Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for the ‘Nhận Xét và Phê Bình’ Category

ĐÊM ĐỌC THƠ VÀ HÁT THƠ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 10, 2014

ĐÊM ĐỌC THƠ VÀ HÁT THƠ

DO NGUYỄN HƯNG QUỐC VÀ HOÀNG NGỌC TUẤN TRÌNH BÀY TẠI DALLAS.

 

Ghi Nhận của Phan Xuân Sinh

 

Đi từ Houston đến Dallas, gần 300 dặm, ngồi trên xe gồm có ba người, tôi, Tô Thẩm Huy và Dương Phước Tấn.Trong chuyến đi nầy chúng tôi dự trù đến thăm nhà thơ lão thành của đất Quảng Nam anh Phạm Cây Trâm., trước khi tham dư buổi “Sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật và Đêm đọc thơ và hát thơ” Có sự tham dự của hai người vừa là khách mà cũng vừa là chủ chốt trong đêm sinh hoạt đó là giáo sư Nguyễn Ngọc Tuấn (bút hiệu là Nguyễn Hưng Quốc, nhà lý luận văn học) và Giáo sư Hoàng Ngọc Tuấn (dạy âm nhạc và một nhạc sĩ đa tài) . Anh chị Phạm Cây Trâm là người rất hiếu khách, mỗi lần đến thăm, anh chị bao giờ cũng làm những món ăn Quảng Nam để đãi chúng tôi, thật ngon, nhất là món “Mì Cây Trâm” mà người Quảng Nam nào ở cùng thế hệ với tôi trở về trước đều biết tiếng. Mà đúng như lời đồn đãi Mì Cây Trâm chị làm ngon thật. Một sự đặc biệt là lá mì chị tự tay vuốt gạo và xay bột bằng một cái máy xay nhỏ xinh xắn, đặt lên nồi tráng mì chứ không mua mì người ta bán sẵn ngoài chơ, bánh tráng cũng tự tay chị làm. Ở hải ngoại tôi đã ăn mì Quảng nhiều nơi nhưng không có nơi nào ngon bằng mì của chị làm.

 

Chúng tôi ở chơi nhà anh chi Phạm Cây Trâm đến chiều thì chúng tôi đến nhà Luật Sư Nguyễn Xuân Phước, vì đêm nay chúng tôi có cuộc gặp gỡ anh chị em văn nghệ từ các nơi khác về. Nhà Luật Sư Phước nằm trên một bờ hồ rất thơ mộng, tại đây chúng tôi gặp nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp người chủ chốt của đêm sinh hoạt tối mai, Bác sĩ Nguyễn Ý Đức đến tứ Arlington, nhà văn Trương Vũ đến từ Whasington DC, nhạc sĩ Nguyễn Đình Bình đến từ Alabama, tôi, Tô Thẩm Huy (nhà thơ), Dương Phước Tấn (họa sĩ) đến từ Houston và chừng mười văn nghệ sĩ tại địa phương. Anh Trương Vũ gần bảy năm sau tôi mới gặp lại, lúc nầy trông anh khỏe mạnh và trẻ ra, bất ngờ lúc đầu tôi không nhận ra anh. Lâu ngày anh em không gặp nhau, nên khi gặp đủ chuyện để hàn huyên và uống rượu.

 

Chúng tôi đến hội trường tổ chức Đêm Đọc Thơ Và Hát Thơ lúc 5 giờ chiều. Trời Dallas bên ngoài 103 độ F, hừng hực nóng, thế nhưng khi bước vào bên trong hội trường, tôi rất ngạc nhiên người đến tham dự quá đông (chừng khoảng 300 người), phần đông là đồng hương Quảng Nam của Nguyễn Hưng Quốc và tôi. Có lẻ vì người ta nghe tiếng Nguyễn Hưng Quốc tứ lâu nên đến tham dự một phần để biết mặt và một phần khác để nghe tài hùng biện của Nguyễn Hưng Quốc, người con cưng Quảng Nam mà họ rất yêu quý. Tôi nhớ trước đây chừng bảy năm, trong một ngày Đại Hội Quảng Nam – Đà Nẵng hải ngoạ tại Dallasi, tôi có một mục thuyết trình về văn nghệ sĩ Quảng Nam, trong đó tôi có nói đùa rằng”..trong một chu kỳ 30 năm, xứ Quảng Nam chúng tôi sản sinh ra một nhà phê bình văn học lỗi lạc: Thập niên 30 chúng tôi có Phan Khôi, thập niên 60 chúng tôi có Đặng Tiến tại miền nam và thập niên 90 cúng tôi có Nguyễn Hưng Quốc tại hải ngoại…”  Lời nói đùa của tôi cho đến bây giờ chắc không sai và cũng gần đúng với sự thật. Đề tài của Nguyễn Hưng Quốc  trình bày trong buổi chiều sinh hoạt: “Sư Phát Triển Văn Học Hải Ngoại và Cuộc Cách Mang Internet”. Chúng ta đẫ đọc Nguyễn Hưng Quốc bằng nhiều phương tiện như Sách, báo, internet thế nhưng chúng ta tại Texas chưa bao giờ nghe Nguyễn Hưng Quốc trình bày bằng văn nói. Thú thật trước khi giới thiệu Nguyễn Hưng Quốc lên diễn đàn tôi lo lắm. Hơn ai hết, tôi là dân Quảng Nam, tôi biết yếu điểm của dân tôi là viết trôi chảy, cải trôi chảy, nhưng khi trình bày một vấn đề trên micro, yếu điểm thứ nhất cái “giọng” của chúng tôi nghe rất khó chịu, âm điệu chan chát không êm tai như giọng Bắc hay giọng Huế, yếu điểm thứ hai nói hay vấp váp. Thế nhưng Nguyễn Hưng Quốc đã vượt qua khỏi hai yếu điểm đó mà còn trội hơn, giọng của anh nghe nhẹ nhàng, trình bày mọi vấn đề một cách mạch lạc, nói tới đâu chứng minh tới đó. Nghệ thuật nói trước đám đông của anh rất chuyên nghiệp và đó cũng là điều thu hút khán thính giả lắng nghe một cách say mê. Thú thật khi Nguyễn Hưng Quốc ,mở đầu câu chuyện, tôi đã thấy “lấy ăn” rồi.

 

Tôi không đào sâu những gì Nguyễn Hưng Quốc trình bày, tôi chỉ vắn tắt đại ý những gì Nguyễn Hưng Quốc nói trong cuộc nói chuyện qua sự ghi nhận của một người bạn văn nghệ ký tên là Phan đăng trên những tạp chí tại Texas: “Giáo sư Quốc tin tưởng dòng văn học hải ngoại không chết như nhiều suy nghĩ từng được trình bày trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại. Bằng chứng là sức sáng tác và kho tàng Văn học nghệ thuật của người Việt hải ngoại ngày càng phong phú hơn. Nói về số lượng thì nhiều hơn cả nền văn học miền nam trước 1975 trong nước. Tất nhiên, cần có thời gian để đánh giá đúng mức phẩm chất, nội dung, giá trị của những tác phẩm được sáng tác ở hải ngoại, tuy nhiên người ta phải chú ý tới vẻ đa dạng và phong phú của những công trình nghiên cứu về văn hoá nghệ thuật, những tác phẩm viết trong thời kỳ lịch sử Việt nam bị phân hoá; sản sinh ra dòng văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại.”

 

Còn về cuộc cách mạng internet, theo lý luận của Nguyễn Hưng Quốc mỗi ngày báo internet số lượng bài viết nhiều hơn báo in và lấy ví dụ trên Tiền Vệ và Da Màu ta thấy một số lượng đáng khích lệ. Sự nhanh chóng trong truyền thông và thu hút số lượng độc giả trên toàn thế giới, nghĩa là số người đọc hiện nay nhiều gấp bội so với báo viết. Nhất là sự liên lạc giữa tác giả và báo chí không bị thời gian và xa cách cản trở. Tin tức được cập nhật hóa nhanh chóng đưa đến cho người đọc biết ngay những sự việc xẩy ra trên thế giới.

 

Sau phần trình bày của Nguyễn Hưng Quốc được nghỉ giải lao và nhân cơ hội nầy tôi có nói chuyện với Hoàng Ngọc Tuấn, chuyện trò xả giao vì giữa chúng tôi chỉ biết tên tuổi nhau chứ chưa bao giờ gặp mặt kể cả Nguyễn Hưng Quốc cũng vậy. Dù chưa hết chương trình tôi đã thấy sinh hoạt Văn Học và Nghệ Thuật do một nhóm văn nghệ sĩ Dallas thực hiện rất thành công. Sau khi nghỉ giải lao, phần thứ II của chương trình do Hoàng Ngọc Tuấn trình bày những sáng tác của mình, xen kẻ có Hoàng Đình Bình phụ diễn. Quả thật một chương trình nhạc mới lạ mà tôi chưa từng nghe qua. Tôi có biết Hoàng Ngọc Tuấn là một nhạc sĩ sáng tác và giảng dạy âm nhạc.  Đây là lần đầu tiên tôi mới nghe qua Hoàng Ngọc Tuấn trình bày những sáng tác của mình. Tôi không hiểu về âm nhạc, chỉ cảm nhận khi nghe Hoàng Ngọc trình bày những sáng tác của mình, thật tuyệt vời. Những bản nhạc do Hoàng Ngọc Tuấn trình bày phần nhiều phổ thơ từ các thi sĩ nỗi tiếng thế giới từ trước tới nay,. Cái lối phổ thơ của Hoàng Ngọc Tuấn cũng rất mới lạ không theo khuôn phép giống như các nhạc sĩ Việt Nam. Anh nắm phần cốt lỏi.của bài thơ và nhấn mạnh những gì mà tác giả cần nỗi bật.

 

Hoàng Ngọc Tuấn chỉ ôm một cây đàn guitar, tiếng đàn của anh tưởng chừng như có một vài cây đàn khác phụ họa, âm thanh của nó rất đa dạng. Tôi cũng đã từng nghe độc tấu Guitar nhiều lần nhưng tiếng đàn của Hoàng Ngọc Tuấn lần nầy khác lạ, chuyên nghiệp và hấp dẫn,  những người tham dự im phăng phắc lắng nghe, anh đã chinh phục được lòng mọi người từ đầu tới cuối chương trình bởi tài năng và sự phô diễn của anh. Tôi nghĩ đây là sự thành công của anh không những tại Dallas mà tất cả những nơi anh đã từng đi qua trình diễn. Tiếng hát của anh mạnh, hấp dẫn, diển tả hết được những gì mà anh sáng tác.

 

Đêm đọc thơ và hát thơ của Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn rất thành công. Để lại trong lòng những người tham dự một ấn tượng mới lạ và hấp dẫn giữa cái lúc mà “thơ” tưởng chừng sắp đi vào quên lảng của những người lưu vong. Cam ơn Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn đã cho chúng tôi sống lại với thơ ca một cách nhiệt tình và hấp dẫn, cho chúng tôi một niềm tin thơ ca sẽ sống mãi.

 

Sau khi chấm dứt chương trình, chúng tôi có một cuộc hàn huyên với hai tác giả Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn cùng với một số anh em văn nghệ tại Dallas đến 2 giờ sáng. Ba anh em chúng tôi phải chia tay ra vế vì sáng mai chúng tôi phải làm việc, phải lái xe gần năm tiếng đồng hồ trở về Houston, chúng tôi vẫn còn có những điều chưa nói hết. Hy vọng lần sau trở lại Hoa Kỳ của Nguyễn Hưng Quốc và Hòang Ngọc Tuấn nếu hai anh đồng ý, anh em văn nghệ Houston sẽ có dịp gặp gỡ và tổ chức một đêm “thơ nhạc” để có dịp cư dân Việt Nam tại Houston tiếp xúc với hai anh.

 

Houston, tháng 7/2011

Phan Xuân Sinh.

Advertisements

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | 1 Comment »

BÚI GIÁNG, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 10, 2014

BÙI GIÁNG, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP

*Phan Xuân Sinh

(Bài nói chuyện về Bùi Giáng trong ngày Liên Trường Quảng Nam – Đà Nẵng, 31/8/2013 tại Houston)

 

Một nhà làm văn học mà khi còn sống cũng như khi chết bao quanh ông nhiều huyền thoại, giai thoại nhất. Người đó chính là Bùi Giáng.

Bùi Giáng là một nhà thơ, một dịch giả,một triết gia, nhà nghiên cứu văn học. Trong địa hạt nào ông cũng lẫy lừng. Các bút hiệu khác của ông: Trung Niên Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi văn Bốn, Vân Mồng. Ông nổi tiếng khi xuất bản tập thơ” Mưa Nguồn” năm 1962.

Bùi Giáng sinh ngày 17/12/1926 tại Thanh Châu, xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.

Cha của ông là Bùi Thuyên thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi tại Quảng Nam, vợ mất sớm nên ông tục huyền với bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con của Bùi Thuyên và Huỳnh Thị Kiền.

Bắt đầu đi học tại làng Thanh Châu, học tiểu học tại trường Bảo An

Trung học tại trường Thuận Hóa Huế.  Năm 1945 ông đậu bằng Thành Chung. 1950 ông đậu bằng tú tài I. 1952 ông đậu bằng tú tài II. ông vào sài Gòn ghi danh đại học Văn Khoa. Tuy nhiên theo bà Thụy Khuê sau khi nhìn danh sách giáo sư giảng dạy ông quyết định không đi học và cũng chấm dứt việc học tại đây. Ông bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục tại Sài Gòn.

1965 nhà bị cháy, tất cả các bản thảo cũng như sách vở đều bị thêu hủy.

1969 ông bắt đầu điên “rực rỡ” (chữ của Bùi Giáng). Sau đó ông lang thang du hành lục tỉnh (cũng chữ của Bùi Giáng) trong đó có Long Xuyên và Châu Đốc.

1971 ông trở lại sống ở Sài Gòn. Ông mất lúc 2 giờ chiều ngày  7/10/1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy.  Sau những năm tháng “sống điên rồ lừng lẩy” và chết “vẻ vang” (chữ của Bùi Giáng.)

Ông để lại một kho tàng sách vở:

về thơ: 15 tập

về nhận định 4 tập

về Giảng Luận 4 tập

về triết học 4 tập.

về tạp văn 4 tập

về dịch thuật: – 5 tập (1966). 3 tập (1967). 3 tập (1968).  3 tập (1969). 1 tập (1973). 1 tập (1974)

Với chừng đó sách vở đáng khẳng định con người tài hoa của ông.  Trong vòng hai năm 1962 – 1963 ông xuất bản 6 tập thơ và 3 quyển triết học. Đó là một thành tích kỷ lục, với một thời gian ngắn mà ông xuất bản được 9 tác phẩm đều nặng ký. Ta nên nhớ một điều bệnh điên đã chiếm hầu hết thời gian sau nầy của ông, trong khi điên nhảy múa ngoài đường phố ông không sáng tác được, thế mà khi tỉnh ông ngồi vào bàn, viết miệt mài. Ông mê đọc sách, chính điều nầy đã tạo cho ông một kiến thức sâu rộng. Ông là một người có năng khiếu về sinh ngữ, ông biết nhiều thứ tiếng, những tác phẩm do ông dịch thuật rất sâu sắc từ văn chương đến triết học. Lúc đầu những học giả đánh giá ông chịu ảnh hưởng của những triết gia tây phương, nhưng khi nghiên cứu kỹ ông cũng có những ảnh hưởng của Phật và Lão Trang rải rác trong tác phẩm văn chương của ông.

Ông là người cam chịu những khổ đau, vợ con mất trong một tại nạn khủng khiếp, vì vậy theo Khiêm Lê Trung cho rằng đối diện với cái chết ấy ông trở thành nạn nhân của bi kịch định mệnh khắc nghiệt. Nó là vết thương đục khoét tâm hồn ông biến ông thành kẻ lưu đày trong chính số kiếp của mình. Khi đọc Kiều, ông cảm thấy gần gũi với Nguyễn Du, đồng cảm với Nguyễn Du. Ông xem những nghịch cảnh éo le của Kiều, truân chuyên của Kiều chính là cái khổ đau mà chính ông gánh chịu. Từ những suy nghĩ, những khổ đau ngấm ngầm đục khoét tâm hồn ông biến ông trở thành một người điên “rực rỡ” (chữ của ông hay dùng). Trong văn chương Việt Nam ông rất tôn sùng Nguyễn Du và Huy Cận, thế nhưng đọc thơ ông ta không tìm thấy hai thi sĩ nầy ảnh hưởng tới thơ ông.

Hầu hết dân Sài Gòn ai cũng biết ông. Một người đàn ông đứng tuổi ăn mặc xốc xếch diêm dúa, nhảy múa tưng bừng(cũng chữ của ông thường dùng) trên đường phố Sài Gòn. Thân người ốm, nhỏ con nhưng có đôi mắt rực sáng. Nhà thơ Tường Linh nói với chúng tôi rằng ông  trong lúc điên, đang nhảy múa. Muốn cho ông tĩnh lại ghé vào tai ông nói một câu tiếng Tây hay tiếng Anh sai, trật lất,  thì ông tỉnh lại ngay. Kêu người đó lại gần chỉnh ngay, nói như thế nầy mới đúng, nói trật chúng cười. Có lẽ giai thoại về ông nhiều vô kể. Có cái người ta mục kích, cũng có cái người ta thấy ông khùng điên như vậy nên thêu dệt thêm, thêm mắm dặm muối cho vui. Tất cả đều tạo quanh người ông những giai thoại rất dễ thương và cũng rất sâu sắc.

Ông thích đọc kiếm hiệp vì vậy ông dịch tập kiếm hiệp nhan đề tôi còn nhớ mang máng là “ Phiên Kiếm Điêu Linh”(lâu quá không biết có đúng không), Đọc kiếm hiệp của ông dịch, thật tuyệt vời, chữ nghĩa của ông dùng bay bướm, hấp dẫn. Trên địa hạt nầy có lẽ ông là người dịch kiếm hiệp hay nhất từ trước tới nay. Song song với dịch thuật ông còn viết về triết học. Văn chương của ông một cõi riêng, ngôn ngữ của ông một cõi riêng, dưới mắt ông tất cả đều “chơi thôi mà” chữ ông thường dùng nhất. Vì vậy tất cả mọi địa hạt ông đều giỡn mà những người đọc nghiêm chỉnh không chịu được. Ngay cả bút hiệu ông cũng dùng những từ nói lái của quê hương Quảng Nam thường dùngn Bùi Giáng tức là Bàn Dúi. Ông đùa giỡn với thi ca, với triết học, với dịch thuật, với nhận định văn học  và ngay cả cuộc đời của ông cũng vậy. Ông giỡn một cách dễ thương và không từ nan một chỗ nào. “Thi sĩ sinh ra giữa cỏ cây và sẽ chết đi giữa cỏ cây li kỳ gay cấn”. Một câu tưởng chừng nghiêm chỉnh, nhưng cuối câu cũng cà khịa một chút cho vui. Đọc ông ta thấy văn phong của ông không giống ai, một chỗ đứng riêng biệt mà người đọc nhận ra ông ngay.

Thế nhưng cuối cùng nói về Bùi Giáng, chúng ta phải đề cập tới thơ của ông. Trong bài viết của Thụy Khuê: “Ông Bùi Giáng sống tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng thơ, ông cả đời lục bát. Tại sao lục bát? bởi vì đối với Bùi Giáng;”Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển, ba bảy sông hồ”. Thật tình Bùi Giáng cũng có làm thơ nhiều thể loại, nhưng không nhiều lắm. Lục bát là chính và hầu hết thơ của ông đều làm theo thể lục bát.

Ông có nhiều câu thơ xuất thần, lên đồng cõi vô thức, vô thường (lời của Hiền Nguyễn). Hay không chịu được. Mang một ấn tượng sâu lắng, một ý thơ vô cùng cao siêu:

 

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu

Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa

ta về rũ áo mù sa

Trút quần phong nhụy cho tà huy bay

 

Thanh Tâm Tuyền nói về Bùi Giáng với Mai Thảo trong tòa sạn báo Văn: “..Ngủ ra thơ. Thở ra thơ.  Đi ra thơ. Đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ.” Nói thế để biết rằng, Bùi Giáng làm thơ một cách dễ dàng như lấy đồ trong túi ra. Có nhiều người bỏ công ra tìm hiểu thơ Bùi Giáng, nhưng rốt cuộc không mang tới kết quả. Ta hãy đọc ông viết về thơ ông: “Thơ tôi làm (…)chỉ là cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm báo động một lúc thì lập tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Ta gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi (…) Tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vẫn bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao. (tài liệu Bùi Vĩnh Phúc) Viết như vậy đố ai hiểu được, thế nhưng ta cảm được những lý do trong trạng thái bất bình thường đã khiến ông làm thơ. sống với thơ. Và chỉ có thơ mới giải quyết những vấn đề nội tâm của ông:

 

Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?

Ta đi gửi lại đôi dòng

Lá rơi có dội ở trong sương mù.

 

Một tiên đoán huyền diệu, vầng trăng ông gửi lại cho đời vẫn nguyên màu. Đôi dòng ông gửi lại cho hậu thế vẫn còn vang dội. Chỉ có thân xác ông đã tiêu diêu theo mây theo khói. Nhưng với ông hề chi, miễn khi còn sống vui là trên hết: Sống lẫy lừng, chết vẻ vang. Bên ngoài ta thấy ông thật tội nghiệp. Lang thang nhảy múa, áo quần diêm dúa hôi hám, thế nhưng nội tâm của ông trong sáng, hàm chứa một vũ trụ cực kỳ sâu lắng. Ông an nhiên tự tai như một tiên ông, ông hạnh phúc với cái điên của mình đang có. Ông nhìn cuộc đời như một giấc mộng dài, giữa hai bờ sinh tử chẳng có một lằn ranh:

 

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

 

Trịnh Công Sơn lấy câu thơ nầy trong một tác phẩm của ông. Thơ ông đa dạng, mang nhiều triết lý, nhiều ẩn dụ, đôi lúc ngây ngô, đôi lúc trần tục, làm cho người đọc cảm thấy bất ổn khi đọc vì nó nửa hư nửa thật, nửa đùa nửa nghiêm túc. Chính như vậy mới tạo nên cõi thơ riêng của Bùi Giáng, ông không giống ai mà cũng không có ai giống ông. Thơ ông như phiêu bồng trong cõi hư vô, như huyền ảo và mộng mị như người mộng du. Ông có một lối thơ bình di nhưng sâu sắc, chân thật nhưng rất lung linh. Lối thơ nầy người ta cho rằng thơ điên, thế nhưng ngẫm nghĩ đôi khi ta phải giật mình vì nó cao siêu và thanh thoát:

 

Em vui vô tận thiên thần

Anh buồn vô lượng bất thần trở cơn

 

Ông là một hiện tượng lớn của thời thập niên 60 của thế kỷ trước, cùng với Trinh Công Sơn và Phạm công Thiện. Nhưng ông khác với hai người kia ở chổ là khi còn sống cũng như khị ông chết tất cả các huyền thoại, các giai thoại bao quanh ông nhiều vô kể. Có cái hư có cái thật, cái nào cũng có sự thêm thắt, biến câu chuyện trở nên duyên dáng, mặn mòi. Cho nên xung quanh cuộc đời ông, sự nghiệp ông còn rất nhiều chuyện thật giả lẫn lộn, đánh vào sự tò mò của độc giả (theo Hiền Nguyễn) vì thế chuyện về ông chưa thể chấm dứt. Tất cả đều mang một chủ đích ca tụng sự thông minh, bốp chát lanh lẹ, ứng biến nhanh chóng mà chỉ có người tài trí mới hành xử một cách ngoạn mục như vậy. Nói tới Bùi Giáng bao giờ cũng đề cập tới những giai thoại chính người kể tận mắt nghe thấy hay được nghe người ta kể lại. Trước tiên là  vui, sau đó là khâm phục và cuối cùng là cười xòa. Lợi dụng cái “điên” của ông mà người ta nghĩ ra đủ thứ về ông. Chung quy cũng chỉ “vui thôi mà” như lời của ông thường nói. Với ông cuộc đời chẳng có chi là quan trọng cho nên lấy cái vui giải quyết mọi vấn đề.

 

Bùi Giáng là nhà thơ của các nhà thơ. Ông mang một tâm trạng khác thường nửa điên nửa tỉnh. Ông rong chơi cùng khắp bằng đôi chân trần, mang vóc dáng điên khùng nhưng có một trái tim bao dung, có một trí óc thông minh. Ông cũng mang một tâm hồn lãng mạn, nhân văn sâu sắc (chữ dùng của Khánh Huyền). Những yếu tố nầy đã tạo nên một Bùi Giáng mà người đọc ngưỡng mộ và khâm phục.

 

Nói về ông một câu thì thiếu, nhưng ngàn câu vẫn không đủ. Ca tụng ông những lời hoa mỹ cũng bằng thừa, vì chính con người tài hoa của ông đã khỏa lấp những từ ngữ tầm thường. Ông có một chỗ đứng trang trọng không những trong lòng những người yêu văn chương mà ông còn đứng vững chắc trong lòng dân tộc. Ông mang tầm vóc lớn trong thi ca, trong triết học, trong dịch thuật, để lại một kho tàng chữ nghĩa cho hậu thế. Ông biến ngôn ngữ trở thành một trò chơi trí tuệ, vượt qua lằn ranh hiện đại để tiến tới hậu hiện đại, bằng cái nhìn thông thoáng của một thi nhân.

 

Trong thời gian hạn hẹp của bài nói chuyện không cho phép tôi dài dòng thêm về ông và tôi cũng cảm thấy vừa đủ khi giới thiệu về ông. Trước khi dứt lời xin mượn câu thơ của ông “chào nguyên xuân”:

 

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

 

Trân trọng kính chào

 

 

 

http://www.phanxuansinhusa.com

 

 

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 16, 2012

“NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI” CỦA HUỲNH HỮU ỦY..
Bài nhận xét của Phan Xuân Sinh.
Đây là một quyển sách đồ sộ về hình thức cũng như nội dung, nhận đinh về hội họa và điêu khắc từ khi Việt Nam bắt đầu mở trường Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội năm 1924 cho tới nay. Tác giả là Huỳnh Hữu Ủy nhà nghiên cứu hội họa, tên tuổi của ông từ lâu đã gắn liền với hội họa tại Miền Nam trong thời gian đất nước chia cắt. Sau 1975 mặc dù ông không tham gia viết lách nhận định hội họa trên báo chí, nhưng ông đã âm thầm làm việc nầy. Sau khi ra hải ngoại ông tiếp tục con đường của ông đã chọn và ông thanh thản từng bước đi vững chắc, chín chắn nhìn nền hội họa nước nhà một cách sắc bén và theo tôi chỉ có ông mới có thẩm quyền nhận xét về nến Hội Họa Viết Nam vì ròng rã mấy chục năm ông đã nghiên cứu, truy cập, một cách tỉ mỉ. Tôi là một người không biết về hội họa, nhưng khi đọc quyễn sách nậy tôi bắt đầu thấy say mê, hướng dẫn cho tôi cách nhìn về những tác giả mà tài năng của họ lẫy lừng bấy lâu nay,. cũng như những tên tuổi mà tôi chưa từng nghe thấy.

Để mô tả về sinh hoạt hội họa của Sài Gòn sống trong tự do. Huỳnh Hữu Ủy nhận định như sau: “…Những năm giữa thập niên 1950 kéo dài đến đầu 1960, không khí văn học nghệ thuật ở Sài Gòn như hừng hực những ánh lửa kêu đòi đổi mới, khao khát sáng tạo. Làm mới, làm mới, phải bước qua những trang đời đã quá nhạt nhòa cũ kỹ không còn thể nào chịu nổi nữa. Trước vận hội đầy hứa hẹn của đất nước trẻ trung vừa vươn mình đứng dậy, sức sống sáng tạo thực sự bùng nổ. Sài Gòn đã có những tiếng nói rất mới, đầy âm vang  mạnh mẽ và vô cùng thiết tha, ví  dụ là những Duy Thanh, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng , Thái Tuấn, Quách Thoại.”(1)

Trong sự khao khát đó, một số nghệ sĩ từ miền Bắc di cư vào họ mang trong lòng một chút phiêu lưu lại gặp một Miền Nam tự do, phóng khoán, họ hội nhập một cách thoải mái. Tài năng của họ được nở rộ. Họ là những người tiên phong cho nền nghệ thuật nước nhà mang sắc màu đổi mới. Đến giữa thập niên 60 đến 70, theo sau họ là những nghệ sĩ xuất thân từ hai trường Mỹ Thuật Huế và Sài Gòn còn rất trẻ, nô nức và hăm hở hội nhập nhanh chóng vào nền hội họa Việt Nam bắng những bức phá và cải cánh, sắc màu trở nên táo bạo, theo Huỳnh Hữu Ủy: “…phải kể đến những khuôn mặt quy tụ chung quanh nhóm nghệ thuật tiền phong của Sài Gòn là HỘI HỌA SĨ TRẺ VIỆT NAM.”(2)

Từ trong NGHỆ THUẬT  TẠO HÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI, ta mới biết được lịch sử hội họa Việt Nam, những nghệ sĩ tiếng tăm, những bức tranh làm say mê giới thưởng ngoạn một thời. Những họa sĩ như Duy Thanh, Ngọc Dũng, Tạ Tỵ, Duy Liêm, Thái Tuấn, Ngô Viết Thụ là những cây cổ thụ của hội họa Miền Nam, là những người tiên phong trong ngành hôi họa của Miền Nam còn son trẻ. Chúng ta cũng được biết tên tuổi của Nguyễn Gia Trí, Lê Văn Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Nguyễn Anh, Nguyễn Siêu, Trần Văn Thọ, Tú Duyên, Trần Đắc, Lê Văn Bình, Trọng Nội v.v…những họa sĩ tài danh của hội họa Việt Nam của thời kỳ tiền chiến. Đọc “Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại” ta tường lãm thêm được những khuynh hướng, trào lưu của những họa sĩ đeo đuổi trong sinh hoạt hội họa của họ.

Trước đây chúng ta đã nghe nói về HỘI HỌA SĨ TRỂ VIỆT NAM. Vì chúng ta không sinh hoạt trong hội họa, vì chúng ta ít quan tâm đến hội họa, vì chúng ta đến với hội họa chỉ cởi ngựa xem hoa, nên không biết rỏ về “Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam”. Thì đây, Huỳnh Hữu Ủy cho chúng ta biết về lý do, về sự cần thiết, trong một giai đoạn mà những thao thức, những đòi hỏi, mà hội nầy quy tụ một số họa sĩ tài năng để đưa nền hội họa đến tầm cỡ mà mọi người phải quan tâm:“ Đề cập đến nghệ thuật tạo hình Sài Gòn của những năm 60 và 70 trên bối cảnh chung là tất cả nền nghệ thuật có từ trước cùng với lớp họa sĩ đứng tuổi, kỳ cựu, phải nhắc đến những nghệ sĩ, điêu khắc gia quy tụ chung quanh Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, có thể nhìn nhận họ là những đại biểu đặc sắc nhất của giai đoạn lịch sử mỹ thuật của Sài Gòn và miền Nam trước đây. Góp phần xây dựng nền hội họa hiện đại, chúng ta đã đề cập đến Tạ Tỵ, Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng,  và phải kể tiếp theo các tên tuổi như : Cù Nguyễn, Rừng, Nghiêu Đề, Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Mai Chững, Dương văn Hùng, Trịnh Cung, Nguyễn Phước, Hồ Thành Đức, Nguyễn Lâm, Lê Tài Điển, Nguyên Khai, Hồ Hữu Thủ, Nghy Cao Uyên, Nguyễn Đồng. Đây là những nghệ sĩ trẻ say mê với nghệ thuật có tài hoa bẩm sinh, cộng thêm vào đó là nhiều suy nghĩ, tìm kiếm, những nghiên cứu thấu đáo ngôn ngữ tạo hình của thời đại. Sau vài cộng tác với nhau, đã phát biểu có chất lượng trong nghệ thuật tạo hình, họ cũng tự thấy là cần phải làm việc nhiều hơn, đào sâu kỹ thuật và tư tưởng, tiến về phía quảng đại quần chúng, và nhất là phải biết đặt mình trong tình cảnh của đất nước khổ đau và hùng tráng, để tìm một ngôn ngữ riêng của hội họa Việt Nam. Thái độ đó tỏ rõ rằng họ có một lập trường dân tộc tiến bộ nhưng không hẹp hòi mà cùng lúc cũng đặt mình trong tiếng nói tạo hình chung của nhân loại…”(3)

Hoặc  một nhận định hoàn toàn xác thực về “Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam”:

“Hai mươi năm hội họa Miền Nam 1964 – 1975, đó là một chuyển động liền mạch nhưng mang nhiều tính bức phá và bùng nổ, cho nên từ nhóm Sáng Tạo, nền nghệ thuật ấy đã chuyển động mạnh với sự xuất hiện của các  khuôn mặt trong nhóm Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam. Chúng ta có thể khẳng định rằng nền nghệ thuật ấy, tuy chỉ ngắn ngủi trong vòng 20 năm, cũng đã thành hình và trở thành một giai đoạn mỹ thuật khá đặc biệt, rất quan trọng trong lịch sử mỹ thuật chung của toàn bộ đất nước”.(4)

Việc làm của Huỳnh Hữu Ủy trong hội họa cũng tương tự như Võ Phiến trong văn chương, ngồi lượm lặt từng tác phẩm, từng tác giả để tạo dựng lại một sinh hoạt văn hóa của Miền Nam từ 1954 đến 1975. Vì tất cả những gì trong 20 năm đó tại Miền Nam, những người thắng trận phương bắc đã xóa sạch không còn gốc tích. Họ chỉ đưa ra những tác phẩm tuyên truyền trong chiến tranh không có một chút nghệ thuật hay văn hóa, vì tất cả thứ nầy dưới sự chỉ đạo của guồng máy cai trị, phụng sự cho chính trị. Khi đặt văn hóa nghệ thuật của Việt Nam trong 20 năm chiến tranh, thì chỉ có Miền Nam sống trong tự do nên văn hóa nghệ thuật mới đúng nghĩa nhất. Thế nhưng tại Việt Nam hiện nay không thể tìm lại những gì đã mất vì đã bị hủy diệt một cách thô bạo sau khi Sài Gòn thất thủ. Công lao của Huỳnh Hữu Ủy và Võ Phiến hiện nay rất to lớn đối với những người sau nầy đi tìm những chứng tích văn hóa nghệ thuật của Miền Nam trong thời chiến tranh. Hai ông đã tìm được tài liệu gần như đầy đủ và tái xây dựng lại một cách hệ thống để người sau dễ dàng trong việc nghiên cứu.

Hội VAALA nơi bảo trợ in tập sách”Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại” của Huỳnh Hữu Ủy có một tham vọng lớn hơn là sẽ in tập sách nầy bằng Anh ngữ, do Trần Thiện Huy (một thành viên của Ban Biên Tập tạp chí Da Màu) lãnh nhiệm vụ dịch thuật. Để giới thiệu nghệ thuật tạo hình Việt Nam với những người ngoại quốc muốn tìm tòi về hội họa. Vì hiện nay trong các thư viện tại Mỹ người ta chỉ thấy sách về hội họa của Hà Nội, giới thiệu về hội họa của họ rất nghèo nàn, thiếu tính nghệ thuật. Tập sách của Huỳnh Hữu Ủy đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu về hội họa đa dạng của Việt Nam. Và cũng để giới thiệu cho giới trẻ Việt Nam biết về hội họa của nước mình một cách tường tận, biết lịch sử hôi họa từ phôi thai cho đến hiện tại.

Lời phát biểu của Ann Phong trong ngày khai mạc phòng tranh tại Houston 21tháng 8 năm 2010 thì đây là quyển sách cần thiết cho những người muốn tìm hiểu về hội họa Miền Nam từ 1954 đến 1975. Trong các thư viện của Mỹ và trên thế giới khi tìm hiểu hội họa Việt Nam, người ta chỉ đọc những sách xuất bản từ Hà Nội và những bức tranh đượm chất tuyên truyền của miền Bắc. Chúng ta không tìm thấy một quyển sách nào đề cập đến nền hội họa của Miền Nam trước đây. Thực chất hội họa miền Nam mới phô bày được tính nghệ thuật, chất lượng, phóng khoáng, tài hoa của người nghệ sĩ và mới đích thực tiêu biểu cho nền hội họa chung của dân tộc. Công lao của Huỳnh Hữu Ủy tìm tòi nghiên cứu gần một đời người về hội họa, thì hội họa miền Nam chiếm một phần rất lớn trong đó.

Việc làm của Huỳnh Hữu Ủy có một sự hy sinh to lớn cho hội họa, mang lại một giá trị vô biên cho hội họa Việt Nam. Công lao của Huỳnh Hữu Ủy đối với các thế hệ sau thật quý giá và đó cũng là công ơn của ông đối với các họa sĩ quá vãng cũng như đương thời mà sự nghiệp của họ  sẽ bị mai một, quên lãng nếu không kịp thời được Huỳnh Hữu Ủy ghi lại trong sách. Vì cho đến bây giờ vẫn chưa thấy ai làm chuyện đó. Mà nếu có ai đó làm việc nầy thì cũng không đủ tài liệu, không đủ bằng chứng như Huỳnh Hữu Ủy đã tích lũy mấy chục năm nay. Cho nên chúng ta phải nhìn nhận tập “Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại” có một giá trị to lớn, đã ghi lại các khuynh hướng, các trào lưu hội họa Việt Nam đầy đủ nhất từ khi phôi thai cho đến nay. Giúp cho sự nghiên cứu hội họa Việt Nam sau nầy dễ dàng và chính xác.

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN, MỘT NHÂN DÁNG LỚN CỦA SINH HOẠT VĂN NGHỆ SÀI GÒN

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 16, 2012

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN,
MỘT NHÂN DÁNG LỚN CỦA SINH HOẠT VĂN NGHỆ SÀI GÒN
Bài viết của Phan Xuân Sinh

Rất nhiều người nói về ông, viết về ông. Ông là một nghệ sĩ đích thực đã để lại trong lòng người đọc, người nghe một ấn tượng khó quên từ nhiều thập niên trước cho đến bạy giờ. Trong lãnh vực phát thanh tối thứ năm của đài Sài Gòn mọi người chờ nghe Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ông có một lối dẫn nhập rất lạ và rất hấp dẫn lôi cuốn người thưởng ngoạn. Cho đến bây giờ lớp tuổi trên dưới 60 vẫn không quên  lời dẫn vào bài hát như thỏ thẻ với người yêu, nó nhẹ nhàng trầm lắng với giọng đọc rất điêu luyện của chính ông, đã làm say mê biết bao con tim thuở đó. Nội trong lãnh vực nầy ông đã chiếm trọn vẹn người thưởng thức.  Tôi còn nhớ lúc đó ngoài chiến trường với chiếc radio transistor nhỏ bằng bao thuốc, một cái ecouteur gắn vào tai. Chúng tôi có những giây phút chìm vào chương trình nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ông đã mang lại cho chúng tôi những giờ nghỉ ngơi thật tuyệt vời khi đối đầu với chiến trường.
Tôi nhớ lại, khi còn ngồi trên ghế nhà trường vào khoảng giữa thập niên năm 60. Chúng tôi đứa nào cũng thuộc vài câu thơ “Khúc Ca Phạm Thái” của Nguyễn Đình Toàn. Bài thơ lấy nhân vật Phạm Thái và Trương Quỳnh Như trong “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” truyện lịch sử của Khái Hưng:

Ta tráng sĩ hề , lòng không mềm bằng kiếm,
Ta anh hùng hề , sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như .
Chí nhỏ lòng Kiêu, đổ thừa vận rủi,
Tài sơ sức mỏi , trách với thời cơ .
Lòng chua cay uống mãi rượu giang hồ….

Rồi sau nầy khi ở trong quân đội, mỗi lần nhậu say có một thằng bạn chuẩn úy đứng lên đọc bài thơ nầy, giọng đọc mạnh. Bình thường thì nó không thuộc, nhưng khi tới chỉ thì nó sang sảng đọc thuộc bài thơ một cách trôi chảy. Sau khi đọc xong thì nó khóc. Cho nên trong đơn vị anh em ai cũng nhớ vài câu là vì vậy. Sau khi nó mất năm 1971 trong mặt trận ở Đức Dục, Quảng Nam, mỗi lần anh em còn lại ngồi nhậu đều nhớ tới nó và nhớ bài thơ “Khúc Ca Phạm Thái” của Nguyễn Đình Toàn.

Ông là một nhà thơ nên lời của ông viết nhạc nó cũng mang âm hưởng của thơ. Ta hãy đọc qua mấy câu đầu của bài hát “Tình khúc thứ nhất” nhạc của Vũ Thành An, lời của Nguyễn Đình Toàn. Lời nhạc như thơ:

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường

Hay lời trong bản nhạc “Mẹ”, lời nhạc bức phá qua những khuôn phép.. Cách dùng chữ và âm điệu không theo một qui luật  nào cả, như một loại thơ cách tân:

“Chân tay con mẹ cho với sữa mẹ. Trong tim con mẹ san máu xuân thì. Nôi xinh xinh ngày nhỏ bé. Bóng thơm mẹ còn ghi. Như măng non hoa vừa hé. Tóc mẹ thiết tha che. Trong đêm khuya mẹ như ánh trăng rằm. Soi cho… (Mẹ)

Một ca khúc mà khi còn ở trong nước ông làm gửi chui qua được tới Pháp. Ông Võ Văn Ái gửi qua cho chị Khánh Ly ở Mỹ. Bản nhạc  mang tên “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” ký tên là  Hồng Ngọc ( Vì còn ở trong nước nên ông lấy tên nầy để khỏi  bị làm khó dễ). Sau một thời gian ngắn bản nhạc được người ở hải ngoại lẫn trong nước đón nhận một cách  nồng hậu. Sau khi được định cư ở Mỹ bài hát nầy ông  lấy lại cái tên mà chính ông đặt trước đây: “Nước Mắt Cho Sài Gòn”:

“….Sài Gòn ơi! Tôi mất người như người đã mất tôi
như trường xưa mất tuổi thiên thần
hy vọng xa hay mộng ước gần
Đã lìa tan…….”

Ông  là một trong những người làm văn học, mang một làn gió mới từ Bắc vào Nam. Cũng như phần đông các văn nghệ sĩ di cư, ông mang Hà Nôi vào Nam bằng những hồi tưởng, nhớ thương, xúc động v.v…nên người nghe, người đọc của ông có cảm tưởng rằng Hà Nội không còn riêng của các ông mà Hà Nội cũng là của họ. Vì đọc của ông nó đã ăn sâu trong lòng họ. Ông thuộc thế hệ với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Trần Phong Giao v.v…và ê-kíp nầy đã thay đổi bộ mặt văn học Miền Nam thành mới mẻ, tươi tắn. Những bài thơ và truyện của ông đã xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn và đã có một chỗ đứng vững vàng khi ông còn rất trẻ. Tiếng tăm của ông trên các địa hạt Thơ, Văn, Nhạc và sau nầy trên đài phát thanh đã chiếm lĩnh người đọc, người nghe một cách trang trọng, quý mến.

Những tác phẩm của ông trước 1975 gồm có:
1. Chị Em Hải, nhà xuất bản Tự Do, 1962
2. Những Kẻ Đứng Bên Lề, nhà xuất bản Giao Điểm, 1964
3. Con Đường, nhà xuất bản Giao Điểm, 1967
4. Ngày Tháng, nhà xuất bản An Tiêm, 1968
5. Phía Ngoài, nhà xuất bản Hồng Đức, 1969
6. Giờ Ra Chơi, nhà xuất bản Khai Phóng, 1970
7. Đêm Hè, nhà xuất bản Hiện Đại 1970
8. Đêm Lãng Quên, Văn Uyển, 1970
9. Không Một Ai, nhà xuất bản Hiện Đại, 1971
10. Đám Cháy, Văn Uyển 1971
Đã cộng tác với: Văn, Tự Do, Văn Học, v.v.

Ông cũng được một giải thưởng văn học cao quý của Miền Nam trước 1975. Đó chưa kể nhạc phẩm của ông sáng tác.
Khi qua Mỹ một thời gian ông giữ mục văn học nghệ thuật trên đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA). Đây là khoảng thời gian ông đọc những tác giả đang viết tại hải ngoại, nhận định của ông sắc bén,  thêm một chút lãng mạn và được ông đọc trên đài VOA với một giọng đọc truyền cảm của thuở nào, vừa ấm vừa chậm. Lại một lần nữa thu hút thính giả người Việt từ trong nước ra tới hải ngoại.

Trong một lần cách đây chừng 7 năm, tôi được hân hạnh gặp ông tại Dallas trong ngày Văn Hóa do nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp và Hiệp Hội Báo Chí Dallas tổ chức. Buổi tối  ban tổ chức khoản đãi anh chị em văn nghệ sĩ từ xa đến, máy bay của chúng tôi xuống trễ nên không được nghe phần giới thiệu tên tuổi của anh chị em có mặt. Tôi được ngồi trước mặt ông Nguyễn Đình Toàn mà tôi không biết, cho đến khi ông Thanh Hùng người trước đây ngâm bài thơ “Khúc Ca Phạm Thái” trên đài Phát Thanh Sài Gòn đến chào ông, thì tôi mới biết người ngồi trước mặt tôi là một cây cổ thụ văn nghệ của Sài Gòn năm xưa. Sau đó đến phần uống trà và chuyện trò, tôi lần mò tới gần để chào ông. Sau phần nói chuyện xã giao, ông hỏi tôi: “Chắc anh cũng thuộc trong giới viết lách?”. Tôi tình thật thưa với ông là tôi cũng viết lách chút đỉnh, tôi còn giữ hai bài viết của ông đọc trên đài VOA về tôi. Một bài về văn và một bài về thơ. Đó là bài viết mà tôi  rất sung sướng bởi được một người nổi tiếng để mắt tới. Ông để tách trà xuống bàn rồi đứng dậy ôm tôi. Hành động nầy của ông một lần nữa làm tôi xúc động. Tôi một thằng viết lách nhảm nhí, một đứa em út chập chững trên văn đàn mà được một đàn anh, một bậc thầy dành cho một tình cảm như vậy. Từ đó tôi quý mến nhân cách của ông, con người của ông và cũng từ đó chúng tôi thỉnh thoảng liên lạc với nhau. Có dịp đến Nam Cali  tôi đều đến thăm vợ chồng ông.

Nói về ông không hết được, ông có một bề dày đồ sộ trong sinh hoạt văn nghệ trước và sau 75. Trong địa hạt nào ông cũng được người thưởng ngoạn xếp vào một chỗ đứng trang trọng, một nhân dáng lớn của Sài Gòn trước đây và hải ngoại bây giờ. Theo tôi, dù ông có thành công trên lĩnh vực nào thì trước hết ông là một nhà thơ cái đã. Ông mang chất thơ vào các lãnh vực khác, biến tất cả trở thành lãng mạn, êm ả. Nên ông dễ dàng chinh phục người đọc, người nghe một cách tài tình.

Cám ơn ông, cám ơn những cống hiến của ông với cuộc đời nầy.

Houston, ngày 6 tháng 6 năm 2012.
Phan Xuân Sinh

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

QUAN NIỆM VỀ THƠ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 16, 2012

 

QUAN NIỆM VỀ THƠ

Phan Xuân Sinh
trả lời Lê Bảo Hoàng

Câu hỏi thật đơn giản mà cũng thật khó. Khi chưa có ai đặt cho tôi câu hỏi nầy, thì trong đầu tôi “chẳng có quan niệm” gì cả, thơ miễn sao làm cho hay thì được rồi. Thế nhưng cái khó của người làm thơ là làm sao mình biết được thơ mình hay? Một nhận định khách quan thường phải do người đọc nhận xét. Tâm lý chung chung người làm thơ nào dù mới chập chững, cũng đều cho rằng thơ của mình thuộc thiên hạ đệ nhất. Không thể nào dở được, nếu ai chê thì người đó ganh ghét, hoặc lòng dạ hẹp hòi. Chứ mình thì không thể nào chấp nhận thơ mình dở được. Cái mâu thuẩn đáng ghét đó chính là cái nguyên nhân tạo nên những nhà thơ, họ lầm lì sáng tác, chai mặt sáng tác, bất kể búa rìu dư luận. Bài thơ sau hay hơn bài thơ trước, bước đi lúc đầu chập chững, nhưng về sau vững vàng. Họ làm mãi, trau chuốt dần dần, sửa tới sửa lui, câu kéo không còn lòng thòng mà trở thành cô đọng. Ðúng là văn ôn võ luyện. Thơ không thuộc loại tuyệt phẩm, thì ít ra cũng thuộc loại hay. Sự thành công của những người nầy, rất ít trong giới cầm bút. Những người làm thơ hay phần đông họ có năng khiếu. Bài thơ của họ chào đời được đón nhận ngay. Họ được ưu đãi và trọng vọng.

Tôi không thuộc vào hai lớp người trên, không có cái khiếu làm thơ, khi đọc thơ của thiên hạ tôi thấy những điều tôi nghĩ, họ đã nói giùm tôi hết rồi, mà lại nói hay hơn những điều tôi nghĩ. Tôi không nhẫn nhục can đảm ngồi lì để trau chuốt từng chữ, từng ý, như những người không có năng khiếu nhưng biết học hỏi, biết nhận thức. Nên tôi ngại không dám viết. Trong đời sống thường nhật không dễ gì đọc được những bài thơ vừa ý, số nầy ít ỏi quá. Thường thì đọc các bài thơ lẩm cẩm thì nhiều. Buồn tình tôi ngồi làm thơ cho mình tự đọc chơi, dần dần trở thành thói quen. Tôi thì làm thơ “phang” đại, tới đâu thì tới, không giống ai hết. Nói lên cái ý của mình muốn nói. Gửi gấm chút tâm sự, chút lòng mình ao ước. Nên thơ tôi cục mịch, chữ nghĩa rẻ rúng, không chắt lọc, không cao siêu. Thơ của tôi dành cho những người dễ dãi đọc chơi rồi bỏ qua. Còn đối với những người khó tính, thì họ không chấp nhận loại thơ như thế nầy. Loại thơ bình dân, không cân não, không trí tuệ.
Cho nên quan niệm về thơ của tôi cũng thật đơn giản. Thơ phải dễ hiểu, chữ dùng đơn giản, ý thơ đâu đó rõ ràng. Tôi biết thơ mà như vậy thì không “thơ mộng” chút nào. Thế nhưng quen rồi không đổi được, cái quan niệm cổ lỗ sỉ nầy đã trở thành một cái rãnh quá sâu, không sao khỏa lấp được. Kính mong quí độc giả lượng thứ cho.

Ðối với tôi thói quen thì có, còn kinh nghiệm thì không. Bởi lẽ làm thơ đối với tôi như một trò chơi, một trò chơi không cần phải có đối thủ hoặc người đồng hành. Sống ở nước người tìm một người chơi những trò chơi khác với mình thì quá khó, ai cũng bận bịu công chuyên, chưa đến tuổi hưu trí để ngồi tán gẫu cả ngày. Thôi thì chơi thơ vậy. Tôi chỉ còn chập chững, chưa có chút kinh nghiệm nào khi làm thơ, cho nên không tiện đề cập đến cái “kinh nghiệm”. Thói quen thì như thế nầy, không biết có nên gọi là thói quen hay không? Khi công việc bề bộn, thì tự nhiên muốn làm thơ. Mấy người bạn của tôi hay nói đùa rằng ” đó là lý do trốn tránh công việc”. Còn tôi thì cho rằng căn thẳng với công việc, nên “thơ” tự nhiên đến để làm thư giản tinh thần, nếu không có thơ chắc điên mất. Trước đây tôi có một hiệu buôn nhỏ, bên cạnh máy tính tiền tôi đứng, bao giờ tôi cũng đặt sẵn một tờ giấy trắng và một cây bút. Khi khách vừa vắng vắng là tôi làm được vài câu thơ. Thế là tôi đi ngược với anh Luân Hoán, đọc ở đâu đó lâu rồi chị Lý vợ anh thổ lộ cho biết, anh Luân Hoán khi làm thơ nằm trên giường. Còn tôi thì làm thơ phải đứng. Nói cho vui vậy chứ tôi chẳng có thói quen nào hết, lúc ngồi trên xe đậu ở parking chờ vợ đi chợ, chẳng biết làm gì lấy viết làm vài câu thơ để đó. Vài tháng sau vô tình tìm được móc ra làm tiếp. Vài ba tháng có khi không làm được bài thơ nào, nhưng cũng có lúc một tháng làm được vài bài. Tôi lái xe mà miệng lấp nhấp là bà xã tôi biết tôi đang bị thơ hành, bà vội vàng lấy tập vở ghi một vài câu tôi đọc. Nửa đêm ngủ không được, nhè nhẹ ra ngoài phòng khách ngồi làm thơ, nhiều khi chẳng rặng ra được câu nào. Thơ thì làm nhiều, nhưng vài ba ngày đọc lại thấy không giống ai đành xé bỏ, số lượng xé bỏ nhiều hơn gấp bội số lượng giữ lại. Một năm chỉ được vài ba bài trình làng xóm cho vui, cho nên tôi rất phục những người làm thơ nhanh và nhiều. Ngoài chuyện làm thơ, thỉnh thoảng tôi cũng hay viết truyện, tùy bút v.v… Có lẽ viết văn xuôi dễ dàng hơn làm thơ. Thơ đòi hỏi phải có cảm hứng thì mới làm được, còn văn thì không cần điều nầy. Hình thành được cốt truyện trong đầu, thì bất cứ lúc nào đặt bút xuống cũng viết được.
Phan Xuân Sinh

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

HOÀNG LỘC, NGƯỜI CHỐNG GẬY ĐI VỚI CHỮ TÌNH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 4, 2012

HOÀNG LỘC,
người chống gậy đi với chữ tình

Bài viết của Phan Xuân Sinh

Viết về thơ Hoàng Lộc thì phải nói đến thơ tình, mấy chục năm nay Hoàng Lộc vẫn mang mãi cái nòi tình nầy trong thơ. Anh đã trau chuốt nó, đã nắn nót nó, nên nó thành lão luyện, thượng thừa như một người luyện kiếm đến hồi không cần kiếm trong tay, chỉ cầm một cành cây vẫn chém đá ngọt như róc mía. Dù rằng cố tìm trong thơ anh một sự ẩn hiện khác, chứa một nội dung khác thì thơ tình của anh vẫn là số một. Chính điều nầy đã ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ khác khi làm thơ tình, họ có một cái “air” thơ giống của anh, nội dung na ná của anh, chữ dùng đôi khi mượn của anh. Ngay cả tôi trước đây, làm thơ tình đọc lên nghe như hơi hám của Hoàng Lộc. Như vậy đủ biết thơ tình Hoàng Lộc “dễ sợ” lắm chứ không phải chơi. Thơ anh làm ảnh hưởng rất nhiều người, khi giật mình bứt phá ra khỏi cái ảnh hưởng đó, thì cũng thật gian nan. Nói như vậy để biết rằng Hoàng Lộc có một chỗ đứng khá sâu trong lòng người đọc, trong lòng anh em làm thơ.

“cho dẫu phù vân” tập thơ mới xuất bản của Hoàng Lộc, tôi được hân hạnh tác giả nhờ layout và chính trong lúc làm công việc nầy, tôi được đọc trước nên có những nhận xét riêng của tôi về tập thơ. Tôi xin không đề cập đến thơ tình cùa Hoàng Lộc, điều nầy bạn bè anh đã viết khá nhiều. Viết láng cháng sẽ dẫm chân lên họ. Tôi xin viết tản mạn về Hoàng Lộc, về chữ nghĩa thơ trong tuổi gìà. Dù cố tránh về thơ tình, thế nào cũng phải đụng vào nó vì hầu hết trong đời thơ Hoàng Lộc đều chủ tâm đến thơ tình. Như vậy nói khác đi sẽ lạc đề, sẽ sai bét về Hoàng Lộc.

Tôi xin đề cập tới chữ nghĩa về già khi Hoàng Lộc làm thơ tình. Trên thực tế nhìn thấy một ông già bảy mươi tuổi đứng góc đường “gò gái”, trao những lời trêu chọc thì ta thấy chướng hết sức, Thế nhưng thơ tình tuổi bảy mươi (một loại thơ tán gái của mấy ông thi sĩ tuổi gần đất xa trời) thì ta thấy nó thế nào? Thứ nhất là tội nghiệp cho mấy lão. Thứ hai là ta thấy thấm đau, nhưng lại rất dễ thương. Khi còn trẻ làm thơ tình thì mấy cô gái còn quan tâm tới. Có cô phải lòng tơ tưởng đến người thi sĩ làm thơ cho họ. Còn bây giờ, tuổi già mình làm thơ tình là để sắt se, để tưởng nhớ, phần đông đối tượng bây giờ đã tóc bạc răng long như mình. Chỉ ngồi nhớ lại thời sắc hương của họ còn tươi rói.  Mình làm thơ để nhớ lại, để chiêm nghiệm, để vọng tưởng. Hãy nghe Hoàng Lộc thổn thức một đời làm thơ của mình:

“anh mài sắt cả đời không phút nghỉ
mà cuối đời chưa thấy nổi cây kim”
(còn mãi đi tìm. trang 21 – tập CDPV)

Tội nghiệp không? Thế nhưng người đọc lại không nghĩ như anh. Cục sắt to tướng mà khởi đầu anh mài, nó đã thành kim từ lâu. Than chơi cho vui để người khác thấu hiểu nỗi lòng của nhà thơ,.chứ cây kim sắc ngọn đó đã lận lưng từ lâu. Thơ của anh có tiếng tăm khi anh còn rất trẻ. Thế nhưng mấy ai bằng lòng với việc mình làm. Cuối đời công danh thì tan tành, và tình chạy đâu mất.  Chính các thứ lỡ vận nầy mới tạo được những câu thơ cô đọng của Hoàng Lộc:

“rồi tóc trắng phất phơ chiều sương khói
thế xuân thu rẻ rúng chuyện công hầu
tình cũng chảy mỗi dòng theo mỗi cõi
ai trách lòng ta khói biển xanh dâu

câu thơ viết bên kia trời tưởng nhớ
đưa ta về ray rứt giữa canh đêm
trăng phố thị dẫu tàn hiên cổ độ
dễ nguôi khuây những ngọc nát châu chìm”
(mưa cuối đời thơ. Trang 47, tập CDPV)

Theo tôi công danh thì trắng, nhưng tình thì không, vì nó còn lung linh trên các câu thơ.  Càng về cuối đời, các câu thơ tình của anh càng sâu sắc, chữ nghĩa gạn lọc, đọc lên thấy thấm thía. Nếu không biết tuổi tác Hoàng Lộc mà chỉ đọc thơ của Hoàng Lộc ta nghĩ ngay người làm thơ còn rất trẻ. Tại sao ta phán đoán như vậy? Vì nó mang sự thành thật, sự thủy chung, ướt át, mà chỉ có những người trẻ mới mang tâm trạng nầy phát tán trên thơ, cho nên ta thấy câu thơ rất dễ thương, rất trẻ trung.  Hoàng Lộc còn giữ được phong thái đó thật đáng quý. Phần đông những người làm thơ khác, khi cao tuổi họ bỏ hẳn thơ tình, mà có còn chăng thì chữ nghĩa cũng gượng ép nghe ra không thật. Hoàng Lộc ngược lại thơ tình tuổi về già nó không nhí nhảnh, không làm dáng như khi xưa. Thơ tình của anh bây giờ nó chín chắn, sâu đậm, mang thêm những ẩn dụ nên khi ta đọc, cảm thấy nó gần gũi và dễ dàng cảm xúc.

“cây đời ta gãy hết
những ngọn tình phù vân”
(ngoại ô, đêm. trang 36, tap CDPV)

Hai câu thơ trên, Hoàng Lộc mở đầu cho tập cho dẫu phù vân. Đời của một thi sĩ ba chìm bảy nổi, cho dù thân xác có khô héo thế nào, nhọc nhằn thế nào thì tình vẫn thủy chung. Người làm thơ luôn luôn chung thủy với tình mình đeo đuổi, mặc dù người đã phụ mình. Hai câu thơ ngắn ngủi đó đã gói gắm một đời làm thơ của Hoàng Lộc.

“….
yêu bao nhiêu em cũng phải lấy chồng
xa biết mấy là con đường phía trước
ta theo mỏi còn em thì phải bước
có bao giờ ta đuổi kịp em đâu?

đời tàn thu mây trắng bay qua đầu…”
(về buổi tàn thu ta, trang 14, tập CDPV)

Một đời làm thơ, đến tuổi già ngó lại nó như “…mây trắng bay qua đầu”. Hoàng Lộc đã nói giùm cho rất nhiều người. Ai đọc qua tập thơ nầy cũng bắt gặp một vài bài, một vài câu mang vóc dáng của mình, mang tâm trạng của mình, cho nên cho dẫu phù vân sở dĩ thành công không phải vì Hoàng Lộc kỹ thuật, mà vì anh đã thực sự đụng đến đáy lòng người đọc bằng chân thật, bằng tự nhiên nên họ dễ cảm thông với anh về những gì anh thổn thức.

Nhiều người cho rằng với cái tuổi cận kề cái chết, không nên làm thơ tình vì nó không thật. Tôi không đồng ý với quan niệm nầy. Người làm thơ phải rung động mọi hiện trạng, tình huống trước cái đẹp. Không phải vì tuổi tác mà chai lỳ trước những rung động. Như vậy ta sống với lý nhiều quá chứ không còn sống với trái tim. Thi sĩ thật sự phải sống với trái tim bất chấp tuổi tác. Làm thơ tình trong tuổi già mà ta không thấy sự gượng ép, không một chút giả tạo, những bài thơ như vậy thật sự đã thành công. Đọc những bài thơ tình trong tập cho dẫu phù vân ta phát hiện được điều đó, ta chỉ thấy sự rung cảm trước những chữ nghĩa bình dị nhưng thật sâu sắc của anh.

“thôi đừng bệnh nữa ta ơi
nằm nghiêng còn mỏi nỗi đời nắng mưa
có gì đau ở hôm xưa
ở hôm mai
cả bây giờ cũng đau?

xin em vịn một vai cầu
để coi
buồn của đời nhau
chảy về
(nằm nghiêng với bệnh, trang 68, tập CDPV)

Dù trái tim còn trẻ trung, còn yêu đời thì cũng đến hồi đưa tay đầu hàng trước tuổi già, trước những cái rêm mình nhức mỏi. Thi sĩ không chịu mình già…mà bởi vì yêu nhiều quá, thơ tình lai láng mới ra nông nỗi nầy, giật mình nhìn lại thời gian mới biết dù có chống chọi cũng đành phải chịu thua. Cái dễ thương của người làm thơ bao giờ cũng muốn mình trẻ trung mãi để làm thơ, thế nhưng lực bất tòng tâm. Đọc những bài thơ về già của Hoàng Lộc ta mới thấy thương cho anh. Có một điều người đọc nên chú ý thơ tình Hoàng Lộc bây giờ khác xa thơ tình ngày trước. Chữ nghĩa được đẻo gọt tinh xảo. Ý thơ thâm trầm, sâu lắng. Nên khi đọc lên ta có thể không thích một vài bài, nhưng ta phải công nhận rằng làm được những bài thơ như vậy thì thật là hoàn hảo.

Làm việc đến khi cao tuổi ta phải nghỉ ngơi, thế nhưng làm thơ thì không được như vậy. Nghiệp dĩ bắt chúng ta cứ đèo bòng mãi, không dứt ra được. Có nhiều người nói về thơ Hoàng Lộc không còn được như khi xưa, không còn hay như hồi trước. Theo tôi thì không đúng hẳn như vậy. Mỗi thời có một cái hay riêng của nó. Thơ tình còn trẻ thì ướt át, nhí nhảnh. Thơ tình về già thì sâu sắc, thận trọng. Ở vào cái tuổi của mình bây giờ không thể tung tăng nhảy nhót như hồi trẻ, làm như vậy ta cảm thấy kỳ cục và nó không thật. Ta phải làm cái gì nó hợp với tuổi tác, hợp với cách sống hiện tại và lúc nào cũng cần chân thật. Cái quí và giá trị ở cái chỗ chân thật. Ta hãy đọc bài thơ dưới đây của Hoàng Lộc để hiểu anh một cách tường tận hơn:

xin được nghỉ ngơi

nghỉ ngơi thôi, hỡi gã làm thơ già
núi đã tàn rồi – kìa, biển cũng cạn
chữ nghĩa một đời, một đời hoạn nạn
cứ nổi chìm hoài theo mỗi câu thơ

hãy nghỉ ngơi thôi, cha mẹ chết rồi
cố xứ gọi về, (bạn bè cũng gọi)
bệnh hoạn bao năm hết còn nhớ rượu
lại nhớ những điều rất đỗi không nên
yêu ta một thời em vẫn là em
áo một thời bay, tóc một thời chảy
là mây là sông chưa từng ở lại
(ta vẫn một đời chỉ đứng ngó theo)

nghỉ ngơi được rồi hỡi gã làm thơ
đĩa dầu đã hao đêm còn gió nổi
kiếm một chỗ nằm nghe mình hối lỗi
về một chữ tình đáng lẽ không nên….
(xin được nghỉ ngơi, trang 89, tập CDPV)

Đây là bài viết không mang tính giới thiệu hay phê phán. Tôi chỉ làm một cái việc chân tình để nói giùm anh (biết đâu cũng nói về tôi)  những hệ lụy đã bắt anh phải đeo đuổi mãi chuyện làm thơ và nhất là thơ tình suốt trong cuộc đời nầy. Dù thăng trầm của thế sự, của cuộc đời, anh vẫn thủy chung với nó, một lòng với nó. Cái hữu hạn của con người là một trở ngại cho anh, nếu không, được còn sống mãi anh vẫn làm thơ tình mãi mãi. Tôi nghĩ như vậy.

cho dẫu phù vân ra đời giữa lúc không thuận tiện lắm vì nó cố vượt qua rào cản bên nầy, bên kia đất nước. Những người mến mộ anh, thông cảm những tâm sự của anh đều cao tuổi hoặc đã nằm xuống. Mắt của họ lem nhem tuổi già, lười biếng động não khi đọc thơ của anh. Thế nhưng sự cố gắng của anh và bạn bè anh đã cho chào đời tập thơ. Đó là một sự can đảm giữa lúc chữ nghĩa rẻ mạt, giữa lúc người ta cứ đánh giá thơ theo quan điểm chính trị, xuất bản trong nước hay xuất bản tại hải ngoại. Họ không chịu hiểu một thực thể văn chương không có biên giới !

Houston, ngày 30 tháng 4 năm 2012

PHAN XUÂN SINH

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

LẠI NÓI CHUYỆN VỀ THƠ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Chín 6, 2011

LẠI NÓI CHUYỆN VỀ THƠ

Phan Xuân Sinh

Có người bạn hỏi tôi, anh làm thơ thuộc vào khuynh hướng nào? Hiện đại, hậu hiện đại, đương đại, khai phá, dấn thân, mới, cũ v.v… Tôi ú ớ. Tôi không biết mình phải đứng vào hàng ngũ nào cho đúng, vì quả thật tôi chưa bao giờ nghĩ tới thơ có nhiều chỗ đứng như vậy, tôi đứng vào chỗ nào cũng cảm thấy trật. Hơn nữa thơ của tôi cũng thuộc loại xoàng xỉnh, đứng vào đâu cũng tốt không thành vấn đề. Thôi thì tùy ở sự sắp xếp của người đọc xếp tôi đứng vào đâu tôi xin nghiêm chỉnh đứng vào chỗ đó cho đúng với phong cách thơ của  mình mà người đọc chọn chỗ. Tuy nhiên xin cho tôi được trình bày một vài điều cảm nhận của cá nhân tôi  về thơ. Sự nhận xét nầy tôi nghĩ rất nhiều sai lầm, nhưng xin người đọc nếu cảm thấy chỗ nào không vừa lòng cũng xin bỏ qua, các nhà thơ nếu cảm thấy chỗ nào có phần đụng chạm, xem đây là sự vô tình chứ không cố ý nhắm vào ai cả, cũng xin các nhà thơ lượng tình tha thứ.  Bài viết nầy tôi chỉ lấy kinh nghiêm của cá nhân mình, mà cá nhân thì không thể hoàn toàn giống với người khác, nên ngay trong suy nghĩ cũng đã có sự khác biệt.

Khi bài thơ  “Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu”  của Tô Thùy Yên đi trên tạp chí Sáng Tạo năm 1956 (theo Đặng Tiến)., Lúc đó tôi mới 8 tuổi, tôi không đọc được nó. Đến năm tôi học đệ tứ (chừng 15 tuổi), tôi tìm đọc vì nghe mấy ông anh của tôi khen quá, đọc xong tôi thấy bài thơ lạ mà không thấy hay, có lẽ vì tôi đọc quen những bài thơ mang nhiều vần điệu  ẻo lả, bài thơ nầy không hợp với thể tạng của tôi lúc đó. Đến năm tôi mười bảy, mười tám tuổi, đọc lại bài thơ nầy tôi thấy hay quá, tôi thấy con ngựa rượt theo chuyến tàu chạy như điên, cánh đồng lui nhanh về sau, thân nó toát mồ hôi, bờm nó dựng lên.. hình ảnh nầy nhắm mắt tôi tưởng tượng thấy nó rượt theo tàu mà con tàu lao nhanh vun vút. Không có bài thơ nào sống động hơn như vậy. Chữ nghĩa lúc đó Tô Thùy Yên dùng đơn giản nhưng cho tôi một hình ảnh rất sâu đậm. Ngoài năm mươi tuổi đọc lại bài thơ nầy, tôi không còn thích thú như khi xưa. Hỏi tôi tại sao vậy ư? Tôi cũng không biết đường để giải thích. Hình như sự cảm nhận tùy theo thời điểm và tuổi tác. Ngày xưa còn nhỏ đọc thơ tôi dễ dãi hơn, càng về già đọc thơ tôi càng khó khăn hơn. Riêng về thơ Tô Thùy Yên càng về sau chữ nghĩa ông dùng càng thâm sâu, mới lạ. Ai đọc được tập thơ “Thắp Tạ” của ông sau nầy mới thấy đúng phong cách của Tô Thùy Yên. Thế nhưng tôi hỏi rất nhiều độc giả ở nhiều lứa tuổi, họ đều cho rằng, sau bài “Ta Về” thì Tô Thùy Yên thơ không còn hay nữa, phần đông họ nói như vậy. Làm thế nào giải thích đây?

Bài thơ “Ta Về” trong tập “Tô Thùy Yên Thơ Tuyển”  hoàn thành bài thơ tháng 7 năm 1985. Mô tả tâm trạng của một người tù cải tạo, sau hơn mười năm mới được về nhà. Ngày xưa thì “Người về ta chẳng cho về / Ta níu vạt áo ta đề câu thơ”( ca dao). Còn bây giờ thì: “Ta về một bóng trên đường lớn/ Thơ chẳng ai đề vạt áo phai…” (thơ Tô Thùy Yên).  Tâm trạng đó là tâm trạng chung của những người lính Miền Nam đi tù. Bài thơ được đón nhận một cách nhiệt liệt từ trong nước ra tới hải ngoại trong thời điểm sau 1985, khi bài thơ được rò rỉ ra ngoài. Thật tình mà nói, nếu lấy bài thơ nầy làm tiêu biểu cho thơ Tô Thùy Yên thì thật tôi nghiệp cho ông, vì bài nầy nói cho cùng đây là bài thơ dễ dãi của ông, nên dễ đi vào lòng dân chúng, được nhiều người chấp nhận. Nói đến Tô Thùy Yên là phải đánh giá những bài thơ trí tuệ của ông. Thế nhưng những bài thơ thuộc loại nầy rất kén chọn người đọc, ít ai cảm được những bài thơ đó. Tuy nhiên theo tôi những bài thơ sau nầy trong Thắp Tạ đó là những bài thơ giá trị. Trong một lần nhạc sĩ Phạm Duy đến Boston trong chương trình “Minh Họa Kiều” do đại học Harvard mời. Phạm Duy có gặp một số anh em văn nghệ tại   Boston, trong cuộc gặp gỡ nầy có người hỏi Phạm Duy là: “Anh phổ nhạc thơ của nhiều thi sĩ, có hai thi sĩ lớn như Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên. Sao anh không phổ thơ của họ?”. Phạm Duy trả lời: “Hai ông nầy thơ hay thật, thế nhưng thơ của hai ông lý trí quá khó phổ thành nhạc được”. Nói thế để chúng ta biết rằng thơ hay chưa chắc làm rung cảm được người đọc. Bây giờ tôi cho rằng thơ của Tô Thùy Yên hay, qua mặt tất cả những nhà thơ trước đây, chữ nghĩa của anh dùng nặng ký hơn, sâu lắng hơn, thì tôi sẽ bị búa rìu phang lên đầu tới tấp. Ai không chịu thì cứ phang, tôi vẫn khư khư giữa ý định nầy.

Ngày nay chúng ta thấy xuất hiện những bài thơ rất mới. Trong tập thơ của Dương Tường (trong nước) và Ngu Yên (hải ngoại). Thơ của họ nhiều bài ghi bằng những ký hiệu, nhiều khi người đọc quen với thơ vần điệu không thể chấp nhận được. Đọc những bài thơ kiểu nầy ta phải vận dụng trí tuệ, phải nhận ra được cốt lõi của nó, ta cũng thấy hay hay.  Ta phải chấp nhận để cho họ có cơ hội thể hiện cái mới mẻ của mình. Thi ca phải cần mới mẻ, phải sáng tạo thì mới tiến triển được. Lúc đầu ta thấy khó chịu dần dần quen với nó. Hãy rộng lượng tạo cơ hội, tạo đất đứng để những bài thơ kiểu nầy mới thăng tiến và biết đâu sau nầy nó sẽ sống mãi. Đừng vội vàng phê phán nghiêm khắc, đừng bóp chết nó trong trứng nước, hãy để cho nó vươn lên. Thời gian sẽ là nơi phán xét cuối cùng. Cái gì còn lại sẽ miên viễn, cái gì không chịu nỗi bức phá của thời gian sẽ bị chìm vào quên lãng.

Tại hải ngoại, có hai báo điện tử Da Màu và Tiền Vệ có một số lượng độc giả rất đông. Phần đông những người làm văn chương trên hai tạp chí nầy mang tính khai phá. Những cấu trúc văn chương của họ bức phá ra khỏi những lề thói xưa cũ. Việc làm của họ mang mục đích là làm mới văn chương, là sân chơi cho tất cả những ai muốn thừ nghiệm thơ văn mới mẻ của mình. Quả thật hai tạp chí nầy đáp ứng được sự khao khát của những cây bút trẻ cũng như những người thích mới văn chương. Nói thế cũng có những cây bút thành danh trước đây, khi bước vào Da Màu hay Tiền Vệ họ khoát lên một lớp áo mới cho thích họp với đường hướng cũng như tôn chỉ của tờ báo.

Cấu trúc, suy nghĩ, chữ nghĩa phải mới lạ, càng mới càng tốt. Tuy nhiên vì cái mới lạ thì ta muốn làm gì thì làm, nhất là chữ nghĩa, nói gì cũng được như vậy bài thơ nó sẽ trở thành hổ lốn mât. Người làm thơ phải chịu trách nhiệm chữ nghĩa của mình dùng, hiểu thấu đáo những từ ngữ mình sắp xếp trên bài thơ. Người làm thơ hay, đọc qua chữ nghĩa của họ ta đánh giá được ngay họ thuộc đẳng cấp nào. Một người làm thơ lão luyện bài thơ của họ có thể không hay nhưng chữ nghĩa của họ dùng không thể ngô nghê được. Cách đây không bao lâu có một nhà thơ dùng chữ “Lửa Tam Muội” đọc bài thơ đó ai cũng nghĩ rằng ý của nhà thơ muốn nói Tam Muội là lửa dục tình của người đàn bà nổi lên. Một độc giả thấy bực mình quá muốn cho nhà thơ ấy biết là dùng từ nầy trong bài thơ là không đúng, không dùng thì thôi còn dùng phải cho đúng. Ông vận dụng từ triết học, thiền của Phật Giáo để giải nghĩa Lửa Tam Muội cho nhà thơ biết để dùng chính xác hơn, thì nhà thơ ấy trả lời rằng ông dùng lửa tam muội với một ý  khác của riêng mình. Tức là lửa tam muội, lửa từ bì, lửa dục vọng, lửa nào cũng là lửa có thể đem nấu cơm được tuốt (thi sĩ mà, vo tròn bóp méo thế nào cũng được). Có nghĩa là người làm thơ có quyền xử dụng chữ nghĩa tùy ý, không cần chữ đó có nghĩa là gì, không cần phải chính xác. Nói vậy là nói lấy được là không hiểu biết. Nhưng thôi, tôi không đào sâu vấn đề nầy gây thêm một sự tranh cãi vô ích. Bài thơ trở thành ngô nghê, ngớ ngẩn là chính chúng ta dùng chữ không chính xác, không hiểu thấu đáo của chữ dùng hoặc đặt nó không đúng chỗ.

Thi ca luôn luôn có thay đổi, có cuộc cách mạng. Bao giờ lúc đầu cũng gặp phải những điều khó khăn chưa thích ứng với người đọc, dần dần rồi nó sẽ trở thành quen tai quen mắt. Ngày xưa người ta tránh dùng những tiếng gọi của bộ phận sinh dục nam nữ. Những tiếng ỉa, đái, đụ, bú, đít. v.v.. và nhiều từ khác không được phổ biến. Bây giờ chúng ta thấy các từ nầy xuất hiện trong văn thơ từ trong nước ra tới hải ngoại, lúc đầu thấy nó chướng, ngượng ngùng, riết rồi quen dần và bây giờ chúng ta không còn cảm giác khó chịu như lúc ban đầu. Nghĩ cho cùng, nếu chúng ta không dùng những chữ nầy thì chúng ta thay thế chữ nào cho chính xác, mang tính trần trụi. Mà tại sao khi nói thì được, mà khi viết lại tránh nó. Cho nên thích gì chúng ta cứ viết ra thoải mái, không việc gì phải tránh, phải né. Miễn sao khi ta dùng đúng chỗ, đúng nghĩa. Bài thơ tự nhiên sẽ hay. Chúng ta đừng lạm dụng nó dùng một cách bừa bải.

Bài thơ hay là bài thơ chống chỏi được với thời gian, được thời gian sàng lọc vẫn đứng vững được. Còn những bài không chịu được sự thử thách nầy, nó sẽ chìm vào quên lãng. Người đọc nên rộng lượng, dành cho những nhà thơ cách tân có dịp, có cơ hội thử nghiệm và phô diễn những thi ca mới mẻ của mình. Còn chuyện thành công hay thất bại còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố quyết định nó. Người làm thơ phải có một tư cách trong sáng, không nên có những tị hiềm với những dòng thi ca không hợp với mình. Tôi cũng là người làm thơ (tuy thơ của tôi thuộc loại lẩm cẩm, vô tích sự), Tôi cũng chấp nhận những loại thơ cách tân, khai phá, bí hiểm. Thế mà có nhiều bài thơ đọc đi đọc lại tôi không biết tác giả nói gì. Tác giả làm thơ cho mình hay làm thơ cho người khác đọc. Nếu làm thơ chỉ để cho riêng mình thì gửi đăng báo để làm gì?

Tôi thú thật, ngày xưa khi mới lớn tôi mê và thuộc lòng tất cả những bài thơ thời tiền chiến. Dần dần theo tuổi tác tôi không còn thích thú khi đọc lại những bài thơ nầy. Tôi vẫn giữ sự kính trọng, vẫn trân quý những bài thơ nầy, dù gì thì nó cũng mang đến một làn gió mới, thổi tung những niêm luật gò bó, là cuộc cách mạng văn học “long trời lỡ đất” lúc chữ Quốc Ngữ còn phôi thai, công ơn nầy chúng ta vẫn ghi nhớ, nhưng thích thú thì tôi không có cảm giác đó nữa. Cũng như đọc lại Tự Lực Văn Đoàn tôi cũng có cảm giác nầy. Ngoại trừ một tác giả bây giờ đọc vẫn còn thấy hay là Thạch Lam. Hỏi tôi tại sao thì tôi không trả lời được. Giai đoạn của họ là giai đoạn của lịch sử, công lao của họ rất lớn cho văn học nước nhà. Trong thâm tâm tôi vẫn còn kính trọng, nhưng bây giờ đọc cho rằng hay thì tôi không chịu. Một lần tham dự một buổi lễ gì đó, một cô lên ngâm bài thơ của Nguyễn Bính có câu: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi / Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn”. Mới ngâm có hai câu đầu nầy, một ông bên cạnh nói với tôi hai câu thơ hay quá. Tôi giật mình, à thì vẫn còn có nhiều người thưởng thức thơ dễ dàng kiểu nầy. Sự thưởng ngoạn cũng tùy thuộc từng loại độc giả. Những người thích thơ cũ, bắt họ đọc thơ mới nhất là thơ cách tân thì làm sao họ chịu được. Thành phần đọc thơ dễ dàng hiện nay lại chiếm đa số, không ai xê xuyển họ được. Cho nên con đường tiến của thơ tự do cũng gặp nhiều trở ngại không ít.

Tôi quen với nhà thơ Trần Vấn Lệ, tôi gặp anh ở California. Trong một bữa nhậu anh nói với tôi là có nhiều tờ báo anh gửi bài, họ chỉ đọc thấy tên anh là họ ném vào sọt rác vì thơ của anh không hợp với họ. Anh Trần Vấn Lệ là một nhà thơ nổi tiếng. Lần đầu tiên tôi nghe một người thành danh như anh thành thật nói lên điều đó. Anh không phê phán hay buồn lòng, anh cho đây là chuyện thường tình thích thì họ đăng không thích thì họ vất, thế thôi. Đó là một cử chỉ của một người đàn anh đáng phục mà tôi thấy ít ai có được đức tính nầy. Những nhà thơ thuộc loại dấn thân mà tôi đã quen như Chân Phương, Trần Thiên Thị, Huỳnh Lê Nhật Tấn, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lý Đợi, Ngu Yên v.v..những bài thơ của họ tôi thích lắm, không mang cách làm dáng chữ nghĩa, phô trương kiến thức hay lập dị.  Thơ phải đượm chút suy nghĩ, sâu sắc, trí tuệ một và những nhà thơ kể trên hội đủ những điều mà tôi mong muốn. Thơ cần phải dùng ngôn từ mới, lạ, có chiều sâu. Một bài thơ hay dễ cảm nhận ngay bởi chính nó toát lên được phần hồn tinh túy, không cần phải chữ nghĩa rườm rà, cố tình đánh lận người đọc.

Thơ hay cũng như đãi vàng trên cát, hiếm và quí. Còn loại sàn sàn thì nhiều vô kể. Người làm thơ ai cũng mang một hoài bão là nổi tiếng. Chính vì vậy họ bất chấp tất cả thủ đoạn. Họ thấy báo nào đăng được của họ là họ gửi tới tấp và chính họ cũng không biết bài thơ của họ nói lên cái gì. Họ không cần phải đọc của ai, họ không biết thơ hay của người khác. Chỉ biết của mình và chỉ có mình, nên xoay đi xoay lại chính họ dẫm chân lên họ, lặp đi lặp lại chữ nghĩa của họ. Có một nhà phê bình văn học cho loại nầy là múa tay không qua khỏi đầu. Loại nầy thường cố chấp chiếm lĩnh đất đai trồng những loại cây thơ èo uột, không tăng trưởng nỗi. Ít ai nhận ra được điều đó nên bắt người khác phải đọc những bài thơ lẫm cẩm thế nầy.

Hồi còn ở trên Boston, có một nhà thơ mà anh em thường gọi đùa là “nhà thơ bí hiểm”. Anh tự chế ra nhiều chữ để dùng trong thơ của anh, anh ghép chữ nầy qua chữ kia đến nỗi không ai hiểu hết, càng “bí hiểm” càng tốt. Anh chê tất cả những người làm thơ không bắt kịp trào lưu tiến hóa của thi ca quốc tế, chỉ có anh mới “khai phá” đúng nghĩa nhất. Mỗi lần anh em gặp nhau, anh in ra một số bài thơ mới làm cho anh em đọc. Ai cũng lắc đầu không hiểu thơ anh nói gì. Lúc đầu tưởng rằng anh thất vọng, nhưng sau, anh thấy mọi người đọc đều làm thinh anh biết là mọi người không hiểu, anh lại càng thích thú. Anh bảo thơ như vậy mới để đời, còn thơ mấy ông thuộc loại “mì ăn liền”, nuốt trôi bây giờ nhưng về sau không ngửi được nữa. Ngồi nghe anh nói chuyện như một triết gia điên. Anh không gửi thơ cho báo nào vì anh chê tất cả không đủ trình độ đăng thơ của anh. Tôi tưởng chỉ có một mình anh, thế nhưng đi nhiều nơi tôi mới biết “típ” người như anh nơi nào cũng có. Hơn hoặc kém anh chút đỉnh: Tự cao tự đại, xem thơ của mình là nhất thiên hạ. Cũng có một số nhà thơ dùng thơ làm phương tiện bươi móc, nói cạnh nói khóe, chê bai kẻ khác. Họ cho những chuyện họ làm che mắt được thiên hạ.

Căn bệnh trong làng thi ca nhiều trò nhiều kiểu, nói mãi không hết được. Thơ cũ chê thơ mới không biết niêm luật thơ. Thơ mới chê thơ cũ gò bó trong vần điệu lỗi thời. Bên nào cũng đúng. Có một điều quan trọng mà không bên nào chịu hiểu là làm thế nào cho thơ hay. Đó mới quan trọng. Một căn bệnh trầm trọng là những người làm thơ không ai cho rằng thơ của mình dở cả. Bao giờ thơ của mình cũng vô địch trong thiên hạ, dù mình mới tập tễnh làm thơ. Tình trạng nầy không phải riêng tại hải ngoại mà ngay trong nước cũng thế. Chính vì vậy thơ in loạn cào cào không qua sự gạn lọc của ai cả. Có tiền là có thể trở thành thi sĩ, đông vui không chịu được.  Vì vậy, tìm một bài thơ hay rất khó, cũng may là khó nhưng không phải là không có.

Cũng như trong phần mở đầu bài viết, tôi xin xác nhận lại là những gì tôi viết trên đây mang tính cách cá nhân, không theo một đường hướng hay mục đích nào cả. Những gì tôi viết mang tính “đề nghị” chứ không mang tính “khẳng định”, vì có thể đúng với người nầy mà lại sai với người khác và xem nó như một bài tản mạn về thơ chơi cho vui, nên có thể không phù hợp với nhiều người. Kính mong quý vị tha lỗi.

Houston, 04 tháng 9 năm 2011.

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

VIẾT CHO THƯƠNG PHẾ BINH QLVNCH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 25, 2011

VIẾT CHO
THƯƠNG PHẾ BINH
QLVNCH

Phan Xuân Sinh
Năm 1972 giữa Thành Phố Ðà Nẵng xẩy ra một chuyện rất thương tâm. Tại Trung Tâm I Hồi Lực có hai phế binh, một người mù mắt và người kia thì cụt cả chân tay. Họ thấy cuộc sống của họ trên đời nầy sẽ làm khổ cho vợ con, nên ho quyết định phải tự sát…Thế nhưng họ phải tính toán như thế nào mà vợ con họ được lãnh tiền tử tuất, được lãnh thêm một số tiền bồi thường lớn để có phương tiện sinh sống. Như vậy họ phải nhào ra đường cho xe cán, nhưng phải là xe của Mỹ thì số tiền mới hy vọng khấm khá. Người mù đẩy người cụt lao vào xe GMC của Mỹ và hai thân người dẹp nát. Tất cả các Thương Phế Binh tại Trung Tâm Hồi Lực chạy ra vây xe Mỹ và đòi bồi thường tại chỗ. Vì họ nghĩ rằng chết như vậy sẽ đưa ra kiện tụng và chưa chắc được bồi thường. Những thân người què, cụt, mù nằm la liệt trên đường gây một thảm cảnh và một xúc động mạnh, làm cho cơ quan quân sự Mỹ nhượng bộ. Số tiền họ bồi thường cho hai phế binh đó rất lớn. Chuyện đáng nói không phải bồi thường mà chính là chuyện lao đầu vào xe. Ðộng lực nào đẩy họ tìm đến cái chết mà không một chút do dự, một chút sợ hãi. Chính là họ nghĩ tới cái đau khổ triền miên mà họ phải gánh chịu, thà rằng họ chết thì sự đau đớn chỉ nhất thời, còn nếu họ sống thì gia đình phải chịu đau đớn dai dẳng. Trước khi chết, họ còn tính toán chết như thế nào cho thân nhân được lợi, chết đi còn tìm cách giúp đỡ cho người ở lại, họ coi nhẹ thân xác vì nghĩ rằng họ có sống thì cũng vô dụng. Chiến tranh đã đưa con người đến tận cùng bờ tuyệt vọng mà không còn chỗ thoát.

Qua câu chuyện trên ta thấy, một sự vật qua những cái nhìn khác nhau, qua những nhận xét khác nhau. Vật thể ấy sẽ biến dạng theo cá tính, theo quan niệm của người nhìn. Sự mô tả khác nhau của từng người khiến ta rối rắm và nhiều khi đưa tới tình trạng thiếu trung thực. Thế nhưng có một cái nhìn về những hình tượng mà mọi người phải đồng lòng, phải rơi nước mắt, phải nhất trí với nhau đó là cái nhìn về những người đã bao lần vào sinh ra tử, đã hiến cả một phần thân thể cho đất nước. Sau cuộc chiến họ trở về với đôi nạn gỗ, với xe lăn, với chiếc gậy mò mẫm đường đi vì đôi mắt mù lòa. Cái nhìn của chúng ta về họ cùng có một sự xúc động như nhau, cùng thương cảm và lặng người. Tại sao chúng ta lại đồng cảm với nhau như vậy? Bởi vì họ là những con người có những hệ lụy mật thiết với chúng ta, họ là những viên gạch lót đường làm nền móng cho chúng ta tiến bước. Một phần thân thể và máu của họ đã thấm xuống mạch đất, đã ăn sâu vào gốc rễ để cho chúng ta tồn tại. Chúng ta trân quý họ bao nhiêu thì kẻ thù lại khinh bỉ và hành hạ họ bấy nhiêu, chúng ta ghi ơn họ bao nhiêu thì kẻ thù lại đẩy họ vào đường cùng không lối thoát. Họ đang gánh chịu sự đày đọa trên thân thể, lại thiếu ăn thiếu mặc. Ai ra tay giúp họ?

Nghĩ lại cho cùng chính chiến tranh đã gây ra biết bao nhiêu nghịch cảnh. Họ là những người lính, nhiệm vụ của họ là ngăn cản quân thù xâm lăng. Họ gánh chịu tất cả những đau thương đứng trước cảnh đầu sóng ngọn gió, họ lãnh đủ trên người những lằn tên mũi đạn, thập tử nhất sinh. Những người ra đi vĩnh viễn, những người trở về nhưng thân tàn ma dại, không còn hình hài nguyên vẹn. Có người mang danh nghĩa là con người nhưng quả thật chỉ còn một đống thịt, vì bản năng sinh tồn họ khó nhọc lê tấm thân trên đường phố để kiếm ăn. Ai chịu trách nhiệm về sự đau thương nầy? Xã hội đã làm ngơ, vì cái xã hội mà họ đang sống do kẻ thù điều khiển, không đoái hoài tới họ. Chiến hữu tránh mặt, vì chính ngay bản thân sống trên đất nước quá khó khăn thì làm sao cưu mang nổi những người bạn tật nguyền nầy. Thôi thì cứ mệt nhọc lê thân trên hè phố kiếm ăn qua những tấm lòng độ lượng bố thí của thập phương. Chúng ta đã từng thấy trên đường phố, bến xe, bến đò, chợ búa thì không lạ gì những con người tật nguyền nầy. Chúng ta cũng không thể ngờ # những con người trước đây cùng trong hàng ngũ với chúng ta, chiến đấu cùng chiến tuyến với chúng ta và cũng có những người là cấp chỉ huy của chúng ta. Bây giờ họ thuộc loại đầu đường xó chợ, bị người đời khinh khi, thiếu ăn thiếu mặc, sống giở chết giở vì họ không còn khả năng làm việc, trên thân thể họ chỉ còn trái tim thoi thóp thở, chỉ còn chút ít mạch sống. Vì ai họ ra nông nỗi nầy? Có phải chăng vì sự tồn vong dân tộc, vì lý tưởng cao đẹp của cuộc sống mà họ phải xả thân bảo vệ, vì sự an nguy của toàn dân mà họ liều mình hiến dâng.

Sống trên đất Mỹ, chúng ta không thấy được những nghịch cảnh nầy. Những thương phế binh của Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam, họ được chính phủ của họ trợ cấp đầy đủ, không thấy cảnh ăn xin. Hằng năm đến ngày “Veteran day” chúng ta nhìn thấy họ hãnh diện diễn hành, dân chúng Mỹ trân trọng cúi đầu khi họ đi qua, vì biết rằng sự hy sinh to lớn của họ nước Mỹ không thể nào bồi đắp được. Mang thân Phế Binh đã khổ rồi, mà mang thân phế binh của kẻ chiến bại thì mức độ khổ sở gấp ngàn lần. Từ tinh thần đến vật chất, từ suy nghĩ đến cuộc sống họ không còn trông nhờ vào ai được, họ ê chề thất vọng, họ chỉ còn ngóng đợi sự giúp đỡ của chúng ta. Ðã hơn 30 năm từ khi làn sóng tỵ nạn ồ ạt định cư trên đất nước tự do, chúng ta đã thành lập biết bao nhiêu Hội Ðoàn, Ðảng Phái. Chúng ta đã tổ chức gây Quỹ biết bao nhiêu lần để củng cố những cơ sở chính trị, hướng dẫn các thế hệ đàn em luôn luôn hướng về quê hương. Chúng ta đã trở thành những trưởng giả, những bậc phú ông, nên chúng ta phải tìm vui trong những khung cảnh sang trọng. Có ai còn nhớ lại cuộc chiến đấu trước đây đã bao nhiêu người nằm xuống, đã biết bao nhiêu phế binh đang ngoi ngáp bên quê nhà, mà thân thể của họ đã từng lót đường cho chúng ta trốn thoát chế độ sát nhân trong nước. Có ai nhỏ giùm cho họ những giọt lệ thương sót, cho cuộc đời bất hạnh của những anh em đã từng cầm súng gìn giữ quê hương, để chúng ta có dịp đặt chân trên đất nước tự do. Hơn hai triệu người tha phương chỉ có một vài người đơn độc gióng lên tiếng chuông kêu gọi lòng nhân đạo của mọi người, hãy nghĩ về những anh em thương tật bên quê nhà. Tiếng kêu thất thanh của họ cũng chỉ có một số ít người hưởng ứng, lòng hy sinh của họ cũng mỏi mòn. Chúng ta vong ân bội nghĩa như vậy sao? Không, Chúng tôi tin rằng chúng ta là những con người trọng tình trọng nghĩa, không dễ gì một sớm một chiều mà quên đi những con người sa cơ thất thế nầy, những người một thời vùng vẫy trên chiến trường để bảo vệ cuộc sống thanh bình của toàn dân. Cái nhìn của chúng ta về những anh chị em Phế Binh nầy cũng khác, chúng ta bao giờ cũng tri ân họ, bao giờ chúng ta cũng cho họ là những con người vĩ đại. Cái nhìn của chúng ta về họ với đôi mắt dịu dàng thán phục, với đôi mắt rực sáng kính nể. Cái nhìn của chúng ta đã được sự đồng tình của nhiều người.

Có lẽ độc giả sẽ hỏi rằng tôi là ai mà có những lời “bênh vực” cho Thương Phế Binh và kêu gọi mọi người thương tình giúp đỡ cho họ đang lây lất sống tại quê nhà. Xin thưa, tôi cũng là một thương phế binh, tôi gửi lại một bàn chân phải trên quê hương trong mùa chinh chiến khốc liệt nhất, đó là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Vì vậy tôi hiểu tâm trạng của anh chị em vì tôi đã từng đau với cái đau của họ. Có một điều tôi hơn được họ bởi vì tôi may mắn là tôi đang sống trên đất Mỹ. Nếu tôi ở quê nhà tôi cũng lê tấm thân trên đường phố, chống đôi nạn gỗ và ngữa cái nón cời xin ăn từng bữa. Tôi cũng sẽ trông chờ tấm lòng thương mến của quý vị.
Lời vang xin của tôi, thay mặt cho anh em nói lên lời cám ơn chung đến quý vị
PHAN XUÂN SINH

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

LÁ THƯ HOUSTON

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 20, 2011

LÁ THƯ HOUSTON

Trong Lá Thư Houston mấy kỳ trước chúng tôi có nhắc đến một cây viết được bạn đọc yêu thích ở Houston. Kỳ này chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tác giả Phan Xuân Sinh, cựu sĩ quan, thương binh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, người đã có nhiều bài viết từ thập niên 1960, đã đoạt giải nhất về sáng tác thơ toàn thành phố Đà Nẵng lúc ông còn đang là học sinh Trung học.

Xin phép được dùng danh xưng “tác giả” hoặc “cây viết” vì tác giả Phan Xuân Sinh không tán thành danh xưng “văn sĩ/nhà văn” hay ”thi sĩ/nhà thơ” mà nhiều nhà phê bình đã gọi ông. Trong khuôn khổ giới hạn của Lá Thư Houston kỳ này, chúng tôi xin tường trình những nét nổi bật nhất về cây viết Phan Xuân Sinh. Mời qúy bạn đọc vào hai trang web www.phanxuansinh.net

www.phanxuansinh.com

để có thêm nhiều chi tiết rất thú vị.

Những tác phẩm chính của Phan Xuân Sinh (PXS) đã xuất bản có thể lược kê như sau:

Về văn xuôi: BƠI TRÊN DÒNG NƯỚC NGƯỢC,

SỐNG VỚI THỜI QÚA VÃNG, …

Về văn vần: KHI TÌNH ĐANG RU ĐỜI,

ĐỨNG DƯỚI TRỜI ĐỔ NÁT, …

Ngoài ra, tác giả PXS còn có nhiều bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau, đã đăng rải rác trên các nhật báo hay tạp chí, đặc san, từ trước năm 1975 ở VNCH và sau 1975 ở hải ngoại.

Một giáo sư đại học Mỹ là Tiến sĩ Christian G. Appy đã phỏng vấn tác giả PXS và đăng bài trả lời trong cuốn sách PATRIOTS, The Vietnam War Remembered From All Sides, Trang 25-27, Nhà Xuất bản Viking trong hệ thống Penguin Group, Inc., New York, năm 2003.

Trong một Lá Thư Houston trước đây chúng tôi có trích dẫn bài trả lời này của tác giả PXS thật là đầy tình tự dân tộc với phát biểu trung thực, ngay thẳng, không cộng sản mà cũng không giả hiệu quốc gia để trục lợi trên xương máu của binh sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà.

Tiếc thay, một đôi người hẹp hòi, bè phái, qúa khích, đã có ác ý xuyên tạc thiện ý của tác giả PXS. Với tư cách là một bạn đọc khách quan, công bình, chúng tôi xin mạn phép nói thẳng rằng tác gỉa PXS là một cây viết yêu nước chân chính, đích thực, là một người Quốc Gia thật sự trong sáng.

Bây giờ mời qúy bạn đọc báo Văn Nghệ Tiền Phong xem bài bình phẩm về cuốn ĐỨNG DƯỚI TRỜI ĐỔ NÁT của Phan Xuân Sinh.

NguồnNguyễn Hàn Chung: Chim bỏ đàn xa xứ ôm nỗi nhớ tàn phai
By HoangHac • Mar 21st, 2011 • Category: Giới Thiệu Tác Giả & Tác Phẩm

Có người cho rằng mạch thơ trong Đứng dưới trời đổ nát của Sinh ít tung tẩy chữ nghĩa như một số bài thơ của anh sau này.Tôi không nghĩ thế ,đọc hết tập thơ ráng căng con mắt thấu thị nhìn vào trong vỉa từ thơ anh tôi cảm thấu trong nội hàm ẩn chứa nhiều phong vị .Trước tiên là phong vị cổ thi’’ta.Trời tây mỏi mắt-người Trời đông chau mày-hai phương mà như một –nào đâu người có hay’’(bên kia nỗi nhớ).Tứ thơ với những hình ảnh ước lệ ngựa hồ ,đất khách cố xứ ,chân mây sẽ khá cũ càng nếu anh không có những câu thơ khải truyền cho từ một tải trọng đời sống huyết tận ‘’khẽ chạm vào huyệt lộ-bỗng dưng người mất tăm’’’’bóng đè lên thân phận –ta đang chiêu hồn ai?).

NguồnNguyễn Hàn Chung: Chim bỏ đàn xa xứ ôm nỗi nhớ tàn phai
By HoangHac • Mar 21st, 2011 • Category: Giới Thiệu Tác Giả & Tác Phẩm

Đắm mình trong nguồn mạch văn chương khí khái hào sảng ngày trước 1975 anh có những bài thơ thấm đẫm hào khí, ngôn từ trong thơ nhắm vào đối tượng với tư cách ngôn từ thông thường ít nhiều còn mang tính tượng trưng nhưng mê đồ chữ nghĩa đã biến dị hiển lộ bản sắc cá nhân với những luận chứng ,luận cứ làm cơ sở của xúc cảm khẳng định lý tưởng hoài bão ôm ấp của mình (hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(một đoạn cho Kiều )(gặp lại bạn ta).Những bài thơ ngóng vọng cố hương của PXS theo tôi đã đạt tới cảnh giới thơ khả thơ phi thường thơ bởi lòng anh và hình tượng thơ đã hòa mạch vào nhau nói như lời Kim Thánh Thán ‘’chỗ mà lòng tới rồi bút bất tất phải tới nữa’’ .Ta hãy nhâm nhi vài ly chữ của Sinh“nửa đêm còn vọng tiếng ai-nghe oan hồn khóc bên tai rã rời-giật mình chỉ biết ngậm ngùi-
làm sao chia bớt với người nỗi đau’’(bay qua đời khói sương)
Câu thơ cuối cùng kết tứ cho đọan thơ dường như vô hình trung đã vận, đã mắc vào đời anh với niềm trăn trở làm sao gánh vác bớt nỗi đau bè bạn ‘’chìm sâu ngàn trùng’’ hoặc ‘’lây lất khốn cùng bến mê’’.(Và theo như tôi biết từ khi anh còn lăn lóc chốn chợ trời cố xứ hay sau khi lăn lộn kiếm được chút của nả xứ người bao bè bạn quê nhà đã được anh cưu mang ,đùm bọc mà anh giống như bậc hành giả dù viết cả một tập truyện ký mang mang hồi ức anh vẫn kín tiếng không hề thố lộ cùng ai)

Một số bài thơ trong ba tập thơ của anh nói như lời nhà thơ Trần Doãn Nho trong bài Vài suy nghĩ về ”sống với thời quá vãng’’ ‘’đã đi vào lòng độc giả với cái chất hiện thực chan hòa trong lối lý sự rất riêng ‘’cái lối lý sự giận dỗi lửa rơm mà hầu như bất cứ ông nhà thơ Quảng Nam kim cổ nào không mắc cũng là mang:‘’muốn may miệng những thằng láu cá-Bợ đỡ tung hô kẻ bất tài ‘’ ‘’khàn hơi chỉ mặt đứa gian manh-bán đứng anh em chơi trò lừa lọc-núp sau lưng đoạt cuộc tranh giành’’ Giận phường bội bạc , ngòi bút anh tung hoành rót về tứ phương để trút cơn phẫn hận chứ ngoài đời anh rất hiền, bạn bè chỉ thấy một PXS chưa hề nặng lời với ai kể cả những kẻ không ra gì…
Những bài thơ viết về vợ của anh rất chân thật và cảm động bởi nó không màu mè dối trá như một số nhà thơ khác .Hơn ai hết anh cảm thấu người bạn đời
là người ‘’cắn răng chịu đời khổ tận –u uất trong lòng-đắng cay chồng chất’’để ông nhà thơ tự thú ‘’ hư thân, bạt mạng ,cuồng ngông, hoang đàng’ ’lao tâm khổ tứ chơi cái trò phụng hiến con chữ mà con chữ hỡi ơi vĩnh viễn hay phù du nào ai biết ai hay.Mảng thơ viết về bạn của anh dàn trải trong nhiều bài thơ ‘’chén rượu tạ lòng bạn hiền-gặp lại bạn ta-nói chuyện với bạn hiền …’’thật sự bộc tỏ lòng anh với bạn’’ ta gióng chuông kêu lên tức tưởi-những oan hồn vất vưởng đâu đây-âm dương .cùng ngồi chung manh chiếu-bạn,thù .chia nhau chén rượu đầy..(nói chuyện với những bạn hiền )
Thơ PXS đặc dị ở chỗ có những câu anh viết rất trụi trần không câu nệ ngôn ngữ toàn dân hay khẩu ngữ nhưng vẫn có tính hàm súc cao,từng câu đều có tính độc lập nội tại, nhiều câu có chiều hướng hướng tới tính chất và cấu trúc của những cách ngôn(hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(đêm nằm nhớ Ức Trai)(nói chuyện với những người sinh vào thiên kỷ mới).
Đứng dưới trời đổ nát của PXS dù vẫn chưa thoát ra mô tip thơ ngất ngây hào khí vang bóng của lớp trai thời loạn một thời nhưng trong thơ anh trời đổ nát đã tái sinh với những hình tượng huyễn tưởng đan cài .Đọc thơ anh không chỉ những tên đồng thị thiên nhai luân lạc nhân , suốt đời vật vã- chạy vòng quanh kiếm tìm trên bước đời lưu lãng chúng ta hắt hiu lòng vọng nhớ những Giếng Bộng,Đò Xu cũ càng,một Cầu Vồng dốc ngược, bến phà Hà Thân đã chết mà những bè bạn quê nhà những kẻ đầu non cuối chợ,búa rìu bổ lên đầu lên cổ cũng tìm trong bóng chữ trong thơ PXS một chút bóng dáng an ủy
trong những năm tháng cuối đời.
Cái tài tình của nhà thơ Phan Xuân Sinh trong tập thơ Đứng dưới trời đổ nát là tuy vẫn bám vào các thể loại cấu trúc của truyền thống cũ nhưng lại nhằm vào những tầng sâu hơn của truyền thống để can dự vào các đề tài vĩnh cữu :tình yêu,quê hương, cái chết ,nỗi đau, niềm tin ,chiến bại… Và một điều đáng để những ai yêu quý thơ PXS lưu tâm là bất cứ dự cảm nào trong hình tượng thơ anh cũng bộc tỏ phong cách rất riêng của người nghệ sĩ không lẫn vào bất cứ nhà thơ hải ngoại nào .Phải chăng đây chính là bản lai chân diện mục của hồn thơ Phan Xuân Sinh!..
Viết tại Lầu Cây khế -Houston Texas
Tác giả:
Nguyễn Hàn Chung
Tháng 10/2009

Và sau đây là quan niệm về THƠ của tác giả PHAN XUÂN SINH:

QUAN NIỆM VỀ THƠ

Phan Xuân Sinh
trả lời Lê Bảo Hoàng

Câu hỏi thật đơn giản mà cũng thật khó. Khi chưa có ai đặt cho tôi câu hỏi nầy, thì trong đầu tôi “chẳng có quan niệm” gì cả, thơ miễn sao làm cho hay thì được rồi. Thế nhưng cái khó của người làm thơ là làm sao mình biết được thơ mình hay? Một nhận định khách quan thường phải do người đọc nhận xét. Tâm lý chung chung người làm thơ nào dù mới chập chững, cũng đều cho rằng thơ của mình thuộc thiên hạ đệ nhất. Không thể nào dở được, nếu ai chê thì người đó ganh ghét, hoặc lòng dạ hẹp hòi. Chứ mình thì không thể nào chấp nhận thơ mình dở được. Cái mâu thuẩn đáng ghét đó chính là cái nguyên nhân tạo nên những nhà thơ, họ lầm lì sáng tác, chai mặt sáng tác, bất kể búa rìu dư luận. Bài thơ sau hay hơn bài thơ trước, bước đi lúc đầu chập chững, nhưng về sau vững vàng. Họ làm mãi, trau chuốt dần dần, sửa tới sửa lui, câu kéo không còn lòng thòng mà trở thành cô đọng. Ðúng là văn ôn võ luyện. Thơ không thuộc loại tuyệt phẩm, thì ít ra cũng thuộc loại hay. Sự thành công của những người nầy, rất ít trong giới cầm bút. Những người làm thơ hay phần đông họ có năng khiếu. Bài thơ của họ chào đời được đón nhận ngay. Họ được ưu đãi và trọng vọng.

Tôi không thuộc vào hai lớp người trên, không có cái khiếu làm thơ, khi đọc thơ của thiên hạ tôi thấy những điều tôi nghĩ, họ đã nói giùm tôi hết rồi, mà lại nói hay hơn những điều tôi nghĩ. Tôi không nhẫn nhục can đảm ngồi lì để trau chuốt từng chữ, từng ý, như những người không có năng khiếu nhưng biết học hỏi, biết nhận thức. Nên tôi ngại không dám viết. Trong đời sống thường nhật không dễ gì đọc được những bài thơ vừa ý, số nầy ít ỏi quá. Thường thì đọc các bài thơ lẩm cẩm thì nhiều. Buồn tình tôi ngồi làm thơ cho mình tự đọc chơi, dần dần trở thành thói quen. Tôi thì làm thơ “phang” đại, tới đâu thì tới, không giống ai hết. Nói lên cái ý của mình muốn nói. Gửi gấm chút tâm sự, chút lòng mình ao ước. Nên thơ tôi cục mịch, chữ nghĩa rẻ rúng, không chắt lọc, không cao siêu. Thơ của tôi dành cho những người dễ dãi đọc chơi rồi bỏ qua. Còn đối với những người khó tính, thì họ không chấp nhận loại thơ như thế nầy. Loại thơ bình dân, không cân não, không trí tuệ.

Cho nên quan niệm về thơ của tôi cũng thật đơn giản. Thơ phải dễ hiểu, chữ dùng đơn giản, ý thơ đâu đó rõ ràng. Tôi biết thơ mà như vậy thì không “thơ mộng” chút nào. Thế nhưng quen rồi không đổi được, cái quan niệm cổ lỗ sỉ nầy đã trở thành một cái rãnh quá sâu, không sao khỏa lấp được. Kính mong quí độc giả lượng thứ cho.

Ðối với tôi thói quen thì có, còn kinh nghiệm thì không. Bởi lẽ làm thơ đối với tôi như một trò chơi, một trò chơi không cần phải có đối thủ hoặc người đồng hành. Sống ở nước người tìm một người chơi những trò chơi khác với mình thì quá khó, ai cũng bận bịu công chuyên, chưa đến tuổi hưu trí để ngồi tán gẫu cả ngày. Thôi thì chơi thơ vậy. Tôi chỉ còn chập chững, chưa có chút kinh nghiệm nào khi làm thơ, cho nên không tiện đề cập đến cái “kinh nghiệm”. Thói quen thì như thế nầy, không biết có nên gọi là thói quen hay không? Khi công việc bề bộn, thì tự nhiên muốn làm thơ. Mấy người bạn của tôi hay nói đùa rằng ” đó là lý do trốn tránh công việc”. Còn tôi thì cho rằng căn thẳng với công việc, nên “thơ” tự nhiên đến để làm thư giản tinh thần, nếu không có thơ chắc điên mất. Trước đây tôi có một hiệu buôn nhỏ, bên cạnh máy tính tiền tôi đứng, bao giờ tôi cũng đặt sẵn một tờ giấy trắng và một cây bút. Khi khách vừa vắng vắng là tôi làm được vài câu thơ. Thế là tôi đi ngược với anh Luân Hoán, đọc ở đâu đó lâu rồi chị Lý vợ anh thổ lộ cho biết, anh Luân Hoán khi làm thơ nằm trên giường. Còn tôi thì làm thơ phải đứng. Nói cho vui vậy chứ tôi chẳng có thói quen nào hết, lúc ngồi trên xe đậu ở parking chờ vợ đi chợ, chẳng biết làm gì lấy viết làm vài câu thơ để đó. Vài tháng sau vô tình tìm được móc ra làm tiếp. Vài ba tháng có khi không làm được bài thơ nào, nhưng cũng có lúc một tháng làm được vài bài. Tôi lái xe mà miệng lấp nhấp là bà xã tôi biết tôi đang bị thơ hành, bà vội vàng lấy tập vở ghi một vài câu tôi đọc. Nửa đêm ngủ không được, nhè nhẹ ra ngoài phòng khách ngồi làm thơ, nhiều khi chẳng rặng ra được câu nào. Thơ thì làm nhiều, nhưng vài ba ngày đọc lại thấy không giống ai đành xé bỏ, số lượng xé bỏ nhiều hơn gấp bội số lượng giữ lại. Một năm chỉ được vài ba bài trình làng xóm cho vui, cho nên tôi rất phục những người làm thơ nhanh và nhiều. Ngoài chuyện làm thơ, thỉnh thoảng tôi cũng hay viết truyện, tùy bút v.v… Có lẽ viết văn xuôi dễ dàng hơn làm thơ. Thơ đòi hỏi phải có cảm hứng thì mới làm được, còn văn thì không cần điều nầy. Hình thành được cốt truyện trong đầu, thì bất cứ lúc nào đặt bút xuống cũng viết được.

Phan Xuân Sinh

Kính chào tạm biệt qúy bạn đọc, và xin hẹn tái ngộ trong LÁ THƯ HOUSTON kỳ tới.

Đào Phan Lưu

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

CHIM BỎ ĐÀN XA XỨ ÔM NỖI NHỚ TÀN PHAI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Ba 21, 2011

Nguyễn Hàn Chung: Chim bỏ đàn xa xứ ôm nỗi nhớ tàn phai
By HoangHac • Mar 21st, 2011 • Category: Giới Thiệu Tác Giả & Tác Phẩm

(nhân đọc tập thơ Đứng dưới trời đổ nát của Phan Xuân Sinh)

Có người cho rằng mạch thơ trong Đứng dưới trời đổ nát của Sinh ít tung tẩy chữ nghĩa như một số bài thơ của anh sau này.Tôi không nghĩ thế ,đọc hết tập thơ ráng căng con mắt thấu thị nhìn vào trong vỉa từ thơ anh tôi cảm thấu trong nội hàm ẩn chứa nhiều phong vị .Trước tiên là phong vị cổ thi’’ta.Trời tây mỏi mắt-người Trời đông chau mày-hai phương mà như một –nào đâu người có hay’’(bên kia nỗi nhớ).Tứ thơ với những hình ảnh ước lệ ngựa hồ ,đất khách cố xứ ,chân mây sẽ khá cũ càng nếu anh không có những câu thơ khải truyền cho từ một tải trọng đời sống huyết tận ‘’khẽ chạm vào huyệt lộ-bỗng dưng người mất tăm’’’’bóng đè lên thân phận –ta đang chiêu hồn ai?).
Đắm mình trong nguồn mạch văn chương khí khái hào sảng ngày trước 1975 anh có những bài thơ thấm đẫm hào khí, ngôn từ trong thơ nhắm vào đối tượng với tư cách ngôn từ thông thường ít nhiều còn mang tính tượng trưng nhưng mê đồ chữ nghĩa đã biến dị hiển lộ bản sắc cá nhân với những luận chứng ,luận cứ làm cơ sở của xúc cảm khẳng định lý tưởng hoài bão ôm ấp của mình (hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(một đoạn cho Kiều )(gặp lại bạn ta).Những bài thơ ngóng vọng cố hương của PXS theo tôi đã đạt tới cảnh giới thơ khả thơ phi thường thơ bởi lòng anh và hình tượng thơ đã hòa mạch vào nhau nói như lời Kim Thánh Thán ‘’chỗ mà lòng tới rồi bút bất tất phải tới nữa’’ .Ta hãy nhâm nhi vài ly chữ của Sinh“nửa đêm còn vọng tiếng ai-nghe oan hồn khóc bên tai rã rời-giật mình chỉ biết ngậm ngùi-
làm sao chia bớt với người nỗi đau’’(bay qua đời khói sương)
Câu thơ cuối cùng kết tứ cho đọan thơ dường như vô hình trung đã vận, đã mắc vào đời anh với niềm trăn trở làm sao gánh vác bớt nỗi đau bè bạn ‘’chìm sâu ngàn trùng’’ hoặc ‘’lây lất khốn cùng bến mê’’.(Và theo như tôi biết từ khi anh còn lăn lóc chốn chợ trời cố xứ hay sau khi lăn lộn kiếm được chút của nả xứ người bao bè bạn quê nhà đã được anh cưu mang ,đùm bọc mà anh giống như bậc hành giả dù viết cả một tập truyện ký mang mang hồi ức anh vẫn kín tiếng không hề thố lộ cùng ai)

Một số bài thơ trong ba tập thơ của anh nói như lời nhà thơ Trần Doãn Nho trong bài Vài suy nghĩ về ”sống với thời quá vãng’’ ‘’đã đi vào lòng độc giả với cái chất hiện thực chan hòa trong lối lý sự rất riêng ‘’cái lối lý sự giận dỗi lửa rơm mà hầu như bất cứ ông nhà thơ Quảng Nam kim cổ nào không mắc cũng là mang:‘’muốn may miệng những thằng láu cá-Bợ đỡ tung hô kẻ bất tài ‘’ ‘’khàn hơi chỉ mặt đứa gian manh-bán đứng anh em chơi trò lừa lọc-núp sau lưng đoạt cuộc tranh giành’’ Giận phường bội bạc , ngòi bút anh tung hoành rót về tứ phương để trút cơn phẫn hận chứ ngoài đời anh rất hiền, bạn bè chỉ thấy một PXS chưa hề nặng lời với ai kể cả những kẻ không ra gì…
Những bài thơ viết về vợ của anh rất chân thật và cảm động bởi nó không màu mè dối trá như một số nhà thơ khác .Hơn ai hết anh cảm thấu người bạn đời
là người ‘’cắn răng chịu đời khổ tận –u uất trong lòng-đắng cay chồng chất’’để ông nhà thơ tự thú ‘’ hư thân, bạt mạng ,cuồng ngông, hoang đàng’ ’lao tâm khổ tứ chơi cái trò phụng hiến con chữ mà con chữ hỡi ơi vĩnh viễn hay phù du nào ai biết ai hay.Mảng thơ viết về bạn của anh dàn trải trong nhiều bài thơ ‘’chén rượu tạ lòng bạn hiền-gặp lại bạn ta-nói chuyện với bạn hiền …’’thật sự bộc tỏ lòng anh với bạn’’ ta gióng chuông kêu lên tức tưởi-những oan hồn vất vưởng đâu đây-âm dương .cùng ngồi chung manh chiếu-bạn,thù .chia nhau chén rượu đầy..(nói chuyện với những bạn hiền )
Thơ PXS đặc dị ở chỗ có những câu anh viết rất trụi trần không câu nệ ngôn ngữ toàn dân hay khẩu ngữ nhưng vẫn có tính hàm súc cao,từng câu đều có tính độc lập nội tại, nhiều câu có chiều hướng hướng tới tính chất và cấu trúc của những cách ngôn(hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(đêm nằm nhớ Ức Trai)(nói chuyện với những người sinh vào thiên kỷ mới).
Đứng dưới trời đổ nát của PXS dù vẫn chưa thoát ra mô tip thơ ngất ngây hào khí vang bóng của lớp trai thời loạn một thời nhưng trong thơ anh trời đổ nát đã tái sinh với những hình tượng huyễn tưởng đan cài .Đọc thơ anh không chỉ những tên đồng thị thiên nhai luân lạc nhân , suốt đời vật vã- chạy vòng quanh kiếm tìm trên bước đời lưu lãng chúng ta hắt hiu lòng vọng nhớ những Giếng Bộng,Đò Xu cũ càng,một Cầu Vồng dốc ngược, bến phà Hà Thân đã chết mà những bè bạn quê nhà những kẻ đầu non cuối chợ,búa rìu bổ lên đầu lên cổ cũng tìm trong bóng chữ trong thơ PXS một chút bóng dáng an ủy
trong những năm tháng cuối đời.
Cái tài tình của nhà thơ Phan Xuân Sinh trong tập thơ Đứng dưới trời đổ nát là tuy vẫn bám vào các thể loại cấu trúc của truyền thống cũ nhưng lại nhằm vào những tầng sâu hơn của truyền thống để can dự vào các đề tài vĩnh cữu :tình yêu,quê hương, cái chết ,nỗi đau, niềm tin ,chiến bại… Và một điều đáng để những ai yêu quý thơ PXS lưu tâm là bất cứ dự cảm nào trong hình tượng thơ anh cũng bộc tỏ phong cách rất riêng của người nghệ sĩ không lẫn vào bất cứ nhà thơ hải ngoại nào .Phải chăng đây chính là bản lai chân diện mục của hồn thơ Phan Xuân Sinh!..
Viết tại Lầu Cây khế -Houston Texas
Nguyễn Hàn Chung
Tháng 10/2009

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

MỘT THOÁNG MƠ VỀ PHAN XUÂN SINH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 5, 2010

Kính tặng riêng về cho sư huynh PhanXuanSinh…

Một thoáng mơ về PhanXuanSinh…

Đoạn mở đầu trong bài “Lắng đọng một thời với những hồn thơ Saomai”, tôi đã có viết: “Trong những hồn thơ SaoMai mà tôi đã từng chiêm ngắm trên văn đàn saomaidanang.com (kể cả khungtroisaomai.com) thì hồn thơ nào cũng có những nét lắng đọng và ưu tư riêng biệt… Chúng ta có thể đề cập đến với những thi nhân SaoMai như: (ngoại trừ những vần thơ của Thầy Trần Hoan Trinh, PhanXuanSinh là những bậc đại thụ của làng thơ SaoMai…) TranVietHung, NguaChung, NuTamXuân, HaVang, BuiMai, AnhChanDai, CauĐen, MinhTamLe, ThanhBinhDN, Hòang Thủy Biển, HồnThy, LeLoc, NguyênVânThiên, HôMai, HạNguyên, MinhMộng, TháiNgô, Tuyết Nhung, PTH, PhongLanXanh, KimChi, PhaLe, TocTrang, NữSinh, HạcGiấy, NgòGai, TuLip, HồngGai, Ng3, VyVy, TieuLongNu, BuiDieu, TranLaNet, ThisiĐatinh, SongNam, NamTuyên, Angel, TSL, td, Misa, KimAnh, CungQuang, VuTamNamĐinh, TonThatPhuSi…. Thì đây là những tâm hồn một khi thả hồn vào cõi mộng thơ ca thì phải thú nhận rằng: Đây là những con người mang nặng những trái tim ưu tư muôn thưở…”

Tôi sẽ không dám đề cập đến những bậc “Đại phu” như Luân Hoán, Vương Trùng Dương, Nguyễn Đình Tòan, Lương Thư Trung, Phạm Thành Tính, Nguyễn Mạnh Trinh; hoặc với Vĩnh Hảo, Trần Yên Hòa… nhưng sư huynh PhanXuanSinh đối với văn đàn SaoMai thì cũng là một trong những bậc Đại thụ thượng lưu” với tất cả những người con nhà mẹ này. Tôi còn nhớ nhân ngày Kỷ niệm 50 năm họp mặt Hội Ái hữu học sinh Trường SaoMai tại đất khách ngày 26/9/2009; PhanXuanSinh đã xuất hiện như một vị đại thượng khách khi trao tặng cho tất cả quý thầy cô và các khóa đàn em tác phẩm: Sống với thời quá vãng… Chợt nhiên tôi cảm thấy “thèm khát” như con nai mơ về một dòng suối… Không phải tôi đang hồi ức và tìm về một khung cảnh nồng ấm nghĩa tình của ngày họp mặt Hội Cựu Học sinh của trường cũ ? mà tôi cảm thấy như mình đang

Sư huynh PhanXuanSinh – Sống với thời quá vãng của ngày 26/9/2009 tại đất khách…

còn bơ vơ ngoài dọc đường gió bụi chưa tìm về được với mái nhà xưa để được “vinh dự lật lại từng trang sách” trong tác phẩm của sư huynh; nhưng mà thôi… phía ngoài kia còn dọc đường lắm phong ba, dẫu sao mình cũng còn thấy được một tác phẩm có tính chất văn học. một lĩnh vực mà tôi “rất ưa thích” trong quãng đời còn lại này… mãi cho đến bây giờ thì tôi cũng được hân hạnh chiêm ngắm gần hết tác phẩm ấy. Khi nói về PhanXuanSinh, có thể tôi sẽ gọi bằng thầy, bậc sư phụ, bậc trượng phu đối với làng văn SaoMai của ngày hôm nay. Trên văn đàn SaoMai, chúng tôi rất ít khi được gặp và diện kiến với khía cạnh văn học của PhanXuanSinh, nhưng về sau tôi đã được từ từ thấy rõ cái nghiệp văn chương của sư huynh, và từ cõi văn chương đó tôi đã hiểu ra được về thân thế của sư huynh… Hôm nay khi tôi ngồi ôn lại về cho sự nghiệp của một bậc trượng phu mà tôi đã sủng ái – sau loạt bài Lắng đọng một thời với những hồn thơ SaoMai… tôi đã đề cập rất nhiều về cho những thi nhân của SaoMai – phải nói nhiều và nhiều; những hồn thơ SaoMai thật phong phú và chân thực, có những cõi mơ nhưng chưa xa lắm, có những lắng đọng nhưng chứa đựng lắm ân tình, có những suy tư nhưng không bi lụy, hồn thơ SaoMai mang đầy tính thực chất của những con người… Nhưng với sư huynh PhanXuanSinh một yếu nhân mà tôi đã đề cập ngay từ đầu là một bậc trượng phu, đại thụ của văn đàn SaoMai. Và hôm nay, bắt đầu một đêm dài của mùa hạ quê nhà, bên khói thuốc hẵn như che phủ đi một phần đời – để rồi tôi nhìn xuyên qua đó với những tâm tình của tôi về sư huynh đã trải dài lên những trang giấy – chính tôi đã thấy được cả một khung trời bao la nhiều say đắm mà chính sư huynh đã lần lượt cho qua trong cuộc đời những ưu tư và muộn phiền cho một kiếp người – hầu như không hơn không kém…

Nếu tuyệt tác Khi tình đang ru đời mà sư huynh đã trải lên đó những tâm tư của một thời son sắt của cái thưở hàn vi, cái thưở hàn vi nhưng có những cơn sóng gió trong những thi phẩm mà sư huynh đã thai nghén và cho ra đời… thì Sống với thời quá vãng – nó sẽ ngược lại với những nét hồn nhiên và mộng mị của một làng quê êm ả; những thăng trầm trong cuộc sống, những muộn phiền của tác giả khi đã cất bước vào đời với nỗi sầu muộn trên đôi vai gầy, trong sầu muộn đó sư huynh không cất lên tiếng khóc và than oán như Lữ Tùng Anh, không kêu than thảm thiết như Nguyễn Trọng Trí, không si tình như Xuân Diệu… mà trong những sầu đắng của sư huynh đã cho người đời thấy rằng: một kiếp người đang chịu lụy trần ai với những cơn mưa gió, với những sấm sét của thời thế, với những cô đơn của tình yêu, với những nỗi buồn cho bạn bè, cho trường xưa và quan trọng hơn cả là một bi quan nhân thế cho một đời… để rồi hình như một phần thân thể của sư huynh đã được gửi lại trong lòng đất mẹ ngày hôm nay…

PhanXuanSinh – nếu so với những bậc “sư phụ tổ trượng phu tử” như Luân Hoán, Vương Trùng Dương, Nguyễn Đình Tòan, Lương Thư Trung, Phạm Thành Tính, Nguyễn Mạnh Trinh…. Thì có lẽ là một chín một mười, so tài ai hơn ai, không phải với tất cả những bậc thầy nêu trên mà tôi đã đề cập thì sư huynh PhanXuanSinh ở lại phía sau – Không – không phải thế! Mà tôi nghĩ rằng với vai vế trong làng văn hôm nay sư huynh có thể được “ngồi với chiếc ghế ngang hàng với những bậc thầy nói trên… Khi đề cập với Sống với thời quá vãng… mà tôi đã đọc được, đây là một hồi ký ghi lại những kỷ niệm của sư huynh sau khi sư huynh đã cất từng bước độc hành trên cõi giang hồ văn nghiệp… tôi nhận thấy những chuyện tình, những tình bạn của sư huynh thật đáng trân trọng, những người con gái trong bài, ngoài cái chuyện đó là những con người thật, sư huynh còn cho chúng ta thấy “một đời đắng cay” và đáng thương kia với một niềm cảm thông sâu đậm nhất – đời là thế – còn lắm những gian truân và gập ghềnh mà con người phải gánh chịu, cái số kiếp mà ông Trời đã định cho mỗi con người chúng ta là như thế; phải gánh chịu như thế; chịu chung một số phận như thế và chính sư huynh hình như cũng nằm trong chiếc thuyền định mệnh đó… Bất chợt chúng ta hãy cùng nghe sư phụ Nguyễn Hàn Chung cũng đã nói lên cùng với sư huynh:

…..Sống với thời quá vãng không đồ sộ hoành tráng mang tính sử thi nhưng ngồn ngộn chi tiết hiện thực sống động. Bất kỳ loại thể văn học nào anh đều đào sâu suy tư tìm hiểu, khai phá các vấn đề lịch sử, dân tộc, con người. Những nhân vật của anh được đặt trong mối liên hệ phối thuộc trong quá trình tác giả và nhân vật tham dự một cách tích cực .Đôi lúc đọc văn anh dường như người đọc cảm được cái giọng Quảng ngay thật mà riết róng, nỗi phẫn nộ cố kìm nén mà vẫn bật thoát ngoài con chữ (Cơn đau không dứt, Một giai đoạn ngậm ngùi). Ta thấy rõ anh không chuyên chú làm văn chương, mục đích của anh là nhặt và phơi những đoạn đời, những mảnh vụn xa khuất làm chất xúc tác cho người đọc. Người có tuổi tìm trong hồn chữ mênh mang những niệm khúc ngày quá vãng, người tuổi trẻ sinh sau đẻ muộn có thể hiểu được nỗi lòng bạch đầu bi phẫn cha ông. Nhưng cũng chính vì không chuyên chú làm văn chương tự thân những mảnh vụn ngậm ngùi anh kể lại bất chiến tự nhiên thành đã là văn chương đích thực bởi văn chương nào lại không đánh động trái tim con người. Trong nhiều truyện hoặc bút ký anh ráng làm ra vẻ khách quan tỉnh táo khi kể, tả tình tiết diễn biến câu chuyện nhưng đàng sau những câu chữ ngỡ như trung tính ấy người tinh mắt sẽ mau chóng nhận ra trái tim dịu dàng nhân hậu tràn đầy yêu thương nhân ái của một nhà thơ (Khi con đường không lối thoát) (Một niềm vui). Bút pháp anh sử dụng trong hầu hết các truyện và bút ký mang đậm chất hiện thực, ở một đôi bài tính chính luận xen kẽ với hiện thực phô bày cảnh và người sống động đậm nét trong lần quy cố hương của anh (Sống với thời quá vãng). Ngôn ngữ đối thoại trong văn anh là kiểu trò chuyện giản dị, đậm tính phương ngữ thỉnh thoảng ta còn bắt gặp lối độc thoại nội tâm dẫn dắt người đọc đồng cảm với anh về cách hành xử của các đối tượng được anh đề cập trong tác phẩm Gió bụi một thời ) – Nhặt lại những mảnh vụn.

Có thể nói Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh là một bức tranh chân thực về lịch sử, con người một thời, tái hiện sắc nét chiều sâu tâm tư của tác giả. Cảnh và tình người cũ và người mới, chiến thắng và chiến bại rốt cục trước niệm thiên địa chi du du vô chung vô thủy của thời gian cũng chỉ là những mảnh vụn chìm sâu trong ký ức. Tác giả nâng niu gìn giữ nó để người đời sau còn biết có gió bụi một thời rót về phương mô. Anh Trần Doãn Nho đã nghĩ chín, anh Lương Thư Trung đã ghi sâu về cái đẹp, cái đáng trân trọng của Sống với thời quá vãng. Riêng tôi, cũng như các anh các chị đến dự buổi ra mắt sách của Phan Xuân Sinh với tư cách độc giả, tôi chỉ làm một việc dễ hơn hai anh nhiều: Phát biểu cảm nghĩ cá nhân về những điều tâm đắc rút ra từ tập truyện. Còn chiều sâu tác phẩm, nội hàm ẩn tàng trong thi pháp tác phẩm còn chờ đợi nhiều ở sự thẩm bình của các anh chị văn thi hữu xa gần. Tôi khao khát quý vị hãy thâm nhập, chiếm lĩnh tác phẩm và chia sẻ với anh Sinh về đứa con tinh thần anh đã trăn trở, quặn thắt, tâm sự, giải bày từ một đời chiến chinh, thăng trầm, lưu lạc của chính anh mà cũng có thể của cả chúng ta…

Vì thế khi đề cập đến văn phẩm Sống với thời quá vãng của sư huynh, như đã nói ở trên – tôi đã được vinh dự diện kiến và chiêm ngưỡng trên văn đàn, chợt nhiên hình như niềm lạc quan của cá nhân tôi có phần khác biệt với sư phụ Hàn Chung, nhưng không phải hòan tòan – mà ngược lại chỉ có một vài điểm nhỏ mà thôi – Quá vãng – qua cái nhìn của sư phụ Hàn Chung có đôi điểm khác biệt với cái nhìn của tôi, nhưng chung quy lại khi đã “hóa đồng mẫu số” thì cũng chung một quan điểm như Hàn Chung đã nói: Có thể nói Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh là một bức tranh chân thực về lịch sử, con người một thời, tái hiện sắc nét chiều sâu tâm tư của tác giả. Cảnh và tình người cũ và người mới, chiến thắng và chiến bại rốt cục trước niệm thiên địa chi du du vô chung vô thủy của thời gian cũng chỉ là những mảnh vụn chìm sâu trong ký ức. Thế đấy và có thể Sống với thời quá vãng của sư huynh PhanXuânSinh đã cho mọi người nhận ra rằng: cuộc đời sẽ không bao giờ bằng phẳng mà ngược lại mỗi phần số con người đều tựu trung sẽ gặp phải những thăng trầm và gập ghềnh với cuộc sống…

Xin được trích lại một đoạn trong Sống với thời quá vãng của sư huynh mà tôi đã đọc được:

….Dù sao đi nữa khi viết về một thời quá vãng, xin tất cả các bạn một thời là nhân tình của tôi, nhận nơi đây một lời xin lỗi chân thật nói lên tận đáy lòng của mình, dù trước đây sự việc tan vỡ cuộc tình do tôi hay không phải vì tôi. Nhưng ít nhiều trong đó cũng có tôi đã hình thành nên sự việc. Bây giờ ở vào cái tuổi của chúng ta mới nhận ra được giá trị chân thật của tình yêu, thì mọi chuyện nó cũng đã lỡ làng, đã được Thượng Đế an bài không thể thay đổi được. Dù sống thế nào bài học về kinh nghiệm cuộc sống, lý lẽ của trái tim bao giờ cũng dễ thương và đáng trân trọng. Nhân nhìn về những người xưa cũ, bây giờ mình lại nhìn về chính mình. Đời sống vợ chồng cũng giống như chén bát trong chạn, ba hồi cũng đụng nhau làm sao tránh khỏi, có cải vã, có sóng gió, có bão táp nhưng chỉ trong tách trà. Sau những cơn địa chấn nhẹ đó mọi chuyện đâu vào đấy. Bao giờ vợ cũng kính nể chồng, chồng cũng thương yêu vợ, tương kính nhau để sống. Chính vì lẽ đó mà không thể tách rời nhau được. Không ai tài giỏi cả, chỉ ý thức được trách nhiệm và chỉ có nhường nhịn nhau, đó là đinh đoạt mái ấm của gia đình.

Rồi đây – Sống với thời quá vãng của sư huynh PhanXuanSinh – có thể nói sư huynh được nhẹ gánh trên cõi trần ai này, một khi sư huynh ấy đã giải bày được niềm tâm tư của chính mình trên những cánh nhạn để tung bay về những phương trời nào đó – những “người con gái” trong bài khi được đọc cũng sẽ mở những nụ cười cảm thông cho sư huynh vậy, với cái Tâm của mỗi chúng ta, nói về cõi duy linh nào đi nữa, thì đó cũng chỉ là một cõi hư không siêu hình; nhưng chỉ khác nhau ở chỗ là “cái bản ngã” trong chính của mỗi con người… Chỉ vậy thôi, với Phan sư huynh thì cũng thế – hy vọng rằng tất cả rồi cũng đi về một con đường, con đường mà do chính cái Tâm của chính mình đã được giải bày và trải nghiệm…

Một khi Sống với thời quá vãng đã qua đi một bước trên cuộc đời, Phan sư huynh hình như cũng đã còn phải “nhìn lại” cho chính mình, cho chính cuộc đời của sư huynh, để rồi sư huynh thấy được “những cảnh hoang tàn và đổ nát” – xin nhắc lại là ở đây chúng tôi chỉ được phép đề cập đến lĩnh vực văn học, khía cạnh nhân văn của những con người mang tính nhân văn trong một cõi văn chương thuần túy mà thôi… Biết bao nhiêu bậc thầy của làng văn xã hội, biết bao nhiêu cái nhìn của “nhiều nhân sinh quan riêng lẻ” về cho Phan sư huynh… Đó là rất nhiều cái nhìn có nhiều quan điểm khác biệt; những cái nhìn hiền hậu và trìu mến, những cái nhìn có vẻ châm chích, cũng có đôi khi những cái nhìn có tính chỉ trích khiếm khuyết… Ở đây với cá nhân tôi (NguyenNgocHai) thì tôi đã có cái nhìn về cho Phan sư huynh một cái nhìn đầy cảm phục và nhiều mến mộ… Tôi chỉ đề cập đến lĩnh vực văn học, không nhìn xuyên qua lĩnh vực chính trị, một nền văn học thuần túy của những con người bình dị và vô tư… đó là tập thi phẩm Đứng dưới trời đổ nát… Nói đến Đứng dưới trời đổ nát của Phan sư huynh, tôi có đọc qua nhiều thi phẩm chợt nhiên khi đang viết bài này tôi nhớ lại loạt bài Lắng đọng một thời với hồn thơ SaoMai… cái liên tưởng trong muôn vàn liên tưởng của những con người cầm bút và rất dễ lẫn lộn một khi ý tưởng cứ tuôn trào, nếu mình không khéo phân chia đẳng cấp và giới hạn thì sẽ lẫn lộn “cá mè một lứa” thì kết quả sẽ thế nào – Ở đây cũng giống như cái chủ đề mà tôi đã suy nghĩ và chọn lựa “mơ về PhanXuanSinh” vì thế cho dù là Lắng đọng một thời… thì ở đây cũng với Phan sư huynh “cũng là một thời” – một thời của những người con nhà mẹ hôm nay đã được phân cấp rõ ràng – không lẫn lộn với bút pháp của người viết….

Khi đề cập đến thi phẩm Đứng dưới trời đổ nát… mà cũng chính tôi đã được diện kiến và chiêm ngắm như ở phần trên với cái thời Quá vãng của Phan sư huynh, thì cái nhìn của tôi có lẽ khác biệt hơn với những cái nhìn của những bậc “trượng phu” mà tôi đã phân tích ở phần trên… cái đổ nát ở đây của Phan sư huynh (theo thiển ý của tôi) không phải là đổ nát vì chiến cuộc, vì đạn bom tàn phá, cái cảnh điêu tàn của những cuộc chiến… mà ở đây cái cảnh tượng đổ nát của Phan sư huynh là đổ nát của một thời trai trẻ, đổ nát của việc gãy gánh nữa chừng, đổ nát của những cuộc tình đã bỏ sư huynh mà đi…. (giống như chính tôi vậy). Hẵn nhiên chỉ về khía cạnh thi phẩm văn học – khi đã đọc qua các bài: Mờ phai, Lời bày tỏ cùng quê nhà, Giữa trời đất vật vã, Gặp người xưa giữa phố Boston, Gặp lại bạn ta, Gái Huế, Đêm nằm nhớ Ức Trai, Dấu xưa, Chút tình cho Huế, Cho người tình phụ, Chiều trên phố cũ, Chén rượu tạ lòng bạn hiền, Bên sông nhớ người, Bay qua đời khói sương, Tiếng Vạc kêu trong sương, Bài lục bát cho Danang, Thơ cho vợ hiền, Bên kia nỗi nhớ, nhưng với tôi – điểm đặc biệt là với bài thơ Uống rượu với người lính bắc phương, và bài Chân cầu nước chảy đã được phổ nhạc thành một bản tình ca như là muôn thưở của Phan sư huynh, và hình như đó là một chủ đề của sợi thương sợi nhớ của Phan sư huynh – không biết có đúng như thế không, nhưng với tôi cái nhìn chỉ thiển ý “sẽ là như thế”…

Bây giờ chúng ta “thử” đi vào phía trong cánh cửa Đứng dưới Trời đổ nát của Phan sư huynh – qua cái nhìn cảm nhận văn học…
____________________________________

Tình yêu – có thể nói là đề tài muôn kiếp của nhân sinh tất cả chúng ta, ai ai cũng phải có, yêu đương và say đắm trong những cuộc tình mà ai cũng có những lần được hưởng thụ, chỉ có những ai đang say đắm hạnh phúc trong tình yêu mới cảm nhận được tình yêu… Phan sư huynh đã định nghĩa chữ yêu vào một khía cạnh riêng lẻ của sư huynh, không ai giống như ai… với chúng ta chắc hẵn cũng thế…. Chỉ có hai chữ tình yêu – một điệp ngữ trong điệp khúc của cuộc sống của tất cả chúng ta, ai cũng yêu, và tình yêu của mỗi nhân sinh đều khác hẵn và rất khó định nghĩa được, như thế rồi cuối cùng chẳng có một định lý chung nào, nhưng ai cũng phải có được định nghĩa cho riêng mình trong tình yêu… Với Phan sư huynh cũng thế, tình yêu của sư huynh là những trầm tích, một chút bâng khuâng, những cái thở dài trong những cái nhìn, là những chiều nắng phai… cái nhìn của Phan sư huynh về cho tình yêu khác hẵn với tất cả những con người khác, tình yêu của sư huynh chắc hẵn cũng có những giờ hạnh phúc, có những phút đắm say… và Phan sư huynh cũng có cảm nhận được cho riêng mình như thế…. Hoặc định lý tình yêu của sư huynh khi “kết cuộc” của một sự đổ nát…. Có lẽ như thế sao??? Bởi vì xa em còn chút vấn vương bên lòng

ta bâng khuâng đứng bên đường
xa em còn chút vấn vương bên lòng
qua rồi bao nỗi bão dông
chuyện xưa trầm tích dưới dòng quạnh hiu
là đời vây phủ rong rêu
là em vàng võ bên chiều nắng phai
nhìn nhau chỉ để thở dài
gặp nhau chi để một mai ngậm ngùi
thì thôi em cố gượng vui
chút tình ngày cũ cố vùi lắng sâu
Mờ phai

Cũng trong tình yêu – cái tình yêu là cái chi chi của mỗi con người khi đang hưởng thụ trong cuộc sống, một đề tài bất biến của mỗi chúng ta; yêu nhau – hợp rồi tan… với Phan sư huynh cũng phải đón nhận một sự “đôi ngã chia ly” khi nhìn người yêu xa thẳm cuối chân trời, chuyện chia ly trong tình yêu là một lẽ thường tình, hầu như không ai mong muốn, nhưng cái gì nó đến rồi sẽ đến; chính Phan sư huynh cũng nhận thấy vết thương cũ, bỗng dưng ê ẩm vì chuyện gãy gánh của tình yêu mà – từ cổ chí kim, từ ngàn xưa cho đến bây giờ, chia ly là điều bất dịch trong tình yêu, cho dù ai cũng vậy, Phan sư huynh cũng vậy – cũng gãy gánh nữa chừng xuân với người tình… nhưng cây vẫn còn dấu chân chim – dễ gì quên được, nhưng người tình của Phan sư huynh cũng đàng ra đi và sư huynh cũng lặng thầm và nói lên lời cuối tạ từ cho tình yêu ấy… ai thế – người con gái nào cùng chung nhịp cầu với sư huynh nhưng cũng phải chịu gãy gánh nữa chừng, để lại cho Phan sư huynh chịu cảnh nữa đời hương phấn… rồi cuối cùng sư huynh cũng chết lặng thầm nhìn cái cảnh ly tan trong bóng hòang hôn ấy…

cơm áo làm ta chạy xuôi chạy ngược
em làm ta ngồi đứng không yên
giữa chợ đời tối tăm mày mặt
ta lầm lì thành bậc thánh hiền
đời chia ta thành từng ngã rẻ
những nhánh sông đâu dễ gặp nhau
mảnh tình vỡ trôi đi tứ tán
nước chảy qua cầu còn đọng vết đau
vẫn biết tình đi là tình hết
mà sao ta cứ mãi trông tìm
vết thương cũ, bỗng dưng ê ẩm
cây vẫn còn in dấu chân chim
mới hay đâu dễ gì quên được
em một thời dậy sóng đời ta
là để lại lưỡi dao oan nghiệt
cứa nát ta bằng êm ái mượt mà
rồi cũng lụy trên đường tình phiêu bạt
cũng héo hon ngày vỡ cuộc tình si
ta bấn loạn giữa triền sinh tử
em cứ ung dung dứt áo ra đi
thôi, như đã một thời phận bạc
một thời mang vết chém ngang lưng
chưa ngã xuống, tình kia cũng mất
nên nhìn đời theo những bâng khuâng
Cho người tình phụ

Trịnh Công Sơn đã một lần bên đời hiu quạnh, nhưng đời hiu quạnh của Trịnh chỉ nhìn đời với cái nhìn cô đơn mang đầy tính triết học trong cái nhân văn suy tư của một con người, của một nhân sinh quan đi vào một triết học, còn hiu quạnh của Phan sư huynh là một sự cô đơn khác với của Trịnh, cái hiu quạnh của Trịnh là ngồi đây để nghe một thoáng miên man, và thấy hương qua đời, còn cái hiu quạnh của Phan sư huynh là nhìn vào cuối chân trời để thấy “còn mình ta cô đơn” , cô đơn để tưởng nhớ một đời, mang trong lòng một chút buồn, một nỗi buồn bay theo chiếc lá, một chút buồn còn đọng lại một chút nhớ chút thương, một chút buồn nhớ về cho những con phố thân quen, nhớ về dòng sông còn chảy êm hiền hòa, một chút buồn nhưng vẫn còn chút gì xao xuyến ấy, ôn lại kỷ niệm của ngày xưa, cái hiu quạnh cô đơn của Phan sư huynh khác với hiu quạnh của chàng Trịnh mang tính triết học, hiu quạnh của sư huynh Phan là hiu quạnh của tiếc nhớ, của xao xuyến, của chân trời xa đã thành chân trời tím – một màu tím buồn thảm trong tình yêu mà Phan sư huynh đã âm thầm lặng nhìn cho tình yêu vụt bay… Tình yêu đó là tình yêu quê nhà, tình yêu non nước, tình yêu của những ngày thơ dại trong đời của sư huynh…

có một cái gì xôn xao rất lạ
để hồn ta bay theo lá vu vơ
chút buồn trong lòng. Chút hờn trong mắt
chút thương, chút nhớ. Chợt đến không ngờ
là muộn phiền theo tháng ngày trôi nổi
như dòng sông con nước cạn nguồn
bao khát khao mỏi mòn trông đợi
thành rêu phong trên chứng tích thật buồn
làm sao quên những ngày vừa mới lớn
mộng mị đan thành chiếc võng hương hoa
ta cũng biết ru những lời đường mật
cớ sao người cứ hay phụ lòng ta?
những đêm về ngồi đây nhớ tiếc
con đường xưa, phố cũ thân quen
bước chân ai đang đi vào ngõ vắng
xao xuyến lòng ta. Thao thức bao đêm
bến sông Hàn của những chiều lộng gió
tà áo tung bay vướng mắt ta nhìn
để lại trong lòng nhúm nhăn thương nhớ
mà với ta. Người rất đỗi vô tình
những tháng năm của thời binh lửa
phố cũng đắm chìm trong cảnh oan khiên
làm sao quên nhiều năm chinh chiến
dòng sông xưa chịu bao nỗi ưu phiền
giờ ở đây. Lòng se sắt lạnh
nhớ phố, nhớ người. Ðôi mắt long lanh
bên trời xa, bên đời hiu quạnh
chim lạc bầy, chim mỏi cánh tìm quanh
Lời tỏ bày cùng quê nhà

Nếu ai đó nhìn đời bằng một sự bi quan và vô vọng, nếu ai đó khi chạm phải một biến cố gì trong đời thì có được niềm lạc quan còn lại hay không? Với Phan sư huynh chắc đôi khi cũng có những cái nhìn như thế… sự thất vọng, tan vỡ, chia ly cũng đủ làm cho con người chúng ta trở thành những bi quan như thế… và đôi khi trong cái bi quan như thế, Phan sư huynh còn thấy trời đất, tháng ngày cứ mãi dật dờ trôi, lòng xơ xác, lòng vọng nhớ và cho cuộc đời như là một trò chơi canh thâu, hình như ai cũng thế cả, đã là con người thì ai cũng có những lúc ngã ngựa trước những thất vọng đắng cay, trong cơn say Phan sư huynh cũng thấy được trời đất đã nghiêng đổ, vỡ tung, và tự cho “ta là đứa khùng điên” chính cái Tâm của sư huynh thấy rõ điều đó, một lần thất vọng của ước mơ, một lần thất bại trước cuộc sống, ai cũng thế, cũng có những bi quan và chán chường, cũng có những điên cuồng và thác loạn, cũng thấy được cái cảnh đổ nát của riêng mình…

ta một mình cuối bãi
lơ láo, kẻ cùng đường
dừng chân quay ngó lại
đời đã phủ khói sương
đã một lần mệnh bạc
gục ngã dưới chân người
nhìn quanh đời hụt hẫng
tháng ngày dật dờ trôi
bụi đường đầy trên tóc
vùi dập giữa nắng mưa
đắng cay lòng xơ xác
tình cũng chỉ đong đưa
bao năm đời khổ lụy
cố xứ đâu ngày về
hắt hiu lòng vọng nhớ
dập dìu trong cơn mê
đời như một trò chơi
treo lửng lơ trên giá
ta như đứa thất thời
tưởng chừng như rất lạ
đâu ngờ cuồn cuộn sóng
vỡ tung bao đêm đen
đứng giữa triền vực thẳm
ta thành đứa khùng điên
nên suốt đời vật vã
chạy vòng quanh kiếm tìm
nóng lòng cũng lỡ vận
tay buông theo oan khiên
Giữa đất trời, vật vã

Dẫu sao, Phan sư huynh cũng là một con người, con người của đức tính nhân văn, con người của một thời sương gió, buồn vui lẫn lộn như đã hòa quyện trong con người của Phan sư huynh, chốn quê nhà đã xa đi những mối tình, khi còn trong vòng tay hạnh phúc và êm ấm, ai cứ cho là một màu hồng bao phủ quanh ta, hạnh phúc chỉ ở trong tầm tay với… khi xa đi mới thấy trời nghiêng đất ngã, nỗi vật vã trong cơn say – say rượu đời hay say men tình phụ, say thời gian đong đưa hay say với lần hội ngộ, biết bao nhiêu đoạn trường, chợt nhiên tôi nhớ về cho mười tình khúc không tên của Vũ Thành An năm xưa ấy – gặp rồi yêu – hạnh phúc đó rồi chia xa – hội ngộ lại và chút bâng khuâng đượm buồn của những con người đã lỡ, nhìn nhau – ngỡ ngàng, bâng khuâng và lắm xót xa – phải chi cứ để thời gian đong đưa trên hai ngã đường đời, đừng gặp nhau làm chi, con tim của Phan sư huynh cũng đã lỡ gặp nhau không phải trên con phố cũ quê nhà mà lại con phố miền viễn xứ, lỡ ngậm ngùi lần gặp mặt hôm nay chứ không phải ngậm ngùi lần chia xa năm ấy… Đổ nát – trong cuộc tình, đổ nát chính trong lòng, đổ nát chính trong cái Tâm của chính con người đã bị gãy gánh tình yêu, nữa đời còn lại, nữa hồn đau thương chưa nguôi… thì giờ đây “Ta đã gặp lại người” – để rồi nỗi bâng khuâng cứ lại hiện về, bâng khuâng không phải như ngày xưa “em đi về phố vắng” mà bâng khuâng của hôm nay khi gặp mặt lại nhau đã có một dấu hỏi lớn – gặp lại nhau làm chi ???

sao em lại ở chốn nầy?
nhìn nhau, chỉ biết cầm tay nghẹn lời
tưởng chừng nước chảy hoa trôi
xứ người giữa phố, gặp rồi bâng khuâng
nhìn nhau thôi cũng ngại ngần
đêm về chỉ biết nhìn vầng trăng soi
cái đau của cuộc tình thua
vết thương cũ ấy, lại vừa dậy lên
có ai đâm thủng con tim
mà ta thấy nhói từng đêm bồi hồi
biết còn em để ngậm ngùi
bài thơ ta viết thấm mùi dở dang
gặp nhau chi giữa con đàng
nên lời ta đượm hàng hàng cách ngăn
em về chia nửa vầng trăng
khóc giùm ta giữa gối chăn bạc tình
Gặp người xưa giữa phố Boston

Ai cũng thế – cũng có một thời son sắt và hùng tráng, cũng có một chuỗi ngày hạnh phúc trong cuộc đời của mình, tôi cũng thế – và cả Phan sư huynh cũng vậy, có ai qua đi mà không nhớ về cho một đoạn đường, có ai qua đi mà không nhìn về cho một dòng sông… chuyến xe đò ngày nào khi bỏ xứ đi về miền đất hứa, có ai mà không ngại ngùng cứ để cho những dòng lệ rơi rơi trên tháng ngày kỷ niệm của mình.. ai cũng thế, và Phan sư huynh cũng vậy, từ một thưở còn hàn vi bên lũy tre làng, từ một thưở hình bóng khu làng Nại Hiên đang còn mập mờ trong nhân ảnh, từ một thưở của những chiều chưa tắt nắng với những trái bóng chưa đủ hơi đầy cứ lăn dài trên sân cỏ của ngôi trường cũ… tháng ngày xa xưa ấy được con người của Phan sư huynh nhìn lại với một quá khứ đầy ắp những kỷ niệm, nhìn lại với những dòng thời gian qua đi, để biến trở những chiếc áo rách vai thành những tà áo dài biết còn mộng mơ, biết suy tư, và nhìn về cho một xã hội xô bồ trong tâm tưởng của chàng trai Phan Xuân Sinh của ngày ấy chưa biết nỗi buồn là gì… Cuộc đời với những niềm cô đơn, nỗi mồ côi tình mẫu tử với những ánh nắng ban mai và cơn mưa chiều vẫn mãi lăn lộn trên cuộc đời một chàng trai trẻ của làng Nại Hiên buồn ấy… Để rồi – ngày hôm nay, cái ngày hôm nay của bốn mươi mấy năm về trước – chàng trai Phan Xuân Sinh đã biết buồn, biết suy tư và mộng mơ trong tà áo dài chiều trên phố vắng… Nhưng nước mắt đâu còn để mà chảy dài trên đôi má hồng của một trẻ thơ, còn đâu nữa những dòng suy nghĩ của một chàng thanh niên đang đứng trước ngã ba đường đời mà chàng phải chọn lấy một… còn đâu, còn đâu nữa, để rồi cuối cùng chàng cũng đành đi trên một con đường, nhưng khổ thay con đường ấy vẫn còn mãi gập ghềnh nhiều gió bụi, con đường không bằng phẳng một chút nào trên cuộc đời từ đây của Phan sư huynh hôm nay…

cái thuở ta còn làm tên lính trận
ôm ba lô ngồi mơ mộng một mình
cái thuở em còn tay ôm cặp sách
buồn vu vơ che dấu những thư tình
ngày ấy bên cầu ta thường đứng đợi
tà áo bay che khuất một khung trời
ta lượn vòng đuổi theo em mệt nhọc
mà em vẫn còn xa tít mù khơi
trong binh lửa ta chẳng hề nao núng
coi gươm đao như một khoảng trời không
bỗng nhiên gặp em chân ta quỵ xuống
đôi mắt em chọc thủng trái tim hồng
ta mang vết thương làm người si dại
những tình thư ta viết thật điên cuồng
em đón nhận nhưng lòng đầy bất định
để thư tình trôi theo những ngả sông
em vẫn lọc lừa như tay phù thủy
ta ngu ngơ như một đứa chân tu
cạm bẫy bủa giăng làm sao tránh được
sa chân vào rớt xuống chốn âm u
ta ngụp lặn bởi bể tình lầy lội
em đứng nhìn thỏa mãn thú tiêu dao
trò chơi ấy cũng đến hồi kết cuộc
em vụt bay xa chẳng biết nơi nào
mấy năm rồi ngồi đây nhớ lại
em của một thời lộng lẫy kiêu sa
vết thương cũ đã bao lần nhức nhối
đã bao lần thổn thức trái tim ta
những mùa xuân qua chưa về quê cũ
thăm chiếc cầu một thuở đứng chờ em
tiếng guốc còn khua trên đường vắng?
dòng sông xưa, nước còn chảy êm đềm?
Dấu xưa

Qua thi phẩm Dấu xưa của Phan sư huynh mà tôi đã được chiêm ngưỡng, từ đây, chính tôi cũng đang nhớ về cho Một thời Dấu yêu của tôi khi bước vào nhà mẹ của chính mình, cũng đầy ắp những nhớ thương và những nỗi buồn… Ngày ấy, cái thưở xa xưa kia khi “chàng trai trẻ Phan…” biết dạo đi trên con phố buồn của xứ Đà ngày ấy, thì chàng trai Phan kia đã biết buồn, biết suy tư, và những niềm suy tư luôn cứ chực chờ để hiện về với chàng trai trẻ ngày ấy, nỗi buồn, nhạt nhòa, long đong, và những niềm u uẫn… cứ mãi vờn lên trong con tim của chàng Phan thời trai trẻ… đi qua từng con phố, từng con hẽm, để nhớ về cho nhiều kỷ niệm thưở ấu thời, Phan sư huynh hôm nay cảm thấy từng bước đi đã có nhạt nhòa, sóng vỗ lên đời… để nhớ về những người đã bỏ chàng ra đi và không hẹn ngày trở lại…

ta dặm đường mờ mịt
ôm nỗi nhớ tàn phai
lòng dậy từng cơn động
mòn mỏi bóng hình ai?
còn đâu thời lộng ngọc
chiều lụa là thướt tha
trên đường thong thả bước
tóc tung bay mượt mà
Còn đâu đường phố cũ
dìu nhau đi trong đêm
những nụ hôn vội vã
đã đi vào lãng quên
rồi bỗng dưng gió tạt
thổi đời ta vỡ tan
thổi đời em cuồn cuộn
mãi miết chốn biệt tăm
rồi ta, em, rời phố
hai ngả đường long đong
em nhạt nhòa từng bước
ta u uất trong lòng
chiều bến xưa ai đứng
góc chợ Hàn ai qua
trời cứ màu tang hải
chỉ thấy tình xót xa
chim bỏ đàn xa xứ
tổ ấm không lối về
người bỏ người ở lại
ruột quặn đau trăm bề
Chiều trên phố cũ – Ðà nẵng, ngày trở lại 1988

Quê nhà dấu yêu, một thời ấu nhi đã từ từ đi qua trong cuộc đời của Phan sư huynh, người trai trẻ ngày nào giờ đây đã biết được mùi vị của từng giot đắng trong đời, biết từng đêm đen cô lẻ để từ đó sẽ cho sinh ra những dòng thơ tuyệt hảo, ai cũng thế – ngay cả chính tôi hoặc như cả Phan sư huynh hôm nay cũng như nhiều con người khác hôm nay cũng như thế mà thôi, rượu ly bôi để rồi ai cũng nhắp mình trong gió sương và xin cạn chén hồ trường, hồ trường hỡi của những con đò, trong những giọt đắng cay thâm sâu cùng cốc ấy… có ai thấy được một ngày mai, có ai còn đếm được những chiều mưa buồn trong sân trường cũ, có ai đếm được qua từng trang sách nhỏ… Có mấy ai – nhưng hình như với những vũng buồn của những chốn thâm u cùng tận nào đó, Phan sư huynh đã ngồi đếm được những khỏang thời đong đưa ấy, đếm được bao nhiêu chén rượu trong những lúc cạn chén hồ trường với những tâm hồn còn mãi trong phong ba gió sương của cuộc đời này, Phan sư huynh đã chứng tỏ “ta là dân xứ Quảng” cái xứ của nhiều nắng cháy, mưa dầm, của những ngày mưa lũ, của những ngày trốn học, của những trận đòn roi – để thấy được hai chữ quê hương là gì hỡi mẹ…

trên chiếu rượu. Bạn là tay cự phách
cỡ như ta cũng phải chầu rìa
nhào vô. Chỉ thấy mình lãnh đạn
thối lui…đâu được. Cứ lia chia
máu Quảng Nam ta, hơi thô lỗ
vài ba chén rượu, đã cãi càng
bận tâm chi mấy lời nói sảng
rượu vô, điên tiết cứ huênh hoang
ta nói bạn: cường hào ác bá
là khen cái hay của bạn hơn người
ngửa cổ, rượu tu không biết mệt
trải lòng ra hết giữa cuộc vui
nghe bạn nói, đúng dân ngoài nớ
một cái tên. Chở một trời quê hương
hèn chi, tửu nhập mà không loạn
nghiêng đôi vai gánh một hồ trường
ta thuộc dân kỳ hồ lang bạt
đất mẹ. Xứ người, mãi miết chơi
mặc khách. cùng đinh, trên chiếu rượu
hào khí bay quanh. Dễ mấy người ?
trong đời có bao lần được gặp
rượu trăm ly, hồ dễ đã say
thì tiếc chi một lần ngã xuống
cùng chia nhau một chén rượu đầy
đêm nay, ta muốn say cùng bạn
chuyện bên ngoài, vất lại đằng sau
rượu mềm môi, tạ lòng bạn quý
ngày mai đâu dễ uống bên nhau
chén rượu, tạ lòng bạn hiền – * gửi Nguyễn Khánh Hòa

Bây giờ, biết bao nhiêu nỗi nhọc nhằn suy tư của Phan sư huynh chịu thấu suốt bao nhiêu đắng cay cho mình, chịu thẩm thấu bao nhiêu nỗi nhục tủi hờn cho mình qua những tháng ngày phiêu gót lãng du và mong trở thành một lãng tử, một lữ khách của chốn nào… Hình như nơi miền viễn xứ nào đó – Phan sư huynh cũng còn nhớ về cho một thời vàng son, nhớ về cho bóng đổ sân trường, nhớ về cho những lần nắng chưa tắt hẵn, nhớ về cho những con phố nhỏ ngày xưa, nhớ về cho một đời trai phiêu bạt gót giang hồ cứ mãi lạnh lùng trôi… Miền xa xôi nơi ấy Phan sư huynh vẫn còn nhớ bóng dáng con đò đang còn lững lờ trôi trên dòng sông hiền hòa, nhớ những đêm dài còn mãi thao thức, nhớ nhiều lắm, nhất là nhớ về cho “người xưa” ấy đã bay về miền miên viễn nơi đâu. Phải nói rằng (chính tôi cũng thế) đang trong vòng tay hạnh phúc – nhưng cũng đã nhớ về cho những tháng ngày, vì “người xưa” đã biền biệt ra đi từ dạo ấy, bỏ lại dấu chân xưa bên bờ sông lạnh, bỏ lại cho ai đang nao nao cõi lòng, những mối tình đã qua đi trong đời Phan sư huynh để rồi hôm nay, ắt hẵn trên nét buồn của anh, chúng ta thấy rõ những nỗi niềm của anh đang nhìn về cõi xa xăm nào đó…

bao năm ta trở về chốn cũ
ngồi bên sông chờ chuyến đò qua
nước với ta bao lần rong ruổi
cùng chia nhau bao nỗi xót xa
ta nhớ đò, người qua thuở ấy
nước mắt còn ướt đẫm bến sông
oan khiên ụp xuống đời con gái
tiễn người đi. Ta nát cả lòng
có những buổi chiều ta đứng đợi
những chuyến đò qua ngập những người
vẫn thiếu bóng ai bên sông ấy
để lòng ta đau lặng ngậm ngùi
tháng năm sống đời trai phiêu bạt
đôi chân dẫm nát núi rừng cao
có lúc dừng chân bên sông lạnh
nhớ người ta thấy dạ nao nao
biền biệt người đi từ thuở đó
con sông nước vẫn miệt mài trôi
bến đò kia có ai còn nhớ?
người năm xưa đã khóc một người
bao năm ta trở về chốn cũ
ngồi bên sông chờ chuyến đò qua
cây với ta một màu ủ rủ
người có hay ta lệ nhạt nhòa
Bên sông nhớ người — đà nẵng, tháng 11.70

Cũng một dòng sông, cũng những chuyến đò… cuộc đời của sư huynh đã từng đi qua và không hiểu có còn để lại những dấu chân? Bên chiếc cầu ngày xưa, nước vẫn trôi như cơn vô tình mãi u hoài không nói được, chúng ta thấy sư huynh đã để qua đi những giấc mơ thật bình dị, thật hiền hòa, những đứa bé chăn trâu trên những cánh đồng chiều quê êm ả còn mãi bay trong gió tiếng tiêu buồn như cuối chân trời sau dãy núi với những khúc tự tình của quê hương… còn lại Phan sư huynh với những tiếng ca còn mãi trầm buồn và não nề trong những cơn sầu để hình như nhớ về cho những chuyện tình còn mãi đong đưa, anh ngồi đây để nhớ, bên cầu còn nước chảy, nước chảy dưới chân cầu, qua đi trong đời của Phan sư huynh như phía trên kia với những áng mây còn mãi lang thang bay về chốn nào, điệu nhạc buồn của sư huynh không thể hòa lẫn với tiếng tiêu lạc phách của trẻ thơ và con trâu, dòng nước của Phan sư huynh không giống như với những cánh đồng xa thẳm chiều quê ấy, bóng hình soi của sư huynh không giống như hình hài của một em bé trên lưng trâu của ngày hôm nay… mà hình hài chân cầu – nước chảy bến sông, có một chàng trai trẻ còn đứng nhìn cho ngày em theo ai về bên ấy… chàng trai trẻ ấy còn soi bóng mình dưới dòng nước lững lờ trôi mà còn thấy đời bao nhiêu tủi hờn… chàng ta còn ngậm ngùi và chỉ thấy rằng ngày tháng hôm nay còn mãi cách xa, còn mãi lắm muôn trùng…

con sông nầy xứ người
mà ta thấy hơi giống
bên kia bờ xa thẳm
ta cũng có bến sông
ngày em đi theo chồng
qua đò, ta đứng tiễn
rồi bao ngày biền biệt
sông nước vẫn chảy hoài
mình ta bóng hình soi
giữa đời chao phận tủi
* *
ngó quanh đời túi bụi
lại gặp nhau bên nầy
em bây giờ khói mây
ta bây giờ cằn cỗi
sông chia thành hai lối
nhìn nhau chỉ ngậm ngùi
đời đã tàn cuộc vui
xứ người sông vẫn lạnh
vẫn muôn trùng xa cách
ta đầu, em cuối sông
cũng là những dòng sông
dưới chân cầu nước chảy
Chân cầu nước chảy

Từ đó, với những nỗi buồn cứ dần trôi trong những biệt khúc của Phan sư huynh, thì anh đã bắt đầu bước vào một cõi nhớ với vai người tình của nàng Tô Thị thưở nào, không hiểu để làm gì, có phải bay vào vùng sương gió, đi vào cõi lạnh thầm của một con người bị bỏ lại phía sau… Chính lúc này chàng trai trẻ nghe xung quanh mình đất đã lỡ, gối mỏi mòn, đi mãi vào bóng tối của ngậm ngùi khôn nguôi, để nghe tiếng khóc than của hồn ai đang oán trách cho ai, hình như chàng trai trẻ ấy cứ mãi đi hoài – ra đi không còn thấy ngày trở lại… để từ đó chàng trai trẻ cảm thấy mình nhẹ hẫng bay bay – đi qua một đời sương khói…. Cái khói sương chưa hẵn mịt mờ chưa hẵn khuất lấp đi lối về… bởi vì lòng anh còn tha thiết buồn, còn một đời hơn nữa kiếp hung… dung nhan có còn không ???

bão giông nổi dậy đất trời
ta con chim nhỏ lạc nơi trú mình
cận kề giữa chốn tử sinh
trải đời qua mấy điêu linh ngập đầu
cũng súng gươm, cũng khổ sầu
hồn xiêu phách tán một màu tang thương
cũng tù ngục, cũng cùng đường
qua bao nhiêu ải còn vương dấu giày
nửa đêm còn vọng tiếng ai
nghe oan hồn khóc bên tai rã rời
giật mình, chỉ biết ngậm ngùi
làm sao chia bớt với người nỗi đau
bên nầy, bạc cả mái đầu
ngó quê mỏi mắt, chìm sâu ngàn trùng
một đời hơn nửa kiếp hung
cũng lây lất sống khốn cùng bến mê
còn đâu một chỗ đi về
cố hương chìm khuất, lòng thê thiết buồn
lòng ta đau khúc đoạn trường
mắt mờ chân mỏi khói sương mịt mù
Bay qua đời khói sương

Xứ Quảng, cái đất miền Trung khô cằn và sỏi đá, hình như bước độc hành của Phan sư huynh cũng còn có ngày trở về, trở về trong những khói bay, của mây ngàn, của gió cuốn, và của những bước chân lặng thầm, con người xứ Quảng của Phan sư huynh vẫn còn tự hào của một thời trai trẻ, thời gian cứ thấm thoát thoi đưa, cho hồn chàng bay về với chốn kinh thành cổ kính năm xưa, cũng là một trong những nơi quê hương của anh, cái xứ Quảng kiêu sa và bay bổng trong cõi lòng ai bao nhiêu, thì dấu ái của đất thần kinh cổ kính mà hiền hòa cứ còn mãi vương vấn trong lòng chàng cũng bấy nhiêu… cái xứ Quảng của chàng đã có những nét hùng anh tráng lệ bao nhiêu thì quê hương thần kinh cũng đã có những thời cuốn hút chàng trai phong sương hào hoa chừng ấy…. hai miền đất anh dũng và thơ mộng đã cuốn hút hồn ai trong những ngày còn mãi cô đơn ấy… Trong những lần về đất cố đô năm xưa của Phan sư huynh – trong tuyệt phẩm Sống với thời quá vãng mà Phan sư huynh đã kể và trải lên những nỗi niềm tâm sự… chúng ta vẫn thấy còn có bóng dáng của quý sư tỷ Ngọc Bích, Liêu, Sanh, Sách, Sâm… và còn bao nhiêu sư huynh khác như: Viêm Tịnh, Phạm Ngọc Lư, Uyên Hà, Hạ Đình Thao…. Cũng đủ cho chúng ta nhận thấy những viễn cảnh mà Phan sư huynh còn mãi những tâm tình, những con người đồng lòng và thân thiết với sư huynh vậy… Từ đó chính cái ngày hôm nay của sư huynh, chính cái hồi ức của Phan sư huynh đã cho chúng ta thấy rõ một bức họa thâm tình của những con người đã một thời chắc có lẽ đã cùng bước đi với sư huynh những bước đi độc hành như thế…. Cuộc đời, lẽ sống và dày dạn phong sương, bước đường giang hồ phiêu lãng – đã uốn nắn cho sư huynh một lẽ sống như thế…

là buổi sớm mai em vừa thức dậy
chim hót trong vườn. nắng rớt ngoài sân
là những lúc mưa dầm dề tháng chạp
trước ngõ nhà em, ta bước ngại ngần
Huế rộn rã tiếng guốc khua đường phố
nón che đầu e ấp buổi tan trường
em sợ ai mà bước đi vội vã
để má hồng còn đọng chút nắng vương
ta chết điếng một thời, em Thượng Tứ
bởi nụ cười, môi mỏng gái thâm cung
bởi lòng em thay từng hồi, từng chặp
mà sao ta vẫn nhớ Huế vô cùng
em nắng sớm mưa chiều mấy bận
lòng ta đau tím ruột bầm gan
chưa nhấm rượu, cũng say bí tử
mắt mờ. Ðưa con sáo sang ngang
Huế của ta ơi. Bao lần sóng gió
vẫn hiên ngang sừng sững bóng hoàng thành
em bây giờ còn đi ngang xẻ dọc?
Huế bây giờ còn đượm nét đài trang?
chút tình cho Huế

Hình như khi nhìn qua Sống với thời quá vãng của Phan sư huynh, chúng ta cũng nhận thấy đó là tất cả (phải tất cả không?) những nỗi niềm của sư huynh được giải bày và chứng minh trên những định lý cuộc đời – sỡ dĩ tôi nói đến từ “định lý” vì Phan sư huynh cũng đã chắc chắn như thế, cuộc hành trình trong sương gió của Phan sư huynh có nhiều nỗi phong ba, có nhiều nỗi u hoài, có nhiều nét buồn tưởng chừng như muôn thưở… nhưng hầu như buồn nhiều hơn vui, qua những thi phẩm có tính tuyệt tác của Phan sư huynh – đọc qua chúng ta nhận thấy tòan là những đắng cay và những nỗi niềm, bước độc hành của sư huynh như người ngư phủ đi lênh đênh trên biển vắng, như một cánh chim bay không biết mỏi và cái định hướng chân trời của Phan sư huynh hầu như chưa có được đâu là chân lý của cuộc đời… nhưng cánh chim ấy đôi khi còn ngoái cổ nhìn lại cho một kiếp người, còn nhìn về cho cõi xa xưa kia, để rồi còn vẫn thấy được cho chính mình hôm nay… Sống với thời quá vãng mà chúng ta hôm nay cùng nhau được chiêm ngắm qua một quãng đường đời của Phan sư huynh, ắt hẵn không chỉ riêng với sư huynh mà thôi mà tất cả chúng ta đều cũng là như thế… nhưng chỉ tiếc một điều là chúng ta không cùng với sư huynh đi chung một “con đường” để có dịp cùng nhau chia sẻ, cùng nhau chia sớt nỗi sầu với sư huynh, hai đường đời cứ mãi song hành và chưa gặp được nhau, nhưng lộ trình nào cũng lắm đầy nước mắt, còn mãi những tủi hờn, còn mãi những xót xa, đong đưa… Lẽ sống của sư huynh để nhớ về cho một thời quá vãng, như còn mãi nhắc nhở cho chúng ta với những ký ức u hoài, với những tháng ngày xa xưa rồi, với những nỗi niềm u uẩn… để rồi cái quá vãng của Phan sư huynh hôm nay – hình như đã vạch lên cho chúng ta thấy rằng: bước đi độc hành của Phan sư huynh cũng giống như những bước đi cô lữ của tất cả những con người của nhà mẹ SaoMai hôm nay vậy…

qua bao nhiêu cuồng phẫn
người lại bỏ ta đi
giữa cảnh đời cùng tận
ta như loài man di
ta vượt ngàn lao khổ
đuổi theo từng bước chân
khẽ chạm vào huyệt lộ
bỗng dưng người mất tăm
ta. Trời tây mỏi mắt
người. Trời đông chau mày
hai phương mà như một
nào đâu người có hay
đứng giữa lòng phố thị
ta làm tên thất thời
chạy rong. Tình khổ lụy
mà người thì mù khơi
ngóng cổ về cố xứ
ngựa hồ cất tiếng kêu
lã giọng nơi đất khách
huyết tận bởi vì yêu
ta gian truân thấm mệt
khoanh tay nhìn tình trôi
đứng trân người chịu chết
giữa bao la đất trời
oán than gì cũng vậy
người ở đầu chân mây
bóng đè trên thân phận
ta đang chiêu hồn ai?
Bên kia nỗi nhớ

Bây giờ ngồi lại đây để mà nhớ, để còn hồi tưởng, nhớ về cho những ngày quá vãng của Phan sư huynh – chúng ta đây cũng thế, ai ai cũng có thời quá vãng, mỗi quá vãng có nhiều cái khác của nó, quá vãng của những người con nhà mẹ hôm nay, chắc hẵn khi nhìn vào quá vãng của Phan sư huynh cũng như thế…. Đã qua đi cái chuỗi ngày còn lắm đong đưa, đã qua đi cái thưở còn lắm muộn phiền, qua đi cái ngày của mưa dầm trên phố nhỏ, của những trái banh lăn dài trên cái đất của làng Nại Hiên Tây… qua đi cái thưở hai bóng hình thơ ấu còn ngồi dưới lũy tre, qua đi rồi, qua đi tất cả rồi, giống như những hồn thơ SaoMai nhà mình đã nói: qua đi cái thưở hoài niệm đầy lưu luyến… nhưng đã tàn phai chưa? Chắc là chưa, hẵn là như thế… Để rồi ngày hôm nay, chính trong giờ phút này – Phan sư huynh và tất cả chúng ta cũng còn ngồi đây để nhớ – nhớ về cho một cõi nào… nhớ về cho những kỷ niệm nào đó mà nghe rõ cái mùi quê nhà còn mãi phảng phất… Giờ đây Phan sư huynh đã ngồi nghỉ, dừng chân bên vệ đường – cũng như tôi ngày nào mới đây thôi – cũng đã dừng chân bên vệ đường với gánh hàng rong đã mòn mỏi đi mua đầy cho mình những kỷ niệm… những hồi ức của ngày xa xưa… Hình như với Phan sư huynh, với tôi và với tất cả những bạn bè, anh em của chúng ta hôm nay cũng đã ngồi lại, nhìn nhau và để ôn cố tri tân…

cám ơn em, cám ơn đời
tình sau, nghĩa trước. Một trời bao dung
giữa bấy nhiêu cái khốn cùng
còn cho nhau chút thủy chung giữ mình
Bài thơ cho vợ hiền

Đúng thế – tất cả đã dừng chân, tất cả cùng ngồi lại để nhớ… nhớ cái thưở xa rồi với sân trường rợp nắng, của những mùa hạ qua đi trong những ánh mắt buồn… Để rồi ngày hôm nay – tất cả cùng nhìn lại với làn khói hương, với những lời nguyện cầu còn sót lại những tiếng khóc than…Cái thưở của những con đò, của những dòng sông – chiều quê với câu hò trong những cơn mưa, của những cánh diều, của những con đường… và của tất cả những kỷ niệm dấu ái thân thương của tất cả những người con nhà mẹ này vậy…

ta ngồi đếm những giọt mưa
là em chợt thả tình vừa vụt tay
tình không chỗ trú, tình bay
ta không chỗ đứng cho ngày lỡ chân
một khi em đã xa dần
thì tình như đã phù vân của đời
chỉ còn ta với ngậm ngùi
còn em bỏ cuộc rong chơi chốn nầy
trong đời khói phủ, sương mây
lạ chi tình đã đứt dây nửa chừng
tiếng kêu của vạc trong sương
nghe ra như thể rưng rưng nỗi lòng
Tiếng vạc kêu trong sương. – Huế, tháng chạp.1970

___________________________________________

Thế là đã qua đi một thời đổ nát, qua đi một quãng đời yêu nhau và đón nhận tình phụ, như đã nói ở phần đầu – với cái nhìn về khía cạnh văn học của người viết – chúng tôi mạn phép phiếm bàn qua một nhân sinh quan nhỏ nhoi và yếu đuối, không thể thấy hết được vào cõi Tâm của Phan sư huynh, cái nhìn còn hạn hẹp và khiêm tốn, với một thiển ý còn non dại, nhưng khi được diễm phúc chiêm ngưỡng qua những tuyệt phẩm thi phú mà Phan sư huynh đã dày công vun đắp cho một đời, đó là một vinh dự cho người xem, chúng tôi với một cái nhìn không phải như các bậc trượng phu phu tử… đã có những tầm nhìn bao quát và tổng thể hơn khi được diện kiến qua những công trình của Phan sư huynh… với phận hèn tôi tớ, thì Phan sư huynh (và các bậc thầy đã nêu) là những Đại nhân của chúng tôi, chúng tôi còn phải học hỏi rất nhiều. Ở đây chúng tôi không phải là nhà bình thơ, phiếm luận văn chương, mà cái nhìn của chúng tôi là cái nhìn chiêm ngưỡng và sự học hỏi…

Trở lại với những bài trong Đổ nát của Phan sư huynh, chúng tôi nhìn lại cái nhìn của Đại huynh Nguyễn Hàn Chung cũng nhìn về cái Đổ nát của sư huynh Phan – và mở đầu Đại huynh Hàn Chung đã có nói:

Chim bỏ đàn xa xứ
ôm nỗi nhớ tàn phai
(nhân đọc tập thơ “Đứng dưới trời đổ nát” của Phan Xuân Sinh-Tạp chí Văn-2000)

Có người cho rằng mạch thơ trong Đứng dưới trời đổ nát của Sinh ít tung tẩy chữ nghĩa như một số bài thơ của anh sau này.Tôi không nghĩ thế ,đọc hết tập thơ ráng căng con mắt thấu thị nhìn vào trong vỉa từ thơ anh tôi cảm thấu trong nội hàm ẩn chứa nhiều phong vị .Trước tiên là phong vị cổ thi’’ta.Trời tây mỏi mắt-người Trời đông chau mày-hai phương mà như một –nào đâu người có hay’’(bên kia nỗi nhớ).Tứ thơ với những hình ảnh ước lệ ngựa hồ ,đất khách cố xứ ,chân mây sẽ khá cũ càng nếu anh không có những câu thơ khải truyền cho từ một tải trọng đời sống huyết tận ‘’khẽ chạm vào huyệt lộ-bỗng dưng người mất tăm’’’’bóng đè lên thân phận –ta đang chiêu hồn ai?).

Đắm mình trong nguồn mạch văn chương khí khái hào sảng ngày trước 1975 anh có những bài thơ thấm đẫm hào khí, ngôn từ trong thơ nhắm vào đối tượng với tư cách ngôn từ thông thường ít nhiều còn mang tính tượng trưng nhưng mê đồ chữ nghĩa đã biến dị hiển lộ bản sắc cá nhân với những luận chứng, luận cứ làm cơ sở của xúc cảm khẳng định lý tưởng hoài bão ôm ấp của mình (hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư) (một đoạn cho Kiều) (gặp lại bạn ta). Những bài thơ ngóng vọng cố hương của PXS theo tôi đã đạt tới cảnh giới thơ khả thơ phi thường thơ bởi lòng anh và hình tượng thơ đã hòa mạch vào nhau nói như lời Kim Thánh Thán ‘’chỗ mà lòng tới rồi bút bất tất phải tới nữa’’. Ta hãy nhâm nhi vài ly chữ của Sinh “nửa đêm còn vọng tiếng ai-nghe oan hồn khóc bên tai

rã rời-giật mình chỉ biết ngậm ngùi-
làm sao chia bớt với người nỗi đau’’
(bay qua đời khói sương)

Câu thơ cuối cùng kết tứ cho đọan thơ dường như vô hình trung đã vận, đã mắc vào đời anh với niềm trăn trở làm sao gánh vác bớt nỗi đau bè bạn ‘’chìm sâu ngàn trùng’’ hoặc‘’ lây lất khốn cùng bến mê’’. (Và theo như tôi biết từ khi anh còn lăn lóc chốn chợ trời cố xứ hay sau khi lăn lộn kiếm được chút của nả xứ người bao bè bạn quê nhà đã được anh cưu mang, đùm bọc mà anh giống như bậc hành giả dù viết cả một tập truyện ký mang mang hồi ức anh vẫn kín tiếng không hề thố lộ cùng ai)

Một số bài thơ trong ba tập thơ của anh nói như lời nhà thơ Trần Doãn Nho trong bài Vài suy nghĩ về ‘’Sống với thời quá vãng’’ của Phan Xuân Sinh ‘’đã đi vào lòng độc giả với cái chất hiện thực chan hòa trong lối lý sự rất riêng ‘’cái lối lý sự giận dỗi lửa rơm mà hầu như bất cứ ông nhà thơ Quảng Nam kim cổ nào không mắc cũng là mang:‘’muốn may miệng những thằng láu cá-Bợ đỡ tung hô kẻ bất tài‘’ ‘’khàn hơi chỉ mặt đứa gian manh-bán đứng anh em chơi trò lừa lọc-núp sau lưng đoạt cuộc tranh giành’’ Giận phường bội bạc, ngòi bút anh tung hoành rót về tứ phương để trút cơn phẫn hận chứ ngoài đời anh rất hiền, bạn bè chỉ thấy một PXS chưa hề nặng lời với ai kể cả những kẻ không ra gì…

Những bài thơ viết về vợ của anh rất chân thật và cảm động bởi nó không màu mè dối trá như một số nhà thơ khác. Hơn ai hết anh cảm thấu người bạn đời là người ‘’cắn răng chịu đời khổ tận –u uất trong lòng-đắng cay chồng chất’’ để ông nhà thơ tự thú ‘’hư thân, bạt mạng, cuồng ngông, hoang đàng’’ lao tâm khổ tứ chơi cái trò phụng hiến con chữ mà con chữ hỡi ơi vĩnh viễn hay phù du nào ai biết ai hay. Mảng thơ viết về bạn của anh dàn trải trong nhiều bài thơ ‘’chén rượu tạ lòng bạn hiền-gặp lại bạn ta-nói chuyện với bạn hiền …’’thật sự bộc tỏ lòng anh với bạn’’ta gióng chuông kêu lên tức tưởi-những oan hồn vất vưởng đâu đây-âm dương .cùng ngồi chung manh chiếu-bạn, thù, chia nhau chén rượu đầy.. (nói chuyện với những bạn hiền)

Thơ PXS đặc dị ở chỗ có những câu anh viết rất trụi trần không câu nệ ngôn ngữ toàn dân hay khẩu ngữ nhưng vẫn có tính hàm súc cao, từng câu đều có tính độc lập nội tại, nhiều câu có chiều hướng hướng tới tính chất và cấu trúc của những cách ngôn (hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư) (đêm nằm nhớ Ức Trai) (nói chuyện với những người sinh vào thiên kỷ mới).

Đứng dưới trời đổ nát của PXS dù vẫn chưa thoát ra mô tip thơ ngất ngây hào khí vang bóng của lớp trai thời loạn một thời nhưng trong thơ anh trời đổ nát đã tái sinh với những hình tượng huyễn tưởng đan cài. Đọc thơ anh không chỉ những tên đồng thị thiên nhai luân lạc nhân, suốt đời vật vã- chạy vòng quanh kiếm tìm trên bước đời lưu lãng chúng ta hắt hiu lòng vọng nhớ những Giếng Bộng, Đò Xu cũ càng, một Cầu Vồng dốc ngược, bến phà Hà Thân đã chết mà những bè bạn quê nhà những kẻ đầu non cuối chợ, búa rìu bổ lên đầu lên cổ cũng tìm trong bóng chữ trong thơ PXS một chút bóng dáng an ủi trong những năm tháng cuối đời.

Cái tài tình của nhà thơ Phan Xuân Sinh trong tập thơ Đứng dưới trời đổ nát là tuy vẫn bám vào các thể loại cấu trúc của truyền thống cũ nhưng lại nhằm vào những tầng sâu hơn của truyền thống để can dự vào các đề tài vĩnh cữu: tình yêu, quê hương, cái chết, nỗi đau, niềm tin, chiến bại… Và một điều đáng để những ai yêu quý thơ PXS lưu tâm là bất cứ dự cảm nào trong hình tượng thơ anh cũng bộc tỏ phong cách rất riêng của người nghệ sĩ không lẫn vào bất cứ nhà thơ hải ngoại nào. Phải chăng đây chính là bản lai chân diện mục của hồn thơ Phan Xuân Sinh!..

Viết tại Lầu Cây khế -Houston Texas
Tháng 10/2009
_______________________________________
Đó là cái nhìn của Đại huynh Hàn Chung, một trong những cái nhìn sâu thẳm khi đi vào hồn thơ của Phan sư huynh, một cái nhìn tổng thể và bao quát như đã thấy rõ được tận đáy tâm hồn của Phan sư huynh là thế, khác với cái nhìn của tôi hôm nay, còn non yếu và cảm nhận chỉ một thoáng hồn nhiên trong lĩnh vực văn học nhỏ nhoi… Dẫu sao thì chúng ta – những con người của nhà mẹ SaoMai hôm nay cũng còn được vinh dự có một bậc đàn anh như Phan sư huynh để từ đó… chúng ta có một chỗ dựa, còn một bóng che cho cái nghiệp cầm bút của mỗi chính mình hôm nay… Đăng đàn khungtroisaomai hoặc của saomaidanang vẫn là thế – cũng mang hình bóng của một ngôi trường, một mái nhà chung mà thôi, nhưng ngày hôm nay Phan sư huynh đến với chúng ta trong tình thân ái bao la và rộng mở… Với tất cả những người học sinh ngày ấy cho dù là KTSM hoặc SMDN thì cũng chỉ là một mà thôi… Với tất cả những tâm tình sâu lắng nhất của người cầm bút với cái Tâm của mình – thì chúng ta chỉ biết là “những học trò SaoMai ngày ấy”…

Nguyễn Ngọc Hải
Một thoáng mơ về PhanXuanSinh – 2010

Posted in Nhận Xét và Phê Bình, Uncategorized | Leave a Comment »

NHẶT MẢNH VỤN CƠN ĐAU QUÁ VÃNG GIỮ ẤM LÒNG LINH LẠC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 13, 2009

Nhặt mảnh vụn cơn đau quá vãng giữ ấm lòng linh lạc

(nhân đọc Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh –Hợp Lưu 2009)

Nguyễn Hàn Chung

Ấu thời khi còn làm anh giáo dạy văn ở một góc xó xỉnh quê nhà Quảng Nam- Đà Nẵng tôi đã có dịp đọc văn thơ Phan Xuân Sinh trên các tạp chí văn học và các website hải ngoại nhưng chưa hiểu văn và người anh nhiều .Khi tôi đến nước Mỹ sống ở Houston – Texas có dịp quen biết anh ,vì thế đối với sự thẩm thấu văn thơ anh tôi làm sao có đủ lực  soi tỏ, cạn cùng như hai bậc đàn anh thâm giao với anh như nhà thơTrần Doãn Nho và nhà văn Lương Thư Trung trong lời tựa và đề bạt ở trang đầu và trang cuối tập truyện. Nhưng chả lẽ cảm mà không thấm, thôi thì tôi  xin bộc tỏ một ít cảm quan của mình khi thâm nhập và cố gắng chiếm lĩnh hồn vía văn Phan Xuân Sinh .

Sống với thời quá vãng không đồ sộ hoành tráng mang tính sử thi nhưng ngồn ngộn chi tiết hiện thực sống động.Bất kỳ loại thể văn học nào anh đều đào sâu suy tư tìm hiểu,khai phá các vấn đề lịch sử ,dân tộc ,con người. Những nhân vật của anh được đặt trong mối liên hệ phối thuộc trong quá trình tác giả và nhân vật tham dự một cách tích cực .Đôi lúc đọc văn anh dường như người đọc cảm được cái giọng Quảng ngay thật mà riết róng ,nỗi phẫn nộ cố kìm nén mà vẫn bật thoát ngoài con chữ ( Cơn đau không dứt, Một giai đoạn ngậm ngùi). Ta thấy rõ anh không chuyên chú làm văn chương,mục đích của anh là nhặt và phơi những đoạn đời, những mảnh  vụn xa khuất làm chất xúc tác cho người đọc.Người có tuổi tìm trong hồn chữ mênh mang những niệm khúc ngày quá vãng,người tuổi trẻ sinh sau đẻ muộn có thể hiểu được nỗi lòng  bạch đầu bi phẫn cha ông .Nhưng cũng chính vì không chuyên chú làm văn chương tự thân những mảnh vụn ngậm ngùi anh kể lại bất chiến tự nhiên thành đã là văn chương đích thực bởi văn chương nào lại không đánh động trái tim con người. Trong nhiều truyện hoặc bút ký anh ráng làm ra vẻ khách quan tỉnh táo khi kể, tả tình tiết diễn biến câu chuyện nhưng đàng sau những câu chữ ngỡ như trung tính ấy  người tinh mắt sẽ mau chóng nhận ra trái tim dịu dàng nhân hậu tràn đầy yêu thương nhân ái của một nhà thơ(Khi con đường không lối thoát)( Một niềm vui ) .Bút pháp anh sử dụng trong hầu hết các truyện và bút ký mang đậm chất hiện thực ,ở  một đôi bài tính chính luận xen kẽ với hiện thực phô bày cảnh và người sống động đậm nét trong lần quy cố hương của anh (Sống với thời quá vãng).Ngôn ngữ đối thoại trong văn anh là kiểu trò chuyện giản dị ,đậm tính phương ngữ thỉnh thoảng ta còn bắt gặp lối độc thoại nội tâm dẫn dắt người đọc đồng cảm với anh về cách hành xử của các đối tượng được anh đề cập trong tác phẩm Gió bụi mộtt hời ) -Nhặt lại những mảnh vụn .

Có thể nói Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh là một bức tranh chân thực về lịch sử ,con người một thời,  tái hiện  sắc nét chiều sâu tâm tư của tác giả .Cảnh và tình người cũ và người mới ,chiến thắng và chiến bại rốt cục trước  niệm thiên địa chi du du vô chung vô thủy của thời gian cũng chỉ là những mảnh vụn chìm sâu trong ký ức.Tác giả nâng niu gìn giữ nó để người đời sau còn biết có gió bụi một thời rót về phương mô.Anh Trần Doãn Nho đã nghĩ chín, anh Lương Thư Trung đã ghi sâu về cái đẹp ,cái đáng trân trọng của Sống với thời quá vãng . Riêng tôi, cũng như các anh các chị đến dự buổi ra mắt sách của Phan Xuân Sinh với tư cách độc giả , tôi chỉ làm một việc dễ hơn hai anh nhiều : Phát biểu cảm nghĩ cá nhân về những điều tâm đắc rút ra từ tập truyện . Còn chiều sâu tác phẩm,nội hàm ẩn tàng trong thi pháp tác phẩm còn chờ đợi nhiều  ở sự thẩm bình của các anh chị văn thi hữu xa gần .Tôi khao khát quý vị hãy thâm nhập, chiếm lĩnh tác phẩm và chia sẻ với anh Sinh về đứa con tinh thần anh đã trăn trở ,quặn thắt, tâm sự ,giải bày từ một đời chiến chinh ,thăng trầm,lưu lạc của chính anh mà cũng có thể của cả chúng ta .                     Có một điều tôi muốn nói nhỏ với quý vị bao nhiêu cuộc chau mặt với tang thương -luống đoạn trường khi chứng kiến cảnh đó người đây trong Sống với thời quá vãng đâu chỉ có một mình tác gỉa họ Phan .Còn đồng tác giả  chúng ta hơn ba mươi năm bên trời bẻ kiếm  tuy vết thương đã liền da liền thịt nhưng dấu cắt vẫn còn đau .Đọc tác phẩm và đồng sáng tạo với tác giả theo tôi thiển nghĩ đó cũng là tâm nguyện của bất cứ nhà văn,nhà thơ nào. Kính gửi đến quý anh chị lời chào  trân trọng .

Houston   November 12 ,2009

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

CHIM BỎ ĐÀN XA XỨ….

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười 23, 2009

Nguyễn Hàn Chung

Chim bỏ đàn xa xứ
ôm nỗi nhớ tàn phai

(nhân đọc tập thơ “Đứng dưới trời đổ nát” của  Phan Xuân Sinh-Tạp chí Văn-2000)

Có người cho rằng mạch thơ trong Đứng dưới trời đổ nát của Sinh ít tung tẩy chữ nghĩa như một số bài thơ của anh sau này.Tôi không nghĩ thế ,đọc hết tập thơ ráng căng con mắt thấu thị nhìn vào trong vỉa từ thơ anh tôi cảm thấu trong nội hàm ẩn chứa nhiều phong vị .Trước tiên là phong vị cổ thi’’ta.Trời tây mỏi mắt-người Trời đông chau mày-hai phương mà như một –nào đâu người có hay’’(bên kia nỗi nhớ).Tứ thơ  với những hình ảnh ước lệ ngựa hồ ,đất khách  cố xứ ,chân mây sẽ khá cũ càng  nếu anh  không có những câu thơ  khải truyền cho từ một tải trọng đời sống huyết tận ‘’khẽ chạm vào huyệt lộ-bỗng dưng người mất tăm’’’’bóng đè lên thân phận –ta đang chiêu hồn ai?).
Đắm mình trong nguồn mạch văn chương  khí khái hào sảng ngày trước 1975 anh có những bài thơ thấm đẫm hào khí, ngôn từ trong thơ  nhắm vào đối tượng với tư cách ngôn từ thông thường ít nhiều còn mang tính tượng trưng nhưng  mê đồ chữ nghĩa đã biến dị  hiển lộ bản sắc cá nhân với những luận chứng ,luận cứ làm cơ sở của xúc cảm khẳng định lý tưởng hoài bão ôm ấp của mình (hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(một đoạn cho Kiều )(gặp lại bạn ta).Những bài thơ ngóng vọng cố hương của PXS theo tôi đã đạt tới cảnh giới thơ khả thơ phi thường thơ bởi lòng anh và hình tượng thơ đã  hòa mạch vào nhau nói như lời Kim Thánh Thán ‘’chỗ mà lòng tới rồi bút bất tất phải tới nữa’’ .Ta hãy nhâm nhi vài ly chữ của Sinh“nửa đêm còn vọng tiếng ai-nghe oan hồn khóc bên tai rã rời-giật mình chỉ biết ngậm ngùi-
làm sao chia bớt với người nỗi đau’’(bay qua đời khói sương)
Câu thơ cuối cùng kết tứ cho đọan  thơ dường như vô hình trung đã vận, đã mắc vào đời anh với niềm trăn trở làm sao gánh vác bớt nỗi đau bè bạn  ‘’chìm sâu ngàn trùng’’ hoặc ‘’lây lất khốn cùng bến mê’’.(Và theo như tôi biết từ  khi anh còn lăn lóc chốn chợ trời cố  xứ hay  sau khi lăn lộn kiếm được chút của nả xứ người bao bè bạn quê nhà đã được anh cưu mang ,đùm bọc mà anh giống như bậc hành giả dù viết cả một tập truyện ký mang mang hồi ức anh vẫn  kín tiếng không hề  thố lộ cùng ai)
Một số bài thơ  trong ba tập thơ của anh nói như lời  nhà thơ Trần Doãn Nho trong bài Vài suy nghĩ về ‘’Sống với thời quá vãng’’ của Phan Xuân Sinh’ ‘’đã đi vào lòng độc giả với cái chất hiện thực chan hòa trong lối lý sự  rất riêng ‘’cái lối lý sự giận dỗi lửa rơm  mà hầu như  bất cứ ông nhà thơ Quảng Nam kim cổ nào không mắc cũng là mang:‘’muốn may miệng những thằng láu cá-Bợ đỡ tung hô kẻ bất tài ‘’ ‘’khàn hơi chỉ mặt đứa gian manh-bán đứng anh em chơi trò lừa lọc-núp sau lưng đoạt cuộc tranh giành’’ Giận phường bội bạc , ngòi bút anh tung hoành rót về tứ phương để trút cơn phẫn hận  chứ  ngoài đời anh rất hiền, bạn bè chỉ thấy một PXS chưa hề nặng lời với ai kể cả những kẻ không ra gì…
Những bài thơ viết về vợ của anh rất chân thật và cảm động bởi nó không màu mè dối trá như một số nhà thơ khác .Hơn ai hết  anh cảm thấu người bạn đời

là người ‘’cắn răng chịu đời khổ tận –u uất trong lòng-đắng cay chồng chất’’để ông nhà thơ tự thú ‘’ hư thân, bạt mạng ,cuồng ngông, hoang đàng’’lao tâm khổ tứ chơi cái trò phụng hiến con chữ  mà con chữ hỡi ơi vĩnh viễn hay phù du nào ai biết ai hay.Mảng thơ viết về bạn của anh dàn trải trong nhiều bài thơ ‘’chén rượu tạ lòng bạn hiền-gặp lại bạn ta-nói chuyện với bạn hiền …’’thật sự bộc tỏ lòng anh với bạn’’ta gióng chuông kêu lên tức tưởi-những oan hồn vất vưởng đâu đây-âm dương .cùng ngồi chung manh chiếu-bạn,thù .chia nhau chén rượu đầy..(nói chuyện với những bạn hiền )
Thơ PXS đặc dị ở chỗ có những câu anh viết rất trụi trần không câu nệ ngôn ngữ toàn dân hay khẩu ngữ nhưng vẫn có tính hàm súc cao,từng câu đều có tính độc lập nội tại, nhiều câu có chiều hướng hướng tới tính chất và cấu trúc của  những cách ngôn(hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(đêm nằm nhớ Ức Trai)(nói chuyện với những người sinh vào thiên kỷ mới).
Đứng dưới trời đổ nát của  PXS dù vẫn chưa thoát ra mô tip thơ  ngất ngây hào khí vang bóng của lớp trai thời loạn một thời nhưng trong thơ anh trời đổ nát đã tái sinh  với những hình tượng huyễn tưởng đan cài .Đọc thơ anh không  chỉ những  tên đồng thị thiên nhai luân lạc nhân , suốt đời vật vã- chạy vòng quanh kiếm tìm  trên bước đời lưu lãng chúng ta hắt hiu lòng vọng nhớ  những Giếng Bộng,Đò Xu cũ càng,một Cầu Vồng dốc ngược, bến phà Hà  Thân đã chết mà những bè bạn quê nhà  những kẻ đầu non cuối chợ,búa rìu bổ lên đầu lên cổ cũng tìm trong bóng chữ trong thơ PXS một chút bóng dáng an ủy
trong những năm tháng cuối đời.
Cái tài tình của nhà thơ Phan Xuân Sinh trong  tập thơ Đứng dưới trời đổ nát  là  tuy vẫn bám vào các thể loại  cấu trúc của truyền thống cũ  nhưng lại nhằm vào những tầng sâu hơn của truyền thống để can dự vào các đề tài vĩnh cữu :tình yêu,quê hương, cái chết ,nỗi đau, niềm tin ,chiến bại… Và  một điều đáng để những ai yêu quý thơ PXS lưu tâm  là bất cứ dự cảm nào trong hình tượng thơ anh cũng bộc tỏ phong cách rất riêng của người nghệ sĩ không lẫn vào bất cứ nhà thơ  hải ngoại nào .Phải chăng đây chính là bản lai chân diện mục của hồn thơ Phan Xuân Sinh!..

Viết tại Lầu Cây khế -Houston Texas
Tháng 10/2009

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

GÓT CHÂN THƠ PHAN XUAN SINH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Chín 10, 2009

Gót Chân Thơ Phan Xuân Sinh
Hà Khánh Quân

Trong thi phẩm đầu tiên của riêng mình, Đứng Dưới Trời Đổ Nát, Phan Xuân Sinh đã mở đầu, bằng những lời cảm ơn và kín đáo ngợi ca người đàn bà, đã già nửa đời nằm bên cạnh.  Lối nịnh vợ cùng đóng thuế này không lạ. Nhưng đặc biệt hơn nhiều tác giả khác ở chỗ, tặng phẩm của anh làm bằng thơ, với thể loại thuần túy của dân tộc:
cảm ơn em, cảm ơn đời
tình sau, nghĩa trước. Một đời bao dung
giữa bao nhiêu cái khốn cùng
còn cho nhau chút thủy chung giữ mình
(Bài thơ cho vợ hiền  – đứng dưới trời đổ nát)

Tình sau nghĩa trước chắc hẳn xuất phát từ thành ngữ “tình sâu nghĩa nặng”, Ở đây không ngụ ý sắp xếp, bởi tình và nghĩa vốn thường đi sánh vai nhau. Và chỉ với “Một đời bao dung” đủ cho chúng ta nâng chén, mừng hạnh phúc của đôi trẻ Thiên Nga, Xuân Sinh có chút thủy chung. Một chút ở đây vốn rất vô cùng.
Những sôi nổi của thời mới chạm mặt, mới yêu, theo tự nhiên sống ẩn mật trong hạnh phúc. Thơ viết cho người phối ngẩu, từ đó trở thành những động tác yêu thương không văn tự. Trôi mãi trong tháng ngày bình thản, người làm thơ nhiều khi tưởng như thiếu một góc trời để thở, và đi tìm những ba hoa trong ngôn ngữ, trong những tưởng tượng giàu hình ảnh, để rồi một ngày, không lầm lỗi, sai trái gì, cũng chợt giật mình tự động dựng những rào đón, những trấn an cho chính mình hơn là cho người vợ. Đây có lẽ là một chiêu hâm nóng tình yêu rất hữu hiệu. Nhà thơ Phan Xuân Sinh cũng thực hiện nghệ thuật  (hay xảo thuật) đó:
em tiếc gì không một thời con gái ?
mười chín tuổi đời quày quảy theo chồng
ta thằng hư thân. Sống đời bạt mạng
cũng chẳng ra chi cái thứ cuồng ngông

lỗi của ta thì ngập đầu ngập cổ
bữa trước bữa sau, dối vợ đợ con
em cắn răng, chịu đời khổ tận
bao năm qua u uất trong lòng

em vất vả đắng cay chồng chất
gió sớm mưa chiều phủ lên đầu
lặn lội đơn thân ngoài cõi vắng
âm thầm quay quắt suốt đêm thâu

một đời em tối ngày tất bật
nên yêu em ta gác chuyện ăn chơi
ngựa hoang đàng là ngựa quen đường cũ
ta hoang đàng ta chỉ biết hầm hơi

sư trong chùa cũng ba hồi lầm lạc
huống gì ta một đứa thất phu
nghĩ cho cùng cũng chưa hèn mạt
chỉ biết mình còn hơi vụng đường tu

thôi em ạ, đừng buồn lòng ta nữa
chuyện vợ chồng ta tính chuyện trăm năm
có đâu nỡ phải tính ngày tính bữa
để rộng đường ta sám hối ăn năn

mỗi lần hôn em thấy mình sống lại
em vẫn thơm, vẫn ngọt như đường
ta chết lặng, trách mình lầm lỡ
tạ lỗi em. Em thiệt dễ thương
(Tạ lỗi với vợ hiền, đứng dưới trời đổ nát ĐDTĐN)

Qua bài thơ, ta thấy Phan Xuân Sinh thật chắc tay trong nghệ thuật dỗ ngọt, làm lành. Trước tiên, anh thăm dò người tình trăm năm có hối tiếc việc quyết định đi bên đời mình. Tiếp theo là màn tự kiểm điểm, tự bào chữa (ngựa hoang đàng là ngựa quen đường cũ ta hoang đàng ta chỉ biết hầm hơi) nhưng vẫn không quên đánh giá tốt cái “tôi” của mình. Cái tôi ấy giàu hình ảnh một bậc hảo hớn, đội trời đạp đất ngang dọc, chưa chắc đã thua Từ Hải của cụ Nguyễn Du. Anh còn đi xa hơn, khi trưng ra những đạo hạnh của các vị nương nhờ cửa Phật (nương nhờ chứ chưa hẳn đã tu) để so sánh với mình. Và sau cùng, mới thật sự xuống nước, phân trần và hứa hẹn. Bao nhiêu hờn giận lẫn lầm lỗi (dù có thật) cũng sẽ tan biến nhanh chóng, sau phút giây dắt nhau qua khoái cảm. Lời nịnh chiến thắng nhẹ nhàng mở ra: em thật dễ thương. Chẳng có thể trách gì nhà thơ, nhưng cũng không nên vỗ tay.
Phan Xuân Sinh còn tiếp tục làm thơ tình cho vợ. Trong thi phẩm Khi Tình Đang Ru Đời, ba đoạn lục bát cho chị Thiên Nga rất “mùi”:
“một mai có kiếp luân hồi
ta xin trở lại một đời làm thơ
một mai thỏa những ước mơ
tình như đã chín bên bờ ngủ say
em nằm yên ngủ trên tay
ta nằm yên thấm những ngày có nhau
từng đêm chung gối tựa đầu
một lời đã thấu ơn sâu nghĩa tình
bóng thời gian đã qua nhanh
yêu nhau rực chín ngọn nhành yêu thương
trải đời qua mấy dặm trường
vẫn đeo nhau mãi một đường Thiên Nga”
Mai mốt, Phan Xuân Sinh in tác phẩm mới, chắc chắn những người yêu thơ, còn được đọc ké “cô bé” này, nhiều lời ngọt như đường khác.

Thơ tình yêu nam nữ, nói dân dã hơn, thơ trai gái, luôn luôn là chủ đề số một trong “vũ trụ thơ” (chữ của nhà phê bình Đặng Tiến). Luận về loại thơ tình yêu này dễ sinh ra lẩn thẩn, không biết chừng lây bệnh làm thơ luôn. Nhưng dẫu sao, đang dạo chơi trong vườn thơ Phan Xuân Sinh, cũng nên xem anh có những thói quen nào khi săn tình, khi bị tình phụ…
Cũng như một số người làm thơ khác, tác giả Đứng Dưới Trời Đổ Nát, sau khi bắt gặp một bóng hồng vừa ý, thơ anh thành hình dưới bộ khung:
– phác họa chân dung cùng cử chỉ.
– tùy theo phản ứng của đối tượng, bày ra tâm trạng
– thả lời thăm dò, tán tỉnh, tỏ tình
Ngôn ngữ tình yêu, dù có thay đổi cách tân đến đâu, vẫn luôn luôn đọng lại một số từ căn bản, không bắt buộc, nhưng người làm thơ tự nhiên phải dùng. Bài thơ được đánh giá bằng thước đo:
– Mức rung động, xúc cảm của người viết.
– Sự chân tình lẫn hoa tay diễn đạt.
– Sự linh động, có hơi thở của hình ảnh, màu sắc
Thơ Phan Xuân Sinh như thế nào ? Mời các bạn cùng thẩm định qua một số trích đoạn:

“một dạo, ta ngồi lỳ ở đó
nhìn em qua đò áo đỏ lụa bay
mắt ta dán chặt vòng eo nhỏ
em xốn xang qua cái chau mày

ta tưởng mình đùa chơi đôi chút
nào hay lòng rũ rượi bất an
bởi em, áo lụa mờ đôi mắt
ta thẩn thờ giữa bến Hà Thân…”
(nhìn em qua đò Hà Thân – Đứng dưới trời đổ nát)
ghi nhận riêng:
– Thơ rất sinh động, giàu hình ảnh.
– Thành công trong việc chọn chữ : ngồi lỳ, dán chặt
– Sắp xếp ngôn từ trong câu thơ thích hợp: em xốn xang qua cái chau mày” / “bởi em, áo lụa mờ đôi mắt”
– tổng thể giản dị nhưng giàu cất thơ

“một giọt nắng, đủ làm ta choáng ngợp
huống chi em mang cả một bầu trời
nên ta mãi cứ đeo hoài mỏi mệt
để hồn ta tràn ngập chút tình rơi”
(Chút tình)
ghi nhận riêng:
–  có những liên tưởng thích hợp
–  động tự “đeo” rất đẹp
Thưa: chỉ xin ba hoa chút xíu gọi là góp ý vậy thôi. Những đoạn tiếp theo, tôi tin có nhiều sự thưởng ngoạn khác nhau, tùy theo cảm nhận của từng người đọc.

“ em đỏng đảnh treo mảnh tình trên giá
ta ngước nhìn thèm ứa máu chạy quanh
em có biết tình chín mùi bay tỏa
chết lịm hồn ta và rất mong manh”
(Mùi hương)

“… Huế rộn rã tiếng guốc khua đường phố
nón che đầu e ấp buổi tan trường
em sợ ai mà bước đi vội vã
để má hồng còn đọng chút nắng vương

ta chết điếng một thời, em Thượng Tứ
bởi nụ cười, môi mỏng gái thâm cung…”
(Chút tình cho Huế ĐDTĐN)

“em ghé qua vườn ta chơi
đôi chân trần em trên cỏ
áo bay vờn quanh trong gió
hương tỏa ngập cả lòng ta
bóng chiều tha thướt em qua
là lòng ta đầy bối rối
ta trăn trở dài trên gối
mà nào em có hay đâu…”
(Thở bằng trái tim em – KTRĐ)

“ này em thân cõi phù trầm
tóc tung hồ nguyệt, mắt đầm đìa buông
tàn thu chiều ngậm hơi buồn
giữa mênh mông, Giữa ngạnh nguồn nổi trôi
nụ cười chợt lịm trên môi
em thâm cung giữa một đời quân vương
lụi tàn phế tích phấn hương
cũng bay theo gió tứ phương. Nhuộm màu
quan san, cũng ngậm ngùi đau
trái ưu phiền rụng trên đầu hắt hiu
ta về góp nhặt tiêu điều
trải lòng ra giữa một chiều nắng hanh
mời em vào cứ dạo quanh
em thong dong giữa ngọn ngành tim ta”
(Dạo vườn buổi tàn thu ĐDTĐN- 17-18)

Theo tôi, trong cả hai thi phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát và Khi Tình Đang Ru Đời, chủ đề lớn nhất là những suy tư về kiếp nhân sinh. Tác giả đã lồng những suy ngẫm, cảm xúc của mình dưới nhiều góc cạnh của đời sống. Thơ đã tìm đến với tác giả từ những địa danh, từ những buổi cụng ly, từ những tưởng tượng ngẫu hứng, từ những tình huống tình cờ…
Phan Xuân Sinh là người rất mê rượu, hơn nữa anh là người từng làm chủ vài tiệm rượu tại Hoa Kỳ, nên tôi xin mở cánh cửa này trước.
Chứng nghiệm từ thực tế, thành ngữ “rượu vào lời ra” chính xác chừng 70%. Áp dụng lên ông nhà thơ, gốc quân đội Việt Nam Cộng Hòa, có thể đúng được một nửa. Thật vậy, Phan Xuân Sinh, sau khi nạp men nồng vào cơ thể, anh cũng thả lời ra rất nhiều. Rất may những lời anh phân phát, là những dòng thơ, mà theo tôi, đẹp đứng hàng đầu trong tổng thể thi ca của anh.
Nhà văn Trần Doãn Nho (Trần Hữu Thục) đã dùng  những từ: u uất, ngang tàng, sâu, chân chất, cuồng ngạo, xót xa…để nói lên sắc thái thơ Phan Xuân Sinh. Tôi nghĩ, để có những nhận xét tinh tường và xác thực ấy, Trần Doãn Nho đã dựa lên những bài thơ rượu của bạn mình. Nguyên văn của nhà biên khảo Trần Hữu Thục (TDN):
“Hơi thơ của Phan Xuân Sinh lạ, ngang tàn mà u uất, cuồng ngạo mà xót xa, sâu mà chân chất. Trong cuộc rượu đọc lên nghe nghèn nghẹn, tưng tức và cảm giác như muối xác vào lòng.”

Thơ dẫn chứng:

trên chiếu rượu. Bạn là tay cự phách
cỡ như ta cũng phải chầu rìa
nhào vô. Chỉ thấy mình lãnh đạn
thối lui…đâu được. Cứ lia chia
máu Quảng Nam ta, hơi thô lỗ
vài ba chén rượu, đã cãi càng
bận tâm chi mấy lời nói sảng
rượu vô, điên tiết cứ huênh hoang
ta nói bạn: cường hào ác bá
là khen cái hay của bạn hơn người
ngửa cổ, rượu tu không biết mệt
trải lòng ra hết giữa cuộc vui
nghe bạn nói, đúng dân ngoài nớ
một cái tên. Chở một trời quê hương
hèn chi, tửu nhập mà không loạn
nghiêng đôi vai gánh một hồ trường
ta thuộc dân kỳ hồ lang bạt
đất mẹ. Xứ người, mãi miết chơi
mặc khách. cùng đinh, trên chiếu rượu
hào khí bay quanh. Dễ mấy người ?
trong đời có bao lần được gặp
rượu trăm ly, hồ dễ đã say
thì tiếc chi một lần ngã xuống
cùng chia nhau một chén rượu đầy
đêm nay, ta muốn say cùng bạn
chuyện bên ngoài, vất lại đằng sau
rượu mềm môi, tạ lòng bạn quý
ngày mai đâu dễ uống bên nhau
Trong “Chén Rượu Tạ Lòng Bạn Hiền” (bài thơ trên) và trong những bài thơ rượu khác, Phan Xuân Sinh đều có đủ những ưu điểm, Trần Doãn Nho đã nêu ra. Đọc thơ, ta thấy rõ, cái hào khí của nhà thơ tỏa ngay trong lúc đề cao người đối ẩm (ở đây là người bạn thơ của tác giả, Nguyễn Khánh Hòa), và trong cách tự đánh giá phong thái của mình (đoạn 1). Sự bộc trực, nét ngang tàng với chút ít tự đắc về nguồn cội thể hiện ở đoạn hai. Nét chân tình, cởi mở, có ở đoạn ba. Ở các đoạn còn lại, mang đủ những bản sắc trên nhưng được lồng đậm đà nỗi niềm ngậm ngùi, chua xót. Bài thơ hay nằm ở sự diễn đạt tự nhiên, giản dị, tiêu biểu các câu “thối lui…đâu được. Cứ lia chia / rượu vô, điên tiết cứ huênh hoang / hèn chi, tửu nhập mà không loạn / chuyện bên ngoài, vất lại đằng sau…”
Nét ngang tàng rất Quảng Nam của Phan Xuân Sinh, còn nhìn thấy rõ nét trong bài “Uống Rượu Với Người Lính Bắc Phương”:
“hãy rót cho ta thêm cốc nữa
ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí
chuyện ngày mai có chi đáng kể
dẹp nó đi cho khỏi bận tâm
thằng lính nào mà khong rét lúc ra quân
khi xung trận mà không té đái…”

Đọc thơ rượu của Phan Xuân Sinh đã thú, nếu được ngồi cụng ly với anh chắc còn thú vị hơn. Nghe nói anh hồng hào tốt tướng. Khuôn mặt rạng rỡ phương phi. Cười nói xuề xòa nhưng chừng mực. Một ông chủ tiệm rượu không thể là người nghiện rượu được. Đây không phải là nguyên tắc. Nhưng đây là điều kiện ắt có và đủ để kinh doanh trong ngành ẩm-nhiều-thực-ít này. Nếu có dịp làm quen, ngồi uống với anh, tôi chắc sẽ bắt chước một nhà thơ, “véo đùa chơi một cái” thử có “rượu bung da thơm ngát chỗ đang…(ngồi) nằm” (thơ LH) hay không.

Thả lòng theo những dòng thơ đến từ sự tưởng tượng, liên tưởng của Phan Xuân Sinh, cũng là một khoái cảm. Anh thường mở cho mình những cuộc gặp gỡ, độc thoại với nhiều nhân vật. Những nhân vật đó gồm có những ai ?
Có bằng hữu:
“cũng quẩn quanh mấy thằng lưu lạc
sớm chiều nghề ngỗng chẳng hơn ai
trong lòng lịm tắt bao chí lớn
đêm về se sắt tiếng thở dài…
bạn cười khinh bạc đời dâu bể
có chút gì như thể dấu lòng
chuyện vợ, chuyện con. Giả lờ quên phắt
tay nâng ly mà nước mắt lưng tròng…”

Có tình phụ:

“… đời chia ta thành từng ngã rẻ
những nhánh sông đâu dễ gặp nhau
mảnh tình vỡ trôi đi tứ tán
nước chảy qua cầu còn đọng vết đau…
vẫn biết tình đi là tình hết
mà sao ta cứ mãi trông tìm…”

Có kẻ khác chiến hào:

người yêu của bạn ở  ngoài phương Bắc
giờ nay đang hối hả tránh bom
hay thẫn thờ dõi mắt vào Nam
để chờ người yêu ình trở thành liệt sĩ
rồi cũng sẽ quên, như bao điều suy nghĩ
tình yêu như một thứ điểm trang ?
che đi chút dối lòng…”

Có thế hệ hậu sinh:

“… thời của bọn ta chẳng biết về đâu
chạy lung tung, mặt hãi hùng thất tán
nhìn về núi sông ruột đau như cắt
bài học này xin gửi lại các người”

Những bậc tiền nhân lẫy lừng của Việt Nam hay trong cổ sử Trung Hoa cũng được Phan Xuân Sinh dựng dậy nghe anh giải bày. Ngài Ức Trai Nguyễn Trải (1380-1442), ra đời trong thời biến loạn, ngài đã dùng cái học uyên thâm của mình để giúp vua Lê Lợi hoàn thành nghiệp đế. Tâm huyết trong Bình Ngô Đại Cáo của ngài được trọng dụng. Trái hẳn với thời binh đao của thế hệ Phan Xuân Sinh. Dĩ nhiên nhà thơ không đem cá nhân mình ra so sánh. Nhưng không thể không cho anh những suy tư:
“… giữa thời này, thời mạt vận của văn chương
chẳng đáng giá gì câu thơ, bài phú
bình thiên hạ. Nói lên bằng đầu súng
ngài sống lại ở đây, cũng chỉ bó thân…

đêm nay nằm, ta lại nhớ tới ngài
gối lên nỗi đau của người thất thế”
(Đêm nằm nhớ Ức Trai)

Xa lắc xa lơ, từ thời Đông Châu Liệt Quốc, Ngũ Viên tên là Tử Tư, người nước Sở, đã suy nghĩ đến bạc râu tóc để thoát sự truy sát của vua nước mình. Ông sống lưu vong tại nước Ngô, giúp thái tử Quang của nước này trở thành vua Hạp Lư. Con đường công danh của ông thật rạng rỡ. Trong khi đó cùng hoàn cảnh trốn chạy khỏi quê hương, Phan Xuân Sinh và thế hệ anh lụn bại hơn nhiều. Nhớ về danh sĩ xưa chạnh nghĩ đến thân phận lưu vong dù có chệch choạch, anh cũng so sánh:
“… chí lớn của ngài thiên cổ chi mê
làm rạng danh một thời hoạn lộ
đầu bạc đã trả xong món nợ
còn ta thẹn mặt với cố hương
nghĩ lại mình là đứa cùng đường
làm sao đây với trí cùn lực mỏi…”
(Hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)

Cái bất lực chua xót của nhà thơ cũng là nỗi niềm xót xa của chúng ta, những người đang lưu lạc trên xứ người, lẫn những người đang mất quê hương ngay trên xứ sở của mình. Những nhân vật trong cổ sử Trung Hoa, có sức hút khá lớn đến một số nhà thơ Việt Nam. Riêng đất Quảng Nam, ngoài Phan Xuân Sinh còn có Hoàng Lộc, Hà Nguyên Dũng…Không hiểu khí phách người xưa có phù trợ hay không, những bài thơ có chút ngông nghênh này, đa số đều có hồn và xuất sắc.
Ngoài Ngũ Tử Tư, Phan Xuân Sình còn làm sống trong chúng ta một tên tuổi trong thời Tam Quốc bên Tàu: Tào Tháo. Nhưng lần này, ngoài chuyện cay đắng so sánh, Phan Xuân Sinh còn có tham vọng “giải oan” cho nhà thơ, nhà chính trị, cũng là một quân phiệt cuối thời Đông Hán:
“ ông quả đúng tổ sư đất Ngụy
lột áo.Cháy râu. Giặc đuổi chạy dài…

cái chạy của ông, sau lập nên nghiệp cả
thất thế sa cơ là chuyện nhất thời…
cái chạy của bọn ta, trùng trùng mù mịt
chuyện áo cơm lo tối mặt phờ râu…

ta kẻ hậu sinh, giở lại pho sách cũ
mà khen ông đúng bậc tài hoa…”
(Giải Oan Cho Tào Tháo)

Những danh sĩ Trung Hoa đứng trong thơ Phan Xuân Sinh còn có thĩ sĩ Thôi Hộ người đời Đường. Thiên tình sử cảm động của nhà thơ này để lại sự tích: khuôn mặt thiếu nữ do đâu được ví với hoa đào.Thi sĩ Tản Đà của chúng ta từng chuyển ngữ bài Đề Đô Thành Nam Trang, là bài thơ Thôi Hộ đã làm tặng người con gái ông gặp tình cờ khi ghé xin nước uống, sinh tình đề thơ, để nảy sinh những tình tiết rất lãng mạn, thơ mộng.
Cửa đây năm ngoái cũng ngày này,
Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây.
Má phấn giờ đâu, đâu vắng tá,
Hoa đào còn bỡn gió xuân đây. (TĐ)
Phan Xuân Sinh cũng dựa vào câu chuyện tình này để hoàn tất bài thơ 28 câu của anh:
“…ta muốn làm người xem hoa cỡi ngựa
dạo chơi ngang dọc chốn hồng đào
đọc lại mấy câu thơ Thôi Hộ
lòng bỗng nhiên chợt thấy nao nao

hồng nhan, nghe thất điên bát đảo
một đời ta, chịu không thấu chữ này
mấy thằng bạn làm thơ trái tim bệnh hoạn
nên mãn đời cũng chỉ vùi thây…”
(Xem hoa đào đọc thơ Thôi Hộ – Khi tình đang ru người)

Không diện kiến cụ Tiên Điền Nguyễn Du, nhưng Phan Xuân Sinh đã dành cho nhân vật Thúy Kiều nhiều dòng thơ lục bát:
mười lăm năm cuộc bể dâu
mười lăm năm ấy qua cầu mới hay
giải oan cho cuộc tình nầy
mượn dòng bạc mệnh lưu đày kiếp hoa
bán mình không nổi chuộc cha
khóc người mà cũng khóc ta một đời
(Một đoạn cho Kiều -Đứng dưới trời đổ nát)

cho ta dành cõi thiêng liêng
cho ta gửi chút tình riêng vói người
trải tấm thân khắp muôn nơi
cầm lòng vẫn giữ một lời thủy chung…
…….
khóc người một bậc tài hoa
mười lăm năm đã nhạt nhòa phấn son
khóc ta đôi mắt mỏi mòn
mười lăm năm vẫn một lòng nhớ quê
(Một đoạn khóc Kiều – Khi tình đang ru người)

Bè bạn, người yêu, kẻ cựu thù đến những nhân vật tên tuổi… tất cả hình như đã trở thành những bậc thềm, những nền nhà, để nhà thơ trở về, qùi gối diện kiến với chính mình. Hỏi han, giải bày đã trở thành những lời độc thoại, trái tim nói tấm lòng nghe. Những hoạt cảnh như vậy chẳng chỉ nằm trong những trích dẫn trên, mà còn trang trải mượt mà qua nhiều trang thơ. Xin tạm dừng nét đẹp này ở đây để tìm đến góc cạnh thành công khác trong thơ Phan Xuân Sinh.

Trong bài giới thiệu thi phẩm Đứng Dưới Trời Đỗ Nát, nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh có đoạn:
“… Có nhiều người đã nhận định, nếu là thi sĩ mà nguyên quán là xứ Quảng Nam ngũ phụng tề phi, thì chắc chắn trăm phần trăm sẽ có những bài thơ để trang trải tấm lòng của mình với nơi cố thổ. Luân Hoán, Hoàng Lộc, Thái Tú Hạp… đã có những bài thơ được sáng tác với tấm lòng cùng tột rung động của mình! Phan Xuân Sinh cũng thế…”
Để chứng minh nhận định khá chính xác của “nhiều người”, do tác giả Tạp Ghi Văn Nghệ nhắc trên, xin mời tìm hiểu đôi nét về cội nguồn Phan Xuân Sinh cũng như xem anh đã trải lòng như thế nào với quê cha đất tổ.

Ra đời ngày 02 tháng 01 năm 1948 tại Nại Hiện Đà Nẵng, “ Phan Xuân Sinh, lấy tên thật làm bút hiệu khi làm thơ và viết văn. Ông sinh ra trong một gia đình mô phạm, mồ côi mẹ lúc mới mười một tháng tuổi, sống với thân phụ vừa dạy học vừa nuôi con, và nhờ đùm bọc dạy dỗ của hai bên nội ngoại mà ông đã lớn khôn và vào đời với tâm hồn thuần phác, cởi mở và trung trực…”. (LTT)
Đoạn chữ nghiêng ở trên do nhà văn Lương Thư Trung giới thiệu. Có lẽ chừng ấy đã đủ. Nhưng giàu tò mò, tôi lật tới lật lui cả 3 tập thơ: Chén Rượu Mời Người (in cùng nhà thơ Dư Mỹ, 1996), Đứng Dưới Trời Đổ Nát (2000), Khi Tình Đang Ru Người (2008) và thất vọng. Không thấy Phan Xuân Sinh viết dòng nào về ấu thơ của anh. Buồn tay, tôi ba hoa ba sợi, chưa kịp xin phép anh:
“ra đời vào một đêm mưa
không trăng nhưng gió đẩy đưa ổ nằm
con chim sữa bằng cọng tăm
lâu lâu lại ngõng đầu rồng làm mưa
ra đời vào buổi xế trưa
nắng lòn vách cửa đong đưa nôi vàng
bàn tay, mẹ ướp hương lan
đợi ngày trổ ngát ngàn trang phiêu bồng –  HKQ”

Nhà thơ đừng che miệng cười nhé. Thơ… thẩn đâu phải chuyện đùa. Và tôi có đùa đâu. Cũng trên sáu dưới tám. Cũng vần cũng điệu hẳn hoi. Có chăng là nó chẳng ra thơ. Vẫn còn thiếu một hơi người phà vào đó. Tôi hy vọng cái liều mạng trên của tôi sẽ bắt nguồn, tạo hứng cho Phan Xuân Sinh viết về mình bằng thơ nhiều hơn nữa. Tôi chờ đọc ở những tập thơ tiếp theo. Bây giờ đã đến lúc phải ghé vào chùm thơ quê hương trong hai thi phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát (2000), Khi Tình Đang Ru Người (2008).
Đà Nẵng, quê Phan Xuân Sinh, một thành phố không cần tốn nhiều dòng để giới thiệu. Nhà thơ không cư ngụ tại các quận lớn như Hải Châu, Phước Ninh. Anh ra đời ở Nại Hiên. Dĩ nhiên tôi không thể biết nóc nhà của anh bén rễ chính xác nơi đâu. Nên đành bâng khuâng: Ở Nại Hiên, không hiểu nhà thơ có gần nhà người đẹp Trân Châu không ? Hẳn những lúc đi tìm thi hứng, đã có ngắm qua những Như Thoa, Kim Uyên, Hoàng Bích Quân… Những kiều nữ hít thở bên Cổ Viện Chàm, cạnh dòng sông Hàn này ngày nay đều có mặt dưới hai quốc kỳ, cờ lá và cờ hoa… Nhưng thôi, hãy trở lại với Nại Hiên. Thật buồn, không thấy gốc cây vông đồng cao lớn cùng khu chợ dưới bóng mát của nó. Những tiếng chim, tiếng gió lẫn tiếng ruồi bay… đâu dễ gì ai cũng biết lắng nghe. Chẳng lẽ tuổi thơ của Phan Xuân Sinh không biết đi lượm nắp ken ? không biết xử dụng ná bắn chim ? Anh chỉ nhắc đến một cái Giếng Bộng đơn độc:
“ ta cùng nhau uống giếng này
hình như giếng cũng mang đầy nhớ thương
‘đầu sông Tương, cuối sông Tương’
em, anh, một mối. Hai đường cách ngăn
chỉ còn anh với vầng trăng
bên thành giếng cũ. Em thành người xưa”
(bài lục bát cho Đà Nẵng)

Con đường Trưng Nữ Vương đâu ? trường Sao Mai đâu ? Ngôi trường này anh đã học, sau 1975 mất tên, bây giờ năm 2009, đã mất hẳn dấu tích, dù những Kiều Trang, Hoàng Nga… vẫn còn đâu đó trong cuộc sống. Đối với những người luôn nhìn thấy Quá Khứ Trước Mặt, bức tranh về Đà Nẵng của anh còn đơn sơ quá. Dù sao cũng xin cảm ơn những nét chấm phá của anh. Có nhiều hình ảnh trong thành phố, chỉ cần gọi tên là đã lượm được cả ngàn vụn kỷ niệm, ví dụ như dốc Cầu Vồng. Con dốc ngày nay cũng đã đi vào dĩ vãng, nhưng kỷ niệm của mỗi người từng đặt chân lên da thịt nó còn hoài. Anh cũng tìm được phần quà cho riêng mình đó thôi:
đạp xe vượt dốc Cầu Vồng
chở em. Áo ướt.lưng cong mệt nghoài
giọng em, thỏ thẻ bên tai
mát lòng, (Như thể nghe ai rót tình)
yên sau. Em muốn quay mình
là anh như thể nhục hình đâm ngang
(bài lục bát cho Đà Nẵng)

Chỉ mới đến Chợ Hàn, anh đã lên Đò Xu rồi ra tuốt Nam Ô, không vui tay lang thang đâu nữa. Lạ, sao anh chọn nơi cho thở vào thơ rất có duyên. Đò Xu với những vườn ổi, với chùa Bà Quảng làm tôi nhớ đến những Hồng, những Phú của một thời. Chúng tôi còn đủ cả, nhưng mỗi người một nơi. Khoảng cách chia xa từ hơn bốn mươi năm rồi. Nhưng hình ảnh, tên gọi lẫn những nụ cười vẫn còn đó, chỉ cần nhắc đến:
“đưa em qua tới Cồn Dầu
con đò không muốn quay đầu. Vì em
tần ngần. Trên bến thân quen
mắt trong mắt đọng ưu phiền, còn mơ
em và anh. Cách đôi bờ
đò xưa còn đó, bây giờ em đâu ?
(bài lục bát cho Đà Nẵng)

Nam Ô với chúng tôi, những người phàm mắt thịt, chỉ nhớ được một chân núi, một đường cong của thiên nhiên cùng sóng và gió. Với riêng anh, nơi trái tim biết yêu và được yêu lần đầu hẳn nhiên phải rất khác:
rừng thưa bên bãi nhấp nhô
nụ hôn đầu gửi Nam Ô, Thuở nào
em như một trận mưa rào
mát lòng đôi chút. Rơi vào lãng quên
“rừng và biển. Anh và em”
còn nhau chỉ để tăng thêm nỗi buồn
(bài lục bát cho Đà Nẵng)

Anh có chút không thật đấy nhé. Trận mưa rào ấy chẳng phải mát lòng đôi chút. Rơi vào lãng quên đâu. Bằng chứng tôi bắt gặp vết thương cũ bỗng dưng ê ẩm/ cây vẫn còn in dấu chân chim (cho người tình phụ), hoặc xót xa hơn:
“ta trở về thăm lại Nam Ô
nơi chốn ấy một lần vấp ngã
bởi em vội bỏ đi hối hả
để lại sau tình gãy nửa chừng

vẫn y nguyên biển và rừng
sóng vẫn vỗ bên thềm đá dựng
không Từ Hải mà ta còn chết đứng
kể từ khi em thả dốc đèo…”
(thăm lại chốn cũ – khi tình đang ru đời)

“Nhiều người đã nhận định” những nhà thơ xứ Quảng thường lót tình trên vạt đất quê mình, coi vậy mà không hẳn đúng. Bởi những tay thơ này, thường vẫn vói qua nhiều vùng đất khác, những nơi đã được đi qua, đã được dừng lại đôi lần. Phan Xuân Sinh cũng vậy, anh có thơ cho Huế, cho Đà Lạt, cho Thủ Đức,  cho Sài Gòn… và cho cả những thành phố trên quê hương thứ hai: Boston, New Orleans, Atlanta… “Đất lành chim đậu”, chim hót, chim làm thơ đó là chuyện bình thường. Thơ từ trái tim, quê hương cũng từ trái tim, nên dù chuyển dời ngọc thể đến đâu, đất và tình vẫn sống đời với nhau.

Một nụ tình khác của thi sĩ rất đáng trân trọng, đó là tình bạn. Phan Xuân Sinh đã chứng minh điều này. Gia tài bằng hữu của anh chắc rất phong phú. Sẽ rất tiếc cho những người chưa được quen biết anh. Và mừng cho các bạn đã nhận từ Phan Xuân Sinh, mỗi người bốn nhánh tình: (ghi theo sắp xếp của tác giả) Ngô Thi, Hạ Đình Thao, Kiều Uyên, Trần Trung Đạo, Lê Anh Huy, Đynh Trầm Ca, Vương Trùng Dương, Tường Linh, Luân  Hoán, Hoàng Lộc, Đức Phổ, Lê Văn Trung, Lâm Chương, Thành Tôn, Uyên Hà, Trần Nghi Hoàng,Nguyễn Trọng Khôi, Trương Được, Trần Công Chín.
Mời đọc vài đoạn:
Gửi Hạ Đành Thao
“mười mấy tuổi tập làm thi sĩ
tau với mày dạo khắp thế gian
thơ chẳng ra chi, ngông nghênh hết biết
nhìn lại nhau còn một chút hơi tàn
Gửi Kiều Uyên
trong thời chiến, ghé qua Bàn Thạch
tau nhớ tới mầy ray rức không thôi
cái thuở làm năm ba câu thơ dỏm
mà sao mình thấy sướng ngất trời
Gửi Trần Trung Đạo
bạn đúng là một chân thi sĩ
cứ thao thức về chuyện con người
chẳng bao giờ lo đổi vàng đổi bạc
chỉ biết làm sao đổi được tiếng cười

Gửi Lâm Chương
đứng trên đối thả hồn nhớ gió
nên lùa bầy thú dữ gặm cỏ non
cỏ sạch láng, thú ông gặm đá
nên chỉ răng trẹo trạo chẳng còn
Gửi Trương Được (1)
khi ngọn gió thổi tung đời từng mảnh
mình gặp nhau giữa lúc loạn ly
dân khoa học chôn chân phòng “lab”
không ngờ cuối đời, nói chuyện Đường thi
(1)    Lại Quảng Nam

Cả một đám được tặng thơ sao toàn “đực rựa” ? Phan Xuân Sinh có “trọng nam khinh nữ” không ? Chắc là không. Bạn nữ của anh chắc không thiếu nhưng chắc lấn cấn gì đó thôi. Không chừng anh run tay không viết thành lời dù những nhánh tình dành cho các vị anh thư anh vẫn nuôi mãi trong lòng.

Dù cố gắng đừng để rơi những nét đẹp trong thơ Phan Xuân Sinh, tôi cũng đã không giữ được điều tự dặn mình này. Một vài cảm nhận khi đọc một tác phẩm, được thể hiện bằng văn bản, cần phải ngắn gọn, nêu đúng những xuất sắc cũng như những cái còn chưa ưng ý. Ba hoa, dông dài, làm mất thời gian của người đọc vốn là điều tối kỵ. Đấy là những cơ bản dành riêng cho những người làm công tác văn học nghệ thuật. Tôi nằm ngoài hàng ngũ đáng kính trọng ấy. Tôi là một bạn đọc yêu chữ nghĩa, cứ cho như là học đòi. Nhưng ai cấm những lời bày tỏ chân thành, dù vụng về, lẩn thẩn và lộn xộn. Viết ra được những gì mình cảm nhận sau khi đọc là điều rất thú.
Tại sao phải cõng trên lưng những tư tưởng, những thước đo cao xa để đến với một tác phẩm. Phô trương kiến thức để chứng minh cho những nhận định vốn có chút vay mượn, có vẻ bề thế. Nhưng chắc gì đã thuyết phục.
Ngoài việc không có khả năng và can đảm làm dáng, tôi đọc thơ Phan Xuân Sinh vì tìm thấy ở anh có những gần kề với tâm hồn mình. Ở Phan Xuân Sinh, nhìn chung là hào sảng, khẩu khí, chân tình. Men rượu bàng bạt trong bầu trời thơ anh. Tôi tin chắc thiếu rượu, Phan Xuân Sinh sẽ không là một Phan Xuân Sinh thi sĩ, dù anh không nghiện, không ghiền. Người bạn đường này của anh, như một điền khuyết chỗ thiếu hụt bất ngờ trên cơ thể anh vì chiến cuộc.
Tôi xin xác nhận lại: Thơ rượu của Phan Xuân Sinh rất xuất sắc. Gần đây tại quê nhà, những người làm văn học có cho in hai tuyển tập về rượu: Tuyển Tập 36 bài thơ Rượu và … tên gì nữa, chợt quên mất. Không rõ, những người thực hiện hai tuyển tập trên, có biết còn có một thi sĩ rất giàu thơ rượu. Sẽ thiếu sót, thiệt thòi cho bạn đọc nếu những tập thơ như vậy tiếp tục ra đời mà thiếu vắng tên tuổi Phan Xuân Sinh.

Hà Khánh Quân
9g 42’ ngày 07-9-2009

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

ĐỨNG DƯỚI TRỜI ĐỔ NÁT của Phan Xuân sinh

Posted by phanxuansinh trên Tháng Sáu 25, 2009

Đứng Dưới Trời Đổ Nát của Phan Xuân Sinh
Người viết: Nguyễn Mạnh Trinh

Có những giờ khắc, tôi buồn ghê gớm. Ă tuổi vừa bắt đầu già, và chớm hiểu lẽ mất còn của trời đất, bỗng dưng thấy đời vô vị. Mọi ngày như mọi ngày, với tôi, nhịp nhanh nhưng chậm rãi. Nhanh, như vòng quay cơm áo tối mặt, lầm lũi buổi sớm, mù mịt giấc chiều. Chậm rãi, như đời buồn tênh, cứ hoài hoài đánh một nhịp. Ngày tháng ấy, trí óc dường xơ cứng lại, và cuộc đời đông đặc trong một môi trường thiếu dưỡng khí, đè nặng, ngạt thở…

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình, Uncategorized | Leave a Comment »

PHAN XUÂN SINH, Phạm Thái cô đơn giữa thời đại chúng ta

Posted by phanxuansinh trên Tháng Sáu 24, 2009

PHAN XUÂN SINH, Phạm Thái cô đơn giữa thời đại chúng ta
» Tác giả: Tuệ Chương Hoàng Long Hải

1. PHAN XUÂN SINH, Phạm Thái cô đơn giữa thời đại chúng ta

Các nhà phê bình văn học, thường khi phân tích, phê bình sự nghiệp một tác giả, ngoài việc đào sâu về mặt học vấn tư tưởng cũng như cuộc đời của văn thi gia, họ còn nghiên cứu một vấn đề quan trọng khác là hoàn cảnh gia đình, xã hội để biết thêm những nét tương quan giữa con người và xã hội rất thường có tác động sâu sắc đến tâm lý, tư tưởng cũng như hành trạng văn thi nhân…

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Nhận Xét về văn của Phan Xuân Sinh. Qua cái nhìn của Lương Thư Trung

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Vài ghi nhận về cái đẹp trong văn của Phan Xuân Sinh

(Nhân đọc lại bản thảo tác phẩm “Sống Với Thời Quá Vãng)

Lương Thư Trung

Cái đẹp là một cái gì rất khó nói. Khó nói bởi vì với người này nó có thể đẹp, nhưng với người khác thì nó không đẹp. Sở dĩ có những trái ngược nhau như vậy không phải do cái đẹp làm chi phối trong con người mà do con người quan niệm về cái đẹp khác nhau. Người theo lề lối giáo dục cũ nghĩ về cái đẹp nó khác hơn người theo nền giáo dục tân tiến sau này…

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Qua cái Nhìn của Phạm Thành Tính

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Nhớ kỷ niệm khi đọc thơ Phan Xuân Sinh

Phạm Thành Tính

Bẵng đi một thời gian khá lâu, nếu kể ra cũng gần bảy năm…….
Tôi đã mất liên lạc và không có cơ hội sinh hoạt văn nghệ với một số anh em văn nghệ sĩ vùng Boston, thuộc tiểu bang Massachusetts. Năm 2001, tôi đã di chuyển về thành phố Austin , thuộc tiểu bang Texas, do yêu cầu của cuộc sống gia đình. Nói đúng hơn là vì lý do sức khỏe của tuổi già, nên không còn khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt, nhất là cái giá rét mùa đông ở vùng Ðông bắc Mỹ..

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh Về Thơ, Nhận Xét Bởi Nguyễn Đình Toàn

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

PHAN XUÂN SINH

*Người viết Nguyễn Đình Toàn

Được biết tác giả Phan Xuân Sinh mồ côi mẹ từ lúc con nhỏ. Ông sống với cha trong cảnh hiu quạnh gà trống nuôi con. Ông trưởng thành vào lúc cuộc chiến Việt Nam bước vào giai đoạn thảm khốc nhất. Và cũng như hầu hết các thanh niên cùng lứa tuổi Phan Xuân Sinh không còn sự lựa chọn nào khác là vào lính. Nhập ngũ được vài năm, mới 24 tuổi, chiến tranh lấy đi của ông bàn chân phải.

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Nguyễn Đình Toàn

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Đọc Bơi Trên Dòng Nước Ngược

Nguyễn Đình Tòan

“Bơi Trên Dòng Nước Ngược” do nhà xuất bản Sông Thu ấn hành là tác phẩm thứ hai của Phan Xuân Sinh, sau tập thơ “Ðứng Dưới Trời Ðổ Nát”.
Sách dày trên hai trăm trang, gồm 14 truyện ngắn, được tác giả ghi chú là “tạp văn”. Dùng hai chữ “tạp văn” có lẽ Phan Xuân Sinh muốn xác định, những gì ông viết trong cuốn sách không hoàn toàn là nhưng truyện ngắn, hiểu theo nghĩa thông thường, xen lẫn vào các câu chuyện có thể là những dòng tâm sự, bình luận, tùy bút, nghĩa là muốn viết gì thì viết, kể cả những điều “lặt vặt”, mục đích là để biện hộ cho sự luộm thuộm nếu có, chắc vậy.
Riêng cái tựa “Bơi Trên Dòng Nước Ngược” được tác giả giải thích trong “lời nói đầu”:

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Nguyễn Mạnh Trinh

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

TẠP GHI VĂN NGHỆ
Bơi trên dòng nước ngược

Nguyễn Mạnh Trinh

Bơi trên dòng nước ngược? Ai ? Người nào mà sức khỏe đủ dẻo dai để  có sức làm một kình ngư trên sông nước như vậy?  Có phải là cảnh vượt biển vượt sông không? Chắc hào hứng lắm?  Một câu viết ra mà trăm ngàn liên tưởng, ý nghĩ…

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Luân Hoán

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Phan Xuân Sinh

hết đứng lại bơi, đời đổ trên dòng nước

*LUÂN HOÁN

Không rõ đoàn quân Grippe rời tuyến xuất phát từ lúc nào mà rạng sáng ngày mùng một năm Đinh Hợi (2007) đã khai hỏa, tiến công thật mạnh mẽ vào cơ thể tôi. Cuộc tổng nổi dậy của địch quân vào mùa xuân này quả thật có tạo cho tôi chút bất ngờ. Bởi trước đây vài tuần lễ tôi đã tảo trừ vài trận đánh lẻ tẻ của chúng. Thiếu đề phòng, mất cảnh giác, hơi chủ quan xem thường thế lực của địch, nên tôi nhận hậu quả tương đối nặng nề. Một số yếu điểm mau chóng bị địch quân khống chế như cổ họng, hai cánh mũi…

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Lương Thư Trung

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Thử đọc lại thi phẩm Đứng dưới trời đổ nát của Phan Xuân Sinh

Lương Thư Trung

Nói đến thơ là nói đến tiếng nói tận trong đáy lòng của con người được đan dệt qua những vần điệu. Dù thơ được làm theo thể loại nào, người làm thơ đều muốn gởi những cảm xúc của mình qua từng câu chữ. Và người đọc thơ có cảm nhận được những rung cảm của người nghệ sĩ hay không là tuỳ vào sự đồng cảm của chính người thưởng ngoạn. Khi người đọc đồng cảm, rung động và có cùng cảnh ngộ thì họ sẽ cảm nhận được dễ dàng; bằng không, dù những vần thơ sâu sắc thế nào đi nữa, người đọc cũng sẽ không hiểu nổi và không cảm nhận nổi những điều mà thi nhân gởi gắm.

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Vĩnh Hảo

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Phan Xuân Sinh

Vĩnh Hảo

Thơ Phan Xuân Sinh, qua thi phẩm Ðứng Dưới Trời Ðổ Nát có âm hưởng của một tập trường ca thật buồn, thổn thức, pha lẫn niềm kiêu hãnh ngang tàng của một kẻ đã trôi hết thân phận mình qua cuộc biển dâu tình yêu, chiến tranh, thời cuộc.

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Vương Trùng Dương

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Phan Xuân Sinh,
Đứng Dưới Trời Đổ Nát

Vương Trùng Dương

“Le moi est haisable”. Hơn ba trăm năm về trước, Blaise Pascal (1623 – 1662) để lại cho đời câu nói “cái ta – thì, là, thật – đáng ghét”. Albert Camus (1913 – 1960) đã lặp lại lời đó và được đề cập rất nhiều trong thời hiện đại. Paul Valéry (1871 – 1945) cho rằng cái ta đáng ghét nhưng đó là cái ta của người khác. Ba khuôn mặt lẫy lừng trong văn học Pháp cùng nhận định khe khắt về cái ta, không biết trước Pascal, có danh nhân nào đã nói câu đó nhưng sau Camus thì bắt gặp rất nhiều, đôi khi bị lạm dụng thái quá, có phần phiến diện?.

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Trần Yên Hoà

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Câu chuyện Văn Chương

Trần Yên Hòa

PHAN XUÂN SINH
“ĐỨNG DƯỚI TRỜI ĐỔ NÁT”

Tôi gặp Phan Xuân Sinh trong dịp anh về Nam California để  ra mắt sách tập thơ Đứng Dưới Trời Đổ Nát. Lần này có ba tác giả được giới thiệu là Hoàng Lộc với tập thơ Qua Mấy Trời Sương Mưa, Lâm Chương với tập truyện Đi Giữa Bầy Thú Dữ , còn Phan Xuân Sinh vơiù tập thơ Đứng Dưới Trời Đổ Nát. Buổi giới thiệu do Hội Văn Học Nghệ Thuật Quảng Nam Đà Nẵng đứng ra tổ chức.

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »