Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for the ‘Phiếm Luận’ Category

QUẢNG NAM, CHUYỆN TẦM PHÀO BÊN TÁCH CÀ PHÊ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười 16, 2011

Quảng Nam,
Chuyện tầm phào bên tách cà phê.

Phan Xuân Sinh

Trở lại chuyện mì Quảng. Có rất nhiều người viết về mì Quảng như Tưởng Năng Tiến, Phạm Phú Minh, Tường Linh, Hòang Lộc v.v..và còn rất nhiều người nữa.. Mì Quảng được tả tỉ mỉ được phân tích và những người Quảng Nam chúng ta ai ai cũng một lần đọc qua, dĩ nhiên mỗi người mỗi cách cho ta hiểu rỏ tường tận hình thành một tô mì như thế nào. Bây giờ tôi xin trình bày tô mì Quảng mà tôi đã gặp. Một lần ở Boston vào một tiệm ăn nghe một người khách Quảng Nam gọi ra một tô mì Quảng. Bàn của ông cạnh bàn của tôi nên tôi nghe ông càm ràm khi tô mì được mang ra: “Mì gi mà lạt lẽo, nước lèo lềnh bềnh không đúng cách”. Tôi hỏi ông như vậy tô mì như thế nào mới đúng cách? Ông cho biết là mì phải béo, ít nước, nhưn tôm thịt phải mặn mòi, phải có giá trụng và nhiều thứ lỉnh kỉnh khác. Nhận xét và kinh nghiệm của ông không chối cải được. Thế nhưng ngày xưa trên quê nhà trong thời kỳ chiến tranh, tôi lội khắp vùng Quảng Nam, tôi đã ăn biết bao nhiêu tô mì Quảng và không có nơi nào giống nơi nào hết. Ở vùng biển thì tô mì có sứa, chả cá phụ thêm vào. Ở vùng núi thì nhưn mì bằng mít trộn. Ở mùa lũ lụt thì nhưn bằng thịt gà hay thịt vịt. Mì Quảng gia giảm và ứng biến tùy theo hoàn cảnh sống của người dân. Cho đến bây giờ bảo rằng mì Quảng đúng cách phải như thế nào, tôi chịu thua. Hầu hết nhưn bằng tôm, thịt heo là chiếm đa số. Một điều mà không thể nào diễn tả được, dù biến đổi nhưn nhị ra sao khi ăn vào hậu vị của nó cũng gần giống nhau. Người Quảng Nam tha hương tìm cái hậu vị mì Quảng trên đất khách quê người quả thật rất khó. Bảo tôi mô tả cái hương vị nầy, tôi không tả được.

Một lần đi vào Cẩm Hải (vùng biển gần Hội An) thăm mộ má tôi. Chúng tôi tấp vào quán mì bên vệ đường, quán đơn sơ nghèo nàn, tô mì lèo tèo vài con tôm bạc vài lát thịt mỡ. Mì không đặc sắc nhưng hậu vị của nó y chang như hương vị ngày xưa khi tôi còn sống trên quê nhà. Tôi mới nghiệm ra rằng, mì Quảng mà người Quảng Nam đi xa tìm lại, cái mà họ bảo không đúng với tô mì Quảng tại Quảng Nam chính là chỗ nầy, cái vị đậm đà quen thuộc mà không ai có thể mô tả được. Ngày tôi về Đà Nẵng, thằng em chở tôi đi ăn mì Quảng, nơi mà nó giới thiệu rằng ngon nhất ở đây. Tôi ăn vẫn không thấy được cái hương vị ngày xưa. Tại sao thế? Tôi cũng không biết được. Như vậy, mì Quảng không cần phải nhưn nhị phong phú, không cần phải gia vị nhiều. Cái mà ta cần nó đã thấm đẩm vào da thịt của ta, khi ta bắt gặp lại tự nhiên nó sống dậy trong ta. Người Quảng Nam đi nơi khác khó tìm lại hương vị nầy cũng chính vì vậy.

Năm 2008 tôi về Đà Nẵng, tôi than với bạn bè là không tìm thấy nơi nào bán mì Quảng ngon, thì nhà thơ Đoàn Huy Giao bảo rằng tôi sẽ đưa ông đi ăn. Đoàn Huy Giao là dân Quảng Ngãi nhưng sinh sống tại Đà Nẵng, tôi nghi ngờ cái nhận định tô mì Quảng ngon của anh, vì chính người dân Quảng Nam ăn mì Quảng mòn răng còn mù mờ vế nhận định nầy. Thì làm sao tôi tin anh được. Anh dẫn chúng tôi vào Cẩm Hà (từ Vĩnh Diện đi Hội An). Nơi nầy, hồi còn nhỏ đi về quê Kim Bồng xe đò đổ gia đình tôi xuống đây, rồi xuống đò qua sông. Quê nội tôi bên kia sông Thu Bồn..Hồi dó nơi nầy cũng có một quán mì, Ba tôi dẫn vào ăn mì và ngồi chờ xe đò ra Đà Nẵng. Tôi không biết quán mì nầy khi xưa còn lại đây không? Bước vào quán tôi thấy trên bàn khách đang ngồi ăn, các tô mì ăn xong chồng chất lên nhau. Trí nhớ tôi bỗng trở vế, người Quảng Nam ăn mì là phải ăn vài ba tô là lẽ thường, ít ai ăn một tô rồi đứng dậy. Đúng như Đoàn Huy Giao giới thiệu, mì Quảng quá ngon. Khi về quê nhà lần đầu tiên tôi mới cảm thấy tô mì Quảng tại đây ngon và hội đủ những điều mong muốn của tôi, không phụ lòng Uyên Hà lái xe hơn ba mươi cây số, ăn xong rồi lái trở về. Cám ơn Đoàn Huy Giao cho tôi thấy lại hương vị mà tôi đã đánh mất từ lâu.

Ngày xưa ở Quảng Nam nỗi tiếng là mì Cây Trâm, tôi chưa bao giờ tới đây ăn thử. Nơi đây cũng chính là quê hương của anh Phạm Tử Thiên (tức nhà thơ Phạm Cây Trâm). Quen với anh từ lâu, nhưng không dám đề nghị với anh cho ăn mì Cây Trâm (tức mì Quảng tại Cây Trâm, Tam Kỳ.). Chúng tôi từ Houston đi Dallas, định ghé thăm anh tại Arlington. Anh hỏi tôi muốn ăn món gì Quảng Nam để anh chị đãi. Tôi chộp ngay cơ hội nên đề nghị anh chị cho chúng tôi ăn mì Cây Trâm. Anh cười ha hả nói với tôi là trúng ý anh rồi. Buổi tiệc khoản tãi chúng tôi toàn những  món Quảng Nam do chị làm. Đặc biệt một điều là từ bánh tráng và mì do chị tự xay bột và làm lấy ở nhà. Mì Quảng ngon thật, từ khi qua Mỹ tới nay mới ăn được tô mì ngon như thế nầy. Cho nên sau nầy mỗi lần đến thăm anh chị là sẽ được ăn mì Cây Trâm chính hiệu do chị nấu. Người làm mì Quảng cũng ngon mà tôi đã ăn đó là Nhật Hoàng, chủ nhiệm tuần báo Trẻ tại Dallas.

Thật tình thì mì Quảng cách nấu cũng rất đơn giản, không cầu kỳ và người Quảng Nam nào cũng nấu được. Thế nhưng cho thật ngon thì rất ít người nấu được bởi thế chúng ta đòi hỏi y chang như những quán nỗi tiếng ở Quảng Nam hay Đà Nẵng thì rất ít người làm được. Tô mì phải béo,ít nước, sợi mì phải dày vàng óng ánh, thịt phải có mỡ, bánh tráng phải chiên lên, mà những thứ đó lại cấm kỵ những người tuổi cao như bọn mình, lại sống tại nước ngoài khi dư thừa thực phẩm.  Thực khách là dân Quảng Nam lại khó tính, thiếu một chút cũng không được, khác một chút cũng không được. Họ ăn mì bằng vị giác, bằng khứu giác và bằng cả một tấm lòng dành cho quê hương. Họ đến quán ăn tô mì không ngon, nhưng thỉnh thoảng họ vẫn tới lui và cái ăn của họ mang một ý nghĩa khác, “đở ghiền” khi nhớ lại quê nhà. Người Quảng Nam tha hương bước vào quán ăn nào trong đó có món mì Quảng thì ít khi nào họ bỏ qua. Người đầu bếp nấu mì Quảng là bà Bắc kỳ hay bà Huế rặt thì làm sao hiểu rằng người Quảng Nam ăn mì Quảng là họ ăn những cái mà nó đã có trong tô mì và kể cả những cái mà nó không nằm trong tô mì.

Bây giờ xin bước qua một chuyện khác, mang chút trần tục hơn.

Một người bạn dân Sài Gòn cất cớ hỏi tôi: “Người Quảng Nam của bạn câu  chừi nhau như thế nào cho là thông dụng nhất?”. Tôi lúng túng hết sức, nhưng rồi tôi tìm ngay được câu trả lời: “Con c..”. Người bạn trố mắt nhìn tôi, tưởng rằng tôi nói đùa. Anh đó nghĩ trong bụng là dân Quảng Nam của tôi thô lỗ thật. Đọc được sự ngạc nhiên của bạn mình, tôi bảo với anh là: “Trong hai chữ “đ…mẹ” của dân Sài Gòn và “con c..” của dân Quảng Nam tôi, cái câu chửi thề nào nặng nề nhất?”. Anh bạn tôi “à” lên một tiếng, mới hiểu rằng chữ đầu môi mà dân Nam hay dùng nó mang tính anh chị hơn, giang hồ hơn và nặng nề hơn. Thế nhưng  câu chửi thề nầy nó thông dụng quá lan tràn từ Nam chí Bắc nên quen tai, mọi người không thấy chất thô lỗ, mất dạy của nó. Còn chữ “con c…” mà dân Quảng Nam hay dùng, nó gói ghém quanh quẩn trong xứ sở của chúng tôi. Khi những người ở tỉnh khác nghe được câu “trổ c…” lạ tai họ không chịu được, nó vừa cộc cằn vừa thô lỗ nghe rất chướng tai. Thật tình câu chửi thề nào cũng mang tính mất dậy không chấp nhận được, thế nhưng người Quảng Nam dùng từ nầy ngoài chưởi thề ra còn mang tính than oán hay diễn tả một việc xấu đến với mình. Một người làm công bị chủ chèn ép, người khác hỏi anh làm ăn ra sao? Anh ta trả lời một cách đanh thép: “Thằng chủ như con c…, nên tôi trổ c…đi về”. Người Quảng Nam chúng tôi nghe câu nầy hiểu ngay là thằng cha chủ đối xử không tốt nên người đó chửi một câu rồi đi về. Đọc một câu thơ không hay, chúng tôi hay nói: “Thằng cha nầy làm thơ như con c..” Buôn bán lỗ lã là họ nói: “Năm nay buôn bán như con c..” tức chúng ta hiểu ngay là năm nay làm ăn thất bại. Cái gì xấu họ chỉ cần dùng từ nầy là chúng ta hiểu ngay sự việc không cần phải dông dài. Thật tôi nghiệp, lấy của “nợ” đàn ông nầy tiêu biểu cho điều xấu xa, chứ quả thật ra nó cũng oai phong lẫm liệt lắm chứ. Mới đây một bà Việt Nam ở Mỹ cắt của quý của chồng bỏ vào cối xay để nó không còn khả năng tung hoành. Nó mang chất “ưu việt” như vậy mà người Quảng Nam chúng tôi lại bêu xấu nó như vậy. Trời biết.

Thế nhưng từ “con c…” thỉnh thoảng họ dùng trong những trường hợp thân tình nhất. Gặp thằng bạn thân lâu ngày, muốn rủ bạn làm vài xị đế, người đó sẽ nói: “Ê, thằng con c… vào đây làm vài ve chơi”. Người được mời hiểu ngay thằng bạn thân mời mình vào nhậu mà không cho như vậy là câu chưởi mắng. Thành thử cùng một chữ đó, người Quảng Nam dùng trong mọi trường hợp và nó cũng mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Tùy theo hoàn cảnh, thân tình hay phẩn nộ từ nầy sẽ mang một ý nghĩa khác nhau. Ở Quảng Nam người ta hay kể một câu chuyện về một nhân vật (hiện nay đang sống tại Mỹ, xin được giấu tên). Trong giữa thập niên 50, khi ông Ngô Đình Diệm mới chấp chánh, thường kêu gọi thành phần trí thức ở ngoại quốc  về giúp nước. Có một ông kỷ sư người Quảng Nam khăn gói hưởng ứng lời kêu gọi trở về. Ông được ông Diệm mời làm Bộ Trưởng Canh Nông, nhưng nhìn cung cách quan liêu của ông Diệm, ông ái ngại và xin một vài tuần về thăm nhà rồi quyết định sau. Sau vài tuần ông trở vào gặp ông Diệm ông từ chối vì cảm thấy mình không có khả năng nhận lãnh chức vụ cao như vậy. Về Quảng Nam nhiều người đến hỏi ông về lý do thật sự của vấn đề nầy. Ông từ tốn trả lời: “Mình không quen cung cách quỳ lụy, cho nên sẽ xẩy ra hai vấn đề đều thiệt thân cho mình. Mình không quỳ lụy nịnh hót thì trước sau cũng bị đuổi việc. Còn nếu mình làm theo ý mình mà họ không chấp nhận thì mình sẽ “trổ c…” ra về. Đằng nào cũng thiệt thân, thôi về làm ruộng không mất lòng ai”. Đúng là quan niệm của một kẻ sĩ. Cho nên người Quảng Nam thường làm cách mạng thì được, mà làm chính trị thì chớ. Họ ăn nói ngay thẳng, sẳn sàng va chạm, không tránh né khó khăn. Nhưng họ lại có yếu điểm thiếu tế nhị, thiếu giao thiệp, không chịu đầu môi chót lưỡi. Tất cả các thứ đó cần cho người làm chính trị.

Người Quảng Nam họ không có câu chửi nào ra hồn, lặp đi lặp lại cũng cái câu “Tổ cha mi”. Cho nên nó không có cái mệnh danh là “văn hóa chửi” như người Bắc hay người Huế. Để so sánh tôi trưng bày ra đây cách chửi của người Bắc có bài bản, văn hoa, sâu đậm  và nghe ra chết người thiệt. Người Bắc có bài “chửi mất gà”:

“Làng trên, xóm dưới, bên ngược , bên xuôi, tôi có con gà mái xám. Sáng nay tôi còn cho nó ăn, thế mà bây giờ nó bị mất ! Ai bắt được thì cho tôi xin, nếu không trả thì tôi chửi cho mà nghe đấy …ấy….ấy !
Bố cái thằng chết đâm chết chém, cha cái con chết xỉa ! Mày day tay mặt , mày đặt tay trái, nỡ ăn cắp của bà đây con gà. Này bà bảo cho chúng mày biết : Thằng đứng chiều ngang, thàng sang chiếu dọc, thằng đọc văn tế , thằng bế cái hài, thằng nhai thủ lợn….Con gà nó ở nhà bà là con gà. Nó bị bắt rtộm về nhà mày thì thành con cú, con cáo, con thành đanh mỏ đỏ. Nó sẽ mổ mắt, xé xác ông bà cha mẹ vợ chồng con cái nhà mày đấy….ấy….. ấy !

Mày mà ăn thì con gà nhà bà thì ăn một miếng chết một đứa, ăn hai miếng chết hai đứa, ăn ba miếng chết ba đứa, và ăn cả con gà đó sẽ chết cả nhà cả ổ nhà mày.

Cha tiên nhân ông nội, ông ngoại, ông dại, ông khôn, đồng môn chi rễ nhà mày nhá.  Mày gian tham đã ăn trộm ăn cắp con gà mái nhà bà. Rồi ra , nhà chúng mày chết một đời cha , chết ba đời con, đẻ non đẻ ngược, chân ra trước đầu bước ra sau, đẻ sót nhau, chết mau chết sớm! Chết trẻ, để ngang nhá !

Bốn thằng cầm cờ xanh đứng đầu ngõ, ba thằng cầm cờ đỏ đứng đầu làng, đưa đám tang cả nhà mày ra đồng chôn đấy. Mày có khôn hồn , mang trả ngay con gà đó cho bà, kẻo không bà đào mồ , quật mả cao tằng tổ khảo , cao tằng tổ tỉ , thúc bá đệ huynh, cô di tỉ muội nhà mày đấy .
Hôm nay bà chửi một bài, ngày mai bà sẽ chửi hai làn liền. Bà chửi cho mày hoá điên , bà rủa suốt tháng liên miên không ngừng. Bây giờ bà mệt quá chừng. Bà về cơm nước, nhớ đừng quên a…. Muốn sống thì thả gà ra , lạy bà hai lạy bà tha cho mày”

Người Huế họ cũng có bài “chửi mất gà” lời lẻ cũng độc địa không kém:

“ Cao tằng tổ đĩ, cao tằng tổ khảo, cố tổ gia tông cả ông cả bà, cả cha cả mẹ, chú bác, anh em, họ nội, họ ngoại, xa gần ân ái, họ gái hoị trai, dưới âm phủ đội mũ mà đi lên, trên thiên đàng xếp hàng đi xuống, bây hãy vén mái tai, gài mái tóc đặng chống tai lên cho rõ, chống cửa ngõ cho cao, chặt hàng rào cho thấp để mà nghe tao chửi đây này :

Tam canh mụ đội, xóm hội xóm phường , xóm truớc xóm sau, xóm trên xóm dưới, lư hương bát nước, chiếu trải giường thờ, tao bới mả cha bay rung rinh như thuyền mành gặp sóng, tau nín như nín địt, tau dập như dập cứt mà bay cứ bươi ra , bay chọc cho tau chửi. Tau chửi cho tan nát tông môn họ hàng cái quân khốn kiếp, cái quân vô hậu kế đợi đã ăn của tau bảy con gà xám, tám con gà vàng. Bay ăn chi mà ác nhơn ác nghiệp . Bây ăn bằng nồi đồng, bây ăn bằng nồi đất, bay ăn lật đật, bay ăn ban đêm, bưa túi. Bây ăn cho chồng bây sợ, coi con bây kinh, bây ăn cho ngả miếu sập đình, cho mồ cha bây chết hết để một mình bây ngồi đó bây ăn. Đồ quân ăn chó cả tông, ăn hồng cả hột. Cái quân không sợ trời dánh thánh đâm, trời đánh thánh vật. Bây ăn mần răng mà hết một chục rưỡi con gà ?”

Người Quảng Nam không có chửi rủa mất gà như người Bắc, người Huế, và nếu họ có chửi thì cũng không có bài bản thâm sâu như vậy được. Khi còn nhỏ tôi cũng thường nghe họ chửi nhưng không tìm ra được có dây có nhợ như vậy, bất quá lắm cũng chỉ là; ‘Tổ cha mi, ăn chi ác nhơn ác đức. Ăn cho lòi họng mi ra…” Cho nên nghiệm ra người Quảng Nam ăn nói cộc cằn, nhưng không có tâm địa ác độc. Câu chửi của họ không thâm sâu, không quỷ quyệt. Lời chửi mắng của họ không hấp dẫn, không bài bản. Từ đó ta nghiệm ra rằng cách ứng xử của họ trong chửi mắng chậm chạp. Đó là nói chung chung trong dân gian, thật ra những người có học nỗi tiếng ứng phó nhanh lẹ trong mọi vấn đề. Trong thập niên 30 thế kỷ trước ta xem một cuộc bút chiến giữa Trần Trọng Kim (Bắc Kỳ) và Phan Khôi (Quảng Nam) về Nho Giáo, ta mới thấy được sự nhanh nhẹn nhạy bén của Phan Khôi trước những lý luận chặt chẻ bênh vực cho ý kiến của mình. Cách ứng xử của ông cũng mau lẹ vững vàng trong lập luận.

Chuyện người Quảng Nam đi ăn nhà hàng ngày xưa.

Hôm trước đây có một người bạn Quảng Nam đến chơi, anh rủ tôi ra ngoài “kéo ghế” một bữa. Tôi giật mình, từ “kéo ghế” nầy ngay trên đất Quảng Nam của tôi cũng đã mai một từ lâu, họa hoằn lắm mới nghe những người lớn tuổi dùng tới. “Kéo ghế” tức là ăn nhà hàng vậy, người tỉnh khác làm sao biết được. Tôi nhớ lại hồi còn nhỏ, một người bạn của Ba tôi tới nhà chơi, tôi hỏi ông tại sao không bảo là đi “nhà hàng” mà gọi là “kéo ghế”. Ông giải thích cho tôi nghe một cách mơ hồ, vừa đậm nét tiếu lâm cho nên thực hư đến bây giờ theo tôi cũng không rõ ràng. Ông bảo: Người Quảng Nam xưa nay ít có dịp đi ra tiệm ăn uống, một phần sợ tốn kém, một phần không quen được người khác cung phụng. Có khách tới chơi đều tổ chức ăn uống ở nhà. Phần đông nhà dân chúng nền nhà bằng đất, muốn ngồi phải “bưng ghế” ra ngồi, chứ không được kéo vì sợ hư nền nhà một phần và sợ mòn chân ghế (tiết kiệm mà). Ra tiệm ăn thì thoải mái “kéo ghế” ra ngồi mà không sợ hư nền nhà, không sợ mòn chân ghế, không sợ làm như vậy sẽ bị la rầy. Nhà hàng là nơi kéo ghế thoải mái nhất, vì nền nhà tráng ci-ment nên không sợ hư. Dần dần từ “kéo ghế” thay cho đi ăn tiệm là vì vậy”.

Thực hư đúng không thì cho đến bây giờ tôi vẫn mù mờ, tuy nhiên lý luận kiểu nầy thấy đúng một phần. Ngày xưa các tiệm ăn dành cho tầng lớp có tiền, sang trọng. Người dân chân lấm tay bùn không vào được. Hồi tôi còn rất nhỏ Ba tôi mặc veston, cà vạt, đi xe đạp, chở tôi đi ăn tiệm. Nhìn thấy khách khứa ra vào tôi cũng biết họ thuộc tầng lớp khác với bà con xóm làng của tôi, mặc dù còn nhỏ tuổi tôi cũng  biết được nhiều người cả đời không biết “nhà hàng” là gì. Phần đông dân chúng không bén mảng tới được. Từ “kéo ghế” bây giờ ngay trên quê nhà cũng chẳng còn ai dùng. Đời sống ngày càng tiến bộ, thành phần nào cũng có thể đi nhà hàng. Hiện nay nhà nào cũng lót gạch bông hay nền nhà tráng ci-ment không phải bưng ghế lên để xuống vất vả, nên từ “kéo ghế” dành cho nhà hàng không còn thích hợp.

Hôm nay ngồi bên tách cà phê luận bàn về những chuyện tầm phào với quý vị đồng hương. Chuyện nầy bắt qua chuyện kia mà đôi khi ta cảm thấy không ăn nhập gì với nhau, nhưng hề gì, miễn sao có được nụ cười trên môi của quý vị. Những chuyện tôi kể ra đây mang nét đặc thù của người Quảng Nam mà những người thuộc tỉnh khác không có. Bây giờ sự đi lại rất dễ dàng, những phương tiện dồi dào giúp cho sự giao tiếp với nhau giữa vùng nầy với vùng khác dễ dàng nên khó phân biệt bản chất đặc biệt của từng vùng. Nhân đây, bên tách ca phê tôi cũng xin được thưa một chuyện. Tôi sống ở Sài Gòn và ỡ Mỹ gần bốn chục năm. Uống một “ly” cà phê ở Sài Gòn hay ở Mỹ, nó không thú vị bằng một “tách” cà phê ở Đà Nẵng hay Hội An. Tôi không biết người ta đã dùng tách để pha cà phê từ lúc nào, mà từ quán cốc bên đường cho đến các quán sang trọng cà phê nóng được đựng trong chiếc tách rất lịch sự. Nhớ ngày xưa ở Sài Gòn về thăm nhà, trời nóng hay trời lạnh, tôi cũng thích uống cà phê nóng cũng chỉ để cầm chiếc tách uống từng hớp nhỏ cà phê nóng. Khi đất nước còn khó khăn, các quán cà phê Sài Gòn trộn lẫn bột bắp, bột gạo vào cà phê, không có quán nào giữ cà phê nguyên chất. Thế nhưng về Đà Nẵng dù trong hoàn cảnh khó khăn chung như vậy tách cà phê vẫn thơm ngon nguyên chất. Dân Quảng Nam ít uống cà phê hơn dân Sài Gòn, nhưng phong cách và chất lượng bao giờ cũng trội hơn. Hồi còn đi học những năm cuối của bậc trung học chúng tôi hay la cà mấy quán cà phê Diệp Hải Dung, cà phê Thông Tin, cà phe Ngọc Lan, cà phê Phán v.v.., những tên mà hơn bốn chục năm qua vẫn còn in sâu trong đầu chúng tôi.  Không biết bây giờ quê nhà còn giữ được chiếc “tách” để đựng cà phê cho khách Không?

Khi quý vị đã đọc đến đây, những chữ cuối cùng của chuyện “tầm phào”, chắc quý vị có đoạn đồng ý, có đoạn không đồng ý những điều tôi bộc bạch. Những chuyện nầy xa nhà lâu ngày ngồi nhớ lại, dĩ nhiên không thể tránh khỏi những sai lầm. Nếu có điều gì so suất. Kính mong quý vị lượng tình tha thứ.

Houston, ngày 10-10-2011

PHAN XUÂN SINH

Advertisements

Posted in Phiếm Luận | 2 Comments »

SỢ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 22, 2011

phiếm

SỢ

Phan Xuân Sinh

Hôm nay bắt chước ông bạn già của tôi nhà văn Song Thao, viết một bài phiếm và đề tài chỉ một chữ “Sợ”. Không biết cái đề nầy anh Song Thao đã viết chưa? Nếu viết rồi thì xin anh cho tôi “cầm nhầm” một chút, bởi vì tôi muốn viết về cái “sợ” của người Việt Nam mình. Thường thì chúng ta đọc  “phiếm” của Song Thao, cái đề của anh chỉ một chữ, nhưng chứa đựng một kho tàng đông tây kim cổ được anh sưu tầm một cách ngoạn mục, rồi nhắc vào con chữ và trang giấy của anh một cách tài tình. Người đọc cười tủm tỉm nhưng rất sảng khoái. Đề tài của tôi hạn hẹp chỉ vòng quanh xa gần với anh em mình, bà con mình, không cần phải vận dụng “đông tây kim cổ” quá lớn như anh Song Thao. Mong rằng người đọc sẽ tha thứ cho sự hiểu biết sơ sài, nông cạn của tôi. Tôi hy vọng sẽ mang đến cho người đọc nụ cười “một nửa” thôi, đủ mãng nguyện lắm rồi. Nếu có sự trùng hợp thì chỉ là sự vô tình. Kính mong độc giả lượng tình tha thứ.

“Sợ” hình như nó bắt nguồn từ lâu đời, nó đã ăn sâu trong huyết quảng của người Việt mình. Dưới sự đô hộ một ngàn năm của Tàu, thử tưởng tượng ông bà mình sống trong hoàng cảnh nầy mà không biết sợ thì đi chầu Diêm Vương ngay. Sở dĩ biết sợ nên răm rắp vâng lời, mới duy trì được cuộc sống đến đời chúng ta hôm nay. Cái sợ nó đã thấm đẩm trong máu chúng ta, nó đe dọa cuộc sống của chúng ta không nhiều thì ít, không ngoại trừ bất cứ ai. Ông Tàu “Tô Định” giận hét lên một tiếng thì từ vua tới quan của ta đều sốn đái trong quần, kể chi tới hàng thứ dân cùng đinh như lá cỏ, muốn chém giết ai chẳng được. Nên tổ tiên của mình luôn luôn sống trong sợ hãi, cái máu sợ hãi di truyền đến đời cha ông chúng ta thì gặp cái lúc thực dân Pháp cai trị.

Pháp dù sao đi nữa nó cũng không sắt máu bằng Tàu, thế nhưng chỉ dễ thở hơn một chút thôi, chứ không biết sợ cũng dễ bay đầu như chơi. Ba tôi kể lại rằng mỗi lần Tây Lê Dương bố ráp xóm tôi ở Đà Nẵng là đàn ông biết tiếng tây trốn mất, chỉ có hai bà cô thứ bảy và thứ chín của tôi biết tiếng tây ra đối phó. Nếu bọn tây nầy đàng hoàng thì hai bà dẫn đi từng nhà làm thông ngôn cho họ lục xét. Còn nếu bọn nầy dở trò cà chớn thì hai bà la lớn lên: “Đại úy, cứu chúng tôi”. Tức thì ông Đại úy trưởng kho xăng gần nhà tôi, dẫn lính chạy ra can thiệp ngay. Mà tụi Tây thấy đàn bà biết tiếng tây nó cũng nễ một phần, một phần nó cũng sợ cấp chỉ huy. Thường thường thì lính trong đồn đi tuần tiểu chung quanh vì sợ Việt Minh trà trộn trong xóm để phá hoại kho xăng. Mấy thằng lính mới tới, khi lục xét thấy đàn bà con gái muốn dở trò hãm hiếp là hai bà cô tôi la toán lên. Ông đại úy cầm batoon chạy trước, lính của ông cầm súng chạy sau. Cây batoon của ông đánh tới tấp mấy thằng lính cà chớn nầy. Thành thử xóm của tôi lúc ấy cũng bớt sợ. Tôi hỏi ba tôi lại sao mấy bác và ba tiếng tây giỏi hơn hai cô mà không ra làm thông ngôn, để hai cô phải làm chuyện ấy? Ba tôi bảo là đàn ông ra nói chuyện với chúng nó đôi khi nó chẳng thèm nghe mà còn xúm lại đánh mình. Mình chưa kịp kêu cứu thì đã bị đánh nhừ tử. Cho nên ai cũng sợ đi trốn hết. Còn đàn bà mà nói được tiếng tây chúng nó cũng nễ nang hơn. À, thì té ra tụi tây phương trước đây cũng coi trọng đàn bà.

Đó là mấy chuyện sợ của thời xa xưa, đến đời tôi lúc ấy đất nước mới chia cắt, sống trong thanh bình, ông Ngô Đình Diệm điều khiển đất nước từ vĩ tuyến 17 trở vào, còn bên kia do ông Hồ Chí Minh cầm đầu miền Bắc. Những năm đầu thanh bình, người dân Miền Nam không còn phải sợ sệt như thời Pháp thuộc, ai cũng nghĩ như vậy. Thế nhưng dưới con mắt thơ ngây của tôi lúc đó, chính tôi đã chứng kiến những oan khiên mà người dân dưới thời ông Diệm phải gánh chịu.

Năm tôi học lớp tư (lớp hai bây giờ), Khoản năm 1956, Tổng Thống đi kinh lý Đà Nẵng. Học sinh trường tôi 3 giờ sáng phải dậy tập trung ở trường để đi đón Tổng Thống. Trước khi các thầy cô giáo dẫn chúng tôi ra ngoài đường Trưng Nữ Vương, con đường dẫn từ phi trường vào thành phố Đà Nẵng, thì cán bô thông tin quận Hòa Vang (tôi học trường tiểu học Hòa Vang lúc ấy),  lên micro dặn dò học sinh, trước khi đứng vào vị trí hai bên đường chờ xe Tổng Thống đi qua. Thay vì dặn dò thì ông cán bộ thông tin nầy dùng lời lẽ hăm dọa: “Khi xe Tổng Tống đi qua, tôi hô “hoan hô Tổng Thống” thì các em hô “hoan hô”. Tôi hô “đá đảo Cộng Sản” thì các em hô “đá đảo”. Nếu tôi hô “hoan hô” mà các em hô “đá đảo”…thì các em chết với tôi”. Ông ta nghiến răng để tỏ thái độ răng đe. Nghe xong huấn thị thì đứa nào cũng sợ run người. 12 giờ trưa, xe Tổng Thống tới. Không biết tại sao khi tới chỗ chúng tôi đứng, xe ngừng lại và Tỏng Thống bước xuống đi bộ một đoạn hỏi thăm học sinh, rồi lên xe đi tiếp. Thằng bạn học một lớp, tên là Ca cùng xóm với tôi, miệng nó hay ăn nói bậy bạ và có giọng cười hô hố rất khó chịu. Ca xoay qua tôi cười hô hố và nói oan oan: “Tổng Thống gì mà mập như con heo”. Vừa nói xong, tức thì có một bàn tay chụp lên đầu nó, nắm tóc nó kéo ra phía sau. Tôi nhìn theo thấy ông ta một tay cầm tóc nó kéo lên, một tay vả vào mồm nó liên tục, máu từ miệng văng ra Tôi sợ quá không dám nhìn tiếp. Công An, mật vụ đứng phía sau học sinh mà chúng tôi không hề hay biết.

Khi tan hàng, tôi chạy về nhà thằng Ca báo cho cha mẹ nó biết là nó bị bắt, đang giữ trên quận Hòa Vang. Cha mẹ của Ca là phu khuân vác gạo ở bến tàu. Mới vừa đi làm về, cha nó không kịp thay áo quần, mặc quần xà lỏn, áo cánh, trên vai còn cái khăn vác gạo. Ông chạy lên quận để xin cho con về. Chừng hai giờ sau, ông khiêng thằng Ca về nhà, nó nằm bất tĩnh, thân hình bầm nát. Ba tôi và tôi chạy qua nhà để hỏi thăm tin tức. Trông thấy mặt mày của ông cũng bị sưng vù. Ba tôi hỏi cớ sự làm sao mà cha con bị đánh sưng mày sưng mặt như vậy, thì được ông cho biết là họ ghép ông vào hai tội. Tội thứ nhất là coi thường công quyền quận, đến cơ quan công quyền mà mặc quần xà lỏn, áo cánh (giống như áo bà ba cắt ngắn tay, những người lao động thời đó hay mặc). Tôi thứ hai là không biết dạy dỗ con cái, để nó xúc phạm đến uy danh Tổng Thống. Ba tôi ngửa mặt kêu trời không thấu, chế độ gì mà cay nghiệt như vậy. Một thằng bé con mới sáu bảy tuổi, ăn nói chưa rành, suy nghĩ chưa tới, lầm lở một chút mà đánh nó như đánh kẻ thù thì làm sao trong lòng nó không nuôi oán hận. Chứng kiến mấy cái cảnh hà hiếp của công an mật vụ thời ông Diệm in sâu trong đầu óc tôi từ lúc đó. Thú thật tôi không có cảm tình với chế độ nầy cho đến bây giờ. Thằng Ca sau nầy là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, mất tích trong trận Hạ Lào (Chiến dịch Lam Sơn 719).

Một lần khác, chú Dũng (người chú họ của tôi) từ trong quê ra Đà Nẵng báo cho Ba tôi biết tin là chú phải dẹp bàn thờ ông bà để theo đạo Thiên Chúa. Nếu không họ sẽ đưa chú đi vào khu dinh điền lập ấp (giống như đi kinh tế mới dưới thời Cộng Sản). Chú hỏi Ba tôi bây giờ phải làm sao. Ba tôi không đắn đo nói với chú là nên làm theo lời họ cho yên thân, còn tin hay không là tự lòng mình biết. Cha mẹ của Chú Dũng khóc hết nước mắt, dẹp hương đèn trên bàn thờ để thờ Chúa. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm cáo chung, chú Dũng lại dẹp tượng Chúa, đem hương đèn, hình ảnh của ông bà đặt lại lên bàn thờ. Dân quê miền Trung dưới thời ông Diệm, người dân chứng kiến biết bao nhiêu cảnh oan trái mà không dám hé môi. Đêm nào cũng trông thấy người bị giết bỏ vào bao bố thả trôi sông. Cảnh tượng nầy làm cho người dân kinh hoàng sợ đến mất ăn mất ngủ. Dân chúng chưa bao giờ thấy “Cậu Cẩn” em ruột Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng nghe tên cậu ai cũng khiếp vía. Cái gì của cậu Cẩn ai cũng tránh né, không dám đụng đến. Không biết cậu có “ác” như người ta đồn hay không, nhưng bộ hạ của cậu tác oai tác quái, mượn danh cậu làm những điều “trời không dung đất không tha”. Nữa đêm nghe tiếng gỏ cửa của công an mật vụ, là xem như gia đình đó có người biến mất trên cỏi đời nầy, nếu được cho trở về cũng thân tàn ma dại. Sống trong sợ hải như vậy, thà chết cón sướng hơn. Có lẻ vì vậy mà đẩy một số người đi theo bên kia làm nồng cốt cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau nầy, hình như là MTGPMN thành lập 1960 thời của ông Diệm. Trong thời của chế độ Ngô Đình Diệm, người dân quê miền Trung đi “nhảy núi” rất nhiều. Còn bao nhiêu chuyện khác mà gia đình ông gây ra thảm họa cho rất nhiều người dân vô tội.

Có lẽ trong thời gian người dân miền Nam thoải mái nhất, ăn nói mạnh miệng mà không cần phải giữ ý tứ. Đó là thời đệ nhị Cộng Hòa. Trong thời nầy người dân mới cảm thấy được dân chủ một chút thì đúng vào lúc chiến tranh “khốc liệt” nhất. Không sợ bị bắt vì ăn nói, nhưng sợ chết vì súng đạn. Trong thành phố, nhà nào cũng làm hầm trú ẩn để tránh đạn pháo kích. Thanh niên thì sợ ra chiến trường. Không có một nơi nào an toàn cho người dân. Người dân luôn luôn sống trong sợ hải, trong lo lắng. Mặc dù trong cách sống rất thoải mái. Phải thành thật mà nói trong tất cả các chế độ từ trước tới nay, chế độ do ông Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống là chế mà người dân cảm thấy tốt nhất, ít bị công an cảnh sát khuấy nhiểu, làm phiền. Người dân được hưởng những quyền tự do, dân chủ. Còn những chuyện về chính trị của chế độ ông thế nào thì lịch sử sẽ phán xét sau nầy.

Từ 1954 đến 1975 miền Bắc sống như thế nào, sau nầy nghe những người ngoài kia vào kể lại. Thật ra cái sắc máu của thời Ngô Đình Diệm thua xa cái sắt máu của thời Hồ Chí Minh. Người dân ngoài đó răm rắp tuân hành như một trại lính. Lòng người không được ngơi nghĩ bởi những xáo trộn do đảng Cộng Sản nghĩ ra: Cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, Tiêu cực chống đảng, thanh niên đi bộ đội vào Nam giải phóng, người dân sống bằng tem phiếu, không tuân hành chế độ là bị cắt khẩu phần. Nên tất cả răm rắp tuân hành. Những món nầy không một món nào mà không đưa tới chết người. Người dân không ở trong tổ chức nầy thì ở trong tổ chức khác, kiểm soát nhau. Đến nỗi nhà văn Nguyễn Tuân cũng phải thú nhận rằng, sỡ dĩ ông sống được cho đến bây giờ là bởi vì ông “biết sợ”.

Còn sau 30 tháng 4 người dân miền Nam có còn sợ không?

Tôi không biết còn từ ngữ nào mô tả cái “sợ” mà nó hơn cả cái sợ mà từ trước tới nay tôi đã chứng kiến. Cái thời Pháp thuộc, cái thời Đệ Nhất, Đệ Nhị Công Hòa đều không ra gì so với cái “sợ” sống dưới chế độ Cộng Sản sau 30/4/1975 rất khủng khiếp và nó không trừ một ai (dĩ nhiên đám chóp bu thì tôi không biết) nhưng nói chung chung từ cán bộ cho tới nhân dân ai ai cũng sống trong sự sợ hải. Những gia đình ngụy quân, ngụy quyền thì luôn luôn bị đe dọa, nửa đêm công an tới nhà lục xét, bắt bớ, bị tịch thu nhà, đi kinh tế mới, con cái không được học hành, bị cắt khẩu phần ẩm thực v.v.. Sống trong lo âu, không biết đến lúc nào tới phiên mình. Những tháng năm từ 1975 đến 1985 người dân sống trong lo âu sợ sệt. Mười năm đó sống trong tận cùng nghèo khổ, dân chúng thê thảm sống dưới một chính sách cực kỳ cay nghiệt, ăn toàn bo bo một thứ thực phẩm chỉ dành cho heo. Chính quyền điều khiển dân chúng bằng phương thức bóp lấy bao tử người dân. Cho nên vì sợ đói toàn dân phải răm rắp tuân theo, cúi đầu khuất phục. Cán bộ thì không thể sống bằng đồng lương nên phải ăn hối lộ, mánh mung, ăn cắp của công. Người dân làm các nghề buôn bán hay sản xuất thi sưu cao thuế nặng nên làm nhiều khai ít, trốn thuế, đút lót cho cán bộ, ăn nhậu với cán bộ. Nghĩa là một chế độ tạo dựng ra tất cả mọi người đều phạm tôi. Đụng vào ai, vào thành phần nào cũng tội lỗi đầy mình. Nên ai ai cũng phải sợ, sống trong hoan mang sợ hải.

Tôi nhớ một người cán bộ từ miền Bắc vào ở gần nhà tôi. Ông là một người thanh liêm nổi tiếng trong cơ quan. Tiêu chuẩn của gia đình ông rất cao nên nhu yếu phẩm hằng tháng của ông cũng rất đặc biệt. Một hôm bà vợ ông qua nhà tôi gợi ý với vợ tôi là bà dư dùng một số nhu yếu phẩm hằng tháng, bà muốn nhượng lại cho vợ tôi để lấy tiền dùng vào chuyện khác. Thế rồi hằng tháng bà mang qua nhà tôi các thứ thịt, cá, dầu mỡ, thuốc lá, đường sữa, và rất nhiều thứ khác mà người dân bình thường không thể có được. Vợ tôi bảo là tại sao bà không mang ra chợ bán, thì được bà cho biết là bà sợ quần chúng dị nghị, sợ công an bắt điều tra những thứ nầy từ đâu ra khấy nhiểu đến tư cách của ông. Buôn bán các thứ cấm kỵ chỉ có nhà nước mới có quyền kinh danh. Nên bà sợ không dám mang ra ngoài là vì vậy. Mỗi lần bà mang các thứ nầy đến nhà tôi, bà dấu hàng trong cái rỗ đậy bằng lá chuối ngụy trang cho mọi người không biết. Tôi nghiệp, một quan cách mạng thanh liêm chỉ sống bằng đồng lương và các nhu yếu phẩm tiêu chuẩn dành cho mình mà còn phải sợ như vậy, thì thử hỏi các quan chức hối lộ làm sao mà không sợ.

Còn chuyện làm ăn bên ngoài, tất cả các Tổ Hợp cũng như Hợp Tác Xã phần đông đều trá hình. Chỉ có một ông chủ còn tất cả đều là những người làm công, nhưng phải núp dưới bóng tập thể nầy. Phường và Quận là các cơ quan trực tiếp quản lý, họ biết rỏ nhưng họ làm lơ vì nhân viên của cơ sở không khiếu nại thì xem như hợp pháp, khui ra làm gì để mất miếng ăn. Quan trọng hơn là các ông chủ của các cơ sở nầy chi tiền rộng rãi, tiếp đón hậu hỉ thì phải để yên cho họ yên thân làm ăn, để mình còn có chút cháo. Còn tiền thuế nộp cho nhà nước chỉ đại khái cho lấy lệ, phải trốn thuế để lấy tiền nầy chi cho các quan chức, tiếp khách, nhậu nhẹt. Cho nên bất cứ cơ sở sản xuất nào cũng đều có vấn đề. Nhưng nếu nhà nước điều tra thì “bức dây động rừng”, cơ sở đó chết, bị phá sản thì họ liều mạng tố cáo các quan chức đã từng ăn chịu, như cái vụ “Nguyễn Văn Mười Hai” của cơ sở nước hoa Thanh Hương ở Sài Gòn trước đây hơn hai mươi năm, lường gạt biết bao nhiêu tiền của dân, mượn đầu nầy đắp đầu kia. Đến khi công chuyện đổ bể, Nguyễn Văn Mười Hai vào tù kéo theo không biết bao nhiêu quan chức lớn nhỏ vào tù theo. Vì vậy sự phạm pháp dây chuyền nầy không ai dại gì làm ra vì bên nào cũng chết. Cái dù to che chắn đủ mọi phía. Nhưng thực chất bên nào cũng sợ mất ăn mất ngủ, nếu có ai đó tố cáo mà các cái dù không đủ che đậy. Thì phải vào tù cả đám. Không biết bây giờ đã thay đổi gì chưa, chứ từ năm 75 đến năm 90 tất cả các nơi buôn bán cũng như sản xuất chi phí cho quan chức nhiều lắm để họ che chắn cho mình làm ăn. Thế nhưng đụng tới nơi nào là xem như nơi đó không còn thuốc chữa.

Như vậy từ cán bộ tới dân ai cũng phạm pháp không nhiều thì ít, nên ai cũng phải sợ. Chính phủ cũng lo sợ dân chúng bị chèn ép quá có ngày nổi loạn. Dân chúng thì sợ chính phủ bắt bớ vì phạm tội của mình. Một chế độ mà sống trong sợ sệt thì mất đi lý thú. Bây giờ nhiều người giàu sụ, tôi nghĩ rằng đây là những đồng tiền không sáng sủa, những đồng tiền do việc làm bất hợp pháp tạo nên. Chứ làm ăn một cách đàng hoàn thì không thể nào giàu có một cách nhanh chóng như vậy được. Tôi nghĩ tất cả người cán bộ giàu có bây giờ cũng đang sống trong lo âu sợ sệt, ai cũng có những tì vết bất chính, những đồng tiền chèn ép, chận yết hầu người khác. Chúng ta ở hải ngoại về nước đụng phải các “đại gia” nầy phải kinh sợ cái lối tiêu tiền như nước của họ, chúng ta không thể tưởng tượng được cái giàu có của họ. Nếu làm ăn đàng hoàng, tuân hành thuế khóa, đồng tiền làm ra bằng mồ hôi nước mắt của mình thì không thể giàu một cách kinh khủng như vậy. Tất cả tiền bạc kiểu nầy đều bất chính, mà bất chính thì họ luôn luôn sống trong sợ hãi.

Có lẽ một nguyên nhân làm giàu nhanh nhất là đất đai. Người dân không ai có quyền quản lý hay làm chủ đất, dù đất đó xưa nay là của mình, do mình hay ông bà để lại. Cán bộ chính quyền là những người lập ra các kế hoạch xây dựng nên họ biết những đất đai nằm trong kế hoạch. Họ trưng dụng hoặc đền bù cho dân một số tiền nhỏ và họ bán lại cho người khác với số tiền lớn gây ra tệ nạn bất công trong dân chúng. Đất đó chia cho cán bộ cho nên tự nhiên tạo thành tầng lớp cán bộ giàu có là vì vậy. Ta tự hỏi cán bộ “cướp đất” như vậy có sớ không? Có lẽ trong thâm tâm của họ lúc nào cũng sợ. Họ chèn kéo nhau, bảo vệ cho nhau để vun đắp chế độ hết mình vì họ biết nếu có một nhà nước dân chủ sẽ kéo theo một sự sụp đổ và hậu quả tất nhiên không lường được cho họ. Cái gì của dân phải trả lại cho dân. Ta thử tưởng tượng xem các nhà tư sản đỏ sẽ lòi ra toàn là “kẻ cướp”.

Từ một cái nhìn bên ngoài đất nước, ta nhận ra được ngay các quan chức chóp bu họ cực kỳ giàu có, sống trong xa hoa lộng lẫy. Con cái của họ tiêu tiền như vứt rác qua cửa sổ. Họ không lường được cái giá họ phải trả sau nầy. Cái gương của sự sụp đổ của các nhà cai trị Trung Đông trong cách mạng “hoa lài” đã để lại cho họ một cái giật mình. Rồi đến một lúc nào đó chính họ cũng phải như vậy. Có lẽ họ còn “sợ hãi” hơn, hậu quả khốc liệt hơn./

Houston, 22-4-2011

Posted in Phiếm Luận | Leave a Comment »

LÒNG VÒNG XÓM NHÀ LÁ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 23, 2009

LÒNG VÒNG XÓM NHÀ LÁ

Phiếm của Phan Xuân Sinh

Lời nói đầu: Đây là một chuyện vui trong đời sống. Mọi hoàn cảnh xẩy ra, tên tuổi nhân vật không có trong thực tế. Nếu có sự trùng hợp chỉ là vô tình và ngẫu nhiên chứ tác giả không chủ ý. Kính mong quý vị độc giả lượng tình tha thứ.

__________
Một lần tôi đi bác sĩ, ông tên là David Nguyễn. Tôi nghĩ trong đầu, chắc ông bác sĩ nầy còn trẻ lắm. Những người trẻ thường lấy tên Mỹ để dễ dàng trong chuyện học tập, tiếp xúc giao thiệp với người bản xứ. Còn ông bác sĩ nầy tuổi đã cao, sắp sửa hưu trí, khách hàng chính của ông là người Việt, cái bằng bác sĩ của ông do Đại học Y khoa Sài Gòn cấp. Vì nhu cầu khẩn cấp cần bác sĩ người Việt để đáp ứng với số lượng nhập cư của dân Việt đông đảo, chính phủ Mỹ đặc ân cho một số bác sĩ cũ ở Việt Nam, qua một cuộc thi sơ sài, qua một đợt thực tập ngắn ngủi, rồi cấp cho một giấy chứng nhận tương đương để phục vụ đồng hương. Thế mà có ông muốn chối bỏ cái gốc gác của mình. Cái tên “Đạm” của cha mẹ đặt cho ông, ông bắt những khách hàng Việt Nam phải gọi ông là David, tôi nghe có cái gì không ổn, tôi cảm thấy ngường ngượng khi phải gọi tên ông.

Môt bà khách hàng của ông dân miền Nam Lục tỉnh, chân chất, ít học, nói tiếng Mỹ với giọng miền Nam đặc sệt. Khi tiếp xúc với ông, bà rất kính trọng và lễ phép: “Dạ thưa bác sĩ Đê-dịt”, tôi trố mắt ngạc nhiên, tưởng rằng bà chế nhạo ông, nhưng thấy mặt bà tỉnh bơ có vẻ thành thật trong giọng nói, mà hình như bác sĩ đã quen tai với cái tên tiếng Mỹ đọc giọng miền Nam nầy nhiều lần nên ông cũng tỉnh bơ như bà đó vậy. Tôi thắc mắc, tại sao ông không lấy cái tên Đạm để tiếp xúc với khách hàng, đồng hương của mình, sao ông lại đày đọa dân của mình như vậy chứ? Còn cái tên David kia dùng cho giấy tờ hay tiếp xúc với người bản xứ thì hay biết mấy. Người bạn của tôi là Luật sư Nguyễn Xuân Phước, trên giấy tờ ông tên là Phillip Nguyen, nhưng chưa bao giờ tôi nghe ông dùng tên nầy tiếp xúc với đồng hương, mặc dù ông theo học luật ở Mỹ.

Chuyện lấy tên Mỹ, tôi hoàn toàn không đả phá. Sống trên đất nước Hoa Kỳ mình phải thay đổi để dễ dàng hội nhập. Tuy nhiên cũng phải tùy trường hợp. Khi đi làm sở Mỹ hoặc tiếp xúc với Mỹ, ta dùng tên đó để giao tiếp. Đằng nầy có những người suốt đời từ trong nước ra tới hải ngoại chỉ tiếp xúc với người Việt, lận lưng được vài câu tiếng Anh ba rọi, thế nhưng khi hỏi tên thì James, Michael, Robert v.v… như một thằng Mỹ chính thống, thấy ngượng không chịu được, thế nhưng người ta cho đó là một cái “mốt” thời thượng. Ai không như vậy tức là bị lỗi thời, không theo kịp cái đà tiến hóa của loài người.

Một hôm vợ chồng tôi được mời tham dự bữa tiệc mà chúng tôi không biết là tiệc gì. Khi đến nơi thì tôi mới biết đó là tiệc sinh nhật của một người mang tên là Julie, tôi thấy trên chiếc bánh sinh nhật và những bong bóng mang hàng chữ “Happy Birthday Julie”. Tôi nói với đứa con gái duy nhất của ông bà chủ nhà ra mở cửa cho chúng tôi, là hôm nay sinh nhật của cháu lớn quá, chúc mừng cháu. Cô bé chưng hửng lắc đầu cải chính ngay là sinh nhật của mẹ cháu. Bây giờ đến lượt tôi chưng hửng, tôi không thể nào ngờ được một người bán cá ở Việt Nam, lam lũ, chỉ mới biết đọc, biết viết sơ sài, thế mà vượt biên qua tới đây, lột hết, rửa sạch, trở thành giới trí thức, một người Mỹ chính hiệu. Làm sao biết ngày sinh nhật của mình. Chỉ biết mình mang tuổi Tí, Sửu, Dần, Mẹo… gì đó đã may lắm rồi. Đằng nầy tưởng tượng ra ngày sinh của mình, rồi ầm ĩ tổ chức nọ kia, cho hợp với đà văn minh. Suốt trong bữa tiệc tôi nghẹn ngào ngồi nhìn “cô Tư bán cá” chợ Hàn Đà Nẵng thuở nào, bây giờ mang tên Julie chủ tiệm Nails ở Mỹ. Mọi người trong bàn tiệc gọi chị Julie một cách tỉnh bơ, chứ không ai còn gọi chị Tư như ngày nào.

Thay da đổi thịt trong cuộc sống là lẽ thường tình và mừng cho họ có một cuộc sống khấm khá. Thế nhưng một thứ trưởng giả học làm sang, chạy theo những phù phiếm, che đậy cuộc sống chân chất của quá vãng. Thật tội nghiệp cho cô “Julie” bây giờ, không còn một chút hiện thân của cô “Tư” bán hàng dễ thương ở chợ Hàn ngày xưa.

Chúng ta thỉnh thoảng ra đường bắt gặp những người Việt Nam gọi nhau… bằng những cái tên Mỹ. Những người trẻ tuổi thì chúng ta không nói làm gì, đằng nầy mấy ông bà đã trưởng thành tại Việt Nam, con cháu lủ khủ thế mà bỏ đi cái tên cúng cơm lâu đời của mình để khoác lên cái tên ngoại lai thật khó chịu. Họ rất hãnh diện mang cái tên “Mỹ” nầy, đôi khi tiếng Anh lắp bắp cắn chưa bể một chữ.

Tôi xin kể một trường hợp mà tôi đã chứng kiến, cười ra nước mắt. Có một gia đình đồng hương mời tôi dự đám giỗ cụ thân sinh của chủ nhà. Vợ chồng chủ nhà cũng trên bảy mươi tuổi, qua đây theo diện HO. Ngày xưa trước 1975, ông cụ làm chủ tịch xã ngoài Quảng Nam, tên của ông là Trần Từ Giã. Nghe nói có hai người con, một  trai, một gái, tuổi cũng xấp xỉ năm mươi, lúc đó qua đây theo diện ăn theo với vợ chồng ông. Khi tất cả mọi người ngồi vào bàn tiệc, ông chủ nhà xin lỗi quý khách đợi thêm vài phút vì phải chờ “May-cồ” tới. Mọi người đều nghĩ trong bụng, chắc ông Mỹ nầy là thượng khách của gia đình, hoặc là người rể quý Mỹ của ông chủ nhà. Mười phút sau có vợ chồng và mấy đứa con mở cửa chính bước vào. Ông chủ nhà thốt lên: “Vợ chồng thằng May-cồ tới rồi”. Ai cũng nhìn ra cửa, thấy gia đình một người Việt Nam, người chồng chừng năm mươi tuổi có tên là “May-cồ” là con trai của ông chủ nhà, mà khách khứa cứ tưởng là một ông Mỹ. Ông chủ nhà giới thiệu với mọi người Micheal là con trai trưởng của ông. Gia chủ tuyên bố lý do bữa tiệc, rồi trong bàn có một người lớn tuổi thay mặt cho khách nói lời cảm tạ. Ông khách nầy là người Quảng Nam, bạn với chủ nhà, hay ăn nói móc họng. Ông trịnh trọng đứng dậy:

“Thưa ông Trần Từ Giã, thưa ông May-cồ Dách-sơn là cháu đích tôn của cụ đã khuất,”

Người con trai của chủ nhà đứng dậy chặn ngang:

“Thưa bác, cháu tên là Michael Từ Trần, chứ không có chữ Jackson phía sau giống như người ca sĩ nổi tiếng của Mỹ.”

Ông cụ cười ha hả, trả lời một cách châm biếm:

“Sao ông không lấy hết tên của người ta làm của mình, lấy chi… nửa vời nghe chướng quá. Nên tôi thêm vào cho nó đỡ ngượng.”

Rồi ông chậm rãi:

“Ngày giỗ của ông nội, ông là cháu đích tôn mà không tới sớm để thắp cho ông nội một cây hương. Ông tới trễ như một người khách, thì tôi không lạ gì ông từ bỏ cái tên cúng cơm mà cha mẹ đã đặt cho ông. Ông bắt cha mẹ, gia đình và khách khứa dự bữa tiệc hôm nay gọi ông bằng một cái tên lạ hoắc, mà gia phả của người Việt mình không chấp nhận được. Ông làm khó mọi người để làm gì vậy? Tất cả bà con mình qua đây ai cũng đổi bằng xương máu, nước mắt. Không có ai qua đây để chơi, để phùng xòe, để đoi đòi. Ông nên mang cái tên nầy dùng trong xã hội Mỹ, trong công sở ông làm việc. Ra khỏi sở xin ông gửi nó lại đó, về với gia đình, với đồng hương, với cái tên thật của mình. Người ta chê cười tư cách của mình sống, chứ có mười cái tên Mỹ đẹp đẽ mà sống chẳng ra gì, người ta lại càng chê cười chế giễu nhiều hơn.”

Tất cả những người có mặt trên bàn tiệc im phăng phắc. Chưa vào tiệc đã nếm qua cái món khai vị nóng sốt, đậm đà “bản sắc dân tộc”. Dù có đói rát ruột, sau khi nếm qua món khai vị nầy, mọi người trong bàn tiệc cảm thấy bụng đã no đầy ắp. Ông May-cồ ngồi cúi mặt. Một bài học thấy thấm đau, mà tôi biết, không bao giờ ông quên được trong đời của ông sau nầy.

Tôi thấy nhan nhản trên đường phố Bolsa, San Jose, Houston, Dorchester, Washington DC, Chamblee v.v… những nơi kinh doanh của người Việt mà tôi đã đi qua trên đất Mỹ, những cái tên  nửa nạc nửa mỡ: Andrew Nguyễn, Susan Phạm, Dustin Ngô, Thomas Lê… trương trên bảng hiệu, trong các tờ báo quảng cáo, thấy rất nhức đầu. Họ là người Việt thuộc thế hệ thứ nhất, làm ăn với người Việt chứ không có thằng cha Tây, con mẹ đầm nào dính vào đây. Khách hàng của họ là 100% dân Việt Nam, thế mà họ sợ để cái tên thuần chất Việt Nam sẽ giảm uy tín của bổn hiệu, mất đi tín nhiệm với khách hàng. Phải tỏ mình là công dân Hoa Kỳ, mang cái first name Mỹ mới đúng cách, đúng phẩm chất cao. Bao nhiêu năm tôi khắc khoải về chuyện nầy, nếu đúng như vậy thì tại sao có nhiều người vẫn dùng tên họ Việt, khách đến đông đúc? Nếu họ làm ăn với người bản xứ, thì mang tên Mỹ không ai nói làm gì, vì đó là một cách giúp giao tiếp thuận lợi. Đằng nầy ngay trong gia đình họ vẫn gọi nhau: John, Lisa, Liz, Peter… nghe sao chướng tai quá.

Thế hệ thứ hai, thứ ba, sinh ra ở đây. Họ mang tên Mỹ từ nhỏ, nên bắt buộc họ phải dùng tên Mỹ. Còn có những ông bà qua đây trễ tràng, không có thời giờ bước vào trường học, phải lao động cật lực để nuôi gia đình. Khi đời sống ổn định, có bằng công dân Hoa Kỳ, họ bắt đầu nghĩ ngay đến thay đổi sao cho phù hợp. Đó cũng là một bước tiến tốt. Tuy nhiên chúng ta không thể nhắm mắt quơ càn, tốt xấu hầm bà lằn, mà phải thận trọng chắt lọc cái gì tốt ta dùng, cái gì xấu ta bỏ. Đó là con người khôn ngoan thực dụng.

Một bà mang tên Tám, sau khi cầm cái bằng công dân trong tay, mọi người phải gọi bà là Tammy. Nhiều người quen miệng gọi bà Tám, bà làm bộ không nghe, không biết cái tên nầy. Phải gọi là Tammy thì bà mới quay qua trả lời. Xem trên TV nhân ngày lễ gì đó, phóng viên đến phỏng vấn một bà cụ trên 65 tuổi: “Thưa bà xin cho biết quý danh?” Cụ bà nhanh nhẹn trả lời ngay: “Tôi tên là Tracy Nguyễn”. Nghe bà xưng tên, tôi muốn té xuống ghế. Một bà ngồi coi truyền hình với gia đình tôi, nhận ra được bà Tracy là người có quen biết với bà, bà kia la lên: “Con mẹ nầy tên Trác làm workcenter với tôi ở Dorchester, mèn đéc ơi mang tên Mỹ”, rồi bà cười ha hả: “Đồ quỷ không hà”. Cái tên Mỹ chỉ để dùng trong giấy tờ khi hữu sự, chứ áp dụng với người đồng hương với nhau thấy kỳ quá.

Một số ít người Việt ở Mỹ quan niệm rằng khi vào công dân Mỹ phải dùng tên Mỹ nầy bất cứ nơi đâu, ngay cả trong gia đình. Thằng Tí, con Mén, bà Út, ông Lượm, mới gọi nhau ra rả ngày hôm qua. Sáng nay đi tuyên thệ nhận bằng công dân về, thì áp dụng tên ấy ngay lập tức: Thằng John, con Cecile, bà Jolie, ông Jim, không một chút ngượng mồm ngượng miệng. Trong gia đình được Mỹ hóa một cách nhanh chóng. Để cho đồng hương biết rằng gia đình đã được lột xác không còn dính dấp gì cái xứ Việt Nam nghèo khổ bên kia xa lắc xa lơ. Không còn nghĩ tới tổ tiên ông bà, xa lánh đồng hương. Tìm mua một cái nhà ở vùng Mỹ trắng thật xa vì cho rằng ở gần người Việt có nhiều rối rắm. Bây giờ mình thuộc loại “high class” rồi, phải dứt phăng cái “đuôi Vietnamese” cho nó bớt hổ thẹn. Khách ngoài đường ai hỏi mình từ đâu tới, không ngại ngần trả lời: “I’m Japanese”.

Lại cũng vì “tôi là người Nhật”. Tôi nghe một bà quen biết kể cho một chuyện thật buồn cười. Khi mới qua đây bà đi làm một hãng điện tử, người supervisor hỏi lai lịch. Bà trả lời là dân Nhật Bổn. Bà nghĩ rằng mình nói là dân Nhật tụi Mỹ nó kính nể hơn, còn tự nhận rằng dân Việt tụi Mỹ nó khinh lắm, hơn nữa đây là thành phố nhỏ của tiểu bang Pennsylvania, nơi khỉ ho cò gáy nầy làm gì có người Á Đông, nói gì mà không được. Không ngờ người đó vui mừng gọi ngay một bà Nhật Bổn thứ thiệt, đang làm trong hãng ra giới thiệu, vì có một đồng hương Nhật mới vào làm để cho hai người quen biết nhau. Bà người Nhật mừng quá chạy tới nói môt tràng tiếng Nhật. Bà Nhật “dỏm” ú ớ, đành phải thú thật rằng bà là người Việt. Bà người Nhật giận lên, mắng cho một trận rồi ngoay ngoảy bỏ đi. Bà nầy thấy mắc cỡ quá, cũng trốn ra khỏi sở, không bao giờ dám bén mảng tới đây, dù cái “job” tương đối thơm, đành phải bỏ đi xin làm nơi khác.

Một anh bạn kể cho nghe một chuyện mà anh đã gặp trong sở làm. Đều là người Việt Nam cả, hai người cũng khá lớn tuổi gặp nhau nói chuyện vui vẻ, nhưng đến khi hỏi tên, ông kia thưa: “Dạ, tôi tên là Thompson”. Ông kia giật mình tưởng mình nghe lộn nên hỏi lại cho chắc. Ông kia vẫn thưa y như vậy. Ông nầy thấy gai mắt quá, hỏi vặn ông kia: “Chứ anh có biết tên tôi là gì không?” Ông kia lắc đầu, ông nầy nói một cách đanh đá: “Tôi tên là Colt 45″. Rồi ông quay mặt bỏ đi ngay. Đến giờ giải lao, ông đến gặp tôi kể lại chuyện nầy với lời giận giữ: “Chạy trối chết qua đây lo kiếm cơm đủ hết hơi, còn bày đặt học đòi lấy tên Mỹ mà không biết nhục. Thompson với Carbine nghe muốn ói. Cho nên tôi chơi lại liền, Colt 45 là loại súng nhỏ dành cho chỉ huy. Còn tiểu liên Thompson với Carbine chỉ dành cho lính. Ý của tôi chưởi xéo cho hắn biết, đây thứ thiệt mà còn dẹp tiệm, đừng có hợm hĩnh như vậy”. Tôi ôm bụng cười bò càng.

Đi lòng vòng lắng nghe những chuyện xẩy ra cho cộng đồng người Việt, giống như ngày xưa báo chí Sài Gòn lượm lặt những cái chuyện tréo ngoe xẩy ra trong dân chúng, đúc kết thành “Chuyện dài nhân dân tự vệ”, “Chó cắn xe, xe cán chó”, nó dai dẳng trong đời sống không hết được. Những chuyện như thế nầy chưa chắc đã xẩy ra, người viết chỉ tưởng tượng cho người đọc mua vui và tránh bớt đi cái khó coi, cái hợm hĩnh vướng mắc mà ta có thể gỡ nó bằng tấm lòng, chứ không mang tính chỉ trích hay hạch tội. Tôi mong rằng người đọc xuề xòa bỏ qua, nếu tôi không mang lại một nụ cười thoải mái.

Houston, những ngày nóng bức tháng 7/09

© 2009 Phan Xuân Sinh

© 2009 talawas blog
Create PDF

ShareThis

Posted in Phiếm Luận | Leave a Comment »

Phiếm Luận: Đụng Vào Cõi Văn Chương

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Đụng vào cõi văn chương

Tác giả:  Phan Xuân Sinh
Lời Mở Đầu: ” Đây là một câu chuyện tưởng tượng, nếu có sự trùng hợp đó chỉ la ngẫu nhiên chứ không phải cố tình của tác giả. Kính mong quý vị lượng tình tha thứ. PXS”

Trên chiếc chiếu văn chương hải ngoại (tôi không biết trong nước có như vậy không?) thì lắm trò, lắm kiểu, có nhiều khuôn mặt kỳ lạ, họ luôn luôn làm những điều nỗi cộm để thiên hạ chú ý. Chẳng hạn như hội ộhọp, tham dự những buổi sinh hoạt văn nghệ, bao giờ họ cũng tới trễ. Khi vào thì đi đứng nghênh ngang, mặt thì hầm hầm, không thèm ngó ai chứ đừng nói gì đến chuyện chào hỏi. Khi được mời lên phát biểu thì họ ăn nói linh tinh, lập dị, cố tình lạc đề, thể hiện cho mọi người biết họ xem thường tất cả. Khi ngồi trước đám đông anh em, họ sợ người ta không biết họ là ai thì họ ăn nói khoác lác, coi thường mọi người, họ giành nói hết chuyện nầy tới chuyện khác, không cho ai nói. Có một lần ngồi nhậu, cũng cái kiểu ăn nói trên trời như vậy, từ đầu tới cuối không cho ai nói. Một ông nhà thơ thấy gai mắt, đang trong tình trạng ngà ngà, mượn rượu ông nói thẳng vào nhà văn ấy: “Thưa ông nhà văn kia, tôi đến đây chơi với anh em. Tôi cũng có miệng ăn miệng nói, ông để cho tôi ăn mà không cho tôi nói, ông giành nói hết. Tại sao vậy?” Cả bàn nhậu chưng hửng, rồi ôm bụng cười. Thế là gây ra một mối thù không đội trời chung.

Ở hải ngoại làm báo dễ dàng, người làm báo chỉ cần có khả năng đi lấy quảng cáo, chìu lụy thân chủ quảng cáo, tờ báo sẽ sống được. Quảng cáo nhiều, người chủ báo sẽ giàu. Bài vở cỡ nào cũng có, đáp ứng mọi thị hiếu của người đọc. Vào internet chúng ta sẽ có ngay những tin tức văn chương, chính trị, kinh tế v.v… nóng hổi nhất, cập nhật hóa được mọi tin tức mà không sợ bị lỗi thời. Có những người say mê với nghề làm báo, tôn trọng độc giả và sợ đụng chạm vì như vậy sẽ mất uy tín, nên tờ báo của họ được chăm sóc kỹ lưỡng. Còn có một thành phần xem tờ báo của mình là một phương tiện để thể hiện cá tính riêng của mình, đăng hình vợ con cháu chắc, để cho độc giả biết cái hạnh phúc của mình. Một ông chủ báo kể cho tôi nghe trường hợp của ông. Trong một tờ báo xuân cuối năm, ông đem hình con gái ông để làm bìa, phía dưới có hàng chữ: “Ái nữ của bổn báo Chủ nhiệm”. Một độc giả thấy gai mắt gọi tới ông và chỉ nói vổn vẹn một câu rồi cúp máy: “Ông còn hình nào của vợ lớn, vợ bé mang ra đăng luôn, xem như quảng cáo cho gia đình ông, để thiên hạ biết.”

Có tờ báo muốn làm chức năng ‘cảnh sát” sẽ thổi còi những tờ báo nào mà không đúng quy luật, đi chệch đường, họ sẵn sàng đụng chạm, gây hấn, tranh cải (Chẳng biết căn cứ vào đâu để có cái quy luật bất thành văn kỳ lạ nầy). Họ xem như họ là đấng quyền năng tối cao, ban phát hay trừng phạt, đề cao hay hạ nhục. Họ có quyền làm điều đó một cách tự nhiên mà không sợ ai cả. Một cảnh sát công minh, vô tư hướng dẫn những cổ xe dư luận đi vào bên phải hay bên trái. Thế nhưng cái quan trọng là làm thế nào để thể hiện cái “vô tư” khi mà chính bản thân của mình đã thiếu vô tư. Tờ báo của mình cũng tranh giành quảng cáo với những tờ báo khác, kèn cựa giá biểu quảng cáo và còn vô vàn cái tranh giành khác để sống còn. Cho nên người đọc tại hải ngoại không lạ gì với cuộc chiến tranh báo chí. Báo nầy chụp nón cối cho báo bên kia, báo bên kia lượm lên chụp lại bên nầy, như vậy bên nào cũng cộng sản cả. Người đọc đứng giữa không biết tin bên nào, vì lý lẽ bên nào cũng đúng. Đích thực không bên nào là cộng sản nhưng hai bên đều ngụy tạo để vu cáo nhau. Còn văn chương được viết để đánh đấm nhau thì vô cùng hạ cấp, cốt để hạ nhục đối phương, phủ đầu đối phương.

Căn bệnh thứ hai của báo chí là dạy cho người khác một bài học. Tâm trạng họ mang trong người là đứng phía trên nhìn xuống phía dưới, dạy cho bọn lóc nhóc một bài học. Giống như Trung Cộng năm 79 dạy cho đàn em Việt Nam một bài học vậy. Muốn làm giáo sư luân lý mà quả thật trong lời lẽ chẳng có chút luân lý nào. Ghét ai là họ châm chọc, soi mói, hạ nhân cách. hạ nhục đối phương. Người bị họ đụng tới thường là những người nổi tiếng, có nhân cách, được nhiều người nể trọng. Họ đụng tới thành phần nầy để người khác biết là cở nầy mà họ còn dám đụng, thì người khác phải coi chừng. Đó là đòn dằn mặt kẻ khác đừng lén phén sẽ mang họa. Quan niệm của họ là làm như vậy mới được nổi tiếng, các tờ báo khác khiếp sợ, họ xứng đáng lãnh tụ báo chí. Những người tranh đấu ở tù mục gông dưới chế độ công sản như Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện mà họ cũng không tha, riết rồi các ông nầy không dám có mặt giữa đám đông. Phải sống ẩn dật. Có tờ báo trong tay là họ muốn ai ai cũng phải tùng phục. Nghe tên họ ai cũng sợ phải lo tránh xa. Ở Boston trước đây có một tờ báo chuyên chửi bới người khác. Họ moi những thâm cung bí sử, tam cổ tứ đợi của người ta ra chửi bới. Người viết mục chửi nầy một hôm ngồi nhậu với anh em. Tôi hỏi ông làm sao ông biết đời tư của họ mà ông moi móc chửi rủa như vậy. Ông ấy trả lời tỉnh bơ: “Làm gì biết được đời tư của nó, mình phịa ra đấy chứ để có cớ chửi nó. Nó không loạn luân thì mình viết nó có loạn luân, ai biết điều nầy? Nó thì không có báo, làm sao phân bua được.” Thú thật tôi chưng hửng với cái lý lẽ như vậy. Còn thơ mà ông gọi là thơ chua thì tục tằn không chịu được, ông dùng những từ ngữ dâm ô, hạ cấp, mắng mỏ, lăn nhục người ta. Ông từng hăm dọa người khác là phải chìu chuộng ông, nếu không thì “tớ” sẽ cho một bài thơ chua thì xem như tàn đời. Ghê chưa. Từ đó, tôi bắt đầu lánh xa con người nầy.

Có một ông chủ một tờ báo nổi tiếng về đánh đấm, gây sự. Các tờ báo cùng địa phương không dám hó hé, ông viện dẫn những lý do thật vô lý để có cớ hạch sách người khác. Một hôm, gặp ông trong một bữa tiệc của người bạn. Ông khẳng định với mọi người là Trịnh Công Sơn là Cộng sản. Một người nào đó hỏi ông cho biết cái gì để ông quả quyết chuyện đó là có thật. Ông chứng minh ngay trong bản nhạc của Trịnh Công Sơn có câu: “..Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, thổi suốt trăm năm một cõi đi về…” đủ nói lên Trịnh Công Sơn là tên Cộng Sản. Rồi ông giảng giải, “nhật nguyệt” tức là “minh”, mà “minh” tức là Hồ Chí Minh. Trời đất, tôi tưởng rằng ông chứng minh hành động, tư tưởng gì mà Trịnh Công Sơn đã thể hiện đi theo phe bên kia, chứ còn vì chữ “nhật nguyệt” để rồi khẳng định người ta là cộng sản thì tội nghiệp cho người ta quá. Ngồi trong bàn ai cũng lắc đầu, nhưng không ai dám cải vì trong tay họ không có gì cả, còn ông kia có tờ báo trong tay. Đụng tới, ông phang trên báo thì mình lấy gì đỡ. Thôi thì làm thinh cho qua chuyện, dây dưa làm gì cho thêm rắc rối. Ông nhà báo nầy không biết điều đó mà cứ nghĩ cái lý luận của ông đúng, nên mọi người im re, không ai lên tiếng.

Những người mang căn bệnh gây sự, trước hết làm cho người đọc chú ý bằng cách hạ địch thủ một cách thậm tệ, dù người đó thuộc bậc thầy của minh. Khi chê bai như vậy, cho người đọc biết văn chương cở đó mà còn bị hạ đo ván thì người viết phải cao siêu hơn. Đó là sách lược chung chung cho những người viết bài đánh đấm người khác. Họ trông cho người bị họ đánh viết bài trả lời, vì như vậy sẽ trúng vào điều mong ước của họ, gây cho độc giả chú ý đến cuộc bút chiến nẩy lửa nầy. Từ nhân vật vô danh tiểu tốt, họ được bút chiến với nhân vật thành danh, tên tuổi của họ tự nhiên được người kia quảng cáo không công, nổi lên như cồn. Họ đau khổ nhất là họ thức đêm thức hôm, nặn đầu óc cho ra để viết bài chửi rủa, mà người kia chẳng thèm trả lời, không thèm để ý tới, cứ yên lặng, khinh bỉ. Đó là thái độ khôn ngoan nhất của những người bề trên. Mà trả lời làm gì, hơn thua làm gì với những kẻ lấy sự chửi bới, đả kích làm phương tiện dấn thân vào chốn văn chương.

Đúng ra giới văn chương là giới thấm nhuần những đức tính tự trọng, khiêm nhường nhất. Họ là những người đọc sách, viết sách, là những người đụng với chữ nghĩa, chơi với chữ nghĩa, biến chữ nghĩa trở thành những món ăn tinh thần bổ ích. Thế nhưng trong giới nầy có nhiều thành phần mang căn bệnh nầy nhiều nhất. Căn bệnh Tự Cao, Tự Đại. Cái hống hách, hợm hĩnh, coi trời bằng vung. Coi ai cũng không bằng mình, mình là nhứt thiên hạ, là minh chủ văn chương v.v… Hiện tượng nầy không nâng họ lên cao, mà đẩy họ xuống vực sâu. Thế mà họ đâu biết điều đó, họ cứ vênh váo tỏ vẻ cho mọi người biết sự hiện diện của họ. Thường thường những thành phần nầy không mấy tiếng tăm, tiếng tốt thì ít, mà tiếng xấu lại nhiều.
Cách đây mấy năm, có một cuộc sinh hoạt văn nghệ. Các văn nghệ sĩ tham dự bữa đó được giới thiệu. Vì số văn nghệ sĩ quá đông nên có một người bị xướng ngôn viên quên giới thiệu ông đứng dậy để chào mọi người. Thế là ông căm thù người xướng ngôn viên nầy. Thời gian đầu ông để bụng không nói cho ai biết sự căm thù của ông. Nhưng dần về sau ông không thể chịu được nữa nên ông nói ra cho mọi người biết là người xướng ngôn viên đó ganh tài nên không giới thiệu ông. Chuyện nầy nó trở thành một mối thâm thù với ông và ông thề với mọi người là ông không thể nào quên mối hận nầy, đến khi nào ông chết ông cũng mang nó theo với ông dưới suối vàng. Ông có một căn bệnh khoác lác, ông nói với một người bạn là nếu ông viết văn thì phải tầm cở quốc tế chứ không thể xềnh xoàng như Việt Nam được. Chính vì vậy nên ông không viết văn. Còn thơ của ông thì ở trong “Cụm Phong Tình …” gì đó thuộc tầm cở quốc tế, đã bay đi khắp thế giới. Nghe nói nhóm của ông ra mắt sách tận Paris, ông vội vàng mua vé đi ngay để được giới thiệu, đứng dậy, gật đầu chào. Thật đơn giản, ai đi dự bữa đó có nhớ ông là thi sĩ không? Hay đã chìm vào quên lảng, chỉ có như vậy ông phải tốn cả ngàn đồng phí tổn cho chuyến đi Pháp. Họ quan niệm một cách dễ dãi, nổi tiếng không cần qua tác phẩm, chỉ có mặt trong các cuộc sinh hoạt văn nghệ đâu đó, được người ta xướng tên giới thiệu, đứng lên gật đầu chào là hãnh diện với chức thi sĩ, văn sĩ của mình, như vậy là tiếng tăm rồi.
Tôi không hiểu tại sao tên tôi lại lọt vào cái mail list của một ông thi sĩ tại xứ Canada. Lần đầu tiên tôi mới biết tên ông. Ông tự giới thiệu ông là thi sĩ Tản Vân. Tên lạ hoắc, nhưng trong email thi sĩ gửi đi cho mọi người biết là tên của thi sĩ đã đi vào văn học sử. Chỉ có một bài thơ đã làm cho thi sĩ nổi tiếng, từ trong nước ra tới hải ngoại ai ai cũng biết thi sĩ Tản Vân. Một điều lạ là ông dùng ngôi thứ nhất trong xưng hô (tôi) thì ông thay vào chữ “thi sĩ”. Nghe thật chướng tai không chịu được. Thơ của ông cũ rích và sáo mòn vậy mà ông đâu biết điều đó. Cứ mỗi lần làm được một bài thơ mới, ông gửi cho tất cả những người trong mailing list hãy vào xem bài thơ mới sáng tác của “thi sĩ”. Ông giảng giải cho mọi người biết là bài thơ đó ông làm trong trường hợp nào, vì sao ông cảm xúc, giá trị của nó ở chỗ nào. Tôi nghĩ thi sĩ nầy mang bệnh hoang tưởng hay thần kinh có vấn đề. Nhưng không phải vậy, ông đang có văn phòng kế toán, khai thuế gì đó. Nghề nghiệp nầy đòi hỏi chi li chính xác, nếu đầu óc lơ mơ không thể làm được. Đã nhiều lần tôi yêu cầu ông rút tên tôi ra khỏi mailing list (tôi viết rất lịch sự), nhưng hình như ông không cần để ý tới yêu cầu của tôi, hoặc ông không thèm đọc tới. Bực quá, tôi gửi cho ông một lá thư có đượm một chút cay đắng để ông nhìn lại công trình sáng tác của mình. Thi sĩ nó không có “lisence” như bác sĩ, kỷ sư. Danh từ nầy người khác gắn cho mình, chứ không phải tự mình làm được vài câu thơ vớ vẩn rồi tự xưng là thi sĩ một cách hợm hĩnh như vậy. Nguyễn Du có sống dậy cũng không vỗ ngực tự xưng mình là thi sĩ, dù ông ấy đủ tư cách để làm chuyện đó. Tôi khuyên ông hãy khiêm nhường một chút. Ông rút tên tôi ra khỏi mail list của ông ngay lập tức.
Một nhà phê bình văn học (thật ra chẳng thấy ông phê bình ai, chỉ thấy ông đả kích người ta thì nhiều, nhất là những người nổi tiếng). Ông chê hết người nầy tới người khác không chừa một ai. Ông chưa bao giờ khen văn thơ của ai cả. Khi anh em ngồi nói chuyện về một nhà thơ lớn của miền Nam trước đây, thì ông nhảy vào kê ngay: “Bài thơ có mấy chục câu mà đám độc giả làm rùm beng. Tôi làm vài trăm câu còn chưa nói gì.” Theo ông thì cái lượng giết cái phẩm. Trong đầu ông luôn luôn không bằng lòng thơ người khác, chỉ có thơ mình là nhất thiên hạ. Một lần trong một bữa nhậu, ai cũng đứng lên đọc một bài thơ của mình, đến phiên ông ngồi yên không thèm để ý, ăn uống tự nhiên. Người ngồi bên cạnh nhắc cho ông biết tới phiên mình đọc thơ. Ông đứng dậy, nói tỉnh bơ: “Thơ của tôi không thể đọc chỗ nầy, đây là chỗ ăn nhậu chứ không phải chỗ đọc thơ”. Buổi tiệc tan hàng ngay. Làm sao người khác chịu được cái tính khinh người như vậy. Cái tính hống hách và phát biểu linh tinh của ông, có một người nhận định là: “Thằng cha nầy múa tay không qua khỏi đầu.” Không biết câu nầy ai học lại với ông, ông lồng lộn điên lên như gà mắc đẻ. Ông thù không đội trời chung với người nầy. Hể có ai nhắc đến tên người nầy là ông lấn át không cho họ nói thêm: “Ồ, thằng đó mà biết gì văn học mà đề cập tới nó. Hiểu biết của nó chưa sạch nước cản.”
Một người bạn kể cho tôi nghe về trường hợp của anh. Anh là người viết tại hải ngoại, một hôm có một người bạn đề nghị nhờ anh viết lời giới thiệu cho quyển sách mà anh kia sắp xuất bản. Anh hì hục viết lời ca tụng hết mình vì nghĩ rằng đây là cơ hội để làm vui lòng bạn. Khi tham dự ra mắt sách của nhà văn kia, anh đọc lại quyển sách có lời giới thiệu của anh, anh bật ngữa vì lời ca tụng của anh không đủ làm vừa lòng nhà văn kia, nên họ tự ý viết lại mà chẳng thèm hỏi ý kiến của anh. Nghĩa là bài viết mang tên anh, nhưng lời văn không phải của anh, họ viết lời ca tụng không còn chữ nghĩa nào mà hơn vậy, nghĩa là họ tự ca tụng mình, tung hô mình một cách lố bịch mà bắt người khác đứng tên chịu trận. Anh không ngờ một nhà văn có tên tuổi mà còn hám danh như vậy. Hình như đây không phải là trường hợp hãn hữu, rất nhiều người viết bài ca tụng mình mà để tên người khác rồi đăng báo. Đó là một trò chơi không đẹp mà nó còn chà đạp trên nhân phẩm của chính mình. Căn bệnh nầy cũng khá phổ biến trên sân chơi văn chương tuy không rầm rộ, nhưng cũng để một vài ung thối mà người đọc khi biết được thì rất khinh khi.
Lại có một số nhà văn, nhà thơ cần người khác viết lời giới thiệu khen tặng mình. Vì họ quan niệm có được nhiều lời giới thiệu như vậy, sẽ được người đọc chú ý. Họ quên đi rằng tự thân tác phẩm nói lên giá trị hay không, chứ không thể nhờ vả ai được. Một nhà văn nọ gửi cho tôi một tập truyện, đính kèm một tờ giấy bảo tôi sau khi đọc xong, viết cho họ một bài nhận định về tác phẩm đó. Thật tình truyện của người bạn nầy viết cũng được, nhưng cái yêu cầu của họ làm tôi cụt hứng. Viết nhận định tác phẩm là tự ý của người đọc, sau khi đọc xong cảm thấy hứng thú thì viết, chứ ai lại yêu cầu bao giờ. Mỗi lần gặp tác giả tôi phải lo tìm đường rút lui, sợ họ đề cập lại chuyện nầy thì quê lắm.
Có một nhà thơ ở trên Virginia gửi cho người bạn tôi một bản thảo tập thơ, nhờ viết lời giới thiệu. Anh bạn tôi từ chối mãi, ông nhà thơ bảo với anh là viết thế nào cũng được, chơi thôi mà, không sao cả. Anh bạn tôi yên tâm viết khen tặng đủ điều. Sau vài tháng anh không thấy tăm hơi gì về tập thơ. Có dịp anh lên Washington DC chơi thăm một người bạn. Sáng anh dậy sớm, anh vào thư phòng tìm một quyển sách đọc chơi cho đở buồn, vô tình anh thấy tập thơ của nhà thơ nhờ anh viết lời giới thiệu, anh lật ra không thấy lời giới thiệu của anh viết mà do một người khác viết. Anh đọc ngấu nghiến xem thử họ viết những gì. Từ đầu tới cuối toàn những lời khen tặng nức nở, đưa tác giả lên tận mây xanh, không còn chữ nghĩa nào diễn tả hơn được. Xem như trên đời thiếu tác phẩm nầy thì nền thi ca hải ngoại nói riêng, thi ca Việt Nam nói chung thiếu đi một đại tác phẩm. Anh bạn tôi gấp sách lại thộn người ra ngẫm nghĩ một hồi mới rút ra được một bài học. Đừng bao giờ viết lời giới thiệu cho ai nếu mình không đủ chữ nghĩa khen tặng, mà khen tặng không hết lời cũng gây ra một mối thâm thù.
Tôi gặp anh Dương Trung Từ, người đã tố cáo một nhà thơ trên Văn vào thập niên năm 60. Nhà thơ nầy bợ nguyên một bài thơ của một thi sĩ nổi tiếng lúc ấy, mỗi câu sửa lại ít chữ. Chẳng hạn như câu đầu của bài thơ là “Paris có gì lạ không em?”, thì nhà thơ nầy sửa lại là “Huế có gì lạ không em?”. Mỗi câu sửa vài chữ. Anh Dương Trung Từ nói với tôi là anh thấy chướng quá nên viết bài tố cáo trên Văn. Anh biết làm như vậy là sự nghiệp nhà thơ đó tiêu tán đường, nhưng không thể nào để như vậy được. Gặp tôi trên đất Mỹ với cái tuổi 65, anh có vẻ hối hận về chuyện nầy, tuổi trẻ mình hơi nóng nảy đã làm cho một nhà thơ lúc ấy đang lên đành phải để tên tuổi trôi vào quên lảng. Thế nhưng ai cũng tội nghiệp như vậy, người nầy lấy nhầm của người kia, không chỉ trích thì diễn đàn văn học trở thành một mớ bùi nhùi, chẳng ra thể thống gì cả.
Có một nhà văn “tầm cở” đi đâu cũng huênh hoang là ông đã xuất bản vài chục tác phẩm đủ loại: Văn, thơ, kịch, phê bình, nhận định v.v… nghĩa là địa hạt văn chương nào cũng có mặt ông tham gia. Nhưng chẳng có một tác phẩm nào ra hồn để người ta chú ý hoặc người đọc nhớ tên. Ông viết một bài giới thiệu tác phẩm của một người quen, một người khác hỏi ông: “Nhận thấy thế nào về quyển sách nầy mà ông đã viết bài?”. Ông trả lời một cách trịch thượng: “Vì quen biết nể nang mình viết chơi cho vui theo yêu cầu của họ, chứ thật tình chưa được.” Người nầy lại đến hỏi tác giả: “Ông có nhờ người kia viết bài cho ông không?” Tác giả cười lắc đầu trả lời: “Đây là một cuộc chơi, nếu chơi hay thì người ta biết tới, nếu chơi dở thì nó bị hất ra ngoài. Nhờ vả làm gì mất tư cách, mà họ có viết khen mình hết lời mà tác phẩm dỡ ẹt chỉ tố làm cho người khác chửi cho. Bài viết khen của họ cũng không thể làm cho tác phẩm hay lên được hoặc tác giả nổi tiếng được. Và quan niệm của tôi cám ơn tất cả những người viết cho tôi, nhưng tôi không vịn vào đó để tiến thân. Phải tự mình chứ không thể nhờ ai được.” Như vậy chính ông tự nguyện viết chứ không có ai yêu cầu ông làm chuyện nầy. Tác giả họ cũng chẳng quan tâm đến chuyện người viết giới thiệu cái cở như ông. Có người hỏi, ông làm ra vẻ như viết để bố thí, để giúp người ta nổi tiếng, trong lúc sự nghiệp văn chương của ông chẳng tới đâu. Người ta coi ông chẳng ra gì mà ông không biết điều đó, trong đầu ông cứ nghĩ ông là người thuộc cở tiếng tăm. Ông chỉ sống trong ảo tưởng, chứ ông đâu biết cái khen hay chê của ông cũng chẳng có ai thèm để ý. Đến đâu ông cũng vênh váo, không coi ai ra gì. Cái tính tự cao càng ngày mọi người càng lánh xa. Gặp ông một lần viếng thăm California, tôi thấy ông ăn nói huyên thuyên trong các bữa nhậu, chẳng cho ai nói giành nói một mình, nên tôi lẳng lặng rút êm.

Vừa rồi tôi về Việt Nam, tiếp xúc được một số anh em văn nghệ. À, thì ra cũng có nhiều vấn đề lôm côm trong chiếc chiếu nầy. Tôi được nhiều người cho biết ở trong nước thành phần nầy cũng nổi đình nổi đám dử lắm. Họ bỏ tiền túi chạy chọt in một hai tác phẩm vớ vẩn, rồi lại chạy chọt thêm một lần nữa với các quan chức văn nghệ có quyền hành để vào Hội Nhà Văn. Cái sân chơi nầy cũng nhiêu khê: tiệc lớn tiệc nhỏ, cà phê cà pháo, ăn sáng ăn chiều, quà cáp v.v.. nó không còn thanh tao nơi văn hóa, nó giống như khu chợ trời. Người làm văn nghệ đứng đắn lắc đầu ngao ngán khi nhìn cái cảnh chen lấn, bát nháo nầy. Đây là nơi tập trung vàng, bạc, đồng, nhưng không có thứ cao cấp nầy thì kẽm, chì, thiết cũng không sao. Cần gì người đọc, miễn sao có tên trong hội là oai phong rồi. Thì té ra người Việt ở đâu cũng có vài phần tử không bỏ được cái tật làm nổi, dù họ biết đó là một việc làm thiếu nhân cách.
Căn bệnh văn chương, đúng là không có thuốc nào chữa được.
Dallas, hè 2008

Hit Countersôô

Posted in Phiếm Luận | Leave a Comment »

Đụng Vào Cõi Thơ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Phan Xuân Sinh

Lời Tác Giả: bài “Đây là một bài Phiếm tác giả tưởng tượng ra mọi tình huống, mọi dữ kiện để người đọc mua vui trong chốc lát. Không hề có chủ ý châm chích ai. Nếu các hư cấu nầy có trùng hợp với vài trường hợp cá nhân thì đó là  ngoài ý muốn của tác giả. Kính xin quý vị lượng tình tha thứ.”  PXS.

Thơ, một cõi đứng riêng biệt cho những người múa may chữ nghĩa trên văn đàn. Nhà thơ chính hiệu và nhà thơ không chính hiệu đều tiến bước song song không bị một lực cản nào cả. Cái đích mọi người phải đạt tới là sự nổi tiếng. Phương tiện truyền tải là báo chí, mà báo chí hải ngoại  thì thật dễ dãi với những người làm công tác trí tuệ, nghĩa là báo chí sẵn sàng dành đất cho họ cắm dùi. Không đăng trên những tờ báo nổi tiếng thì đăng trên báo chợ, báo địa phương nầy không đăng thì địa phương khác đăng. Miễn sao họ có nặn ra chữ nghĩa thơ phú thì họ có ngay đất dụng võ. Có một điều lạ là những nhà thơ nổi tiếng thì họ rất khiêm cung, nhún nhường. Bước đi của họ thong thả mực thước, không gây ồn ào. Họ thận trọng từng lời từng chữ trong thơ cũng như trong giao tiếp, được văn giới nể nang và kính trọng. Còn một số ít, cũng may là số nầy không nhiều, họ xô đẩy chen lấn, cố ngoi lên bằng con đường tắt không phải bằng tài năng mà bằng thủ đoạn. Một nhà thơ nào đó thấy được cảnh dầu sôi lửa bỏng nầy, than rằng: “bây giờ người làm thơ nhiều quá, mà tìm đỏ mắt không thấy được một thi sĩ”.

Tôi cũng chập chững làm thơ, nhưng tôi thấy làm thơ quá khó, ngồi cả buổi chẳng rặn ra được chữ nào, có khi làm được năm bảy câu ngày mai xem lại thấy chẳng giống ai, chẳng ra cái gì nên đành phải xé bỏ. Có người nói với tôi rằng một ngày họ có thể làm được vài bài thơ như chơi, họ đúng là thiên tài. Có người đến Mỹ mới có 5 năm họ làm được 5 ngàn bài thơ. Họ thuộc vào loại Thánh thơ.

Tôi không đề cập tới vấn đề thơ hay hoặc thơ dở. Thơ thì không thể  xét đoán một cách hồ đồ được, nhất là cái nhìn của tôi lại thiển cận. Khen người nầy chê người khác là điều cấm kỵ đối với tôi. Ai làm thơ được đều hay cả, chứ không thể nào dở được. Đó là tâm huyết của họ gởi gấm trong đó. Mình không thích cũng không nên nói lên sự thật phũ phàng nầy, phải khen cho được lòng. Chính vì điểm đó, các nhà thơ dù hay, dù dở cũng được tâng bốc lên tận mây xanh. Họ cảm thấy rằng trong thiên hạ không có ai qua mặt được mình, thơ của mình đã đạt tới đỉnh cao của nền văn học. Đọc thơ mà không khen sẽ bị tác giả phản ứng ngay lập tức: “Ồ, thằng đó mà biết gì thơ phú, chỉ rúc vào xó bếp hầu cơm cho vợ là được việc.” Cho nên, đừng bao giờ dại dột chạm đến điều húy kỵ nầy. Tôi chỉ biết mỗi một điều là đọc thơ ai tôi đều khen tới tấp, khen không ngớt hơi. Tôi không thực lòng, nhận xét ba phải? Thà chịu tiếng như vậy, chứ láng cháng bày đặt chê bai thì sẽ lãnh đủ mọi búa rìu.

Có một anh bạn kể cho tôi nghe một chuyện thật thâm thúy. Có một nhà thơ nữ  gửi đến biếu cho nhà phê bình nọ một tập thơ còn nóng hổi mới ra lò. Bà chờ đợi mãi tuần nầy qua tuần khác vẫn không thấy ông nói gì về tập thơ của mình gởi tặng. Bà nhờ một người nguyên là bạn thân của nhà phê bình nọ đến dọ hỏi xem ý kiến của ông ấy nghĩ thế nào về tập thơ của mình. Sau một màn chuyện vãng loanh quanh, ông kia hỏi nhà phê bình đã xem tập thơ chưa? Nhà phê bình vừa vuôùt râu hể hả trả lời: “Sau khi xem tập thơ đó, tôi mới khám phá ra được một điều là tôi cũng có khả năng làm thơ được”.  Nhà phê bình đòi nhảy qua lãnh vực thơ? Thật là điều tréo cẳng ngỗng. Oâng muốn nói, nếu làm thơ mà dễ như vậy thì ông đã làm thơ từ khuya rồi. Nhà phê bình mà không dám đụng vào cõi nầy, thì cái thứ tép riu như tụi tôi thì làm sao sớ rớ tới.

Cõi thơ cũng thật lắm chuyện, nhà thơ lớn, nhà thơ nhỏ, chiếu trên, chiếu dưới, người viết trước, người viết sau, kẻ thành danh, kẻ chập chững v.v… nghĩa là lắm thứ, lắm chuyện, nó giống như mâm cỗ ở đình làng phải ngồi theo tiên chỉ, lão làng, thứ dân, cùng đinh… Cho đến bây giờ tôi cũng không biết thước nào đo để tiện sắp theo thứ bậc. Thường các thứ bậc nầy đều do chính tác giả vỗ ngực tự nhận, họ tự đánh giá và tự phong cho họ ngang hàng với ai. Còn người đọc thì chưa có ai đứng ra làm một thống kê sắp xếp. Tham gia giữa đám văn nghệ ở một vùng nào đó, dù chúng ta giữ thái độ bình tĩnh chúng ta vẫn cảm thấy nóng mặt trông thấy những khuôn mặt hiu hiu tự đắc, hợm hĩnh, coi trời bằng vung. Họ cho họ thuộc hàng “minh chủ” của vùng nầy, họ phán thế nầy, đòi hỏi thế kia, có ai nổi một chút là họ xâm xỉa, đè bẹp, ganh ghét. Không thấy Thái Sơn ở đây sao mà còn láng cháng. Kiểm lại văn nghiệp của họ thì chẳng có chi gọi là ghê gớm, đọc thơ của họ thấy thấp thoáng kiểu thơ thời xa xưa, từ ý cho đến thể thơ cũ mềm, không mang hơi hám nào mới lạ. Thế mà có khi họ đòi phải ngang hàng với các tiền bối thi ca thì mới xứng danh văn nghiệp của họ.

Đọc một tờ báo nọ, thấy vị nữ giáo sư Việt văn phê bình một nhà thơ với lời lẽ quá nặng. Bà bảo rằng Nhà Thơ nọ không biết niêm luật của một bài thơ Đường, vì ông ta gieo vần lộn xộn, nên bà phán rằng dù dễ tính vẫn không thể bảo ông là một nhà thơ được. Vài ngày sau có một văn nhân khác bênh vực cho nhà thơ kia, với một lý luận hết sức… hàm hồ. Ông cho vị nữ giáo sư Việt văn kia chê vì tỵ hiềm, vì  ân oán cá nhân chứ rõ ràng vị thi sĩ nhà ta đúng là bậc “Thánh thơ” mà bà ta lại không biết nên quá khắc khe.  Bài thơ Đường kia đúng là thơ Cổ Phong chứ không phải thơ Đường Luật. Nghĩa là theo ý ông ta cứ làm thơ Đường, nếu ta trật luật thì chẳng sao cả nó sẽ thành thơ Cổ Phong. Lời qua tiếng lại bao nhiêu danh từ nặng ký mang chất thơ đều tuôn ra như nhả ngọc phun châu, mạt sát nhau thậm tệ.  Nói cho cùng người bênh vực cũng chẳng biết loại thơ cổ phong là loại thơ gì , cốt ý là choảng lại người kia cho hả tự ái của bạn mình. Đã bảo rồi đọc thơ là phải khen. Vị nữ giáo chức nọ bao năm gõ đầu học trò, tưởng rằng đầu của Nhà thơ “bậc thánh” nầy cũng giống như học trò của mình nên gõ đại, đâu ngờ bị phản ứng mạnh mẽ. Tôi đưa ra chuyện nầy để quí vị biết là khi đã là một “Nhà Thơ” thì  không thể “sai”, và nếu mà họ lỡ sai thì mọi người cắn răng chịu đựng, chứ không ai được quyền phê phán chê bai.

Tôi có một người bạn, xin tôi địa chỉ của một nhà thơ đã lừng danh qua nhiều thập niên, tôi nghĩ anh bạn tôi muốn gởi biếu  ông thi sĩ nọ cái gì đó. Vài ngày sau anh cho tôi biết anh muốn gởi bản thảo của một tập thơ sắp sửa in, nhờ ông ta viết lời giới thiệu. Tôi hỏi anh bạn chuyện nầy thật cần thiết như vậy sao? Anh trả lời với tôi là được một nhà thơ lớn viết giới thiệu cho tập thơ thì không có gì vinh dự bằng. Nghĩa là theo ý anh, độc giả cần đọc lời giới thiệu hơn là đọc nội dung của tập thơ. Hoặc là được nhà thơ lớn giới thiệu sẽ tăng cái hay của thơ anh lên, nếu không có cái nầy thì sẽ bị chìm nghĩm. Hoặc là anh đương nhiên ngang hàng với những người thành danh, vì thơ anh hay thì nhà thơ lớn kia mới giới thiệu chứ v.v…nghĩa là thơ hay hoặc thơ dở không cần chính tài năng của mình, mà chỉ dựa vào lời người giới thiệu, nhất là người đó là  một nhân vật nổi tiếng. Quan niệm đơn giản như vậy nên làng thơ bây giờ  tác phẩm nhiều hơn sung rụïng. Nhà sách không nhận bán giùm thơ, vì nếu nhận thì không đủ kệ để sắp thơ lên bày bán.

Một người bạn khuyên tôi không nên viết lời giới thiệu hay lời bạt cho bất cứ tập thơ nào, dù người đó có thân thiết cách mấy cũng đừng dại dột làm điều nầy. Anh cho tôi biết trường hợp của anh như sau. Một người bạn mang tới một tập bản thảo của tập thơ sắp in, nhờ anh viết lời giới thiệu. Anh sốt sắng nhận lời. Anh đem tất cả tâm huyết ra viết, không ngớt lời khen tặng, thổi phồng con kiến thành con voi. Viết xong anh đọc đi đọc lại rất hả dạ. Qua nhiều đêm suy nghĩ anh lý luận rằng tập thơ nào cũng không tránh khỏi vài khuyết điểm nho nhỏ. Độc giả  tinh ý họ sẽ biết, chê mình ba xạo, viết lếu láo. Khen quá đọc thấy cũng ngượng hay mình lấy rút ra vài điểm lấy lệ để độc giả khỏi phiền lòng. Thế là giông bão nỗi lên, ông bạn của tôi và nhà thơ đó xem như đoạn tuyệt. Có nhiều trường hợp tác giả tự viết lời giới thiệu, tự khen mình rồi để tên bạn của mình. Đặt cái cày trước con trâu, người bạn không phản ứng được vì mọi chuyện đã rồi, gạo đã thành cơm. Người bạn ngậm bồ hòn làm ngọt. Làm gì có cái chuyện liêm sĩ khi mà người ta dùng thủ đoạn để được nổi tiếng.

Vài năm gần đây, tại hải ngoại có một phong trào rất “dễ thương”: Thơ phổ nhạc. Nhiều nhà thơ tìm tới những nhạc sĩ danh tiếng lẫy lừng, để nhờ phổ nhạc bài thơ của mình. Thường thì  người nhạc sĩ trước đây đọc được bài thơ mà họ cảm thấy hay, họ có cảm hứng và phổ bài thơ đó. Còn bây giờ nhà thơ mang thơ của mình tới, nài nĩ, quỳ lụy, trả thù lao cho người nhạc sĩ để họ phổ thơ của mình thành nhạc. Trong tập thơ có nhạc phổ thơ của các nhạc sĩ nổi tiếng thì danh tiếng của mình càng thêm vang lừng, độc giả lé mắt, các người làm thơ khác phải cúi đầu kính phục. Có người mang mấy bản nhạc phổ thơ của mình về Việt Nam, thuê các ca sĩ chuyên nghiệp đang ăn khách hát để thâu vào CD, qua đây gửi bày bán ở các nhà sách lớn. Có một nữ sĩ phải dùng thẻ tín dụng để trang trõải cho các chi phí thâu CD tại Việt Nam. Qua Mỹ nợ đòi hàng tháng cấp bách, nên nơi nào có đám đông người Việt, bà xè mấy cuốn CD nài nỉ người mua giống như một người đi xin, bất kể sĩ diện. Bà nghe nơi nào có cuộc họp mặt là bà nhào tới, không cần biết được mời hay không, bà khệ nệ cái khay CD đến từng người mua giùm. Muốn nổi tiếng cũng thật vất vả và cũng lắm công phu.

Có những tập thơ mà khi mở ra ta mới hay đây là một cuốn album của nhà thơ đó, đủ loại hình ảnh từ vợ con, người yêu, bạn bè v.v…đều có mặt. Có người muốn giới thiệu sự nghiệp trước đây của mình sau một trang thơ là vài ba trang hình ảnh một thời sung túc của mình, quan quyền, vợ đẹp con ngoan. Thật vui mắt. Không cần thơ, chỉ cần hình ảnh vàng son cho mọi người thấy cả cuộc đời “lên voi” của mình. Ai dám chê thơ của mình là ngô nghê, nhìn hình ảnh oai hùng như thế mà thơ ngô nghê sao được. Có một nhà thơ viết tiểu sử vài ba chục trang giấy, những bằng cấp học vị của ông trải qua các trường học từ Việt Nam tới Mỹ, chiếm hầu hết các trang giấy. Độc giả không cần phải đọc thơ chỉ thấy bằng cấp là đủ choáng ngợp. Người bạn của tôi cầm tập thơ của ông lên, thử làm một con tính số năm của ông ngồi mài kinh sử ở các trường Đại Học mất chừng 100 năm, mới lãnh đủ các bằng cấp như vậy. Người thông thái như ông thì khỏi phải đọc thơ cũng đủ biết thơ ông ở vào cõi vô minh, chứ người trần tục không thể hiểu những dòng thơ bác học như vậy.

Thường thì những nhà thơ nữ thuận lợi hơn những nhà thơ thuộc đấng mày râu. Ở đây chúng ta không nói đến tài năng, có lẽ thơ bây giờ không cần ở tài năng mà chỉ cần ở ngoại hình chăng? Hèn gì mà ta thấy các nhà thơ nữ chiếm ưu thế quá chừng, họ hùng hổ nhập cuộc một cách hăng hái và số lượng nữ giới tham gia vào làng văn nghệ đông đảo chưa từng thấy. Nơi nào mà có bóng dáng đàn bà là tự nhiên vui nhộn hẳn lên, tự nhiên tươi mát  và cũng lắm điều phiền toái. Nói thế chắc quý bà không bằng lòng, nhưng thực tế là vậy. Có quý bà là anh em chúng tôi hay sinh sự với nhau nhiều hơn và mức độ gây sự cũng trầm trọng hơn. Còn quý bà gặp quý bà  thì cũng ngọt ngào như đường và đôi lúc cũng chanh chua như dấm. Nhưng thôi chuyện nầy không nên đào sâu, tôi đang nói về các nhà thơ nữ mà bỗng dưng nhảy qua lãnh vực khác ngon ơ như vậy, thôi cho tôi xin trở về lại với đề tài . Các bà cứ làm thơ, cứ in thơ bảo đảm không thể nào lỗ lã được. Các bà đi đâu cũng được đón tiếp một cách nồng hậu. Bằng chứng là có một nhà thơ nữ nổi tiếng trước hết không phải là thơ mà là sắc đẹp, người ta biết sắc đẹp của bà trước khi người ta biết đến cõi thơ của bà.  Có lẽ thơ của bà không bắt kịp được sắc diện của bà nên cho đến bây giờ thơ của bà ít ai nhắc đến. Bà từ một lục địa xa xôi, thế nhưng lại bay đến Mỹ và Canada ra mắt thi phẩm của mình. Những nhà thơ có máu mặt dành nhau đứng ra tổ chức cho bà, bà đến tiểu bang nào cũng được đón tiếp  một cách chu đáo, và thơ của bà bán ra như tôm tươi. Cỡ như Tô Thùy Yên , Du Tử Lê, vẫn còn vất vả trong vấn đề ra mắt thơ và bán thi phẩm không phải là chuyện dễ. Thế nhưng bà tái bản thơ bao nhiêu lần vẫn không kịp bán, nhiều nơi đặt cọc mời bà đến viếng, trước là diện kiến dung nhan, sau là diện kiến cõi thơ của bà. Chưa có môt nhà thơ lớn nào dám xuyên lục địa chỉ ra mắt mỗi một tập thơ mà thành công như bà. Đây cũng là một hiện tượng nổi bật nhất trong làng thơ Việt Nam hải ngoại. Như vậy ta nên đặt lại vấn đề, giới thưởng ngoạn thơ bây giờ  tại hải ngoại có cách nhận xét khác lạ hơn trước đây vài thập niên. Các nhà thơ phải có vóc dáng ăn khách trước khi làm thơ. Nghĩa là diện mạo sẽ định đoạt sự nghiệp thi ca của họ. Thơ không được hay lắm nhưng  thuộc phái nữ mà lại đẹp thì chắc chắn phải hốt bạc.

Một anh bạn nhà văn kể cho tôi nghe một trường hợp thật tức cười về người bạn của anh. Hồi trước năm 75 anh gởi thơ đến Nguyệt san Văn ( không biết lúc ấy ai điều khiển tờ báo), anh gởi mãi mà Văn chẳng chịu đăng. Bực mình anh lấy một trong các bài mà báo Văn loại ra ngoài, anh ký lại tên khác thuộc phái nữ và lại gởi đến Văn.  Vài tháng sau anh thấy bài đó đăng rất nghiêm chỉnh trên Văn. Từ đó về sau anh buộc lòng phải lấy tên ấý dù anh không bao giờ muốn vậy. Trong mọi sinh hoạt đường đường là một đấng nam nhi, nhưng đến khi làm thơ thì phải đội lốt nữ giới kể ra cũng thiệt thân, nhưng biết làm sao? Như thế mới hay người nữ ở đâu cũng được trọng dụng, ưu đãi. Cho nên trước đây ta không lạ gì với những cái tên như Trần Như Liên Phượng và một vài tên nữ khác mà quả thật họ là đàn ông chính hiệu, chứ không ái nam ái nữ  gì ráo.

Ở hải ngoại báo chí nhiều quá, tiểu bang nào có người Việt sinh sống là nơi đó báo chí tràn lan, giành giựt quảng cáo, sẵn tờ báo trong tay, ghét ai là chửi xiên chửi xỏ,  nên sinh ra cảnh đánh đấm túi bụi. Quả thật đây cũng là hiện tượng xô bồ và loạn xạ, gây cho ngành báo chí truyền thông một sự tổn thương không ít. Chính vì báo nhiều mà người viết lại ít, nên bài vở gởi tới là đăng ngay không cần kiểm soát, mà đôi lúc người chủ trương tờ báo lại không có khả năng nhận định, họ chỉ biết có bài trám vô chỗ trống là may lắm rồi.  Đọc những tờ báo tại địa phương họa hoằn lắm chúng ta mới bắt gặp được một bài thơ tàm tạm. Hiện tượng nầy tạo nên những nhà thơ không cần qua sự gạn lọc nào cả, không cần độc giả chấp nhận hay không, ông chủ báo nhiều lúc thấy thơ chẳng ra gì nhưng vì ơn nghĩa nên cho đăng kẻo sợ mích lòng.  Miễn có thơ đăng báo là họ hiển nhiên trở thành một nhà thơ, chuyện như vậy cũng chẳng có chi đáng nói, nhưng đằng nầy lại xẩy ra lắm chuyện lắm lời. Có một số ít họ tự thấy như vậy tức là mình đã thành công, tất cả người lớn kẻ nhỏ khi đã là nhà thơ thì  đều la øcá mè một lứa với mình, chẳng coi ai ra gì và có đôi lúc khiếm nhã với các bậc trưởng thượng. Họ không chịu đọc thơ của ai khác, không thấy cái hay của người khác, không biết cái mới lạ của thi ca. Thơ của họ là vô địch thiên hạ, họ chỉ thấy lời khen tặng xã giao tưởng là chân thật. Họ là người làm thơ mà họ lại quên một điều thật hệ trọng. Không ai dám mở miệng chê bai thơ của người khác, nếu có tình trạng nầy tức là người phê bình và tác giả bài thơ sẽ là hai kẻ tử thù.  Ở đời ai dại gì gây thù gây oán với nhau và các nhà thơ của ta chỉ nghe toàn là lời khen. Lời khen đó làm họ tự đắc,  họ tự sánh mình ngang hàng với những nhà thơ lớn. Tập thơ của mình cũng được xếp trang trọng trong các kệ sách ngoài tiệm  giống như những tác phẩm lớn. Tình trạng lạm phát thơ kiểu nầy ở hải ngoại thật vô số, không sao liệt kê hết. Mỗi lần địa phương có tổ chức sinh hoạt gì,  người xướng ngôn giới thiệu về sự có mặt tham dự của các nhà thơ, nhà văn thôi cũng đủ thấy mất thì giờ. Như vậy chúng ta đủ biết  nhà văn, nhà thơ “local” nhiều quá chừng. Nhà thơ trung ương với nhà thơ địa phương có cái gì để phân biệt? Điều nầy thật khó khăn, và cũng chẳng có ai dám làm một cuộc thống kê. Chỉ còn biết nhờ vào sự thẩm định của người đọc.

Một anh bạn làm thơ nói với tôi tại sao anh trở thành nhà thơ vĩ đại (cũng là chuyện tự phong). Mỗi tuần anh gom lại một số báo địa phương, lật trang thơ ra đọc tên tác giả. Nếu tác giả là một nữ thi sĩ, thì lập tức anh họa ngay lại bài thơ của người đẹp, lời lẽ trong thơ của anh tâng bốc người đẹp lên tận mây xanh, thế nào người đẹp cũng rủ lòng. Tiếng thơ của anh réo rắc thật ảo nảo đọc lên trong đêm khuya nghe lạnh người. Từ đó anh thành một nhà thơ mà theo lời anh là có tầm cỡ ở  đây. Một nhà thơ khác lại có cách nổi tiếng mà theo lời lẽ anh lý luận với tôi là làm thơ lục bát không cần phải gieo vận, miễn sao chữ cuối câu sáu vần bằng, thì chữ thứ sáu của câu tám cũng vần bằng là chỉnh rồi. Thời buổi tân tiến thơ phải thoải mái cần chi phải đúng vần đúng vận cho mệt. Anh cũng là một nhà thơ thuộc loại nổi tiếng ở đây. Người thứ ba mà tôi gặp, anh nầy thì cung cách làm thơ nặng phần thi sĩ hơn. Khi làm thơ anh phải pha một bình trà nóng, hút thuốc mơ màng, vặn nhạc nho nhỏ. Có các thứ đó thì anh làm thơ mới được, vần điệu và suối thơ mới chảy ra ào ào. Lúc nào bí anh bợ nguyên một câu nhạc để vào trong thơ mình, chẳng hạn như ” mai ta chết dưới cội đào” thì cũng chẳng sao. Trong thơ anh thỉnh thoảng bắt gặp một số câu nhạc thì cũng đừng lấy làm lạ. Ai mà không chấp nhận, phát hiện điều nầy mà nói ra thì thế nào cũng bị chửi mắng  thậm tệ.

Một lần ngồi nhậu với vài anh em, thì có một nhà thơ bước vào. Oâng cũng lớn tuổi thuộc hàng trưởng thượng. Tất cả anh em trong tiệc rượu rất nể nang ông vì tuổi tác,  qua vài tuần rượu ông mới bắt đầu khai mùi thơ của ông. Oâng rút trong túi áo ra một xấp thơ và chia cho mỗi người một bài, rồi từng người một lên đọc thơ của ông. Thơ của ông giống như những câu khẩu hiệu, thế nhưng không ai được cười nhé, phải gật gù khen hay. Ai gật gù nhiều thì ông cho người đó đúng là bậc thức giả, hiểu tường tận từng chữ trong thơ ông, hiểu được ý ông. Còn ai yên lặng không nói gì thì ông chê là thứ dân kém hiểu biết. Oâng thuộc loại ăn nói hàm hồ và lỗ mãng nên mọi người không muốn dây dưa đến sự rắc rối vào thân, người nọ truyền người kia nên khi ngồi nhậu, đến cái mục đọc thơ là tất cả đều gật gù như gà mắc đẻ. Oâng hiu hiu tự đắc, ngồi rung đùi mãn nguyện. Oâng chắc ăn thơ của mình đã đi vào lòng dân chúng, cần thiết cho mọi người, nên ông cho in ngay tập thơ. Ở hải ngoại nầy có một tập tục rất dễ thương, là khi in thơ phải tổ chức ra mắt cho bàng quan thiên hạ biết sự xuất hiện tác phẩm của mình. Oâng cũng không thể tránh khỏi tập tục nầy, và có lẽ ông mong muốn có ngày ra mắt để ông được chễm chệ lên diễn đàn, nói về con người ngoài võ biền còn là con người văn nghệ của ông. Thơ của ông bán chẳng được bao nhiêu, và mọi người không chú ý tới thơ nhưng lại chú ý tới ngày  giờ của ông làm bài thơ đó ghi cuối bài thơ. Sỡ dĩ có chuyện nầy bởi vì tất cả những bài thơ ông làm đều ở trong các trại cải tạo, ra ngoài nhớ  để viết lại đã là điều khó khăn, đằng nầy ông ghi cả ngày tháng làm bài thơ đó ở trại cải tạo nào thì thật trí óc vô cùng vĩ  đại,(mà quả thật chẳng cần thiết như vậy). Ông nhờ  nhiều người diễn ngâm những bài thơ của ông trong dịp ra mắt, thế nhưng chẳng có ai chịu ngâm giùm cho ông. Có lẽ thơ của ông chỉ đứng ra hét chứ không cách nào ngâm được.

Khi còn phụ trách một tờ báo, một người quen biết của tôi mang đến cho tôi một bài thơ và bảo tôi đăng giùm. Sau khi đọc bài thơ tôi thấy có một vài lầm lỗi quan trọng, nếu đăng thì thật tội nghiệp, người ta sẽ đánh giá trình độ không tốt về cách làm thơ của anh. Vì vậy tôi cân nhắc giữa cái lợi và cái hại, giữa sự mích lòng và sự chê bai. Tôi chọn cái lợi và sự mích lòng, tránh đi cái hại và sự chê bai. Tôi không đăng mặc dù tôi đã layout xong. Sau khi tôi không còn cộng tác với tờ báo đó, thì người phụ trách sau nầy lấy bài thơ đó đăng lên. Bây giờ người đó xem tôi như một thứ  thiếu văn hóa, không biết đánh giá tài năng. Trước đây chúng tôi rất thân thiện nhưng vì chuyện thơ phú mà chúng tôi có vẻ lạnh nhạt với nhau. Mới hay tôi đã thiếu tế nhị, thiếu suy xét nên gây ra cảnh bất đồng, đụng vào tự ái của người khác. Đây là một bài học mà tôi cần phải sửa đổi nếu sau nầy gặp trường hợp tương tự.

Một lần khác tôi được may mắn dự một bữa tiệc rượu gồm chừng năm bảy nhà thơ. Tôi không biết ai đưa ra sáng kiến là mỗi người đọc một bài thơ đắc ý nhất của mình. Thế là tôi có dịp nghe các ông đọc thơ của mình và nói về thơ mình. Có ông thì sợ người khác không hiểu thơ của mình nên đọc câu nào là giải nghĩa từng chữ, như ngày xưa học Hán Tự vậy. Có ông thì trình bày trường hợp nào mà ông đã xuất thần làm nên bài thơ vô-tiền-khoáng-hậu nầy. Có ông thì nhắm mắt lim rim đọc một bài thơ thiền, thơ thiền thì phải đọc một cách thanh thoát, êm ái, nhẹ nhàng thì mới đúng là thiền chứ  không thì hỏng mất đi khí tiết của một bài thơ. Sau khi tham dự đêm thơ nầy, tôi mới nhìn lại cái cao ngạo của Cao Bá Quát còn thua xa các bậc hậu sinh thời nay. Cao bá Quát chỉ nhận có hai bồ, chia cho bạn mình một bồ, còn một bồ cho thiên hạ. Còn các nhà thơ bây giờ thì ôm trọn hết không chia cho ai cả, mỗi người là một ông trời.

Một hôm tới Santa Ana, ngồi nói chuyện với một anh bạn trong quán cà phê thì gặp một nhà thơ trẻ. Anh bạn tôi hỏi cho qua chuyện: “Thế nào, lúc nầy thơ phú ra sao rồi?”. Thế là trúng được mạch chảy mà lâu ngay đã ứ đọng. Người bạn trẻ kéo ghế ngồi với chúng tôi, nói thao thao bất tuyệt về thơ, giảng cho chúng tôi nghe về thơ hiện đại, chê bai tất cả nhà thơ nổi tiếng trước đây. Tôi sững sốt không ngờ người bạn trẻ  hùng hổ một cách thái quá như vậy. Thơ cũ, thơ mới, thơ tự do, thơ tân hình thức v.v…mỗi thời có một chỗ đứng của nó, tất cả trước sau đều góp công làm giàu nền thi ca của dân tộc. Làm thế nào cho thơ hay mới khó, Còn chuyện thơ mới, thơ cũ chúng ta không nên đố kỵ quá như vậy. Đừng sợ người đọc không hiểu thơ của mình mà hãy thả ra, nếu thiên hạ chấp nhận thì còn tồn đọng, còn thiên hạ quên đi thì xem như chúng bị chết non.

Có một nhà thơ kể cho tôi nghe về việc gây chú ý một cách ngoạn mục. Lấy một bài thơ của ai đó ra bình phẩm, diễu cợt. Phải lấy những lỗi lầm mắc phải của bài thơ mà người khác khó thấy được rồi chê, sài xể với một giọng văn đểu cáng, trịch thượng, kẻ cả. Tác giả của bài thơ là người đã nổi tiếng càng tốt, vì như vậy độc giả mới thấy kẻ phê bình trên cơ tác giả bài thơ đó nhiều. Rồi kề trang báo đó đăng bài thơ của nhà phê bình. Như vậy trong ấn tượng của người đọc bao giờ cũng nể nang kiến thức sâu rộng của người phê bình, nên khi đọc bài thơ của người đó lập tức thấy hay ngay (?). Không biết điều nầy có đúng không, nhưng tôi thấy thỉnh thoảng ông ta chạm đến những nhà thơ thật nổi tiếng. Họ càng nổi tiếng thì ông càng mạt sát, sài xể thậm tệ.  Chủ ý của ông cho người đọc biết  nổi tiếng cỡ thi sĩ kia mà ông coi chẳng ra chi, thì các cây viết khác phải coi chừng, đừng có léng phéng. Đây cũng là một hình thức nổi tiếng đốt giai đoạn, không cần qua sự thẩm định của độc giả, và cũng không cần sự gạn lọc của thời gian. Một quan niệm thật mới mẽ và cũng thật liều lĩnh. Thế nhưng hỏi ra thì mới hay tiếng tăm của ông chẳng bay xa, chẳng có ai biết tới. Họa hoằn lắm mới có người biết ông, nhưng không phải nức tiếng về văn chương, mà nức tiếng về chửi bới thô tục.

Ngày xưa, các văn nhân thi sĩ họ tương kính nhau, thuần phục nhau. Cung cách xử thế của họ thật mã thượng. Bây giờ  thật hiếm thấy. Chơi với nhau theo phe nhóm, hắc bạch rõ ràng. Kèn cựa nhau từng li từng tí, chờ kẻ khác sơ hở là phang ngay, không kể chi đến tình thâm nghĩa nặng. Cõi thơ bây giờ không còn là hoa bướm mộng mị, không còn thanh thoát lãng mạn. Cõi thơ bây giờ chúng ta thấy thấp thoáng gươm đao, đè nhau cứa cổ. Hạ nhục nhau, mạ lỵ nhau. Các nhà thơ phải mặc áo giáp, sẵn sàng trong vị trí chiến đấu, gươm luôn luôn rút ra khỏi vỏ thọc ngay vào tử huyệt của đối phương nếu cần.  Người làm thơ không cần phải đọc thơ của ai cả, chỉ biết đọc thơ của mình. Không có thơ của ai hay bằng thơ của mình. Quan niệm về thi ca mỗi thế hệ mỗi khác, mỗi thời mỗi thay đổi. Trong thời buổi tân tiến như hiện nay làm thơ cũng nhanh như chớp, người đọc chấp nhận hay không cũng chẳng cần, miễn sao có tác phẩm trình làng. Người thưởng ngoạn thơ bây giờ cũng dễ dãi, thơ nào hay thì đọc chơi, thơ nào tệ quá thì coi như mất năm bảy phút phù du. Chứ không bực bội, phẩn nộ như ngày trước.

Làm sao chúng ta tìm được một không khí thơ mộng của ngày xưa. Làm sao chúng ta đến với thơ bằng sự trung thực, không gian dối. Bây giờ mỗi lần đến cõi thơ, chúng ta mang một cái mặt nạ thật lố lăng như đi dự một cuộc hóa trang. Giả dối còn hơn một kép hát. Ai cũng biết vậy nhưng không có ai dám chọc thủng bức tường nầy bằng những lời lẽ chân thật. Chúng ta không tìm đâu thấy lời lẽ của Cao Bá Quát phê phán nhóm Thi Xã: “Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An” để họ chừa bớt đi cái tính hênh hoang, kênh kiệu, tự đắc. Coi thiên hạ chẳng ra gì.  Chúng ta không chấp nhận cái lối ác độc như vậy, nhưng có phải chăng đây là cách duy nhất để dạy cho người khác bài học lễ độ của người làm thơ?  ( Như lời thang vang của một nhà thơ kỳ cựu khi đụng phải một vài kẻ hậu sinh thất lễ). Còn có biện pháp nào kêu gọi lòng tự trọng của mọi người khi đụng vào cõi thơ? Người nào làm được công việc nầy thì nó cũng to lớn bằng công của bà Nữ Oa đội đá vá trời.◙

Posted in Phiếm Luận | Leave a Comment »