Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for the ‘Phỏng Vấn’ Category

QUAN NIỆM VỀ THƠ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 17, 2011

QUAN NIỆM VỀ THƠ

Phan Xuân Sinh
trả lời Lê Bảo Hoàng

Câu hỏi thật đơn giản mà cũng thật khó. Khi chưa có ai đặt cho tôi câu hỏi nầy, thì trong đầu tôi “chẳng có quan niệm” gì cả, thơ miễn sao làm cho hay thì được rồi. Thế nhưng cái khó của người làm thơ là làm sao mình biết được thơ mình hay? Một nhận định khách quan thường phải do người đọc nhận xét. Tâm lý chung chung người làm thơ nào dù mới chập chững, cũng đều cho rằng thơ của mình thuộc thiên hạ đệ nhất. Không thể nào dở được, nếu ai chê thì người đó ganh ghét, hoặc lòng dạ hẹp hòi. Chứ mình thì không thể nào chấp nhận thơ mình dở được. Cái mâu thuẩn đáng ghét đó chính là cái nguyên nhân tạo nên những nhà thơ, họ lầm lì sáng tác, chai mặt sáng tác, bất kể búa rìu dư luận. Bài thơ sau hay hơn bài thơ trước, bước đi lúc đầu chập chững, nhưng về sau vững vàng. Họ làm mãi, trau chuốt dần dần, sửa tới sửa lui, câu kéo không còn lòng thòng mà trở thành cô đọng. Ðúng là văn ôn võ luyện. Thơ không thuộc loại tuyệt phẩm, thì ít ra cũng thuộc loại hay. Sự thành công của những người nầy, rất ít trong giới cầm bút. Những người làm thơ hay phần đông họ có năng khiếu. Bài thơ của họ chào đời được đón nhận ngay. Họ được ưu đãi và trọng vọng.

Tôi không thuộc vào hai lớp người trên, không có cái khiếu làm thơ, khi đọc thơ của thiên hạ tôi thấy những điều tôi nghĩ, họ đã nói giùm tôi hết rồi, mà lại nói hay hơn những điều tôi nghĩ. Tôi không nhẫn nhục can đảm ngồi lì để trau chuốt từng chữ, từng ý, như những người không có năng khiếu nhưng biết học hỏi, biết nhận thức. Nên tôi ngại không dám viết. Trong đời sống thường nhật không dễ gì đọc được những bài thơ vừa ý, số nầy ít ỏi quá. Thường thì đọc các bài thơ lẩm cẩm thì nhiều. Buồn tình tôi ngồi làm thơ cho mình tự đọc chơi, dần dần trở thành thói quen. Tôi thì làm thơ “phang” đại, tới đâu thì tới, không giống ai hết. Nói lên cái ý của mình muốn nói. Gửi gấm chút tâm sự, chút lòng mình ao ước. Nên thơ tôi cục mịch, chữ nghĩa rẻ rúng, không chắt lọc, không cao siêu. Thơ của tôi dành cho những người dễ dãi đọc chơi rồi bỏ qua. Còn đối với những người khó tính, thì họ không chấp nhận loại thơ như thế nầy. Loại thơ bình dân, không cân não, không trí tuệ.

Cho nên quan niệm về thơ của tôi cũng thật đơn giản. Thơ phải dễ hiểu, chữ dùng đơn giản, ý thơ đâu đó rõ ràng. Tôi biết thơ mà như vậy thì không “thơ mộng” chút nào. Thế nhưng quen rồi không đổi được, cái quan niệm cổ lỗ sỉ nầy đã trở thành một cái rãnh quá sâu, không sao khỏa lấp được. Kính mong quí độc giả lượng thứ cho.

Ðối với tôi thói quen thì có, còn kinh nghiệm thì không. Bởi lẽ làm thơ đối với tôi như một trò chơi, một trò chơi không cần phải có đối thủ hoặc người đồng hành. Sống ở nước người tìm một người chơi những trò chơi khác với mình thì quá khó, ai cũng bận bịu công chuyên, chưa đến tuổi hưu trí để ngồi tán gẫu cả ngày. Thôi thì chơi thơ vậy. Tôi chỉ còn chập chững, chưa có chút kinh nghiệm nào khi làm thơ, cho nên không tiện đề cập đến cái “kinh nghiệm”. Thói quen thì như thế nầy, không biết có nên gọi là thói quen hay không? Khi công việc bề bộn, thì tự nhiên muốn làm thơ. Mấy người bạn của tôi hay nói đùa rằng ” đó là lý do trốn tránh công việc”. Còn tôi thì cho rằng căn thẳng với công việc, nên “thơ” tự nhiên đến để làm thư giản tinh thần, nếu không có thơ chắc điên mất. Trước đây tôi có một hiệu buôn nhỏ, bên cạnh máy tính tiền tôi đứng, bao giờ tôi cũng đặt sẵn một tờ giấy trắng và một cây bút. Khi khách vừa vắng vắng là tôi làm được vài câu thơ. Thế là tôi đi ngược với anh Luân Hoán, đọc ở đâu đó lâu rồi chị Lý vợ anh thổ lộ cho biết, anh Luân Hoán khi làm thơ nằm trên giường. Còn tôi thì làm thơ phải đứng. Nói cho vui vậy chứ tôi chẳng có thói quen nào hết, lúc ngồi trên xe đậu ở parking chờ vợ đi chợ, chẳng biết làm gì lấy viết làm vài câu thơ để đó. Vài tháng sau vô tình tìm được móc ra làm tiếp. Vài ba tháng có khi không làm được bài thơ nào, nhưng cũng có lúc một tháng làm được vài bài. Tôi lái xe mà miệng lấp nhấp là bà xã tôi biết tôi đang bị thơ hành, bà vội vàng lấy tập vở ghi một vài câu tôi đọc. Nửa đêm ngủ không được, nhè nhẹ ra ngoài phòng khách ngồi làm thơ, nhiều khi chẳng rặng ra được câu nào. Thơ thì làm nhiều, nhưng vài ba ngày đọc lại thấy không giống ai đành xé bỏ, số lượng xé bỏ nhiều hơn gấp bội số lượng giữ lại. Một năm chỉ được vài ba bài trình làng xóm cho vui, cho nên tôi rất phục những người làm thơ nhanh và nhiều. Ngoài chuyện làm thơ, thỉnh thoảng tôi cũng hay viết truyện, tùy bút v.v… Có lẽ viết văn xuôi dễ dàng hơn làm thơ. Thơ đòi hỏi phải có cảm hứng thì mới làm được, còn văn thì không cần điều nầy. Hình thành được cốt truyện trong đầu, thì bất cứ lúc nào đặt bút xuống cũng viết được.

Phan Xuân Sinh

Advertisements

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »

TRÓ CHUYỆN VỚI BBT/DA MÀU

Posted by phanxuansinh trên Tháng Ba 23, 2011

Phần Phan Xuân Sinh trả lời Đinh Từ Bích Thúy/Ban Biên Tập Da Màu
(Bài trò chuyện nầy không lên trên web của damau.org. BBT/Da Màu chỉ lấy một phần nhỏ để giới thiệu. Chúng tôi đăng hết phần trò chuyện nầy để bạn bè xa gần dễ dàng tìm hiểu.) Phan Xuân Sinh (22/3/2011)

-ĐTBT:
(a) Trong bài viết “Chuyến Về Quê Nhà” đăng trên talawas ngày 23 tháng 5 năm 2008, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13196&rb=09, anh Phan Xuân Sinh có đề cập đến bài thơ của Chế Lan Viên đã hối hận về việc ông có trách nhiệm trong Tết Mậu Thân, cùng sự bất lực của nhà thơ trước hậu quả của chiến tranh:

Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười.”
(Chế Lan Viên)

Thưa anh, cũng là một nhà thơ, anh nghĩ sao về vai trò một người nghệ sĩ? Họ có nên đề cập đến chính trị hay những vấn đề xã hội trong thơ văn của họ, hay họ nên tránh xa là hơn, để khỏi bị trở thành những trường hợp như Chế Lan Viên, hoặc những nhà văn chạy theo người Cộng sản, rồi sau đó mới thấy họ lầm lẫn?

PXS:
Thưa cô,
Sau 30/4/75. Tôi tìm đọc những nhà thơ Cộng Sản Miền Bắc. Tôi nhận thấy tất cả thơ của họ được lưu hành đều đẩm mùi tuyên truyền cho chế độ. Hình như không có người nào vượt thoát ra khỏi lãnh vực nầy. Chế Lan Viên cũng không tránh ra khỏi quy luật đó (ngoại trừ Hữu Loan). Thế nhưng theo tôi ông là một nhà thơ Cộng Sản nặng ký nhất. Có thể nói Chế Lan Viên là một thi sĩ ca tụng chế độ Cộng Sản một cách tài tình, cao siêu nhất. Ta hãy xem một đoạn thơ ông mô tả Tổ Quốc Cộng Sản đẹp nhất mà từ khi lập quốc đến nay chưa có lúc nào đẹp như vậy.”Tổ quốc bao giờ đẹp thế nầy chăng?”:

“Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
– Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc.
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…
Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả
……….”
Cái ngày của các ngài Nguyễn Trãi , Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Hưng Đạo….là đồ bỏ. Chỉ có cái ngày đang sống (với chế độ Cộng Sản) là ngày đẹp hơn tất cả. Thật dễ sợ. Đúng là nhà thơ Cộng Sản tài hoa thứ thiệt. Không có ai dùng thơ tuyên truyền hơn ông được.

Thế nhưng vào những ngày cuối đời, Chế Lan Viên làm những bài thơ ta phải sửng sốt, không ngờ rằng ông quay lưng một cách dứt khoát và quả thật những bài thơ”phản tỉnh” của ông cũng rất nặng ký. Ông giống như loài chim Thorn Birds (sau khi đọc Nguyễn Thị Thảo An mới có ý so sánh nầy) sinh ra chỉ biết hót, cái lúc tiếng hót hay nhất, rung động nhất, mê hoặc nhất là lúc chim lao mình vào bụi mận gai nhọn, thân thể bị xuyên thủng thì mới bật lên tiếng hót ai oán. Chế Lan Viên trước khi chết cũng mang tâm trạng loài chim nầy. Ngoài bài thơ “Ai? Tôi” mà tôi đã dẫn chứng trong bài viết nói về tết Mậu Thân. Còn bài “Bánh vẽ”dưới đây nói lên thực trang chung của những người Cộng Sản, biết mình đang ăn chiếc bánh không thật, nhưng cũng phải ăn và trằm trồ khen ngon:

“Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp.
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Ðêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi,
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm… “

Tháng 8 năm 1991

Bây giờ tôi trả lời thẳng câu hỏi. Vai trò của người nghệ sĩ là đứng ngoài tất cả khuynh hướng chính trị, đó là điều hay nhất. Nhưng những nghệ sĩ sống dưới chế độ Cộng Sản thì khác, họ phải ca tụng chế độ, trung thành với chế độ bằng ngòi bút của họ, nếu không họ sẽ bị đào thải ngay, trừng trị ngay, trường hợp của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Cho nên ta phải thông cảm cho họ. Từ năm 1954 đến 1975 Miền Bắc làm gì có nền văn học chân chính, chỉ có văn học tuyên truyền nên tất cả văn nghệ sĩ đều quay cuồng theo bộ máy đó. Đến 1985 Nguyễn Văn Linh ra lệnh cởi trói thì nền văn học mới bắt đầu khởi sắc. Cái đáng trách là những văn nghệ sĩ trước đây sống trong Miền Nam chạy theo Cộng Sản, bẻ cong cây bút ca tụng chế độ. Sau khi phục vụ một thời gian họ bắt đầu hối hận, muốn bức phá ra khỏi gọng kiềm của chế độ. Trường hợp nầy cũng nhiều, nghĩ cho cùng họ cũng đáng thương hơn là đáng trách. Con người làm sao tránh khỏi những lúc lầm lẩn. Cái quan trọng là biết mình lầm lẩn để sửa đổi mới thật đáng quý.

-ĐTBT:
(b) Như anh biết, Da Màu tuần vừa rồi đăng bài bút ký “Trịnh Công Sơn và những ngày Văn Khoa” của Từ Thức Trần Công Sung, http://damau.org/archives/18749. Đề tài Trịnh Công Sơn trong lịch sử Việt Nam hiện đại vẫn còn được nhiều người tranh cãi, Tuy gần như không ai chất vấn cái đẹp và thâm trầm trong nhạc của ông, những người không phục ông vẫn đánh giá nghệ thuật của ông qua lăng kính chính trị và lịch sử. Điều này có công bằng không? Làm sao để một nhà thơ hay nhà văn không thành dửng dưng trước vận mệnh của đất nước, nhưng cũng không bị khuynh hướng chính trị chi phối nghệ thuật của mình?

PXS:
Thưa cô,
Tôi có đọc “Trịnh Công Sơn và những ngày văn khoa” của Từ Thức trên Da Màu mới đây. Đúng như cô nói Trịnh Công Sơn là một đề tài tranh cải triền miên mà bên nào cũng bảo vệ lý lẽ của họ một cách chặt chẽ. Thật tình trong thế hệ chúng tôi cái chuyện bên nầy hay bên kia nặng nề quá, cho đến bây giờ 36 năm rồi vẫn chưa giải tỏa được. Nói bên nầy đúng, bên kia sai là bị ngay sự chống đối. Nhìn người nghệ sĩ dưới con mắt chính trị cực đoan thì cay nghiệt cho họ quá. Anh Trịnh Công Sơn là một người tài hoa, đứng trên tất cả xu hướng chính trị. Chính trị chỉ có một thời, một giai đoạn, còn tác phẩm hay thì còn mãi mãi. Theo tôi anh ấy là con người của lịch sử, hãy để lịch sử phê phán anh sau nầy. Chúng ta nên có cái nhìn rông lượng chứ đừng nhìn anh bằng con mắt phê phán, hay nói đúng hơn ta cảm được tác phẩm của anh ấy hay là đủ rồi. Còn con người thật của anh ấy ra sao chúng ta cũng chẳng cần biết tới. Quan niệm của người Việt Nam xưa nay đều gắn liền con người và công việc dính chung với nhau. Tài hoa phải gắn liền với đạo đức. Vì vậy cái nhìn của quần chúng với những người làm văn nghệ thì người đó phải vẹn toàn tài năng cũng như đạo đức thì mới được kính phục. Còn trường hợp của Trịnh Công Sơn con người đích thực của anh thế nào chẳng có ai biết, chỉ phán đoán thế mà gắn cho anh những nhãn hiệu thế nầy hay thế kia cũng thật tôi nghiệp, và oan ức.

Vận mệnh của đất nước không thể tách rời, mà nó phải gắn liền với con người bình thường cũng như văn nghệ. Sống ở môi trường nào phải theo môi trường đó. Người nào hên ở phe thắng trận thì mạnh miệng mạt sát phe thua trận (lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng). Đúng hay sai sau nầy lịch sử sẽ phán xét, bây giờ còn quá sớm đụng tới chuyện nầy. Tuy nhiên người làm văn nghệ khôn ngoan thì nên tránh đừng bị khuynh hướng chính trị chi phối trong tác phẩm của mình, như vậy tác phẩm mới trường tồn được. Những nhà thơ lớn như Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, sống trong chế độ miền Nam, phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhưng tác phẩm của họ đã vượt qua biên giới chính trị, không đượm màu sắc chính trị nên đã được người đọc đôi bên chấp nhận, trân quý. Cái nhìn của người nghệ sĩ lớn nó phải như vậy.

ĐTBT:

(c) Theo Trần Vũ trong bài phỏng vấn với Lê Quỳnh Mai, http://tranvu.free.fr/baiviet/phvanTV-LQM.html, thì Nhất Linh Nguyễn Tường Tam được xứng đáng được gọi là một “nhà văn/văn hào của Việt Nam” vì ông, “ngoài tác phẩm, trước nhất là một người trí thức có tư cách và cất tiếng nói trước bất công của xã hội, trước chính quyền không sợ hãi, với tất cả trách nhiệm.” Xin anh Phan Xuân Sinh cho biết cảm nghĩ của anh về định nghĩa “nhà văn” của Trần Vũ. Anh có nghĩ rằng định nghĩa này nên được áp dụng làm thước đo cho tất cả các người cầm bút hiện nay, trong và ngoài nước Việt Nam?

PXS:
Thưa cô,
Đụng vào Nhất Linh là chúng ta đụng vào một cây cổ thụ, quan niệm nhà văn của Trần Vũ về Nhất Linh không có chỗ nào sai. Thế nhưng mấy ai được như ông?

Khi còn ở trong nước, tôi được những người ngoài Bắc vào kể cho tôi nghe về những văn nghệ sĩ của Nhân Văn Giai Phẩm, họ bị đánh phá, câu thúc thân thể, đọa đày, xâm phạm nhân cách v.v… nghĩa là họ bị chính quyền dùng mọi đòn thù đập họ tan nát. Dần dần phần đông họ ngoan ngoãn khuất phục. Chúng ta chê cười và khinh khi họ? Họ không phải là văn nghệ sĩ đích thực? Thưa không, trong quan niệm của cá nhân tôi tài năng của họ là trên tác phẩm của họ. Họ có phải là nhà văn, nhà thơ đích thực hay không là trên tác phẩm giá trị của họ nói lên điều đó. Dù sau nầy họ bị tra tấn tinh thần cũng như thân thể mà họ phải khuất phục thì ta cũng nên thông cảm cho họ. làm một con người bản năng đôi lúc yếu đuối nên có khi phải ngả gục dưới áp lực của uy vũ cũng là lẻ thường tình. Ta đòi hỏi mọi người cứng cỏi như Nhất Linh cũng thật khó. Lấy nhà văn Nhất Linh làm thước đo cho văn nghệ sĩ chung chung thì tôi nghĩ sẽ bị rớt hết, không ai bám theo được. Chính vì vậy ông xứng đáng để ta tôn thờ. Còn bây giờ ta nên chia tư cách và tác phẩm, hai thứ không nên dính vào nhau. Nhà văn thì nên đo bằng tác phẩm còn con người thì nên đo bằng lối sống đạo đức.

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »

PHAN XUÂN SINH: GỢI NHỮNG TIẾNG VANG TRONG ĐÁY LÒNG

Posted by phanxuansinh trên Tháng Ba 23, 2011

Phan Xuân Sinh: gợi những tiếng vang trong đáy lòng
Lương Thư Trung Chia sẻ – ShareThis ♦ 0 bình luận ♦ 22.03.2011
Lương Thư Trung
Phỏng vấn, Biên khảo, Tư Liệu, VH Miền Nam 1954-1975

LTS: Trong bài nói chuyện rất phong phú và cảm động dưới đây với Lương Thư Trung, Phan Xuân Sinh đã cho ta thấy một chân dung phức tạp, chân thật và cũng rất độ lượng của ông. Là một nhà văn ảnh hưởng sâu đậm bởi cuộc chiến Việt Nam, ông thố lộ với BBT Da Màu, “Thật tình trong thế hệ chúng tôi cái chuyện bên nầy hay bên kia nặng nề quá, cho đến bây giờ 36 năm rồi vẫn chưa giải tỏa được. Nói bên nầy đúng, bên kia sai là bị ngay sự chống đối. Nhìn người nghệ sĩ dưới con mắt chính trị cực đoan thì cay nghiệt cho họ quá .… Chính trị chỉ có một thời, một giai đoạn, còn tác phẩm hay thì còn mãi mãi.” Tuy công nhận rằng, trên lý thuyết “vai trò của người nghệ sĩ là đứng ngoài tất cả khuynh hướng chính trị,” Phan Xuân Sinh cảm phục trường hợp những nghệ sĩ công khai chịu trách nhiệm về hậu quả chiến tranh (như trường hợp Chế Lan Viên lúc cuối đời). Như loài chim Thorn Birds, khi người nghệ sĩ tự thú chính là lúc họ cất “tiếng hót hay nhất, rung động nhất, “ vì “lúc chim lao mình vào bụi mận gai nhọn, thân thể bị xuyên thủng thì mới bật lên tiếng hót ai oán ….”

LTT:
Anh Phan Xuân Sinh thân mến,
Quen biết anh từ những năm 1996, tính tới nay tròn mười lăm năm, nhưng chưa lần nào nghe anh nhắc những ngày mới bắt đầu làm thơ hồi còn theo học trường Sao Mai (Đà Nẵng). Anh có thể kể sơ sơ nghe chơi lúc bắt đầu đùa với thơ những ngày còn trai trẻ ấy anh Phan Xuân Sinh?
PXS:
Thưa anh Lương Thư Trung,
Chuyện làm thơ của tôi rất sớm. Lúc ấy còn nhỏ lắm, mới học lớp nhất (lớp năm bây giờ) tại trường Tiểu học Hòa Vang, Quảng Nam. Bài thơ có 4 câu gửi cho báo Tuổi Xanh (báo dành cho con nít thuở đó) ở Sài Gòn chơi cho vui không ngờ được đăng. Tôi xin tiền bà Dì ra hiệu sách mua 10 tờ về biếu cho bạn bè trong lớp đọc chơi. Cốt ý là khoe cho tụi nó biết là tôi có bài thơ đăng báo để tụi nó lé mắt, không ngờ chuyện nầy đến tai cô giáo, cô bảo tôi đem tờ báo cho cô xem rồi cô phán cho một câu:” Học hành chẳng ra chi mà bày đặt thơ phú”. Từ đó tôi cụt hứng và không làm thơ nữa.
Đến năm tôi học lớp Đệ Ngũ trường Sao Mai, Đà Nẵng thì Ty Thông Tin Đà Nẵng có tô chức một cuộc thi thơ, tôi và hai thằng bạn nữa rủ nhau gửi bài dự thi. Không ngờ tôi được giải nhì cuộc thì đó (Hồi đó bất kỳ thi cái gì cũng không có giải nhất, không hiểu tại sao vậy?). Cuộc trao giải thưởng rất trang trọng tại một rạp hát tại Đà Nẵng. Người trao giải cho tôi là thi sĩ Trần Gia Thoại (thân phụ của anh Trần Gia Phụng, sử gia, hiện sống tại Toronto). Khi tôi bước lên nhận giải thưởng ai cũng ngạc nhiên vì một thằng bé con mới 13 tuổi. Ông Trần Gia Thoại xoa đầu tôi rồi ông về chỗ ngồi rút trong cặp một tập thơ tặng cho tôi. Lúc ấy tôi còn nhỏ nhưng tôi biết một điều khi đọc thơ người khác tôi thấy họ làm thơ hay quá, nên tôi không lấy giải thưởng đó làm hãnh diện hay thỏa mãn. Tôi cho rằng mình may mắn giống như chó ngáp nhằm ruồi, hơn nữa những người làm thơ tên tuổi họ đâu thèm thi ba cái thứ lăng nhăng nầy, vậy thôi. Những nhà thơ Đà Nẵng lúc đó đã có tiếng tăm như Luân Hoán, Chu Tân, Hà Nguyên Thạch, Nguyễn Nho Sa Mạc v.v…Tôi thuộc hàng làm thơ đàn em, cỡ tuổi tôi có Vũ Đức Sao Biển, Nguyễn Nho Nhượn, Hạ Đình Thao, Lê Văn Trung v.v.. những người này cũng là bạn của tôi sau này.
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Theo như anh vừa chia sẻ, mãi đến năm lớp Đệ Ngũ, anh trúng giải nhì cuộc thi thơ của Ty Thông Tin Đà Nẵng. Anh còn nhớ bài thơ trúng giải ấy không? Và sau khi trúng giải nhì này, anh bắt đầu làm thơ thường xuyên chưa và có gởi phổ biến trên các tạp chí nào không? Xin anh vui lòng kể thêm một chút về những ngày mới bắt đầu làm thơ này.
PXS:
Thưa anh, bài thơ trúng giải tôi không còn nhớ. Nhưng tôi nhớ mang máng đề tài Ty Thông Tin ra là: “Diễn tả tâm trạng của những người Thượng bỏ núi rừng lánh nạn giặc giã.” Lúc đó vào thời của ông Ngô Đình Diệm, thanh bình, chưa nghe tiếng súng. Nhưng hình như trên rừng núi cao đã có mặt những người theo phe bên kia. Cũng trong năm đó, tôi có làm một bài thơ lục bát được chọn đăng trên tuần báo Gió Mới hay Nắng Mới gì đó. Bài thơ ngô nghê, tưởng tượng viển vông, nhưng vì đây là một bài thơ đầu tiên đăng báo mà lúc đó cũng có trí khôn rồi chứ không còn con nít như năm học lớp Nhất, tôi lại cắt dán trong tập vở thỉnh thoảng mở ra đọc nên còn nhớ tới bây giờ: Bài thơ mang tên là “Chiều Công Viên”:
Vì em không đến chiều nay,
Từng cơn gió bụi bay đầy công viên.
Với con mắt sáng đen viền,
Gót đi giày nhỏ nát nghiền tâm tư.
Cành khô từng chiếc lá rơi,
Nhớ em nhớ cả bờ môi héo sầu.
Bây giờ em đã về đâu,
Công viên đứng đợi một màu tang thương.
Mười ba tuổi ngo ngoe làm thơ tình, thiệt hết biết. Toàn là sản phẩm tưởng tượng, sáo mòn nhưng bây giờ đọc lại thấy vui vui. Hồi đó mấy thằng ngồi gần chỗ tôi trong lớp học, tôi cho chúng nó xem, chúng nó phục sát đất.
Những năm học Đệ Tam, Đệ Nhị có gửi thơ cho mấy tạp chí Văn, Bách Khoa, Văn Học vài lần nhưng thơ chưa tới nên không được đăng. Không dám gửi thêm vì sợ bài nhận được thì có, mà bài đăng thì không, sợ bạn bè cười nên không dám gửi. Có đăng trên Phổ Thông của ông Nguyễn Vỹ một bài, nhưng lại lấy tên con gái. Sau nầy vào lính có đăng trên Chiến Sĩ Cộng Hòa. Sự nghiệp làm thơ của tôi cũng trầy vi tróc vảy, bạn bè làm thơ thời học sinh có nhiều người đứng vững trên văn đàn thuở ấy, còn tôi thì ì à ì ạch không leo lên nổi.
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Như anh nhắc, anh có bài đăng trên tạp chí Phổ Thông của Nguyễn Vỹ vào thời ấy, theo tôi, cũng vui lắm chứ anh. Vì vào những ngày tháng ấy, theo như các tác giả Vũ Thất, Trần Phù Thế, Hoài Dziang Duy, Âu thị Phục An, Trần Doãn Nho, mà tôi có dịp trò chuyện, thì thơ văn lúc mới bắt đầu làm ai cũng trầy vi tróc vảy mới đăng được trên báo, chứ đâu có dễ như thời kỳ internet này. Anh có đồng ý là hồi đó các báo chọn bài quá khó và anh có biết tại sao họ lựa chọn khó như vậy không ? Ngoài ra, anh có cho biết:”Tôi thuộc hàng làm thơ đàn em, cỡ tuổi tôi có Vũ Đức Sao Biển, Nguyễn Nho Nhượn, Hạ Đình Thao, Lê Văn Trung v.v.. những người nầy cũng là bạn của tôi sau nầy”. Ngày nay các tác giả này ra sao? Quý vị ấy có còn sáng tác gì thêm không? Và với tình bạn giữa anh với các tác giả ấy, hoặc anh có thể nói qua một chút về vài nét tiêu biểu trong văn thơ của các tác giả này không?
PXS:
Thưa anh,
Thiệt tình là mình làm thơ chưa tới, chưa hay, nên các tờ báo lớn thuộc loại văn chương họ không chọn. Tôi nghĩ nếu mình có tài như các bạn tôi thì chắc sẽ được chọn đăng. Lúc đầu ai cũng như ai có quen biết gì đâu, thơ họ được đăng là bởi vì thơ của họ hay thật. Thời kỳ bộc phát của họ còn rất trẻ, họ thành danh khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường (từ năm đệ tứ đến năm đệ nhị). Bây giờ già rồi, nghĩ lại chuyện nầy mình còn phải thán phục. Sao lúc ấy còn nhỏ tuổi mà thơ phú của họ khi đọc lên thấy rất trưởng thành. Còn một điều nữa không kém phần quan trọng là người đọc thơ truyện trên các báo văn chương thuở ấy để tuyển chọn, họ là những người tận tụy, cân nhắc kỹ lưỡng, công tâm. Chính họ đã tạo dựng nên một nền văn học miền Nam mới mẻ, một cái nhìn sâu sắc, tìm ra được các nhà thơ nhà văn thực tài để đăng báo. Phải nói rằng chính ê-kíp nầy có công rất lớn cho nền văn học miền Nam. Người viết lúc đó nhiều mà báo rất ít, nên có sự gạn lọc gắt gao, như hạt gạo trên sàn. Vì vậy bài viết thực sự phải hay thì mới được chọn đăng. Còn bây giờ thì báo chí nhiều quá, bài vở không qua sự chọn lựa, báo nầy không đăng thì báo khác chụp ngay. Văn thi sĩ nhiều như lá mùa thu, vàng thau lẫn lộn. Đôi khi người chủ báo họ cũng chẳng có khả năng chọn lựa, có bài là tốt rồi, đăng ngay. Ta không lạ gì có nhiều bài thơ đăng trên các báo chữ nghĩa sáo mòn, ngô nghê. Người làm thơ như vậy đã thấy can đảm mà người chọn đăng bài thơ đó lại càng can đảm hơn. Khi tôi về trong nước, tôi thấy tình trạng nầy giống y như tại hải ngoại. Có tiền bỏ ra vài ngàn in một tập thơ trở thành thi sĩ có tác phẩm hẳn hoi.
Nguyễn Nho Nhượn đã chết mới 21 tuổi (năm 69 – 70 gì đó), Vũ Đức Sao Biển hiện thời còn ở trong nước, đây là người đa tài, nhạc, thơ, văn, phiếm v.v.. thứ nào cũng thượng thừa. Hạ Đình Thao thì gác bút. Còn Lê Văn Trung viết lai rai cho bạn bè đọc chơi, hiện giờ có bài trên Thư Quán Bản Thảo của anh Trần Hoài Thư, cách đây ba năm có in tập thơ “Cát Bụi Phận Người”. Tôi quen biết với những người nầy khi còn đi học (năm đệ tứ), quen biết nhau cũng qua sinh hoạt văn chương học sinh lúc đó.
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh thân,
Thế là anh tiếp tục gởi thơ trên Chiến Sĩ Cộng Hòa và Phổ Thông của Nguyễn Vỹ tới những ngày trước tháng 4-1975 ? Lúc bấy giờ anh có dự tính in tập thơ nào không hay mãi tới Chén Rượu Mời Người in chung với nhà thơ Dư Mỹ cùng quê Quảng Nam với anh, vào năm 1996, tại Boston, là tác phẩm đầu tay? Xin anh vui lòng kể một chút về tập thơ mỏng này và nhứt là bốn câu thơ mở đầu vào tập.
PXS:
Thưa anh,
Tôi chỉ đăng trên Chiến Sĩ Cộng Hòa thỉnh thoảng thôi, đến năm 1972 lúc đó tôi bị thương (Mùa Hè Đỏ Lửa) thì tôi không gửi nữa. Tôi chỉ đăng trên báo nầy chừng vài ba bài rồi thôi. Còn trên Phổ Thông chỉ một bài duy nhất. Khi bị thương nằm nhà, tôi làm thơ nhiều nhất, cuộc chiến đã cướp mất một phần thân thể của tôi nên trong lòng tôi luôn luôn hận thù cuộc chiến, tôi làm thơ như một cái thùng để tôi trút tất cả lên đó những oán hận, mà tôi không thể trút vào ai được. Tôi viết hồi ký và làm thơ rất nhiều, đây là một thứ duy nhất để tôi giải tỏa những u uẩn, thống hận, đã đè nén trong lòng tôi có chỗ để thoát. Đến 30 tháng 4 năm 1975, tôi đành đoạn phải đem các thứ nầy vào bếp đốt. Đó là những thứ cấm kỵ với chế độ mới, họ mà đọc được thì ở tù mục gông. Tôi không có tác phẩm nào in trước năm 1975.
Khi tôi qua Mỹ 1990, tôi ở phía bắc (thành phố Philadelphia), có đứa em vợ mua cho tôi tờ Làng Văn. Những ngày mới tới Mỹ rỗi rảnh, nhớ quê, tôi có làm vài bài thơ gửi cho Làng Văn. Tôi bắt đầu viết cho Làng Văn từ đó. Sau nầy tôi biết được ở hải ngoại còn có các tờ báo văn nghệ như Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Khởi Hành v.v…tôi bắt đầu gửi bài và lần lượt được đăng trên các tạp chí nầy. Khi tôi định cư tại Boston làm quen với các anh em văn nghệ tại đây. Hồi đó, sinh hoạt với anh em rất vui, có những đêm văn nghệ được tổ chức quy mô với sự tham dự của đồng hương. Có những đêm sinh hoạt riêng với anh em văn nghệ bên chén rượu, những đêm như thế nầy thường tổ chức tại nhà anh Dư Mỹ hoặc tại nhà tôi. (Trước khi tôi về Boston thì tổ chức tại nhà Trần Trung Đạo). Chính vì vậy, tôi và anh Dư Mỹ cùng rủ nhau in chung một tập thơ. Tôi và nhà thơ Dư Mỹ có những cái giống nhau: Cùng là dân Quảng Nam, cùng có một “air” thơ giống nhau, thường tổ chức những bữa tiệc rượu tại nhà anh Dư Mỹ hay tại nhà tôi. Từ những cái đó chúng tôi đồng ý lấy tên tập thơ chung là Chén Rượu Mời Người. Tôi còn nhớ 4 câu thơ mở đầu:
Đêm nguyệt lạnh, môi có thèm hơi ấm,
Ta xin dâng dăm chén rượu mời người.
Rượu có nhạt nhưng lòng ta rộng mở,
Người cứ vào và thanh thản dạo chơi
Đây là tập thơ đầu tiên tôi in chung với anh Dư Mỹ tại hải ngoại để biếu anh em (năm 1996). Thật tình thì khi còn đi học (lớp đệ tam) tôi với Hạ Đình Thao có in chung một tập thơ bằng ronéo, mỗi đứa vài bài (cho đến bây giờ tôi và Thao cũng không còn nhớ tên của tập thơ học trò đó).
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Bốn câu thơ mở đầu vừa thân ái, vừa văn nghệ mà tha thiết trong tình anh em bằng hữu biết bao. Tôi nhớ lần đó, khoảng năm 1996, hoặc 1997, tập thơ được giới thiệu lần đầu tại tư gia anh Dư Mỹ, rất đông các khách văn nghệ sĩ vùng New England tham dự như nhà văn Trần Hoài Thư, Trần Doãn Nho, Hoa Văn, Lâm Chương, Trần Trung Đạo, Nhã Nam, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi và nhiều vị khác nữa. Anh có thể chia sẻ thêm là bốn câu thơ đầu này, anh hay anh Dư Mỹ là tác giả chính, thưa anh?
PXS:
Thưa anh Lương Thư Trung,
Bốn câu thơ mở đầu tập thơ anh Dư Mỹ làm hai câu đầu tiên và tôi làm hai câu cuối cùng. Tập thơ đó bây giờ không còn nữa, tôi chỉ còn một tập giữ làm kỷ niệm. Anh vẫn còn nhớ những người tham dự đêm ra mắt Chén Rượu Mời Người thật đông vui. Anh chị Trần Hoài Thư lái xe hơn năm giờ đồng hồ từ New Jersey đến Boston trong đêm tuyết lạnh.
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Nhưng chắc có lẽ phải đợi đến “Đứng Dưới Trời Đổ Nát” ra đời năm 2000, mới chính là phong cách Phan Xuân Sinh rất mực. Xin anh nói qua một chút về sự ra đời của thi phẩm này, thưa anh?
PXS:
Anh Trung,
Tập thơ “Đứng Dưới Trời Đổ Nát” được tôi chọn lựa qua những thời gian sống của tôi, mỗi thời chọn vài bài: Thời đi học, thời đi lính, thời sau 75 và một số bài đặt chân đến Hoa Kỳ. Trong tất cả các giai đoạn sống, thế hệ của tụi tôi là thế hệ bị bầm dập nhất. Khi ngồi trên ghế nhà trường không được yên tâm ngồi học, bị xáo trộn bởi những cuộc biểu tình chống chính phủ liên tiếp do những thế lực chính trị lợi dụng tuổi trẻ của chúng tôi, chúng tôi bị cuốn hút vào sự tranh giành chính trị. Đi vào lính cấp bậc nhỏ nhất mà cuộc chiến đến hồi khốc liệt nhất, tụi tôi như những que củi ném vào chiến trường cháy tan xác. Sau 75 hòa bình mà toàn dân mong chờ đã tới, nhưng mang nhiều thù hận, trả thù, oan khiên ụp trên đầu, những trại tù khổng lồ được lập lên lùa tất cả chúng tôi vào đó.
Thời cuối cùng được qua định cư tại Mỹ thì tuổi đời chúng tôi đã lớn, hội nhập vào đời sống mới rất khó khăn. Chúng tôi phải đưa thân trâu bò cày mệt nghỉ để nuôi vợ con. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ bài hát của Nguyễn Đức Quang sao tôi thấy nó mỉa mai quá chừng, đất trời như sụp đổ làm gì có chuyện kiêu hãnh như vậy. Tôi không còn tin vào ai được. Tập thơ ra đời bằng sự đay nghiến, u uất, nỗi lòng của tôi bộc phát, nói lên thân phận của chính tôi, nói thay cho thế hệ chúng tôi. Trong một bài thơ “Đêm Nằm Nhớ Ức Trai”, đoạn mở đầu tôi viết:
“Ngài sống giữa hồn thiêng sông núi: Tri Ân ta sống vào thời lòng dân: Ly Tán kẻ thắng, người thua toàn trí cùn, trí đoản vận nước trên tay những đứa thất phu….”

Tôi xổ toạc, chửi đổng. Tôi đay nghiến, uất ức. Đó là những gì mà tôi cần phải thét lên cho hả giận. Tôi mất một phần thân thể trong chiến tranh, sự đau khổ to lớn nầy đã làm cho tôi điên tiết cho nên khi Đứng Dưới Trời Đổ Nát ra đời tôi gửi gấm chút ít tâm trạng của tôi trong đó. Tôi cũng không biết như vậy là “phong cách” của tôi hay không? Tuy nhiên tôi cũng phải công nhận rằng thơ của tôi có đượm chút mỉa mai, hận đời. Như anh thấy, ở đây người ta làm lễ vinh danh cho thương phế binh một cách quy mô. Thế nhưng khi người ta nhìn tôi với thân hình xiêu vẹo, đi đứng không giống ai thì người ta lẩn tránh, xem tôi như một thứ cùi hủi. Có ai hiểu được cái đau đớn của tôi khi nhận được những thái độ khinh miệt như vậy. Cho nên hãy tha thứ cho tôi nếu bạn đọc thơ của tôi cảm thấy khó chịu. Khi ra mắt tập thơ tại Boston niềm an ủi lớn của tôi là được bạn bè từ xa về tham dự đông đảo. Có lẽ đó là ngay vui nhất trong đời tôi. Gần đây người ta gán ghép cho tôi cái tội thân Cộng, giao lưu văn hóa do những kẻ ti tiện, thù ghét tôi xướng lên. Ở hải ngoại không lạ gì cái thứ to mồm nầy, tôi khinh lắm và tôi chẳng cần phải lên tiếng.
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Trong một bài viết về tập thơ Đứng Dưới Trời Đổ Nát, đăng trên Talawas ngày 30-5- 2007, về đề tài, tôi có nhận xét:
Đặc biệt về cách chọn đề tài, Phan Xuân Sinh đã chọn những đề tài không mới nhưng lạ. Những nhân vật như Ngũ Tử Tư, Nguyễn Trãi, Tào Tháo là những nhân vật ai cũng đã hơn một lần nghe tên tuổi, nhưng nhờ tạo được cho mình cách diễn đạt ý tưởng rất đặc biệt qua những vần thơ như vừa tâm sự, vừa phân trần và vừa giải bày nỗi bất hạnh của chính mình với các bậc tiền nhân trong lịch sử mấy trăm năm trước mà thơ của Phan Xuân Sinh đã gây được một ấn tượng lạ. Những bài thơ tiêu biểu trong loại này là “Hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư” (trang 19), “Đêm nằm nhớ Ức Trai” (trang 69), “Giải oan cho Tào Tháo” (trang 97) là những bài thơ được nhiều bạn đọc quan tâm. Chính những điều tưởng chừng đã quá cũ kỹ này, nhưng với bút pháp riêng, Phan Xuân Sinh đã làm cho những câu chuyện cũ trở thành tân thời, hiện đại, vừa nghiêm nghị vừa dí dỏm, vừa chua chát, vừa như để nói chơi cho vui mà giải tỏa được bao nhiêu tâm tư u uất của mình.
Xin anh có thể bàn thêm một chút về lý do hoặc cách anh chọn đề tài ? Và anh nghĩ gì về nhận xét rất chủ quan của tôi ở trên?
PXS:
Thưa anh,
Những bài thơ mà anh đề cập tới, đó là những bài gửi gấm một chút tâm sự của mình, của những người cùng thế hệ. Mượn người xưa để so sánh những hoàn cảnh xẩy ra, những tình thế giống nhau nhưng cách giải quyết mỗi thời mỗi khác. Trường hợp Tào Tháo thời Tam Quốc, ông bị người đời chê bai bởi tính gian hùng của ông. Thế nhưng thời nay có những người còn gian hùng hơn ông, mánh khóe hơn ông, ác độc hơn ông, mà chẳng có ai ghi vào sử sách. Cho nên bài thơ ghi lại sự phẫn nộ để giải oan cho ông. Trong bốn câu mở đầu, tôi viết:
Ông quả đúng tổ sư đất ngụy lột áo,
cháy râu, giặc đuổi chạy dài
ta thuộc hàng cháu con,
bước đường cùng túng thế
cũng chạy hụt hơi quăng áo mão cân đai ….
Trong bốn câu cuối, tôi kết luận như sau:
…. Ta kẻ hậu sinh, giở lại pho sách cũ
mà khen ông đúng là bậc tài hoa
ta vỗ án thư thét lên khàn cổ
phải giải oan nầy mới thỏa được lòng ta.…
Còn “Hầu chuyện với Ngũ Tử Tư” là đề cập tới chuyện vượt thoát của ông giống như chúng ta sau năm 75. Cái thoát hiểm của ông so với chúng ta vẫn còn thua xa, chúng ta gặp nguy hiểm hơn ông nhiều. Thế nhưng sau một đêm đầu bạc trắng của ông lập nên được nghiệp lớn, trả thù được món nợ. Còn bọn mình thoát chết trong mong manh, “chí lớn” bỏ vào sọt rác, thành một thứ vô tích sự. Một đoạn tôi viết để so sánh cái “đầu bạc” của ông và của chúng ta:”.. chí lớn của ngài thiên cổ chi mê làm rạng danh một thời hoạn lộ đấu bạc đã trả xong món nợ còn ta thẹn mặt với cố hương….” Còn trường hợp Nguyễn Trãi “lấy trí nhân thay cho cường bạo” không hợp với thời nầy, thời chúng ta không ai đem đạo nghĩa để nói chuyện, hơn thua nhau là do vũ khí tối tân hay không. Tôi làm bài thơ nầy để để nói lên hoàn cảnh sống của chúng ta hiện nay: “.. nhân nghĩa phải nhường, đao búa hoành hành danh sĩ hàng hàng khuất dưới tay uy vũ…” hoặc, “… bình thiên hạ. Nói lên bằng đầu súng ngài sống lại ở đây cũng chỉ bó thân…”
Thưa anh,

Tất cả những bài thơ kiểu nầy mang một nỗi niềm chung của đất nước: Ấm ức, thua thiệt, nghiệt ngã v.v.. cần phải được giải tỏa …. Chỉ có thơ mới giải tỏa được. Chọn những đề tài nầy để nói lên thân phận, hoàng cảnh, u uất của những người thất thế cho nên khi đọc lên cảm thấy rưng rức, đau nhói và ai ai cũng thấy chính tâm trạng của mình. Chính vì vậy nó được phần đông người đọc chấp nhận.

LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Qua thi phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát của anh, tôi cảm nhận nơi anh dù rằng nhiều lúc thi nhân coi việc tử sinh chỉ là “đầu tăm ngọn cỏ”, nhưng Phan Xuân Sinh đã phải nén lại tiếng khóc, “cầm lòng” khi nhắc lại từng tên bạn cũ với đôi mắt lúc nào cũng “cay xé”:
Vẫn biết thế. Sao mắt ta cay xé
cố cầm lòng nhắc nhở từng tên bạn ta.
Kẻ đầu non cuối chợ
Đứa mất, đứa còn đâu dễ gì quên.
(“Gặp lại bạn ta,” trang 64)
Và rồi nhìn ra chung quanh, hướng về mọi nẻo, Phan Xuân Sinh chợt nhận lại mình, anh đã cảm nhận ra thân phận của kẻ “sa cơ”, lỡ vận:
Nốc cạn ly bỗng nhiên buồn lạ
Ngẫm mình thân phận buổi sa cơ
Đẩy đưa với chút tình mờ nhạt
Ta sợ ta thành kẻ bơ vơ.
(“Ly rượu đầu xuân,” trang 82)
Với một tâm hồn lãng mạn của một người làm thơ như anh, anh cũng đã làm cho người đọc có chút lòng đành phải xao xuyến bồi hồi:
Có một chút gì xôn xao rất lạ
Để hồn ta bay theo lá vu vơ …
(Lời tỏ bày cùng quê nhà, trang 92)
“Một chút gì xôn xao” đó để hồn thi nhân “bay theo lá vu vơ” là nỗi lòng nhớ cố hương vào một giây phút chạnh lòng, trong đó, có những cuộc tình cũng đành bỏ ta đi theo những chiếc bóng chập chờn. Nhưng với một người vốn đã nặng tình với đất, với người như Phan Xuân Sinh, những buồn vương không giữ nổi một sự trở về tìm kiếm lại những bóng hình, một lần nữa, như một tiếng thở dài trong dòng sông đời nơi bến bờ xa lạ này:
Giờ ở đây. Lòng se sắt lạnh
Nhớ phố, nhớ người. Đôi mắt long lanh
Bên trời xa, bên đời hiu quạnh
Chim lạc bầy, chim mỏi cánh tim quanh.
(Lời tỏ bày cùng quê nhà, trang 94)
Chất lãng mạn cùng với thân phận ấy đã mang đến cho thơ anh một tiếng ngân vọng đến não lòng. Với nhiều nhà phê bình văn học, thơ Phan Xuân Sinh rực rỡ những hào khí của một kẻ sĩ xứ Quảng không gặp thời. Nhưng xét về phương diện mộng mị cuộc đời, cái chất lãng mạn ấy đã tô điểm cho thơ Phan Xuân Sinh thêm chút khắc khoải, chua xót của một lần phụ bạc đến dễ thương:
Ta bâng khuâng đứng bên đường
Xa em còn chút vấn vương bên lòng
Qua rồi bao nỗi bão dông
Chuyện xưa trầm tích dưới dòng quạnh hiu
Là đời vây phủ rong rêu
Là em vàng võ bên chiều nắng phai
Nhìn nhau chi để thờ dài
Gặp nhau chi để một mai ngậm ngùi
Thì thôi em cố gượng vui
Chút tình ngày cũ cố vùi lắng sâu
(Mờ phai, trang 81).
Thi nhân thì vỗ về, khuyên nhủ người thương rằng “thì thôi em cố gượng vui, chút tình ngày cũ cố vùi lắng sâu” nhưng chính trong lòng mình lại khắc khoải những tiếng “thở dài” đứt ruột …. Đâu phải chỉ một lần, Phan Xuân Sinh còn gợi nhớ cho chúng tôi một nỗi đau nữa khi ngồi trên đồi nghe tiếng chim hót, tiếng súng rền mà ở bên kia con phố, cuộc tình đã đi sang bến khác tự lúc nào:
Trên đồi trọc, cỏ không kịp mọc
Sống chết một đời có nghĩa chi
Khi tỉnh giấc, ngó bên đồi chim hót
Lòng ta đau, nhìn mãi cuộc tình đi
Như thỏi son môi. Không còn thắm
Nên em quên một thứ chẳng cần
Ta bấn loạn, cơn đau cùng cực
Chào thua. Em trong cõi trầm luân.
(Nghe chim hót trên đồi 55, trang 32)
Những bài “Gặp lại bạn ta”, “Ly rượu đầu xuân”, “Lời tỏ bày cùng quê nhà”, “Mờ phai” và nhất là bài thơ “Nghe tiếng chim hót trên đồi”, “Uống rượu với người lính Bắc Phương” anh có còn nhớ anh sáng tác trong hoàn cảnh nào không, thưa anh ?
PXS:
Thưa anh,
Trong một bài thơ “Uống Rượu Với Người Lính Bắc Phương” đăng lại trong tập Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến do Thư Quán phát hành. Anh Đặng Tiến có hỏi tôi: “Trong chiến tranh khốc liệt như vậy thì làm sao anh uống rượu với người lính bên kia được?” Bài thơ tôi làm trong đêm 30 Tết, lịnh đình chiến da beo. Tụi tôi ngồi từng toán năm ba người rải rác uống rượu ngay trong chỗ đóng quân, thì bỗng nhiên chúng tôi nghe lanh lảnh tiếng người lính bên kia gọi qua chúc Tết trong đêm tối đen như mực. Người lính của chúng tôi gọi qua chúc tết lại cho phải lễ. Hành động này làm cho tôi suy nghĩ. Ước gì có những người lính bên kia qua đây uống rượu với chúng tôi thì hay biết mấy. Sau cuộc rượu, tôi lên võng nằm và thai nghén bài thơ đó dưới bóng đèn “pin”.
Dĩ nhiên những ngày sau đọc lại tôi sửa lại cho hoàn chỉnh. Không nhất thiết phải việc thật, người thật thì mình mới mô tả được, người làm thơ phải tưởng tượng, thêu dệt làm sao khi người đọc cảm được nó. Trong tất cả bài thơ anh đề cập tới, nó đều mang một chút sự thật, một chút tưởng tượng, một chút lãng mạn thì nó mới thành thơ được.Khó nhất khi tôi làm thơ là thai nghén ra nó rồi từ từ làm tiếp có thể mất vài ngày và cũng có thể chỉ trong giây lát, tùy ở cảm hứng lúc đó.

Qua Mỹ, mình cảm thấy hụt hẫng nhiều, thua thiệt nhiều nên mình gặp cái gì cũng bắt mình nhớ lại chuyện cũ. “Gặp Lại Bạn Ta” ở trong trường hợp nầy, vừa mừng mà cũng vừa chua chát, tủi thân. Uống rượu với bạn lại nghĩ tới những người bạn khác sống chết ra sao? Đó là tâm trạng chung của anh em chúng tôi, những người lính trước đây khi gặp lại bạn cũ. Bài thơ không hay nhưng gợi lại hình ảnh chung của anh em chúng tôi. Những bài thơ tình trong thời chinh chiến đối với chúng tôi là tiếng thở dài triền miên: “…dại chi ưng một đứa chiến chinh, để thành quả phụ thời son trẻ..” tình cảnh thời đó khốc liệt thì đừng trách chi người con gái, họ phải chọn lựa một chỗ an toàn để gởi tấm thân. Thiệt thòi chỉ có những thằng như tụi tôi., những thằng trực diện ngoài chiến trường. Bài thơ “Nghe Chim Hót Trên Đồi 55”, tôi làm sau khi về phép ra phố thấy “em” đang cặp thằng khác. Buồn quá, những ngày đó tôi đi uống rượu với bạn bè rồi về lại đơn vị. Tôi không trách ai cả, chỉ than thân với mình thôi, bài thơ làm trên đồi 55 khi đơn vị đóng quân trên đó:
Nằm trong hầm lắng nghe chim hót,
Mà tưởng mình đang sống thái bình,
Tiếng súng tiếng chim nghe buồn lạ,
Vây quanh ta giữa chốn đao binh.
Chắc bây giờ em vừa bát phố,
Đang ung dung trau chuốt sắc hương,
Tìm phấn son thay đôi giày mới,
Thong thả dạo quanh những con đường.
Ta vẫn nằm trên đồi gió thổi,
Chim hót ban ngày pháo dội ban đêm,
Em cứ chạy theo từng mốt mới,
Còn ta uống rượu để tìm quên .…
Đó, tâm trạng của chúng tôi như vậy, tinh thần luôn luôn bấn loạn, chỉ tìm rượu để giải sầu.
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Cảm ơn anh đã cho biết hoàn cảnh ra đời của nhiều bài thơ, trong đó có bài thơ “Uống Rượu Với Người Lính Bắc Phương”. Trường hợp này, anh bạn BCN trên Boston, thuộc binh chủng TQLC, lúc đơn vị đóng quân ở Quảng Trị có kể lại có lần ảnh đã uống rượu thật với người lính Bắc phương vào những giờ ngưng bắn như vậy. Lần đó hứng quá anh ấy uống tới say luôn khi về phải lội qua một con suối suýt bị chết chìm … Chiến tranh gì mà kỳ cục quá phải không anh PXS ?!?
Giờ xin trở qua hai tác phẩm văn xuôi của anh: Bơi Trên Dòng Nước Ngược và Sống Với Thời Quá Vãng. Tập thứ nhứt nói về thời thơ ấu, thời đi học, thời đi lính là chính; tập thứ hai giống như một hồi ký về một đoạn đời, mà khoảng thời gian chính là những ngày tháng sau 1975, với những cảnh, những người hợp cùng chất liệu nơi chính đời sống mình để rồi anh ghi chép làm thành tập sách chan chứa biết bao nỗi niềm dường như không rời được. Ở đó có những điều làm anh không vui, đã đành, nhưng dường như anh viết ra những điều bất như ý ấy bằng tấm lòng một nghệ sĩ hơn là một nhà văn dựng truyện bình thường mỗi khi viết truyện. Chẳng hạn, có những người yêu hồi anh ở tuổi đôi mươi, họ bỏ đi lấy chồng, mãi sau này có dịp gặp lại, anh kể với giọng văn đầy chất lãng mạn, mà nghe như không chút trách hờn. Nguyên nhân nào, anh có được nhừng dòng chữ chan chứa lòng bao dung ấy, thưa anh?

PXS:
Thưa anh,
Lòng bao dung? tôi không biết tôi có được thứ này trong người không? Tất cả mọi chuyện nó đều xưa cũ, hơn bốn mươi năm bây giờ hằn học để làm gì. Hơn nữa phần đông những người bạn gái cũ của tôi họ đều gặp bất hạnh trong đời sống, nhìn họ lại thật tội nghiệp, mình trách họ làm chi nữa. Chính sự chọn lựa của họ mới có một kết quả không may mắn sau nầy, gặp lại họ rất ngại ngùng. Phần đông họ chờ đợi câu trách móc của tôi khi gặp lại nhau. Biết vậy tôi phải tránh đi để sự gặp gỡ tốt đẹp không vướng mắc điều buồn bã. Khi gặp nhau tôi không bao giờ nhắc lại với ai chuyện cũ. Chính vì thế đã để lại trong lòng họ sự kính phục. Về lại bên nầy, tôi ghi lại chuyện cũ trong trạng thái rất vui, thoải mái. Nghĩ lại, mình cũng có một phần lỗi, một phần cà chớn nên họ mới dứt khoát ra đi dễ dàng. Ngày đó dùng chiến thật của ngài Nguyễn Du “Đưa người cửa trước, rước người cửa sau”, bị họ phát hiện rồi đùng đùng bỏ đi, đáng đời chứ than thân trách phận làm gì nữa phải không anh?
Sống Với Thời Quá Vãng phần đông ghi lại những bút ký của chuyến về quê nhà thăm lại gia đình và bạn bè. Cái nhìn và nhận định của tôi phải rõ ràng minh bạch nên có thể gây mất lòng rất nhiều người mà tôi đã gặp kể cả người bên này hay người bên kia. Đến với họ tôi phải lắng nghe và đôi khi phải tranh cãi để hiểu rõ vấn đề. Tuy nhiên tôi không bao giờ ghi lại để họ phải khó xử. Trong nước tình trạng vẫn còn khó nên tôi phải tránh né. Những người tôi gặp một số ít trước đây họ có vấn đề nên người hải ngoại không thích. Còn sự thật ra sao lịch sử sẽ phán xét sau này. Những người bạn hiểu tôi họ đều cho rằng chuyến về quê nhà của tôi rất ích lợi, ghi lại số chuyện nhạy cảm rất tế nhị. Còn những người ganh ghét với tôi thì họ lái mọi sự việc đi theo ngõ khác, dưới sự suy luận của họ.
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Giờ xin nhắc đến việc anh chia sẻ trong vài lần phỏng vấn với các tác giả Việt Nam và ngoại quốc, đặc biệt cuộc phỏng vấn với đề tài “Chiến Tranh Nhìn Từ Mọi Phía”, do Christian G. Appy thực hiện với nhiều nhân vật khác nhau trên các chiến tuyến, sau này in thành sách Patriots: The Viet Nam War Remembered From All Sides do Penguin Books xuất bản, Hoa Kỳ, 2003 (2). Được biết, tác giả Christian G. Appy trước đây là phụ tá giáo sư về môn lịch sử tại hai trường đại học Harvard và MIT (Boston, Massachusetts). Vào năm thực hiện cuộc phỏng vấn này, ông là giáo sư trường đaị học Amherst, tiểu bang Massachusetts. Xin anh vui lòng chia sẻ diễn tiến và những suy tư mà anh trang trải trong cuộc phỏng vấn này?
PXS:
Thưa anh,
Anh hỏi về phỏng vấn, để tôi nhớ lại:
– Lê Quỳnh Mai phỏng vấn tôi trên radio của Montreal vào khoảng năm 2000.
– Trường Đinh phỏng vấn tôi trên website Hồn Quê vào khoảng năm 2002
– Triều Hoa Đại phỏng vấn tôi trong tập “Lên Rừng Đếm Lá” vào khoảng năm 2003.
Những bài phỏng vấn trên là sự trao đổi với văn hữu Việt Nam về chuyện văn nghệ.
Vào năm 2003, Christian G. Appy phỏng vấn tôi về chuyện chiến tranh vì tôi là một người lính Miền Nam trực diện ngoài chiến trường và mất một phần thân thể. Christian G. Appy là giáo sư sử học của đại học Harvard và MIT ở Boston. Cuộc trao đổi giữa tôi với ông sau nầy ông in trong tập Patriots: The Vietnam War Remembered From All Sides (Những Người Yêu Nước: Chiến Tranh Nhìn Từ Mọi Phía). Tập sách nầy chỉ ghi lại những cuộc phỏng vấn của nhiều phía khác nhau: Một số quân nhân Pháp (vì theo lý luận của Christian, cuộc chiến Việt Nam sở dĩ xẩy ra là do người Pháp chia đôi đất nước nên họ phải hệ lụy với cuộc chiến nầy), Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, và quân đội Bắc Việt. Ông phỏng vấn chừng 400 người nhưng khi gạn lọc lại chỉ còn chừng 135 người của bốn phía tham chiến tại chiến trường. Sở dỉ phải gạn lọc vì ông không thể để người khác dùng quyển nầy nói lên hận thù. Ông chọn tôi bởi vì tôi trình bày về nhân bản của người lính miền Nam. Khi chúng tôi ra trận trong lòng chúng tôi không mang một chút thống hận, ra trận chúng tôi buộc lòng phải bắn vì nếu không thì chết. Trên phương diện tổng quát chúng tôi chỉ là những người tự vệ để cố giữ bờ cõi.Christian G. Appy hỏi tôi bây giờ cái gì đã chiếm hầu hết thời gian suy nghĩ của tôi. Tôi trả lời với ông là đất nước Việt Nam tôi. Tôi kể cho ông nghe những câu chuyện trong thời chiến mà tôi đã gặp có liên quan với sự suy nghĩ của tôi bây giờ. Lúc trò chuyện với Christian Appy thì có thông dịch viên chuyển ngữ sang tiếng Anh ngay lúc đó. Phần trả lời của tôi, trích từ Phần 1, Sự Trả Giá (Paying the Price), trang 25-27, được BBT Da Màu dịch lại qua tiếng Việt như sau:
Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến với vô số những kinh nghiệm đau lòng. Hồi đó tôi là một sĩ quan chỉ huy một trung đội, đơn vị của tôi là đại đội trinh sát thường hành quân Diều Hâu bằng trực thăng (nghĩa là đi bằng trực thăng tìm kiếm địch trong những vùng oanh kích tự do, chỉ có địch mới sống chỗ đó. Thấy địch xuất hiện là nhảy xuống bắt lên, như con diều hâu bắt gà vậy).
Có một lần chúng tôi được tin tình báo cho biết sẽ có một đại đội Việt Cộng dùng thuyền cập bến vào làng Cẩm Hải, một khu vực nằm độ 6 cây số về phía Nam ven biển Đà Nẵng. Chúng tôi được lệnh bố trí cuộc phục kích gần bờ biển. Đại đội trinh sát của tôi là nhóm dẫn đầu. Chúng tôi cố men vào sát vịnh để có thể thông báo qua máy vô tuyến cho các binh sĩ khác trong đại đội khi nhìn thấy tàu Việt Cộng cập bến. Lúc đó là khoảng một, hai giờ sáng và trời thì tối mịt mùng. Chúng tôi khó nhìn thấy gì nhưng một hồi thì nghe có tiếng động của mấy cái xuồng đang lướt tới. Khi các xuồng lần lượt vào gần bờ thì chúng tôi thấy có bao nhiêu thanh súng sừng sững chỉa lên trời. Coi bộ cả một đại đội Việt Cộng đang tấp xuống bờ.
Chúng tôi báo cho đại đội trưởng rồi xả súng về phía địch—súng trường, súng liên thanh, tất cả mọi loại súng. Chúng tôi cứ bắn xối xả cho tới lúc tôi nhận thấy rằng không ai ở phía địch bắn chống trả. Tôi dùng máy truyền tin gọi một đội pháo binh đang phòng thủ gần đó bắn trái sáng phóng ra biển để chúng tôi thấy rõ hơn. Khi trái sáng lóe lên tôi biết ngay rằng chúng tôi đã lầm to .… Cái mà chúng tôi tưởng là súng trường thật ra là mấy cái cần câu cá. Ở Việt Nam, ngư phủ thường lấy xuồng đi đánh cá, ngay cả trong đêm khuya, khi họ nghĩ là sẽ có cá mắc câu. Tôi lặng cả người .… Tôi giúp những đồng bào, trẻ em bị thương di tản lên trực thăng và khi chúng tôi cất cánh tôi đã bật khóc. Tôi thấy rõ rằng thường dân từ mọi phía đã lãnh trọn nhiều thảm họa đau khổ từ chuyện giết chóc của hai bên Nam-Bắc.
Một hôm, sau khi hành quân trên đường trở về, tôi thấy một túp lều tranh giữa một nơi đồng không mông quạnh. Tôi nghi ngờ nên bảo người phi công cho toán chúng tôi đổ quân tại căn nhà đó để lục xét. Tại nơi nầy chỉ có vợ chồng ông bà cụ chừng bảy mươi tuổi sinh sống. Tôi mang ông bà lên máy bay về nơi định cư an toàn và chúng tôi cho lính đốt phá căn nhà nầy, để ông bà cụ không còn chỗ trở về, vì ở đó hầm hố thô sơ làm sao chịu nỗi đại bác mỗi đêm. Ở đó thế nào cũng chết. Hai tuần sau, hành quân về trên trực thăng nhìn xuống chỗ cũ, tôi thấy một túp lều tranh mới dựng, tôi lại đổ quân để tìm nguyên nhân, thì lại thấy ông bà cụ mà tôi đưa lên máy bay hai tuần trước trở về lại đây. Khi tôi bước vào nhà thì ông bà quỳ xuống banh ngực áo và nói với tôi: “Các ông cứ bắn chết tôi ở đây, chứ tôi không đi đâu hết. Cha mẹ tôi, ông bà tôi chôn cất tại đất nầy thì dù máu của tôi có đổ xuống đây, chết tại đây tôi cũng hả dạ.” Bây giờ đã đến tuổi già, xa quê hương tôi mới thấy thấm thía và hiểu được nỗi lòng của ông cụ đó. Nếu đất nước tôi không áp dụng những đòn thù sắt máu, những kỳ thị ụp lên đầu những người lính miền Nam thì chúng tôi dù có nghèo khổ, chúng tôi cũng không rời xa quê cha đất tổ của mình. Bây giờ nghiệm lại tôi thấy ông cụ ngày xưa ở trong vùng lửa đạn đó đã cho tôi một bài học quý giá.

Với những kinh nghiệm như vậy, chúng tôi chỉ mong sao chiến tranh sẽ một ngày chấm dứt. Nói thực tình, thế hệ chúng tôi ghét chiến tranh, nhưng chúng tôi không có sự lựa chọn. Chúng tôi bị động binh. Chỉ có những kẻ được thăng quyền hay làm giàu vì chiến tranh mới muốn chiến tranh được kéo dài, và dù sao thì họ cũng không phải chiến đấu. Họ ở hậu phương với mọi đặc quyền. Chúng tôi trong quân đội miền Nam thấy rõ những chuyện bất công đó. Cho nên có nhiều người trong đám chúng tôi đã nghĩ rằng cho dù có phải sống dưới chế độ Cộng sản chắc cũng đỡ hơn là chuyện cứ tiếp tục đánh nhau. Những người như tôi không thù hận người bên kia. Chúng tôi bị bắt buộc phải chiến đấu và không nhìn thấy một lý do gì chính đáng để đánh nhau. Chúng tôi chỉ muốn có một giải pháp để sống thuận hòa với người anh em của chúng tôi.
Nhưng điều tôi không ngờ được là chuyện người Cộng sản rất thù ghét chúng tôi. Tôi chỉ biết được điều này một ngày khi khám phá ra một đường hầm đào sâu dưới đất. Như thường lệ, trước khi khám xét, chúng tôi thả lựu đạn xuống đường hầm. Sau đó chúng tôi khám phá rằng đại đội chúng tôi đã giết một cán bộ đưa thơ. Hắn có một bị lớn đựng đầy thơ. Trên đường mang bị thư về G-2 [cơ quan tình báo], tôi không cưỡng nổi sự tò mò nên mở ra một vài lá thư đọc thử. Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy sự mạnh mẽ của những tình cảm được bộc lộ trong thư. Người Cộng sản rất hết lòng với cuộc chiến, cũng như trong niềm hận thù đối với chúng tôi, là những kẻ thù của họ. Họ nhắn nhủ nhau trong thư, “Đừng lo gì cho tụi em. Tụi em sẽ vượt qua mọi hiểm nghèo. Các anh hãy cố sức diệt kẻ thù.” Mọi lá thư đều biểu lộ tinh thần này. Chúng tôi chưa bao giờ có những tình cảm mãnh liệt như vậy về chiến tranh. Tôi nghĩ có lẽ vì vậy mà họ đã thắng trận.
Thật đáng buồn là sự hận thù của người Cộng sản đã không chấm dứt vào năm 1975. Tôi không bao giờ ngờ rằng họ sẽ đối xử tàn tệ với những người miền Nam như chúng tôi, hoặc họ có thể có một đam mê muốn trả thù mạnh mẽ như vậy.
Sau buổi nói chuyện, Christian G. Appy bắt tay tôi trước khi ra về và nói là ông rất kính trong những người lính đầy nhân bản như người lính miền Nam mà bây giờ ông mới hiểu rõ hơn.
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Vâng, xem lại cuốn Patriots, tác giả xếp anh ở chương 3 trong phần I, dưới tiêu đề: “Paying The Price” (từ trang 20 đến trang 25), gồm có ba người: Tạ Quang Thịnh, George Watkins và Phan Xuân Sinh, quả có ý nghĩa riêng của nó.
Tôi cũng nhớ có lần anh kể lại là có dịp đọc thơ tại trường đại học Harvard. Anh có thể kể một chút về diễn tiến và không khí của những buổi đọc thơ như vậy không, thưa anh? Có nhiều nhà thơ các quốc gia khác được mời không hay lần đó chỉ có các nhà thơ Việt Nam mình? Còn các cử tọa là người Việt hay người ngoại quốc?
PXS:
Thưa anh,
Lâu quá tôi không còn nhớ là năm nào. Tôi nhận được thư của trường đại học Harvard mời tôi đọc thơ trong chương trình những nhà thơ Á Châu, đặc biệt ba nước Trung Hoa, Đại Hàn và Việt Nam (3 nước trước đây có chiến tranh và phân chia đất nước). Tôi phải gửi trước ba bài thơ và tiểu sử ngắn để họ dịch sang Anh Văn. Sau đó hai tuần thì họ tổ chức tại phòng đọc sách của một trong những
thư viện trường Harvard (trong trường nầy có rất nhiều thư viện). Một nhà thơ nữ của Đài Loan, một nhà thơ của Nam Hàn và tôi (miền Nam Việt Nam). Nghĩa là ba người đều thuộc phe tự do. Tôi nghe nói trước đây họ có mời những nhà thơ thuộc khối Cộng Sản.
Căn phòng nhỏ rất sang trọng, những người ngồi nghe chừng 25 người phải mua vé vào nghe. Có lẽ đây là những thính giả chọn lọc và thường có sinh hoạt với Harvard. Sau mỗi bài đọc bằng tiếng bản xứ thì có một giáo sư đọc bản dịch Anh Văn. Nhà thơ Đài Loan và nhà thơ Nam Hàn đọc trước và cuối cùng mới tới phiên tôi. Trong phần giới thiệu về tiểu sử bằng tiếng Anh, mọi người được biết tôi là
một người lính Miền Nam và mất một chân phải ngay tại chiến trường. Tôi thấy tất cả mọi người dự thính đều đứng dậy. Một hành động mà tôi rất cảm động vì họ trân quý những người tàn tật nhất là bị thương tại chiến trường. Đọc xong, tôi bước xuống thì mọi người đều đứng dậy một lần nữa và lần lượt những người dự thính đến bắt tay tôi.
Đây là lần đầu tiên tôi tham dự một buổi sinh hoạt văn nghệ tại Harvard, để lại cho tôi một ấn tượng rất tốt, tại sao chúng ta lại không tổ chức được những buổi sinh hoạt như vậy?
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Trong chương “Trời trăng sao in mộng triệu sông hồ (1086-1093)”, trong tác phẩm Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng, với lời dẫn nhập, ngài Tuệ Sỹ viết: “Đó là bầu trời trong đồng vọng, trong tương ứng. Thơ chen chúc giữa những gió và những bụi của kinh thành, của ngọc đường kim mã, nên cái đồng vọng nghe ra những tiếng nghẹn ngào. Thăng hay trầm trong cuộc sống, cái đó không làm ra Thơ, không tạo dựng nổi cõi Thơ. Không phải đi từ cực đỉnh công hầu xuống đến tận chỗ đọa đày cùng quẫn áo cơm mà trời Thơ có thể mở rộng. Thơ là cánh nhạn lạc bầy đi tìm kiếm quê hương khắp suốt sơn cùng thủy tận, mà quê hương vẫn đồng vọng trong cách điệu không lời, không chốn. Thì người lịch nghiệm tồn sinh trên đôi cánh mỏng của Thơ, đến đâu chẳng là đất Trích.”(trang 226).
Anh làm thơ tính ra cũng khá lâu với tuổi đời đã trải qua biết bao mùa thay đổi, với anh những dâu bể của dòng đời có giúp anh viết nên những vần thơ chan chứa bao nỗi niềm, anh nghĩ sao về câu nói của ngài Tuệ Sỹ:”Thăng hay trầm trong cuộc sống, cái đó không làm ra Thơ, không tạo dựng nổi cõi “Thơ” ?
PXS:
Thưa anh,

Tuệ Sỹ là một bậc thức giả, một chân tu, ngài đã đứng bên ngoài của tất cả hệ lụy của cuộc sống. Những khổ đau, thăng trầm không làm cho ngài vướng bận trong lòng. Còn tôi là thằng trần tục, thô lỗ, nên đời sống đã ảnh hưởng rất nhiều trong những trăn trở của tôi. Tôi viết được là vì những dâu bể của dòng đời cuốn hút lấy tôi mà tôi không thể nào dứt ra được. Câu hỏi của anh rất sâu sắc và thâm trầm nhưng rất tiếc trí óc của tôi lại nông cạn, cho nên không thể nào có được những câu thơ chất chứa những điều cao siêu được. Tôi làm thơ giống như người bửa củi, cứ phang đại, chữ nghĩa sáo rỗng, lời thơ cục mịch, cho nên không thể diễn đạt được những điều mình mong muốn. Mong anh hiểu cho. Khi đọc thơ của người khác đôi khi mình phải giật mình, chữ nghĩa bề bề, tứ thơ sâu lắng, mình phải ngả nón chào kính phục.
Đời sống đã cuốn hút lấy tôi, những đau khổ triền miên của thân thể đã cắn rứt tôi, tôi cố diễn đạt những u uất đó cho mọi người biết, chia sớt với tôi, thế nhưng thơ tôi chỉ là những dòng nước chảy trên lá môn, trơn tuột. Không đọng lại một chút gì cho người đọc suy ngẫm. Thất bại của tôi ở chỗ đó. Anh Luân Hoán cũng giống như tôi, mất một bàn chân trái, anh có một tập thơ Nén hương cho bàn chân trái”, hồi đó ai đọc cũng rớt nước mắt. Tôi cũng thử làm như anh, nhưng khi đọc lên tôi cảm thấy dửng dưng, thì làm sao người khác hiểu cho tôi. Tôi đành lòng xé bỏ.
Thưa anh, anh thương tôi nên anh nghĩ tôi cũng có một vài ba câu thơ “chan chứa” chút ít gửi gấm. Thật tình có như vậy, nhưng không sâu lắng và người đọc không ai cảm thấy lay động được họ.
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh,
Anh khiêm nhường nói vậy thôi, chứ thơ mà không trải qua những lúc thăng trầm trong dòng đời, thì lấy đâu chất liệu làm cho tứ thơ thâm trầm, sâu sắc. Chính Trương Trào, một thi sĩ Trung Hoa giữa thế kỷ 17, đã nói :”Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ” (3) . Và J.M.Guyau thì viết:”Cái đặc quyền của nghề làm thơ là không cần phải chứng minh, không phải viện chứng, mà vẫn thâu nhập
vào trí não ta những điều ta không chối cãi được…. Vì không gì hơn tình cảm của người ta …. Đó là tất cả các điều mà ta đã tư tưởng, đã cảm giác, đã luyến ái từ xưa. Nhà thi sĩ chân chính là người biết biểu lộ những tiếng vang trong đáy lòng ta vậy.”(4) Thành ra, có nhà thơ nào làm thơ mà không lấy chất liệu qua những năm tháng vui buồn của mình, và thơ có mặt cũng từ chính những suy tư trăn trở của mình về những đoạn đời bất trắc ấy, có phải thế không anh?
Cuộc trò chuyện với anh cũng khá dài, trước khi kết thúc, xin hỏi thêm một câu không ăn nhập gì tới thơ văn mà là thú vui tuổi già . Trong thiên nhiên anh mê cảnh nào nhứt, chẳng hạn sông hồ, đồng lúa, núi rừng, chim chóc, rong rêu? Và mùa hè này, với khoảng sân rộng sau nhà, anh thích trồng loại cây nào nhứt?
PXS:
Thưa anh,
Qua bên nhà anh tôi thấy anh bận rộn với vườn tược, những cây bưởi, ổi, cốc, thanh long v.v…thấy mà ham. Tự nhiên khi nhìn cảnh nầy tôi rất thích thú và chắc cũng theo bước chân của anh đi. Trong cái thú trồng cây phải học của anh nhiều, chắc anh cũng tận tình chỉ vẽ giùm. Sống ở đây nhất là tuổi già buồn lắm, nếu không chọn cho mình một thú vui để tiêu khiển thì buồn chết được. Vừa là thú vui cũng vừa lao động chút ít để được bớt bệnh hoạn thì làm vườn là thích hợp nhất. Tôi theo chân anh.
LTT:
Anh Phan Xuân Sinh mến,
Xin chân thành cảm ơn anh đã bỏ thời giờ để góp vui trong cuộc trò chuyện này và nếu có câu hỏi nào quá tệ làm anh không vui, xin anh bỏ qua cho, nhe, anh Phan Xuân Sinh.
Kính chúc anh chị và các cháu nhiều sức khoẻ, vạn an, hạnh phúc.
Cầu chúc anh làm thơ và trồng cây nhiều .
Thân mến,
LTT
Houston, ngày 26 tháng 02 năm 2011

Phụ chú:
1/ Nhà thơ Phan Xuân Sinh là tác giả các tác phẩm:
– Chén Rượu Mời Người (thơ), in chung với nhà thơ Dư Mỹ , năm 1996
– Đứng Dưới Trời Đổ Nát (thơ), Văn xuất bản, năm 2000
– Bơi Trên Dòng Nước Ngược (truyện và tùy bút), Sông Thu xuất bản, năm 2004
– Khi Tình Đang Ru Đời (thơ), Văn Nghệ. xuất bản, năm 2009
– Sống Với Thời Quá Vãng (tập truyện và tùy bút), Hợp Lưu xuất bản, năm 2010
2/ Patriots: The Vietnam War Remembered From All Sides của Christian G. Appy , do Penguin Books xuất bản, Hoa Kỳ, năm 2003. Theo giới thiệu của nhà xuất bản Penguin Books, tiểu sử tác giả (dịch từ Anh ngữ) là như sau: “Christian G. Appy có bằng Ph.D trong khoa Văn Minh Hoa Kỳ và đã dạy ở hai đại học Harvard và MIT, nơi ông là giáo sư khoa lịch sử. Ông cũng là tác giả quyển Working Class War: American Combat Soldier and Vietnam (Chiến Tranh của Giới Lao Động: Người Lính Giáp Chiến Mỹ và Việt Nam” và chủ biên của loạt sách Culture, Politics, and the Cold War (Văn Hóa, Chính Trị và Chiến Tranh Lạnh.) Ông hiện dạy học tại đại học Amherst, tiểu bang Massachusetts.”
3/”Một Quan Niệm Về Sống Đẹp” của Lâm Ngữ Đường, do Nguyễn Hiến Lê dịch, chương X : Hưởng thụ thiên nhiên, mục 7: Vài câu cách ngôn của Trương Trào (phần Sách và đọc sách, trang 242). Loại sách “Học Làm Người”, năm 1964.
4/ “C’est le privilège de l’art que de ne rien démontrer, de ne rien prouver, et cependant d’introduire dans nos esprits quelque chose d’irréfutable. C’est que rien ne peut prévaloir contre le sentiment. Et toutes ces pensées, jusque-là silencieuses, forment un coeur innombrable dont la voix retentit en vous. C’est ce que vous avez pensé, senti, aimé. Le vrai poète est celui qui réveille ces voix.” (La poésie- J.M.Guyau)

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »

Phỏng vấn Phan Xuân Sinh – Thực hiện: Triều Hoa Đại

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Chuyện trò với nhà thơ Phan Xuân Sinh

thực hiện: Triều Hoa Đại

Cuối tháng mười miền bắc nước Mỹ trời đẵ bắt đầu vào lạnh,có lắm  nơi tuyết đã bắt  đầu rơi,người ta thì cũng áo đỏ,áo xanh đủ màu khoe sắc.Tối nay,ở nới đây là ngày lễ hội Hallowing dân chúng từng đoàn kéo nhau ra đường phố họ hóa trang khác nhau mỗi người mỗi kiểu và nghe nói có những giải thưởng thật xôm trò. Một đêm vui không thể thiếu được theo tập tục cổ truyền

Nhưng buổi chiều nay thì tại trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Việt thành phố Boston này sẽ có một buổi ra mắt  sách của một số các nhà thơ,nhà văn  như  Hoàng Thị Bích Ti,Trần Nghi Hoàng và một vài anh chị em từ ở nơi xa tới. Nhận đượ thư mời của ông nhà thơ xứ Quảng Phan Xuân Sinh, ham vui chúng tôi một lần nữa lại khăn gói quả mướp kéo nhau lên đường .

Đón vợ chồng chúng tôi vào một ngôi nhà khá rộng, nhà thơ nói:

– Mời anh chị vào,…mời vào.

Bà xã tôi chưa chi đã hỏi:

– Chị Thiên Nga đâu rồi anh Sinh?

Nhà thơ bảo ;

– Thiên Nga chạy đâu đó chắc cũng sắp về.

Bốn năm trước.

Triều Hoa Đại: Ông ạ, kể từ khi ông và tôi quen biết đến nay, đã đôi khi (lắm phen) tôi cũng muốn nắm áo ông để hỏi han ba điều, bốn chuyện, thế mà rồi “cơ may” ấy hình như cứ vuột đi như gió, như mây.

Phan Xuân Sinh: Thưa anh Triều Hoa Đại, xin anh thứ lỗi cho, mấy năm nay chuyện cơm áo nó quay tôi như chong chóng, nên tôi đành phải lánh mặt với anh em. Bây giờ thì cũng vậy, nhưng cứ đuổi theo với nó mãi biết ngày nào dứt đây? Đời bọn mình bây giờ cũng như những trang sách mở ra đọc cứ mỏng dần , cơ hội gặp nhau rất ít. Thôi thì  có “cơ may” nào gặp nhau, chúng ta gắng sống với nhau cho trọn vẹn kẻo trể mất anh ạ. May quá hôm nay gặp được anh mừng lắm, tôi không chạy trốn như mấy lần trước đâu. À, có gì không mà anh nắm áo tôi kỹ thế?

THĐ: A, lần này thì tôi đã “túm” được ông nơi đây,ông còn  chối từ sao đặng.

PXS: Có dám chối từ gì đâu, gặp anh vui lắm nhưng cũng run lắm. Nói chuyện với anh phải thận trọng, mà tính tôi lại ba trợn sợ anh chê là ăn nói không được tề chỉnh.  Chính vì lẽ đó nên tôi ngần ngại. Thế nhưng nó đã trở thành bản chất rồi không thay đổi được, thôi thì chỗ anh em có gì không phải cũng mong anh lượng tình tha thứ.

THĐ: Thế thì mình nên khởi sự từ chỗ nào?

PXS: Có lẽ trở lại từ cái chỗ anh em mình gặp lại nhau đầu tiên từ khi đặt chân tới Mỹ. Cách đây hơn bốn năm, anh và chị đến Boston nhân buổi ra mắt tập thơ đầu tay của tôi. Trông thấy anh cũng như xưa, với vóc dáng và nụ cười của anh vẫn vậy. Hồi ở Đà Nẵng anh cũng lăng xăng hoạt động văn nghệ ai ai cũng biết, anh cùng thời với Phương Tấn, Luân Hoán, Chu Tân v.v… thuộc lớp đàn anh. Còn tụi tôi mon men đứng me mé gần chiếc chiếu văn nghệ đó của các anh, đã thấy mình hả dạ lắm rồi. Bây giờ được anh cho phép hầu chuyện, thật vinh hạnh biết mấy. Đúng là ” Tha phương ngộ cố tri”.

THĐ: Bốn năm trước đây “cái đêm hôm ấy đêm gì…” cùng với rất nhiều bằng hữu xa gần chúng tôi đã đến đây với ông trong buổi ông ra mắt thi phẩm: Đứng Dưới Trời Đổ Nát. Ngày ấy sao vui quá, cái sinh khí văn hóa lúc ấy theo tôi “NÓ” bừng bừng sinh động, còn giờ đây hình như có “vẻ” khang khác, ông có thấy như thế không ?

PXS: Đúng vậy, mới đây chỉ hơn bốn năm thôi mà trông như nó khác đi nhiều quá. thời gian nghiền nát và huỷ hoại tất cả, những bon chen, những hăm hở rồi cũng tan vào lãng quên. Chỉ còn giữ lại nhau chút tình để sống. Hồi đó anh em văn nghệ ở Boston đưa ra hai đề nghị để ra mắt thi phẩm “Đứng Dưới Trời Đổ Nát” của tôi. Đề nghị thứ nhất là thuê một nhà hàng, có ăn uống, có phụ diễn văn nghệ . Nghĩa là tổ chức qui mô. Đề nghị thứ hai là gói ghém trong vòng thân hữu. Nghĩa là tổ chức đơn giản. Tôi xin chọn đề nghị thứ hai vì tôi thấy anh em mình ít muốn ồn ào, không thích phô trương và đây là cái dịp để anh chị em văn nghệ có cơ hội gặp nhau, chuyện trò và uống với nhau ly rượu. Anh chị em cũng thương tình, không câu nệ nên ngày ấy về rất đông. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn hối hận là tôi không lo được chu đáo để đón tiếp các anh chị một cách đàng hoàng hơn, có rất nhiều thiếu sót. Tuy nhiên, các anh chị cũng thông cảm và lượng tình tha thứ. Chúng ta đến với nhau, đãi với nhau bằng tấm lòng, không có gì quý báu bằng cách hành xử như vậy.

THĐ: Thì tôi muốn nói đến chuyện “phe ta” lúc đó xem ra ai cũng hăng hái như ngày xưa chú bé Trần Quốc Toản bóp nát trái cam trong tay lúc nào không biết ấy mà?

PXS: Anh ví von rất hay, đúng với tâm trạng của chúng ta thật. Lúc ấy, anh chị em chúng ta vẫn còn phông độ, chưa thấy thấm mệt, vẫn say sưa trong các sinh hoạt văn nghệ, các tờ báo tiêu biểu cho văn học hải ngoại vẫn còn phơi phới. Còn bây giờ, thì mọi việc xem như khựng lại, những người viết lách đi vào con đường già cả bệnh tật. Tờ Hợp Lưu của anh Khánh Trường gần mười lăm năm nay, trải qua bao nhiêu thăng trầm bây giờ đã thực sự vững chắc, thì Khánh Trường bị bệnh đành phải giao lại cho người khác. Tờ Văn Học của anh Nguyễn Mộng Giác lèo lái hơn 20 năm nay, vì bệnh hoạn và tuổi tác, bây giờ anh Giác cũng phải giao lại cho người khác. Chỉ còn tờ Văn của anh Nguyễn Xuân Hoàng còn vững vàng, mong sao anh Hoàng tránh khỏi những tình trạng của hai tờ tạp chí kể trên. Nói như vậy để chúng ta hiểu rằng chúng ta đã gặp bế tắc trong sinh hoạt văn nghệ hải ngoại hiện nay, cũng như những năm sắp tới. Như một anh bạn đã từng làm chủ bút một tờ báo đã nói: “Tờ báo có thể không chết vì thiếu tiền nuôi sống nó, nhưng có thể chết vì thiếu bài vở.”

THĐ: Mà hình như về phía người đọc lúc ấy cũng đông vui, nhộn nhịp, còn bây giờ xem ra có vẻ chợ chiều phải thế không ông?

PXS: Đúng vậy, những người ham đọc, tha thiết với chữ nghĩa bây giờ đã già cả mắt kém, hoặc chết dần mòn. Nên số lượng người đọc chẳng còn bao nhiêu. Lớp người trẻ thì nói chưa thông tiếng Việt, thì làm sao trông mong đến chuyện họ đọc. Vì vậy, văn học hải ngoại bị những vòng bao vây như vậy siết dần, vòng vây nầy càng ngày càng nhỏ lại đến khi phải bức tử. Ai cũng biết vậy, nhưng không ai tìm được lối thoát, đành phải ngậm ngùi nhìn con đường văn học hải ngoại đi đến chỗ tận tuyệt.

THĐ: Thì đành rằng là như vậy(tôi đồng ý với ông) tử biệt sinh ly là lẽ thường ở cõi tạm này nhưng nghe ra cũng buồn thê thiết. Chúng ta thì rồi cũng giống như ông Đồ già: “ vẫn ngồi đấy,” nhưng mà “người thuê viết nay đâu, giấy đỏ buồn không thắm, mực đọng trong nghiên sầu”.

PXS: Ngày xưa, đọc “Ông Đồ Già” của Vũ Đình Liên, ta thương cho một nền văn học Nho Giáo, đã ngự trị hằng bao nhiêu thế kỷ đành phải lặng chết trong tức tửi. Ở đây ta cũng đọc lại bài thơ ấy trong tình trạng hiện nay, ta cũng ngậm ngùi cho số phận tương tự nầy sẽ lăn trên vết xe cũ đúng một thế kỷ trước tại quê nhà. Những người như chúng ta tha thiết, sống chết với chữ nghĩa, rồi cũng như ông Đồ Già thật phũ phàng và nghiệt ngã.

THĐ: Nói chuyện viết với lách thì nó không cùng,nhưng theo ông thì rồi ra chuyện chữ nghĩa, chuyện viết lách, vẽ vời… ở hải ngoại này của chúng ta rồi sẽ ra sao?

PXS: Chúng ta tâm trạng giống như con tằm nhả tơ vậy, dù tơ ấy bây giờ không còn được nâng niu quý trọng. Thế nhưng chúng ta vẫn cứ nhả, xem như là một lối thoát. Nó rơi vải đâu đó, thỉnh thoảng có người nhặt lên đọc vài câu không thích thì lại vất xuống, có người lượm lên đọc thích thì giữ lại. Nó lăn lóc trên thị trường chữ nghĩa một cách oái ăm. Người ta bảo rằng, nhiệm vụ của nhà văn là sáng tác. Khi tác phẩm đã hoàn thành, thì nhà văn đó xem như hết nhiệm vụ. Tác phẩm là của đời, hay thì nó sống sót, còn ngược lại thì nó chết yểu. Nói thì nói vậy, chứ quả thực người viết vẫn lo lắng cho tác phẩm của mình, đến khi nào chết mới thôi. Thăng trầm, buồn vui với nó. Tại hải ngoại nầy thì chuyện rủi nhiều hơn may, nên tác giả cũng lắm pheng nhức nhối.

THĐ: Có lần nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã viết: “Viết lách, in sách,ra báo, hội họp tuy không phải là một bussiness, nhưng là lẽ sống, một phương cách đi tìm “căn cước” của nhiều người Việt lưu vong”, ông có đồng ý vậy không?

PXS: Đúng vậy, khi nói bussiness là nói đến chuyện làm ra tiền, mà chuyện viết lách, in ấn v.v… tại hải ngoại nầy, chẳng làm ra được đồng xu cắc bạc nào cả.  Người viết tại đây sống với một nghề khác để có tiền nuôi sống chuyện viết lách thì đúng hơn. Bỏ tiền ra in, mấy ai được lãi trong vụ nầy, mà có lãi cũng vừa đủ vài ly cà phê với bạn be, chứ có đâu đủ nuôi cơm hằng ngày. Thế nhưng nhà văn mà không viết thì không làm sao sống nổi. Cho nên họ lụy với nó, khó khăn với nó. Viết ở đây có nghĩa là hy sinh, là chuốc vào thân những thua thiệt. Viết để sống lại với chính mình, viết là cách đi tìm căn cước như anh Nguyễn Mộng Giác đã nói,  và cũng là xác nhận căn cước đích thực của mình.

THĐ: Có cần không cho một nhà văn, nhà thơ trong lúc sáng tác :Cảm hứng và trí tuệ?

PXS: Theo tôi thì sáng tác rất cần hai điều nầy.

THĐ: Đứng Dưới Trời Đổ Nát là một tập thơ ông đã cho trình làng cách nay có lẽ trên  bốn năm rồi,và mới đây ông lại gửi thêm đến người đọc tập truyện:Bơi Trên Dòng Nước Ngược.Thế thì giữa Thơ và Văn ông đứng ở chỗ nào?

PXS: Ở ngoài đời tôi cũng hay đứng “chàng hảng”, nên trong thơ, văn tôi cũng đứng như vậy cho vững. Đùa với anh cho vui, chứ tôi cũng chẳng biết tôi thế nào mà trả lời đây. Chuyện thơ văn của tôi nó ẳm ờ quá, viết cho vui vậy. Anh cũng biết rằng tôi rất bận, lúc nào rảnh công việc, tôi phải sống cho riêng mình một chút xíu. Vào computer hứng chí thì làm năm ba câu thơ, hay viết vài đoạn văn  chơi thôi ấy mà. Ở Mỹ mà để đầu óc thảnh thơi thì hư ngay. Chuyện làm thơ, viết văn theo quan niệm của tôi, nó như một sân chơi, thích thì ta ra sân, mệt mỏi thì ta bước vào nghĩ ngơi. Thế nhưng cuộc chơi nầy suốt đời ta gắn liền với nó, không bỏ được . Đọc của tôi để tìm một ý tưởng cao siêu hay văn chương lưu loát thì không có. Đúng hơn tôi chỉ có khả năng làm một người kể chuyện cho những độc giả dễ tính, thỏ thẻ chuyện trò với nhau nghe chơi. Còn những người thâm trầm đi sâu vào trí tuệ, vào đường hướng văn chương nặng phần triết lý sâu xa, thì tác phẩm của tôi không có khả năng đó. Xin  quý độc giả khó tính lượng tình tha thứ.

THĐ: Theo Krishuamurti thì người thông minh không phải là một người trí tuệ.Ông nghiệm ra”vấn đề” này ra sao?

PXS: Anh lại bắt tôi đụng vào cái chuyện cao siêu nữa rồi. Nếu anh đặt vấn đề nầy trong một phạm vi rộng lớn thì sẽ gây ra một cuộc tranh cãi. Tôi là dân Quảng Nam chuyện cãi nhau tôi đã nghe nhiều quá, bên nào cũng có cái lý của nó. Vì anh đặt câu hỏi cho riêng tôi nên tôi phải trả lời theo cái cách của riêng tôi. Có thể nó không đúng với mọi người nhưng cũng không hề gì, ai phản đối tôi xin chịu vậy. Câu nầy hình như không được ổn, vì cái thông minh nào cũng đòi hỏi một sự động não, mà động não thì phải cần có trí tuệ.

THĐ: Và lại thêm một ông “tây” (Leopold Stookkowshi) nữa bảo rằng:Nghệ thuật nào cũng có trung gian diễn đạt của nó. Nếu ông đồng ý như thế thì qua hai tác phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát và Bơi Trên Dòng Nước Ngược “Nó” đã diễn đạt ra sao, và như thế nào?

PXS: Chung quy trong thế hệ của chúng ta, sống giữa một thời loạn ly. Chúng ta bị cuốn hút vào một cuộc chiến tranh tồi tệ. Không ai có thể đứng ngoài được. Thân phận của con người giống như  que củi, ném vào một lò lửa khổng lồ bị nó thiêu rụi một cách dã mang. Người cầm bút trong thế hệ nầy ít nhiều cũng bị cuộc chiến đó chi phối. Vì vậy phải ghi lại những điều ụp lên đầu mình, thế hệ mình có những bất trắc, những khổ đau, màtự nó bật lên tự đáy lòng. Tôi là một trong những người mang tâm trạng đó, tôi đã bị mất đi một phần thân thể do cuộc chiến gây ra. Nên trong thơ cũng như trong văn của tôi có đượm một chút u uất, một chút hờn tủi bị đè nén trong lòng. Tôi buộc lòng phải mượn chữ nghĩa để có một lối thoát quân bình trong đời sống còn lại. Tôi viết không mang một chút thù hận. mà cố gắng diễn đạt nỗi lòng của mình giữa muôn trùng khổ đau tận cùng. Tôi biết, dù tôi có diễn đạt bao nhiêu nó cũng không nói hết được những gì trong lòng tôi chất chứa. Nhưng dù sao, tôi cũng cảm thấy an ủi một phần nào vì người đọc cũng ít nhiều chia xẻ và thông cảm với tôi những điều tôi ghi lại.

THĐ: Sự thành công của hai tác phẩm của ông ra sao,tôi muốn nói tới phương diện đón nhận từ phía người đọc?

PXS: Thưa với anh có “công” nhưng lại không “thành”. Tuy nhiên có một điều vui vui là những người chịu đọc thì họ biết nhiều tên hai quyển sách của tôi. Theo nhà văn  Nguyễn Thị Thanh Bình nói thì cái đề sách ấy làm cho người ta chú ý. Chuyện chú ý và chuyện đọc nó còn có một khoảng cách, chú ý thì nhiều nhưng đọc thì chẳng bao nhiêu. Chắc có lẻ văn chương của mình tầm thường quá nên không hợp với mọi người chăng? Tôi cũng buồn, nhưng khi hỏi lại những anh em cầm bút khác, họ cũng ở tâm trạng như tôi. Bây giờ người đọc thưa thớt quá, nên sự đón nhận từ phía độc giả không có gì hào hứng lắm, chỉ thấy lai rai có người hỏi mua sách. Mình cảm thấy an ủi một phần nào. Tôi kể anh nghe câu chuyện vui trong một tiệm ăn Việt Nam ở Boston. Khi vợ chồng tôi vào, có một người nào đó đang ngồi ăn biết tôi, người đó nói gì với người bên cạnh. Anh nầy nhìn tôi nói oang oang: “Thấy ông nầy phương phi mập mạp, mặt mày tươi rói, vui tươi. Chẳng có chi là đau khổ cả, thế mà tại sao lại “đứng dưới trời đổ nát” được? Đúng là mấy thằng cha nhà thơ cường điệu.” Tôi và vợ tôi cười mãi trong bữa ăn, anh ạ.

THĐ: Chắc ông còn nhớ cách đây không lâu đã có người đặt ra câu hỏi là: Anh,chị viết văn và làm thơ cho ai?  Đáp lại câu hỏi này chúng ta thấy vô số “NHÀ” đã trả lời đại khái rằng thì là: Các “nhà” ấy viết văn, và làm thơ cho chính họ. Bây giờ ở nơi đây chỉ có hai ta(tôi cam đoan với ông là tôi sẽ không tiết lộ ra ngoài cho người thứ ba được biết chuyện này) tôi hỏi ông câu này thành thực,vậy cũng xin ông thành thưc mà trả lời:Mai này đây khi ông thức giấc sau một đêm  mộng lớn,mộng con, giả dụ thôi trên thế gian này sẽ không còn ai nữa vậy thì ông có còn làm thơ và viết văn nữa hay không?

PXS: Trước khi trả lời câu nầy, tôi cũng xin kể anh nghe một chuyện thời xa xưa, vào khoảng đầu thập niên 60 thì phải, tôi không nhớ rõ. Ở Sài Gòn một dạo có một tạp chí đặt vấn đề “Nhân sinh vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” .Tuổi còn con nít tôi tò mò theo dõi mấy tháng trời, các “nhà” ấy nhận xét đầy thông minh và trí tuệ. Rốt rồi chẳng ra làm sao cả. Hôm nay được anh hỏi một câu na ná như vậy. Tôi xin thưa thẳng với anh rằng, chính câu hỏi cũng là câu trả lời rồi đấy. Viết và đọc không thể tách rời được. Ai nói gì mặc kệ, tôi vẫn giữ ý tưởng nầy.

THĐ: Ông có thường quan tâm đến đọc giả của ông không, nếu có thì bằng cách nào?

PXS: Câu hỏi nầy của anh ngó vậy mà lại rất khó. Muốn quan tâm đến độc giả của mình lắm chứ, nhưng không biết bằng cách nào đây? Một lần ở Houston, tại nhà một người bạn bày một tiệc rượu chừng mười người, khách quen với chủ nhà chứ không quen với tôi. Khi uống đến hồi say, tôi uể oải không muốn uống nữa, thì một ông khách đến bên tôi rót thêm vào ly rượu tôi đang uống. Ông sang sảng đọc bốn câu thơ của tôi: “Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi / Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí / Chuyện ngày mai có chi đáng kể / Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm.” Rồi ông cụng vào ly tôi, tôi đứng lên uống với ông hết cốc rượu. Bữa đó tôi uống rất nhiều mà không thấy say.  Quả thật có những điều rất sung sướng, rất an ủi cho người viết, khi gặp được người có lần đọc của mình và ngược lại mình cũng trân quý họ. Cái nầy có thuộc vào phần quan tâm đến độc giả không anh? Ai viết cũng cầu mong có người đọc, người đọc càng nhiều là tác phẩm đó thành công.

THĐ: “Văn mình, vợ người” chuyện đó là lẽ đương nhiên, nhưng có khi nào ông đọc Thơ,Văn của người khác không, nếu có thì ông đã đọc những ai, nhận xét của ông về những tác phẩm mà ông  đã đọc?

PXS: Tôi không chịu “văn mình, vợ người” đâu anh ạ. “Vợ mình, văn người” thì OK. Về văn thơ của người khác thì đọc vô số kể, thượng vàng hạ cám không chừa ai. Làm sao kể hết cho được. Tác giả viết hay thì đọc hết, còn tác giả không thích, không hợp thể tạng của mình thì đọc vài trang gấp sách lại. Tôi không phải là nhà phê bình văn học, nên cái nhận xét của tôi nó cũng lệch lạc, nói ra sai bét mích lòng lắm. Vì thế xin anh bỏ qua cho.

THĐ: Thế vậy thì về Thơ ông thích ai,về văn ông không bằng lòng tác giả nào.Vì sao?

PXS: Anh Triều Hoa Đại ạ, anh làm khó tôi mãi. Mấy câu hỏi của anh mà tôi láu táu trả lời là chết ngay lập tức. Người ta phang vào đầu tôi ngay. Thơ thích ai thì được. Mà văn không thích ai kể ra thì làm sao sống nổi với họ, mà cũng tội nghiệp cho họ. Họ đã có lòng viết, mình không thích thì thôi, nói ra phủ phàng lắm. Khen người ta mà khen không đến nơi đến chốn, khen không hết mình đã là điều xúc phạm rồi. Còn chuyện chê bai văn của người ta thì chỉ có kẻ tử thù với nhau mới làm điều ấy. Xin anh đừng bắt tôi làm những điều khen chê, vì trả lời cách nào cũng bị thiên hạ nguyền rủa. Thôi thì cũng xin anh bỏ qua cho điều nầy. Không khen chê ai cả, cái đó dành cho các nhà phê binh văn học.

THĐ: Ở Boston là nơi đã xẩy ra vụ kiện tụng WJC. Rồi ra vụ kiện này sẽ ra sao,sẽ đi về đâu,theo ông thì ai phải,ai trái trong vấn đề này.Riêng ông, ông có ý kiến gì không?

PXS: Chuyện nầy xẩy ra ở ngay Boston thật, nhưng tôi hoàn toàn không chú ý, không theo dõi. Chẳng biết ai trái, ai phải. Ai thắng, ai thua. Gần đây vô tình đọc bài viết của nhà văn Trương Vũ về vụ thưa kiện giữa ông Nguyễn Hữu Luyện và WJC. À, thì ra thế. Bao giờ chính trị cũng muôn mặt và đầy lọc lừa. Chỉ có văn nghệ thì rất chân chất và thật dễ thương.

THĐ: Giao tình giữa ông  với các anh chị em viết lách ra sao(nói chung).Và, với những bạn bè văn nghệ ở Boston thế nào?

PXS: Giao tình giữa anh em văn nghệ với nhau vẫn đằm thắm. Anh chị em người nào cũng dễ thương. Anh chị em ở Boston cũng cùng một mâm một chiếu, không có ai xẻ nghé, tẻ đàn. Có chuyện gì, thì cùng ra tay với nhau, cùng giúp nhau. Boston được cái là anh em văn nghệ sinh hoạt trong thân tình và vui vẽ.

THĐ: Thế còn mấy “ông”,mấy”bà” mần thơ,viết văn xứ Quảng thì những giao tình giữa ông và họ có “thuận buồm xuôi gió” không?

PXS: Mấy nhà văn, nhà thơ Xứ Quảng của tôi thì tuyệt vời, hằng năm nơi nào cũng ra Đặc san ì xèo, linh đình, không mệt mõi. Tụi tôi cũng nuôi mộng bành trướng lắm anh ơi. Anh đừng ngạc nhiên, một ngày nào đó anh sẽ thấy ở đây “Cộng Hoà Nhân Dân Quảng Nam” ra đời, cũng đừng lấy làm lạ. Nói đùa với anh cho vui, để anh thấy là tụi tôi còn hăng hái, còn  say mê hoạt động. Còn tôi và mấy “nhà” của xứ tôi thì chẳng cần phải có gió xuôi mà buồm vẫn cứ căn.

THĐ:Người xưa có câu:Quảng Nam hay cãi,Quảng Ngãi hay lo,Bình Định hay co,Trị Thiên vơ cả.Thế  người ta nói đúng mình cũng cứ cãi à. Bộ dân Quảng Nam của ông ưa cãi  đến thế hay sao?

PXS: Qua đây mà còn cải vã gì nữa anh. khép mồm hết cả rồi. Mỹ thì dùng luật, mình thì dùng lý, thế nào cũng thua thôi. Không biết ai nói câu “Quảng Nam hay cải…” thật là vô duyên, mà lại truyền tụng đến bây giờ. Câu truyền tụng nầy có vẻ móc họng, khích bác những vùng khác ngoài Quảng Nam. Tỏ ra gây sự và miệt thị kẻ khác. Tôi là dân Quảng Nam, nhưng tôi không thích thái độ nầy.

THĐ: Mỗi một miền đều có những cái mà khi đi xa,(thật xa)…. người dân của xứ ấy,miền ấy khó quên và nhiều khi còn là sự  hãnh diện và tự hào.  Xứ ông thì có món mì Quảng  thì tuyệt cú mèo,không chê vào đâu được.Vậy ngoài cái “món” ấy ra người dân xứ Quảng có “hãnh diện” về cái tật hay cãi của họ không?

PXS: Trong bài:”Quảng Nam tào lao chi sự” tôi có đề cập về chuyện nầy anh ạ. Đi xa quê hương mới thấy thật tội nghiệp cho những cái “tật” của dân tôi, mà cái tật cãi vả nhau không mấy tốt đẹp nầy, tôi nghĩ họ không lấy gì làm hãnh diện lắm đâu. Người ở xa mới thấy khó chịu. Ủa mà tại sao anh lại hỏi tôi những điều anh quá biết, vì anh ở vùng đó từ nhỏ đến khi trưởng thành mà. Hay anh muốn mượn một tay Quảng Nam như tôi, nói lên điều nầy để bà  con tôi cải chơi?

Trong lò sưởi  củi,lửa cũng gần tàn,đêm về khuya trời Boston lạnh ngắt, bước ra bên ngoài để nhìn những vì sao thưa,lẻ loi mà trăng gần cuối tháng không đủ rọi soi chút ánh sáng nơi góc vườn nơi chúng tôi đang đứng, tôi nghĩ thầm rằng:ngày mai đây mình lại xuôi Nam bỏ lại sau lưng những thân thiết,những ngày vui với bạn bè mà lòng  luyến tiếc rồi  thầm mong lại sẽ có ngày nào.

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »

Phỏng Vấn Phan Xuân Sinh – Trường Đinh thực hiện

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Phỏng Vấn Nhà Thơ Phan Xuân Sinh

Trường Đinh thực hiện

Hồn Quê (HQ): Xin Anh cho biết vài nét về sựï nghiệp văn chương đời Anh.

Phan Xuân Sinh (PXS): Sự nghiệp văn chương của tôi chẳng có gì đáng nói. Làm thơ từ lúc còn rất nhỏ nhưng chẳng thấy tiến triển. Hình như tôi không có khiếu về văn chương chữ nghĩa nên thơ của tôi cũng không hay, nên ít ai để ý. Theo tôi sự sinh hoạt văn nghệ không mang tính phục vụ quần chúng, mà lấp đầy khoảng trống trong cuộc sống của chính mình. Tôi không có khả năng dùng văn chương để “tải” ý tưởng thâm sâu, nên đừng đòi hỏi trong tác phẩm của tôi những gì cao siêu. Nhu cầu đọc và viết của tôi cũng chỉ tiêu khiển giống như những người khác xem ciné, t.v., bá banh v.v.

HQ: Vài nét về tác phẩm vừa mới xuất bản của Anh: Đứng Dưới Trời Đổ Nát.

PXS: Tập thơ “ĐỨNG DƯỚI TRỜI ĐỔ NÁT” vừa mới ra đời đầu tháng 7 năm 2000. Đây là một số bài thơ được làm rải rác từ thời đi học cho tới bây giờ. Phần đông thơ cũ bị thất lạc. Coi như đây là tập thơ mang kỷ niệm, đánh dấu những kỷ niệm của đời tôi.

HQ: Vài nét về tác phẩm Chén Rượu Mời Người xuất bản năm 1996. Anh có dự định sẽ tái bản lại thi phẩm nầy không?

PXS: Tập thơ “CHÉN RƯỢU MỜI NGƯỜI” in chung với Nhà thơ Dư Mỹ. Đây là những bài thơ tôi viết trong lúc mới qua Mỹ. Tập thơ nầy chúng tôi tự xuâùt bản năm 1996 với một số lượng ít dành để tặng cho bạn bè.

HQ: Bài thơ nào mà Anh yêu thích nhất trong thi phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát?

PXS: Bài thơ nào tôi thích nhất? Đó là một câu hỏi khó cho tác giả, vì bài nào cũng mang một vẻ riêng. Có lẽ có một câu trả lời đúng nhất của một tác giả nào đó là: “Bài thơ nào tôi sắp làm là bài thơ tôi thích nhất”.

HQ: Một nguyên do tâm tư nào đó hay chỉ là một đột khởi cảm ý qua sự đặt tên một thi tập với tựa đề: Đứng Dưới Trời Đổ Nát.

PXS: Tên của một tập thơ là tổng hợp được toàn bộ ý nghĩa chung chung của tập thơ. Có tác giả lấy đề một bài thơ tiêu biểu trong tập làm đề. Còn tôi thì chọn lựa nó bằng những gì mà thơ tôi nói lên và cuộc đời tôi gặp phải.

HQ: Thi phẩm tương lai của Anh?

PXS: Dĩ nhiên là tôi cũng dự trù một tác phẩm trong tương lai. Nhưng bây giờ thì còn quá sớm để bàn tới chuyện nầy.

HQ: Anh có dự định sẽ ra mắt một tác phẩm về văn xuôi theo thể loại tùy bút hay không?

PXS: Tôi hiện giờ có viết lai rai tùy bút, tự truyện. Nhưng bảo rằng tôi gom góp lại để xuất bản thì tôi chưa dám làm điều nầy. Tôi cảm thấy lối viết nầy không mấy hấp dẫn cho người đọc, muốn xuất bản một tác phẩm về văn xuôi, thì tôi phải đổi lại bút pháp và cách dàn dựng một câu chuyện cho thật mới mẻ, mang riêng cho mình một lối viết. Chuyện nầy là một ao ước, nhưng có làm được không là một chuyện khác nữa.

HQ: Vài nhận định về sinh hoạt văn học Việt Nam của giới trẻ trên mạng lưới internet.

PXS: Gần đây trên mạng lưới internet đã xuất hiện nhiều người viết còn rất trẻ, họ được lớn lên trên những đất nước tự do. Lối viết của họ cũng mới lạ, tươi tắn. Đó là một điều đáng cho chúng ta khuyến khích và hổ trợ.

HQ: Vài cảm nghĩ và dự đoán của Anh về tương lai văn học Việt Nam tại hải ngoại?

PXS: Khi bàn đến chuyện tương lai về văn hóa, tiếng nói, chữ viết của người Việt tại hải ngoại dĩ nhiên trong đó có văn học. Trong chúng ta ai quan tâm đến vấn đề nầy cũng đều thấy thật bi đát, không phải chúng ta bi quan nhưng đó là một sự thật. Ngay trong gia đình con cái còn nói ngọng nghịu tiếng Việt, thì làm sao bảo chúng viết và đọc thông suốt được tiếng Việt. Cho nên chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tế trong vài thập niên tới, ngôn ngữ, văn chương của chúng ta sẽ mất tiêu tại hải ngoại. Thế nhưng chúng ta ngay bây giờ cũng cần phải viết, viết không những cho những người Việt tại hải ngoại đọc, mà sau nầy những người trong nước cũng tìm đọc. Chúng ta có được một nền văn học lưu vong thật phong phú.

HQ: Vài nét về nền văn học Việt Nam hiện nay tại nước nhà.

PXS: Có lẽ tôi ít đọc được những tác phẩm và báo chí trong nước, nên cái nhìn của tôi không được trung thực. Tuy nhiên tôi cũng phải nhìn nhận rằng 25 năm qua, nền văn học trong nước không mấy tiến triển, những tác phẩm mang tính thuyết phục về chính trị bị lãng quên, còn những tác phẩm mang giá trị về văn học thì quá ít.

HQ: Những so sánh về văn học Việt Nam trong nước và ngoài nước.

PXS: Là người cầm bút, chúng ta không nên so sánh trong nước hay hải ngoại, vì như vậy rất mất lòng cho những người cầm bút cả hai nơi. Nhưng một điều quan trọng là tại hải ngoại chúng ta viết trung thực với lòng của chúng ta, còn những nhà văn trong nước họ khó làm được điều đó, vì những rào cản về kiểm duyệt, xuất bản đã hạn chế những gì họ muốn viết. Nên những tác phẩm được lưu hành trong nước về mặt giá trị văn học thì rất hiếm hoi, trong lúc tại hải ngoại người viết ít hơn, nhưng thỉnh thoảng chúng ta có được những tác phẩm thật hay.

HQ: Văn học Việt Nam trong nước có cần sự đổi mới lại không?

PXS: Chỉ cần bỏ đi chế độ kiểm duyệt, chỉ cần xuất bản tự do. Tôi tin tưởng rằng nền văn học trong nước sẽ sống dậy và cực kỳ mạnh mẽ. Chính luật đào thải sẽ bắt các nhà làm văn học luôn luôn thay đổi cách nhìn, cách viết để bắt kịp thế giới bên ngoài.

HQ: Qua hai tác phẩm Anh đã xuất bản, tác phẩm nào Anh vừa ý nhất? Tác phẩm nào đã diễn đạt được hết nỗi lòng của Anh?

PXS: Diễn đạt bằng thơ để nói lên tâm trạng, nỗi lòng của mình. Thật tình tôi không có khả năng đó, vì thơ chữ nghĩa quá cô đọng. Làm được việc nầy chỉ có các nhà thơ lớn, còn tôi chỉ múa may trong vòng suy nghĩ hạn hẹp, chữ và nghĩa trơn trợt không sâu lắng. Nhưng vì tập thơ “Đứng Dưới Trời Đổ Nát” ra sau, có vài bài được nói lên tâm trạng của kẻ cùn trí, cùng đường mà trong thế hệ của tôi gặp phải, hơn nữa tôi chăm sóc rất kỹ từ in ấn cho đến trình bày và tự làm bìa cứng. Vì thế nói công bình là tôi thích tập “ĐDTĐN” hơn.

HQ: Nhận định của giới trí thức về thi phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát?

PXS: Trước đây có tuần báo SAIGON TIMES ở California có viết về tập thơ của tôi, người viết là Nhà báo Vương Trùng Dương. Anh Vương Trùng Dương cũng là người bạn của tôi từ thời niên thiếu và anh ấy đã biết tôi khi chúng tôi sinh hoạt văn nghệ với nhau còn trong thời kỳ học sinh. Trên tờ tạp chí VĂN số tháng 11 có bài viết của Nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh về tập thơ của tôi “Đứng Dưới Trời Đổ Nát”. Anh Nguyễn Mạnh Trinh hoàn toàn không quen biết với tôi và tôi rất cảm động những gì anh ấy đã viết về tôi. Thỉnh thoảng tôi cũng đọc được những nhận xét ngắn trên các báo về tập thơ nầy do bạn bè của tôi chuyển lại.

HQ: Vài nhận định của Anh về văn chương Việt Nam trên phương diện văn học quốc tế?

PXS: Nhận định về văn chương Việt Nam trên phương diện văn học quốc tế? Đề tài rộng lớn quá tôi không dám đề cập tới, duy chỉ một điều chúng ta phải nhìn nhận là văn học của chúng ta vẫn còn phôi thai (chữ quốc ngữ mới phổ biến chừng 100 năm nay). Chúng ta chưa có một tác phẩm lớn, tầm cỡ quốc tế và được phổ biến toàn diện. Trung Quốc có một nền văn học lâu đời và đồ sộ thế mà chỉ mới có Cao Hành Kiện (người được giải Nobel văn chương năm nay).

HQ: Một vài nguyên do tại sao từ trước đến nay vẫn chưa có một tác phẩm thi ca Việt Nam nào khả dĩ có thể gọi là đủ tầm vóc để nhận giải thưởng Nobel thế giới?

PXS: Nhiều nguyên nhân lắm. Ngôn ngữ và chữ viết của chúng ta chưa được phổ biến trên trường quốc tế, tác phẩm của chúng ta chưa đủ tầm vóc lớn. Đó là những yếu tố chính, mà chúng ta chưa thể vào mắt những nhà chọn lựa văn học, trong những giải thưởng lớn quốc tế.

HQ: Quan niệm của riêng Anh về hồn thơ và ý rượu?

PXS: Tôi không hiểu hồn thơ và ý rượu có ăn nhập gì với nhau không? Thiệt tình tôi cũng có những bài thơ về uống rượu, nhưng những bài nầy ghi lại những kỷ niệm sau khi đã tỉnh rượu rồi mới làm, chứ tôi chưa bao giờ làm thơ trong khi say cả. Các ông Lý Bạch, Tản Đà những ông thánh về thơ, còn tôi thứ cắc ké làm sao sánh được. Một điều tôi cũng cần nói ra đây, tôi là người rất ít uống rượu và chưa biết được cái ngon ngọt của rượu. Gặp bạn bè thì uống chơi, có khi uống chết bỏ nhưng chỉ thấy cái đắng, cái cay chứ chưa thấy ngon được.

HQ: Được biết những tác phẩm của Anh đã đăng trên các báo chí văn học hải ngoại đều ký tên qua các bút hiệu, vậy lý do tại sao Anh không dùng bút hiệu cho tác phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát?

PXS: Khi còn nhỏ ở trong nước, tôi dùng nhiều bút hiệu vì sợ gửi đi mà người ta không đăng, quê với bạn bè. Nên tôi thay đổi lia lịa. Ra hải ngoại tôi chỉ dùng tên thật hơn mười năm nay.

HQ: Xin Anh vài lời nhắn gởi tâm tình đến giới học thức trẻ về văn học Việt Nam trên đất khách.

PXS: Trong bất cứ lãnh vực nào, giới trẻ cũng là mầm mống của tương lai. Thế hệ trẻ tại hải ngoại, tiếp xúc với ngôn ngữ văn chương nước ngoài mà còn giữ được tiếng mẹ đẻ, thiết tha với văn chương Việt Nam, đó là điều những người như chúng tôi phải trân trọng và quý mến. Lời khuyên của cá nhân tôi là họ cứ viết bất cứ cái gì mà họ muốn, họ làm thơ không cần câu nệ hay bị ràng buộc vào khuôn mẫu từ trước, và họ tìm đọc những tác phẩm giá trị để trau dồi cho vốn liếng của mình. Tôi thích sự cách mạng, bức phá của họ trên văn đàn, thích sự tươi tắn trẻ trung của họ.

HQ: Văn chương cổ truyền Việt Nam có cần khai quật lại nơi đất ngoại hay không (chữ nôm)?

PXS: Cái gì chúng ta đọc được thì đọc cho biết, ngay cả thế hệ của tôi, phần đông cũng mù tịt về văn chương chữ Nôm, chứ đừng đòi hỏi những bạn trẻ trưởng thành từ Mỹ, những điều quá sức như vậy. Khai quật làm gì cái thứ mà đối với thế hệ trẻ tại đây là điều quá cũ kỹ.

HQ: Thơ Việt có tồn tại trong thế hệ tương lai nơi xứ người không?

PXS: Tôi nghĩ cũng sẽ bị luật đào thải chi phối, nhưng nói ra sự thật nầy cũng đau lòng lắm.

HQ: Thi phẩm nào và thi sĩ nào đã ảnh hưởng nhiều nhất đến thơ văn của Anh?

PXS: Trước đây thì thơ của Tô Thùy Yên và thơ của Hoàng Lộc, bây giờ thì tôi không biết mình chịu ảnh hưởng của ai. Thỉnh thoảng đọc được một bài thơ hay thì trong lòng sướng ghê lắm.

HQ: Vài quan niệm của Anh về thơ? Nếu như vượt bỏ những gạn ép vướng mắc của vần điệu thì thơ có còn gọi là thơ nữa không?

PXS: Thơ thì cần chi phải vần điệu, miễn sao người đọc cảm thấy hay là được rồi. Thơ vần điệu với các người trẻ bây giờ rất khó làm, vì phải gò bó trong khuôn khổ. Nếu như cảm thấy hạn chế thì ta nên làm thơ một cách tự nhiên, bình dị. Cái quan trọng là có được sự chấp nhận của mọi người hay không?

HQ: Thơ Việt trên đất ngoại có cần làm mới lại chăng (thơ narrative, thơ hypertext, thơ linh họa animated/in-motion/video poetry, v.v.)?

PXS: Có lẽ bộ môn thơ tiến triển nhanh nhất. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy các thể loại thơ cách tân nào được ưa chuộng nhất. Còn quá sớm, chúng ta bàn về chuyện nầy chăng? Tôi đã thấy xuất hiện vài bài thơ theo các thể rất lạ, nhưng hề chi. Cuộc thử nghiệm nào cũng đòi hỏi sự kiên trì, dần dần trở thành thói quen và tự nhiên sẽ được chấp nhận.

HQ: Xin Anh cho biết đôi chút về Hội Ái Hữu Quãng Đà và Đặc San Xứ Quãng?

PXS: Hội Ái Hữu Quảng Đà tại Massachusetts cũng giống như các Hội Đồng Hương khác vậy. Đây là một tổ chức gom lại những người cùng phong tục, tạp quán, lề thói, giọng nói và cùng nơi sinh quán, tìm lại với nhau để làm sống lại những gì mà họ cảm thấy gần gũi. Mỗi năm họ tổ chức buổi sinh hoạt mừng năm mới theo truyền thống của họ. Tờ Đặc san Xứ Quảng là tờ báo phát hành mỗi năm một lần, đặc biệt tất cả các bài viết phần đông liên quan tới vùng đất Quảng Nam Đà Nẵng hoặc văn hóa Việt Nam.

HQ: Anh có tâm tư riêng gì muốn tỏ bày với các độc giả?

PXS: Thành thật cám ơn nhóm chủ trương HỒN QUÊ, những người bạn trẻ của tôi, đã cho tôi có cơ hội tiếp xúc với đồng hương, và nói lên quan niệm văn chương của cá nhân tôi. Dĩ nhiên những quan niệm nầy có thể không vừa lòng với người khác, tuy nhiên tôi cũng có cơ hội trình bày sự thật lòng mình, những suy nghĩ trung thực của mình. Có điều gì sơ sót kính mong quý vị lượng tình bỏ qua.

HQ: Xin chân thành cảm ơn Anh.

Trường Đinh thực hiện

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »