái Hà Nội, còn bao nhiêu cái khác, sau ba mươi năm xã hội chủ nghĩa đã tẩy sạch hết, tiêu tan hết.

Mấy năm trước đây, tôi gặp nhiều văn nghệ sĩ Hà Nội qua Boston theo chương trình của William Joiner. Trong lúc trà dư tửu hậu, tôi có nói với họ về chuyện ra Miền Bắc của tôi năm 1985. Họ đều cười và nói với tôi rằng có dịp bây giờ nên ra Miền Bắc một chuyến, mọi thứ đều thay đổi một cách chóng mặt. Cái chính sách xã hội chủ nghĩa chỉ còn trên lý thuyết, người dân bây giờ giàu có, không còn tiến nhanh tiến mạnh như khi xưa, mà họ chạy đua theo kịp đà tiến hóa của tư bản. Đó là một bước tiến đáng mừng cho dân chúng, để họ được hưởng những tiện nghi, những phúc lợi mà thế giới đã giành được qua những phát minh phụng sự cho con người. Đứng trên phương diện nhân bản, thật đáng mừng cho những mảnh đời tưởng rằng sẽ sống trong tăm tối mãi mãi. Bây giờ ấm no hơn, thoải mái hơn, tuy nhiên vẫn còn bị những rào cản về tự do, dân chủ còn bị siết chặt.

Tôi có dịp lên Thái Nguyên, nhìn những cánh đồng chè bạt ngàn, những người hái chè buổi sáng sớm trong sương mù thật tội nghiệp. Đồng lương công nhân của công ty chè quốc doanh không bao nhiêu, mà phải chịu cực khổ một cách nặng nề. Tôi cũng có dịp đi Quảng Ninh, trông thấy công nhân mỏ than lam lũ trong hầm mỏ. Không biết những nhà lãnh đạo của giai cấp nầy trước đây có giống như anh chị em công nhân, mặt mày lấm lem, sống trong điều kiện kham khổ như vậy không. Chứ khi ấy nhìn họ thấy không khá nổi. Còn nhiều cảnh thật tang thương cho một chế độ xã hội chủ nghĩa mà họ ca tụng như là thiên đường. Thú thật tôi vỡ mộng.

Trước đây tôi không tin những gì mà bộ máy tuyên truyền của Miền Nam nói về Miền Bắc. Tôi không tin những tác phẩm của Xuân Vũ nói về chế độ Miền Bắc. Tôi cho đây chỉ là những tuyên truyền rẻ tiền để hạ nhau, chứ thực tế không đến nỗi như vậy. Sau khi ra Hà Nội, tận mắt nhìn thấy đời sống dân chúng, chứng kiến cảnh làm việc, nhìn thấy sinh hoạt của người dân từ nông thôn đến thành thị, thấy trật tự xã hội bị đổ nhào, đạo đức văn hóa không ai cần phải giữ gìn, những cảnh trắng trợn không ai cảm thấy xấu hổ. Tàu hỏa và xe buýt là nơi bọn đầu trộm đuôi cướp hoành hành mà cơ quan công lực không làm gì được. Dân chúng bị hà hiếp không biết kêu than nơi đâu. Phải công nhận người dân Miền Bắc gặp cảnh tai trời ách nước cay nghiệt, mà họ không hề phản kháng, chỉ cắn răng chịu đựng. Mà phản ứng làm gì được khi bao tử đói meo, chỉ lo mỗi cái ăn chưa xong, hơi đâu ôm đồm chuyện khác.

Xe chạy đến huyện Kỳ Anh (tôi không nhớ thuộc tỉnh nào vì lâu quá, hình như là Hà Tĩnh). Chúng tôi vào một quán cơm bên đường, người con gái bán cơm rất đẹp, nói giọng Hà Nội. Tôi nghĩ giữa nơi đồng không mông quạnh, lại có người nho nhã, ăn nói lễ phép và đồ ăn rất ngon. Trong lúc đó ngay tại Hà Nội chưa có quán ăn nào vừa ý. Tôi xin nói thêm chỗ nầy, Hà Nội lúc đó tìm một quán café cũng rất khó. Đi ăn phở phải xếp hàng và trả tiền trước. Đặc biệt, khi chúng tôi xếp hàng thì người giữ trật tự mời vào ngồi bàn trước, ăn xong mới trả tiền (ưu tiên cho dân Miền Nam). Tôi hỏi người thu tiền tại sao chúng tôi được đặc ân như vậy. Thì họ trả lời là phải thu tiền trước để biết khách muốn ăn bát phở giá bao nhiêu, thì làm đúng với giá tiền, nếu không họ chỉ trả ít hơn thì mình không biết phải làm sao, hoặc ăn xong không trả tiền rồi bỏ chạy. Còn các anh ở Miền Nam đã quen với cái lối trả tiền sau, các anh nhắm mình có đủ tiền mới vào quán và nếu có bỏ chạy thì các anh không biết đường nào mà chạy thoát được. Vì vậy chúng em phải tiếp các anh như ở Sài Gòn vậy. Chính quyền cách mạng xem tụi tôi như một thứ ghẻ lở, nhưng bà con Miền Bắc thì lại xem tụi tôi rất thân tình. Sau khi ăn xong, tôi hỏi về gia đình. Giọng nói của cô gái khác với những người chung quanh. Cô cho biết cha mẹ cô là dân Hà Nội chính gốc, sau 54 bị tịch thu nhà cửa và đi kinh tế mới nên phải trôi giạt vào đây. Cô hiện thời là sinh viên, cuối tuần phải về để giúp đỡ cha mẹ bán cơm. Nhìn hình ảnh của cô, tôi liên tưởng đến những bà con ở Sài Gòn đi kinh tế mới. Chắc chắn họ không được may mắn như gia đình cô hiện thời, cái gốc Sài Gòn của họ rồi cũng sẽ mất. Nhà to cửa lớn của họ đã được các “quan cách mạng tiếp thu”, đổi chủ một cách hà khắc.

Chưa có một cuộc sống nào người dân phải chịu đựng oan ức như trong thời “giải phóng”. Tôi nhìn ra cánh đồng xa xa, thấy những chiếc áo tơi (chầm bằng lá buông mà vào khoảng thập niên 60 không còn thấy xuất hiện tại Miền Nam), nhấp nhô trên đồng ruộng. Tôi hỏi cô gái trời nắng như vậy mà tại sao phải mặc áo tơi. Cô ta cho biết, làm gì có áo mặc để làm ruộng, họ mặc áo tơi để thay cho áo vải. Nhìn qua cánh đồng khác tôi thấy người kéo cày thay cho trâu bò. Lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy cái cảnh thân hình thiếu ăn ốm o, choàng sợi dây trên vai kéo cái cày, có một đứa bé đứng phía trên, thật tội nghiệp. Những năm của Miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã gặt hái những gì tốt hơn cho người dân? Cái cảnh trông thấy trước mắt mà tôi có dịp ra Miền Bắc, cho tôi một bài học là phải bằng mọi cách tìm đường ra nước ngoài, nếu không thì quá trễ, và viễn ảnh cho thấy cuộc đời sẽ khốn nạn, thê thảm, bần cùng như bà con ruột thịt Miền Bắc đang gánh chịu.
Một chuyện buồn cười. Xe của chúng tôi tới Bến Thủy, chờ lên phà để về lại trong Nam. Đoàn xe nối đuôi nhau dài cả cây số. Tôi nghĩ trong bụng ở đây chờ ít nhất phải hai ngày trời mới tới phiên mình, vì lúc ấy chiếc “phà” chỉ chở được bốn chiếc xe vừa qua lại mất cả tiếng đồng hồ. Nói là “phà” cho nó oai vậy, chứ quả thật là mấy cái phao cột dính lại với nhau, một chiếc tàu nhỏ như ca-nô kéo đi. Tôi nghe các tài xế chạy trên đường xuyên Việt kể lại rằng trong mùa nước lũ, phà bị đứt dây trôi mất là chuyện thường. Tôi hỏi thế thì xe và người trên phà phải làm sao? May mắn thì được vớt, còn không thì chết thôi. Chuyện quan trọng như vậy mà người kể chuyện xem như thường và những cơ quan có trách nhiệm điều hành về phà qua lại trên sông, tỉnh bơ xem đó không quan trọng, không phải trách nhiệm của mình. Chiếc phà bao năm vẫn không thay đổi. Cho nên mấy chiếc phà bắt qua bắc Cần Thơ hay bắc Vàm Cống thấy rất an toàn. Đang ngồi trên xe tán chuyện với nhau, thì người phu cầm cờ đỏ chạy đến xe chúng tôi hỏi có cần phải qua phà nhanh không? Người tài xế hỏi ông giá bao nhiêu. Ông trả lời muốn đi ngay thì cho nhiều một chút, muốn qua phà chậm thì ít hơn. Người phu cầm cờ đỏ đưa hai ngón tay (có ý là hai trăm đồng) chạy ngay. Hai trăm đồng lương công nhân thuở đó là năm mươi đồng một tháng. Ông ta cầm cờ đỏ giơ cao chạy trước, miệng la lớn: “Anh em Miền Nam giúp đỡ anh em Miền Bắc”. Họ xem cái chuyện đút lót nầy là bình thường, là công khai, cho những chiếc xe khác noi theo. Chiếc xe của tụi tôi ưu tiên xuống trước. Đứng trên phà qua sông, thật tình tôi ngao ngán cho một xã hội mà tôi đã chứng kiến trên Miền Bắc. Rồi đây Miền Nam của chúng tôi sẽ lăn trên vết xe của đồng bào ngoài kia đã trải qua. Bấy giờ chúng tôi đã thấy ngột ngạt khó thở, người ta đã bắt đầu áp dụng đường lối cứng rắn để uốn nắn dân Miền Nam rập khuôn Miền Bắc.

Xe chạy đến Quảng Bình, thành phố xem như bình địa vì bị bom của Mỹ rải nát, mười năm sau vẫn còn nguyên si, không sửa chữa. Thành phố lợp tranh trên những nền nhà cũ. Nhà thờ chính Quảng Bình chỉ còn trơ lại gác chuông. Dấu tích chiến tranh vẫn chưa xóa, nhìn thành phố chúng ta đủ biết nơi đây đã nhận biết bao nhiêu bom đạn. Chúng tôi vào uống nước tại một căn nhà tranh trên quốc lộ, chủ quán là một anh thương binh trạc tuổi tôi. Lúc đầu mới vào anh nói chuyện với chúng tôi sặc mùi cộng sản. Chẳng hạn như về những năm tháng chiến tranh mà Quảng Bình nhận lãnh hậu quả nặng nề nhất. Anh nói rất tự hào: “Quảng Bình quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Người dân Quảng Bình kiên cường đứng đầu cả nước chống giặc xâm lăng Mỹ”. Tụi tôi chỉ lắng nghe anh thao thao bất tuyệt về chiến tranh, về chính sách, về con người sống thế nào cho phù hợp chế độ. Luận điệu nầy tôi đã từng nghe những người thắng trận lớn lối nói ra rả vào tai tụi tôi. Anh hỏi tôi trước khi hòa bình tôi làm gì ở Miền Nam. Tôi không trả lời ngay câu hỏi của anh, tôi vén ống quần cho anh thấy cẳng chân giả làm bằng plastic. Tôi chỉ trả lời vỏn vẹn: “Tôi là người lính của Miền Nam”. Sau khi nhìn thấy sự mất mát thân thể của tôi, sau khi nghe tôi xác định một cách chắc nịch về con người thật của tôi, con người mà đứng trên chiến tuyến là đối nghịch với anh. Tôi nói không có một chút thù hận, không tranh cãi với anh, tôi chấp nhận danh phận không may mắn của tôi. Thái độ nầy tôi làm cho anh bất ngờ lúng túng. Tôi thấy anh ngồi suy tư, nhìn tôi có chút ngậm ngùi. Anh thấy những gì anh nói với tôi đều là những câu tuyên truyền không cần thiết, mười năm “giải phóng” tôi đã hiểu rõ chân tướng của chế độ, có đánh bóng nó cách mấy cũng không thể che đậy cách trả thù hèn hạ trên đầu anh em chúng tôi. Tôi trả tiền nước rồi ra xe, anh chạy theo bắt tay tôi thật chặt, anh nói là anh cảm thấy mắc cỡ ăn nói quá nhiều hàm ý tuyên truyền, khi nhìn thân thể tôi, anh biết không dễ gì lay chuyển được tôi. Dù là người bại trận, đang sống dưới chế độ thù nghịch, tôi vẫn không tránh né về thân phận của mình.

Từ Quảng Bình về Quảng Trị con đường gập ghềnh, lởm chởm. Xe qua cầu Hiền Lương, chiếc cầu lịch sử ngăn chia Nam Bắc. Chiếc cầu nhỏ nhắn, dễ thương, nó đứng giữa ranh giới chứng kiến biết bao nhiêu tai ương đổ xuống trên đầu nhân dân hai miền Nam-Bắc. Nó ngăn cách không những chế độ bên nầy, bên kia, mà nó còn ngăn cách cả lòng người, xé tan tình tự của dân tộc. Bao nhiêu năm hòa bình mà ấn tượng, đố kỵ còn nặng nề quá vẫn chưa biết làm sao nối lại được. Chiến tranh chỉ trong vòng 20 năm, mà đến 35 năm sau sống trong hòa bình vẫn chưa có cách nào chung sống trong tình anh em ruột thịt. Tuy không còn cầm súng giết hại nhau, không còn ranh giới phân chia chiến tuyến, thế nhưng bức tường chắn giữa lòng người (nói theo kiểu Tưởng Năng Tiến) vẫn còn kiên cố ngăn cách đôi bên, không ai chịu phá bỏ và quên đi cái thời xa xưa nhục nhã của dân tộc.

Chút hồi ức nầy không dụng ý khơi dậy đống tro tàn, nhưng để nói lên cho chúng ta biết “có một thời như thế”, một thời mà không ai muốn nhớ lại, và rồi, cũng không thể nào quên được!!!
Houston, ngày 05 tháng 04 năm 2010.
© 2010 Phan Xuân Sinh
© 2010 talawas

Posted in Thời Cuộc | 1 Comment »

35 NĂM, NHÌN LẠI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Hai 30, 2009

35 NĂM, NHÌN LẠI
*Phan Xuân Sinh

Mới đó đã ba mươi lăm năm rồi (1975 – 2010). Một chặng đường trải qua bao nhiêu biến đổi, một khúc quanh của lịch sử, một bức tường lòng dựng lên ngăn chia giữa người và người đã kéo dài từ đó tới nay. Hàng triệu người rạng rở và ngược lại cũng có hàng triệu người đau khổ (như ông Võ văn Kiệt từng nói). Như vậy thực sự hòa bình có đến không? Đó là một câu hỏi tự đáy lòng của những ai còn quan tâm tới đất nước. Chiến tranh không có chiến trường thực sự trên đất nước, nhưng đôi bên vẫn lập nên những chiến tuyến kiên cố, nả “đại pháo” điên cuồng vào niềm tin của dân tộc, hủy diệt ước mơ của toàn dân khao khát. Công tội do ai? Vì ai? Cho đến bây giờ vẫn còn quá sớm để toàn dân luận bàn chuyện nầy, lịch sử lại càng câm lặng không dám hở môi. Người thắng trận thì hiu hiu tự đắc, dùng những đòn thù phủ lên đầu người thua trận, dành lấy quyền xây dựng đất nước mà thực sự phải trên tay của toàn dân, thì ưu tiên xây dựng chổ ngồi vững chắc cho bè phái. Trừng trị thẳng tay những ai còn léng phéng đụng vào “dân chủ”.  Dân chủ phải do nhà cầm quyền ban bố, phân phát, được chừng nào hay chừng đó chứ dân chúng không có quyền đòi hỏi, ai mà lên tiếng thì cho đó là những “thế lực thù nghịch” đánh phá, phải trừng trị ngay. Những tiếng nói lương tâm tức tưởi tắt nghẻn.

Còn phe thua trận thì sao? Gầm gừ uất ức, chưởi bới, mắng mỏ.  Ba mươi lăm năm nay vẫn sao y bổn cũ, kêu gọi biểu tình hò hét liên miêng. Có nhiều người cho chuyện nầy chỉ “gải ngứa” không thấm vào đâu. Thế nhưng nghĩ cho cùng, không có chuyện nầy thì chắc những thành phần như ông Luật Sư Nguyễn Hữu Liêm không cần phải về dự “Đại Hội Việt Kiều” để được hát “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng…” , mà ông sẽ dõng dạt hát to trên đường phố Bolsa, trung tâm điểm của người tỵ nạn một cách nghênh ngang. Không có những người chống cộng kiểu nầy thì vợ chồng Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Vân cần gì phải về trong nước mới nhận lãnh bằng khen, bằng thưởng. Lập ngay một khán đài giữa Paris, giữa mắt những người tỵ nạn để vợ chồng ông lên lãnh các thứ nầy hiên ngang, do tòa đại sứ Việt Nam tại Pháp trao cho, không phải sợ ai cả. Như vậy, người thua trận cũng biết vận dụng “có gì dùng gì, có nấy dùng nấy” để ngăn chận những thành phần điên rồ, thích làm nổi. Biết đâu cái lợi thế nhỏ nhoi của người thua trận, đã tạo nên chướng ngại cho các nhà lãnh đạo trong nước khi viếng thăm nước Mỹ phải dè chừng, phải tránh né, phải tự coi lại việc làm của mình. Thì cần gì phải có súng đạn, có công an, vẫn tạo nên được một sức mạnh, không làm lộn nhào chế độ trong nước, nhưng cũng góp phần gây rắc rối nhà cầm quyền trong nước không ít,và cũng xoa dịu được tự ái thua thiệt.
Trước đây có một cán bộ trong nước qua Mỹ du lịch, gặp tôi họ hỏi ngay: “Sao những người biểu tình có vẻ hung dữ quá?”. Đó là người lớn lên từ miền Bắc, ông ấy chưa bao giờ nhìn thấy cảnh biểu tình tự phát của dân chúng, mà chỉ thấy biểu tình do nhà nước huy động. Tôi hỏi lại ông ấy : “Ông thấy có hung dữ bằng biểu tình tố cáo địa chủ của cải cách ruộng đất trước đây không?”.  Ông ta ú ớ. Tôi giải thích cho ông ấy biết rằng, những người biểu tình như vậy vẫn còn hiền hòa, không gây hại cho ai, không đụng chạm đến người khác. Họ là những người phần đông bị tù tôi, bị đối xử tồi tệ, bị gia đình tan nát bởi chế độ trong nước gây ra. Thể hiện lòng căm thù bằng biểu tình như vậy thì cũng không có gì quá lắm. Gây rối loạn, mất trật tự công cộng là cảnh sát Mỹ can thiệp ngay, chứ đừng nói gì đến chuyện đụng chạm người khác. Ở trên đất nước tự do ai cũng có quyền thể hiện chính kiến của mình, những chính kiến có vẻ ngược ngạo như trường hợp ông luật sư Nguyễn Hữu Liêm thì cũng chẳng có ai dám đụng vào sợi lông chân của ông, chỉ hơi bị búa rìu dư luận phang tới tấp cho vui vậy thôi. Ông ấy vẫn ung dung rung đùi và cũng có thể cười nhạo báng “làm gì được tau”.

Trong lúc đó ở trong nước, những người cũng bày tỏ chính kiến của mình thì họ được lao tù đón tiếp nồng hậu, chăm sóc kỷ càng. Tiếng nói của họ liệm tắt ngay bởi những tội danh trốn thuế, lường gạt, ấu đả v.v..không ăn nhập gì đến hoạt động cao quý của họ. Không có tội danh chính trị, chỉ có tội về hình sự. Hải ngoại biểu tình, các nước trên thế giới lên án, can thiệp. Tất cả dưới mắt nhà cầm quyền trong nước đó chỉ là các “thế lực thù nghịch” không cần đếm xỉa tới, cứ kêu gào, cứ đòi hỏi, không ăn nhập gì tới họ.  Có nước nào gay gắt mà buộc lòng phải trả lời thì họ lên tiếng “xen vào nội bộ của Việt Nam” hoặc “nhân quyền của Việt Nam khác với nhân quyền của các nước khác” , đại loại như vậy. Chúng ta đã nghe luận điệu nầy lặp đi lặp lại, không tỏ thái độ đáp ứng. Đường ta ta cứ đi, ai cản lại phải lập tức nghiền nát chúng. Phải công nhận rằng các nhà tranh đấu dân chủ tại Việt Nam rất dũng cảm, chống chọi với một chính quyền chẳng coi ai ra gì, chẳng cần tới ai, bất chấp dư luận. Chỉ cần đạt được mục đích bằng bất cứ giá nào. Tiếng kêu than của toàn dân   xem như đồ bỏ. Tranh đấu như vậy chỉ thiệt thân, chỉ còn héo hon trong nhà tù. Họ đúng là những con người bất khuất.

Hòa bình thực sự đã được 35 năm, nhưng hai phe lâm chiến vẫn còn kình chống nhau quyết liệt. Có thể nói một mất một còn. Ai thiệt thân? Chỉ có đồng bào trong nước lãnh đủ. Chỉ cần một lời xin lỗi của ông Nguyễn Minh Triết (như trong bài viết của anh Tiêu Dao Bảo Cự trên Talawas “Thư gửi Nguyễn Hữu Liêm”) thì ông Triết có thể sẽ nắm được dân Việt ở Bolsa. (Thực tế chuyện nầy cũng chưa chắc), thế nhưng dù sao cũng thể hiện sự hiểu biết, sự bao dung. Thế nhưng làm sao có được chuyện nầy khi mà kẻ chiến thắng luôn luôn đứng phía trện không thể cúi xuống được. Một đường lối “kẻ cả” qua bao nhiêu đời vẫn không thay đổi, cho đến bây giờ vẫn tự hào Mac- Le vô địch, không thua ai. Miệng thì nói vậy nhưng toàn bộ đất nước chạy theo tư bản, ì à ì ạch kéo theo cái rờ-mót  Chủ Nghĩa Xã Hội một cách nặng nề, không đành lòng vứt bỏ được. Ông Chủ tịch nước mới đây đến Cuba trong bài nói chuyện, ông ví von đất nước mình là tên công an (hay lính gì đó) canh gác hòa binh thế giới, nghe qua đủ khiếp. Trong lúc đó cái hòa bình nhỏ nhoi của dân tộc chưa giải quyết xong, vẫn còn dây dưa 35 năm rồi không có tiến triển đoàn kết dân tộc. Thế mà vương cánh tay dài ra ôm đồm cả thế giới. Nghĩ cũng lạ thật.

Người dân hải ngoại cũng như trong nước cầu mong đất nước thay đổi theo đường lối dân chủ, để đôi bên sáp lại gần nhau, không còn nói tới chuyện hận thù, chia rẻ. Nhưng chờ dài cổ, tan nát cả cuộc đời vẫn chưa thấy một chút ánh sáng về chuyện nầy le lói. Biết tới bao giờ nó mới trở thành sự thật? Không ai biết được. Các nhà lãnh đạo Việt Nam họ hiểu một cách tường tận về lòng mong muốn của toàn dân. Nhưng nếu họ thay đổi thì sụp đổ tất cả, kéo theo biết bao nhiêu hệ lụy và ngay cả chính họ cũng chưa chắc được an toàn. Cho nên người nầy níu chân người kia tạo thành một bức tường kiên cố, quyết tâm bảo vệ. Họ coi nhẹ cái chuyện dân tộc hay đất bước. Nếu các thứ nầy phải hy sinh để cho họ tồn tại thì họ sẵn sàng chấp nhận.

Đất nước ta rơi vào cái bất hạnh nầy mà không cách nào dứt phăng ra được. Phải có một đấng cứu thế như Mikhail Gorbachev, như một tổ chức công đoàn Đoàn Kết thì họa may mới cứu vãng được. Chỉ còn biết trông chờ và cầu nguyện. Hết lớp nầy tới lớp khác bước lên cầm quyền cũng lăn trên vết xe cũ. Hết đại hội đảng nầy, đến đại hội đảng khác cũng chẳng thấy thay đổi. Đến khi hết cầm quyền thì mới bày đặt chỉ trích nọ kia, để cho người dân biết rằng mình có tâm huyết gióng lên tiếng nói của dân. Lúc đó dù có mang phèn la đến đánh vào tai những ông có chức quyền thì họ cũng giạt pheng ông ra, chằng thèm nghe đâu. Trước đây ông Phan văn Khải có thèm nghe ông Võ văn Kiệt? Và bây giờ ông đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết bao nhiêu kiến nghị ngăn cản khai thác bau-xit, họ vẫn cứ làm. Xem như những tiếng nói của quý ông như một lủ già điên rồ, không cần phải để ý. Ông Nguyễn Hữu Liêm lấy tư cách gì khẳng định sau kỳ đại hội đảng sẽ thấy thay đổi? Ông đâu có phải Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng? Hay ông chỉ tưởng tượng cũng như những người dân trong nước mỗi lần có một sự cố thay đổi, họ ngóng cổ trông chờ. Nhưng mọi chuyện không hề thay đổi. Sống ở nước ngoài quá lâu, ông Liêm không mang tâm trạng “trông chờ” như những người trong nước. 35 năm rồi con người đã hóa đá, thế nhưng mọi thứ vẫn y sì.

Người dân Việt Nam đi suốt quảng đường một cách nhọc nhằng, nhiều rủi ro. Không có một cuộc chọn lựa trong cuộc sống, răm rắp tuân theo như một trại lính. Ba hồi Trung Quốc là anh em “môi hở răng lạnh”, thì người dân cũng nói theo “răng lạnh môi hở”. Ba hồi Trung Quốc là bọn “bành trướng Bắc kinh”, thì người dân cũng riu ríu “Bắc Kinh bành trướng”. Nhiều trò, nhiều kiểu, người dân ngao ngán quá. Họ tập cho con người ăn nói như vẹt, ai nói ngược lại thì búa rìu bổ lên đầu ngay. Ông Nguyễn Hữu Liêm có ăn nói ngược ngạo với những người tỵ nạn, thì cũng chẳng có ai làm gì được ông, cho nên ông tha hồ chọc giận. Ông không bị hình phạt, nhưng ông bị người đời chê cười cho cái ngớ ngẫn của ông. Người trí thức mà lãnh những gáo nước lạnh nầy nghĩ cũng buồn thật. Dù là người bình tỉnh nhất còn thấy chướng tai với những lập luận triết học ngô nghê như vậy, thì người không bình tỉnh phẩn nộ tới chừng nào.

Nhìn lại từ 1975 tới nay, ta chỉ thấy đường phố đông hơn, nhà cửa xây dựng nhiều hơn, đời sống dân chúng có đổi khác, có tiến bộ. Phải biết bây giờ đã 35 năm rồi, những gặt hái nho nhoi như vậy không đáng kể, so với tiến hóa chóng mặt của thế giới. Mức độ chênh lệch giữa thôn quê và thành thị quá xa, thu nhập của cán bộ và người dân quá khác biệt. Tham nhũng hoành hành lộng trời. Đất cát của người dân bị chiếm đoạt oan ức. Tôn giáo thì Tam Tòa, Bát Nhã thẳng tay trừng trị. Nhà nước dùng những phương tiện hạ cấp, côn đồ đối với những thành phần chống đối như nếm phân vào nhà, du đảng đành đập, đụng xe đến chết. Nghĩa là trên thế giới chưa có một chính phủ nào dùng những thủ đoạn đê hèn như vậy. Thế thì chúng ta trông chờ những gì? Khi mà nhà cầm quyền thanh toán nhân dân như là băng đảng, tồi tệ đến mức như vậy, thì chúng ta không thể trông chờ họ có thể đưa đất nước đến chỗ cực thịnh được.

Con đường bế tắc thế nhưng vẫn cứ đi. Chỉ có người dân kham khổ, những quyền lợi bị tước đoạt. Hé môi than vãn là mang tội chống đối nhà nước, sẽ lãnh những hình phạt nặng nề. Phần đông dân chúng phải cúi đầu. Bánh xe cứ lăn trên đường, sẳn sàng nghiền nát những chướng ngại. Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Tiến Trung và thêm ai nữa thì cũng sẽ bị dạt qua hai bên đường để nhà cầm quyền thênh thang cất bước. Trong giới lãnh đạo ai cũng giàu sụ, nhà cao cửa rông, cho nên không ai dám thay đổi. Ai cũng bảo vệ chế độ một cách nghiêm ngặt, bảo vệ chiếc ghế vững chắc dù họ biết việc họ làm trái với ý dân. Nếu thuận với lòng dân  thì họ sẽ mất trắng, không vinh thân phì da được. Từ trên xuống dưới quyết bảo vệ cái thành trì nầy cho đến chết. Như vậy 35 năm nay đứng về mặt nhận thức chẳng có gì thay đổi cả./
Houston, Ngày 01 tháng 01 năm 2010

Posted in Thời Cuộc | Leave a Comment »

Thảm sát Mỹ Lai – Thảm sát Mậu Thân

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tám 25, 2009

Phan Xuân Sinh – 41 năm sau: Mỹ Lai và Mậu Thân
25/08/2009 | 5:21 chiều | 1 phản hồi
Tác giả: Phan Xuân Sinh
Chuyên mục: Chiến tranh Việt Nam
Thẻ: Mỹ Lai > Thảm sát Mậu Thân Huế > William Calley

Thiếu úy William Calley
Ngày 22/8/2009 trên website của BBC có bản tin mới nhất về vụ Mỹ Lai, Quảng Ngãi: Thiếu úy William Calley, chỉ huy một trung đội lính Mỹ hành quân vào Mỹ Lai trong thời kỳ chiến tranh leo thang 1968, ra lệnh sát hại hơn 500 thường dân Việt Nam. Trong một cuộc họp mặt tại câu lạc bộ Kiwanis Club tại Columus, Georgia, USA, theo BBC thuật lại, báo Columbus Ledger-Enquirer số ra tại Mỹ trích lời thiếu úy William Calley: “Mỗi ngày qua đi tôi cảm thấy hối hận với những gì đã xảy ra.”

Vụ thảm sát Mỹ Lai, Quảng Ngãi, 1968
Câu chuyện thương tâm xảy ra ngày 16 tháng Ba năm 1968, mọi người Việt Nam và cả thế giới phải sững sờ trước hành động dã man của một đơn vị tác chiến của quân đội Mỹ, được mệnh danh là văn minh mà hành xử một cách tàn nhẫn, phi nhân như vậy đối với người dân trong tay không có một tấc sắt. Khi sự việc khi xảy ra chỉ có một ít người biết tới. Nhưng đến năm 1971, khi các đài BBC, VOA… tường thuật đầy đủ trong phiên tòa xử chung thân William Calley thì tin này lan tràn khắp thế giới. Tôi còn nhớ hồi đó chúng tôi, những sĩ quan còn rất trẻ của quân đội miền Nam, nghe được tin này đã hết sức phẫn nộ, muốn tống cổ bọn Mỹ này đi cho rồi. Tự ái dân tộc làm cho tụi tôi điên tiết và lúc đó trong thâm tâm chúng tôi cũng có tâm trạng bài Mỹ.
Sau những lần hành quân vào những làng mạc dưới sự kiểm soát của quân Giải phóng, đơn vị chúng tôi cũng bị bắn từ trong làng ra, bị thương và thiệt mạng cũng có. Thế nhưng khi tiến vào làng, không thấy một đơn vị du kích hay chính quy nào cả, chỉ thấy đàn bà, ông bà già, trẻ con, hỏi người dân ở đó thì họ làm bộ lơ ngơ không biết gì. Tức cành hông nhưng không biết phải làm cách nào. Những người bộ đội bên kia được dân che chở và giấu kín, thế nhưng khi mình lầm lỡ bắn trả lại, chẳng may chết dân chúng, thì xem như thằng sĩ quan chỉ huy tàn đời. Cho nên không thằng nào dại gì lãnh cái búa vào đầu. Một cuộc chiến không có “mặt trận” để thư hùng cao thấp. Họ núp vào dân chúng, được sự che chở của dân nên họ chiến thắng là lẽ tất nhiên, không chối cãi được. Nên khi nghe tin về Mỹ Lai, tụi tôi cũng đoán rằng trò chơi này áp dụng với tụi tôi thì được, nhưng với thằng cha William Calley thì hắn như con chó điên cắn nát, tới đâu thì tới.
Sau 41 năm “Vụ thảm sát Mỹ Lai”, thiếu úy William Calley, từng là trung đội trưởng khi đi lính sang Việt Nam nói: “Tôi hối hận với những người Việt Nam bị giết hại, với gia đình của họ, với những người lính Mỹ tham chiến, và gia đình của họ. Tôi rất xin lỗi.” Lời nói của ông, ta chấp nhận hay không thì mọi việc cũng đã rồi, người dân Mỹ Lai cũng không thể sống lại. Tuy nhiên vẫn khen ông một câu là: “người có giáo dục”, ít ra cũng biết ôm cái ân hận suốt đời, biết việc làm của mình gây tang tóc đau thương cho biết bao nhiêu gia đình, gây tiếng xấu xa cho đồng đội. Di hại của ông trong lịch sử chiến tranh không tha thứ được.

Vụ thảm sát Mậu Thân, Huế 1968
Cũng cùng thời điểm này sau 41 năm (cũng từ 1968), “Vụ thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế”, trong đó không phải là người ngoại quốc giết hàng ngàn dân vô tội ở Huế, mà chính là những anh em mình sát hại dân mình, thì không có một lời chính thức xin lỗi trước quốc dân. Chúng ta mở miệng ra là học đạo đức theo gương… “Người”, đạo đức cách mạng v.v… mà trước khi có những đạo đức gì đó xuất hiện, thì trước hết chúng ta phải có đạo đức làm người, mà đạo đức làm người không cho phép chúng ta yên lặng trước những lỗi lầm tày trời mà mình đã thực hiện mà không có một lời xin lỗi, nói lên sự hối hận, sự đáng tiếc. Có những người có chức, có quyền thời đó đã ra lệnh cho thuộc cấp trong vụ Mậu Thân, bây giờ sống phây phây, mỗi năm ăn mừng chiến thắng. Nghĩ cũng lạ thật.
Đứng trước hai sự việc “Mỹ Lai” và “Mậu Thân”, ta thấy mức độ trầm trọng khác nhau. Một bên thì lãnh mỗi người một viên đạn, chết tại chỗ. Còn một bên thì chính mình đào mồ cho mình, lãnh mỗi người một cán cuốc vào đầu. Sống, chết, ngất ngư đều thảy xuống hố, lấp đất lại. Tưởng tượng thôi chúng ta đã thấy rợn người, huống chi đây là sự thật. Không có thằng Tây, thằng Mỹ nào ở đây, mà anh em mình cả đấy thôi. Trong chuyện này, đụng tới anh em mình, sao tôi thấy líu lưỡi. Chơi chi trò giết người mệt nhọc của thời Trung cổ như vậy, không cho mỗi người một viên đạn như thằng cha William Calley cho bớt đau đớn thân xác người anh em mình. Té ra thằng Mỹ nó cũng còn có một chút xíu nhân bản.
“Ông phá vỡ sự im lặng sau khi nhận lời một người bạn đến phát biểu tại cuộc họp hàng tuần của một nhóm dân tại Câu lạc bộ Kiwanis Club, tổ chức tình nguyện hải ngoại của Hoa Kỳ.
Thời điểm xảy ra vụ thảm sát, người lính Mỹ đang thực hiện chiến dịch “tìm và diệt” nhằm loại trừ chiến đấu quân đối phương tại vùng được cho là có cảm tình với Việt Cộng.
Không tìm được kẻ thù, lính Mỹ thuộc Đại đội Charlie tập hợp dân làng và xả súng bắn họ.
Một năm sau khi tin Mỹ Lai xuất hiện trên báo Mỹ, vụ thảm sát đã làm giảm uy tín của quân đội Mỹ.
Nó trở thành bước ngoặt trong sự thay đổi của dư luận Mỹ về cuộc chiến Việt Nam.”
Con người ta đến một lúc nào đó phải nhìn nhận sự lầm lỗi. William Calley cũng vậy, 41 năm lúc nào cũng cảm thấy lương tâm mình cắn rứt, hối hận giày vò. Ông không còn chịu đựng được nữa, phải lên tiếng xin lỗi, để cho lòng mình dù không được thanh thản thì ít nhất cũng để cho mọi người biết rằng mình còn một chút tình người sót lại. Biết đau cái đau của những nạn nhân do mình gây ra, biết xấu hổ việc làm vô ý thức của mình, biết nói lên cho mọi người biết “mình là con người” để mọi người có thể xích lại gần hơn, còn trước đây người ta ghê tởm xa lánh.
Tha thứ cho ông hay không là do quyết định của mọi người, thế nhưng dù sao đi nữa William Calley cũng cho ta biết ông còn can đảm thốt lên tiếng kêu cầu cứu trung thực của lòng mình. Đó là lời “xin lỗi”.
22/8/2009
© 2009 Phan Xuân Sinh
© 2009 talawas blog

Posted in 21034001, Thời Cuộc | Leave a Comment »