Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for Tháng Mười Một 10th, 2014

ĐÊM ĐỌC THƠ VÀ HÁT THƠ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 10, 2014

ĐÊM ĐỌC THƠ VÀ HÁT THƠ

DO NGUYỄN HƯNG QUỐC VÀ HOÀNG NGỌC TUẤN TRÌNH BÀY TẠI DALLAS.

 

Ghi Nhận của Phan Xuân Sinh

 

Đi từ Houston đến Dallas, gần 300 dặm, ngồi trên xe gồm có ba người, tôi, Tô Thẩm Huy và Dương Phước Tấn.Trong chuyến đi nầy chúng tôi dự trù đến thăm nhà thơ lão thành của đất Quảng Nam anh Phạm Cây Trâm., trước khi tham dư buổi “Sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật và Đêm đọc thơ và hát thơ” Có sự tham dự của hai người vừa là khách mà cũng vừa là chủ chốt trong đêm sinh hoạt đó là giáo sư Nguyễn Ngọc Tuấn (bút hiệu là Nguyễn Hưng Quốc, nhà lý luận văn học) và Giáo sư Hoàng Ngọc Tuấn (dạy âm nhạc và một nhạc sĩ đa tài) . Anh chị Phạm Cây Trâm là người rất hiếu khách, mỗi lần đến thăm, anh chị bao giờ cũng làm những món ăn Quảng Nam để đãi chúng tôi, thật ngon, nhất là món “Mì Cây Trâm” mà người Quảng Nam nào ở cùng thế hệ với tôi trở về trước đều biết tiếng. Mà đúng như lời đồn đãi Mì Cây Trâm chị làm ngon thật. Một sự đặc biệt là lá mì chị tự tay vuốt gạo và xay bột bằng một cái máy xay nhỏ xinh xắn, đặt lên nồi tráng mì chứ không mua mì người ta bán sẵn ngoài chơ, bánh tráng cũng tự tay chị làm. Ở hải ngoại tôi đã ăn mì Quảng nhiều nơi nhưng không có nơi nào ngon bằng mì của chị làm.

 

Chúng tôi ở chơi nhà anh chi Phạm Cây Trâm đến chiều thì chúng tôi đến nhà Luật Sư Nguyễn Xuân Phước, vì đêm nay chúng tôi có cuộc gặp gỡ anh chị em văn nghệ từ các nơi khác về. Nhà Luật Sư Phước nằm trên một bờ hồ rất thơ mộng, tại đây chúng tôi gặp nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp người chủ chốt của đêm sinh hoạt tối mai, Bác sĩ Nguyễn Ý Đức đến tứ Arlington, nhà văn Trương Vũ đến từ Whasington DC, nhạc sĩ Nguyễn Đình Bình đến từ Alabama, tôi, Tô Thẩm Huy (nhà thơ), Dương Phước Tấn (họa sĩ) đến từ Houston và chừng mười văn nghệ sĩ tại địa phương. Anh Trương Vũ gần bảy năm sau tôi mới gặp lại, lúc nầy trông anh khỏe mạnh và trẻ ra, bất ngờ lúc đầu tôi không nhận ra anh. Lâu ngày anh em không gặp nhau, nên khi gặp đủ chuyện để hàn huyên và uống rượu.

 

Chúng tôi đến hội trường tổ chức Đêm Đọc Thơ Và Hát Thơ lúc 5 giờ chiều. Trời Dallas bên ngoài 103 độ F, hừng hực nóng, thế nhưng khi bước vào bên trong hội trường, tôi rất ngạc nhiên người đến tham dự quá đông (chừng khoảng 300 người), phần đông là đồng hương Quảng Nam của Nguyễn Hưng Quốc và tôi. Có lẻ vì người ta nghe tiếng Nguyễn Hưng Quốc tứ lâu nên đến tham dự một phần để biết mặt và một phần khác để nghe tài hùng biện của Nguyễn Hưng Quốc, người con cưng Quảng Nam mà họ rất yêu quý. Tôi nhớ trước đây chừng bảy năm, trong một ngày Đại Hội Quảng Nam – Đà Nẵng hải ngoạ tại Dallasi, tôi có một mục thuyết trình về văn nghệ sĩ Quảng Nam, trong đó tôi có nói đùa rằng”..trong một chu kỳ 30 năm, xứ Quảng Nam chúng tôi sản sinh ra một nhà phê bình văn học lỗi lạc: Thập niên 30 chúng tôi có Phan Khôi, thập niên 60 chúng tôi có Đặng Tiến tại miền nam và thập niên 90 cúng tôi có Nguyễn Hưng Quốc tại hải ngoại…”  Lời nói đùa của tôi cho đến bây giờ chắc không sai và cũng gần đúng với sự thật. Đề tài của Nguyễn Hưng Quốc  trình bày trong buổi chiều sinh hoạt: “Sư Phát Triển Văn Học Hải Ngoại và Cuộc Cách Mang Internet”. Chúng ta đẫ đọc Nguyễn Hưng Quốc bằng nhiều phương tiện như Sách, báo, internet thế nhưng chúng ta tại Texas chưa bao giờ nghe Nguyễn Hưng Quốc trình bày bằng văn nói. Thú thật trước khi giới thiệu Nguyễn Hưng Quốc lên diễn đàn tôi lo lắm. Hơn ai hết, tôi là dân Quảng Nam, tôi biết yếu điểm của dân tôi là viết trôi chảy, cải trôi chảy, nhưng khi trình bày một vấn đề trên micro, yếu điểm thứ nhất cái “giọng” của chúng tôi nghe rất khó chịu, âm điệu chan chát không êm tai như giọng Bắc hay giọng Huế, yếu điểm thứ hai nói hay vấp váp. Thế nhưng Nguyễn Hưng Quốc đã vượt qua khỏi hai yếu điểm đó mà còn trội hơn, giọng của anh nghe nhẹ nhàng, trình bày mọi vấn đề một cách mạch lạc, nói tới đâu chứng minh tới đó. Nghệ thuật nói trước đám đông của anh rất chuyên nghiệp và đó cũng là điều thu hút khán thính giả lắng nghe một cách say mê. Thú thật khi Nguyễn Hưng Quốc ,mở đầu câu chuyện, tôi đã thấy “lấy ăn” rồi.

 

Tôi không đào sâu những gì Nguyễn Hưng Quốc trình bày, tôi chỉ vắn tắt đại ý những gì Nguyễn Hưng Quốc nói trong cuộc nói chuyện qua sự ghi nhận của một người bạn văn nghệ ký tên là Phan đăng trên những tạp chí tại Texas: “Giáo sư Quốc tin tưởng dòng văn học hải ngoại không chết như nhiều suy nghĩ từng được trình bày trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại. Bằng chứng là sức sáng tác và kho tàng Văn học nghệ thuật của người Việt hải ngoại ngày càng phong phú hơn. Nói về số lượng thì nhiều hơn cả nền văn học miền nam trước 1975 trong nước. Tất nhiên, cần có thời gian để đánh giá đúng mức phẩm chất, nội dung, giá trị của những tác phẩm được sáng tác ở hải ngoại, tuy nhiên người ta phải chú ý tới vẻ đa dạng và phong phú của những công trình nghiên cứu về văn hoá nghệ thuật, những tác phẩm viết trong thời kỳ lịch sử Việt nam bị phân hoá; sản sinh ra dòng văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại.”

 

Còn về cuộc cách mạng internet, theo lý luận của Nguyễn Hưng Quốc mỗi ngày báo internet số lượng bài viết nhiều hơn báo in và lấy ví dụ trên Tiền Vệ và Da Màu ta thấy một số lượng đáng khích lệ. Sự nhanh chóng trong truyền thông và thu hút số lượng độc giả trên toàn thế giới, nghĩa là số người đọc hiện nay nhiều gấp bội so với báo viết. Nhất là sự liên lạc giữa tác giả và báo chí không bị thời gian và xa cách cản trở. Tin tức được cập nhật hóa nhanh chóng đưa đến cho người đọc biết ngay những sự việc xẩy ra trên thế giới.

 

Sau phần trình bày của Nguyễn Hưng Quốc được nghỉ giải lao và nhân cơ hội nầy tôi có nói chuyện với Hoàng Ngọc Tuấn, chuyện trò xả giao vì giữa chúng tôi chỉ biết tên tuổi nhau chứ chưa bao giờ gặp mặt kể cả Nguyễn Hưng Quốc cũng vậy. Dù chưa hết chương trình tôi đã thấy sinh hoạt Văn Học và Nghệ Thuật do một nhóm văn nghệ sĩ Dallas thực hiện rất thành công. Sau khi nghỉ giải lao, phần thứ II của chương trình do Hoàng Ngọc Tuấn trình bày những sáng tác của mình, xen kẻ có Hoàng Đình Bình phụ diễn. Quả thật một chương trình nhạc mới lạ mà tôi chưa từng nghe qua. Tôi có biết Hoàng Ngọc Tuấn là một nhạc sĩ sáng tác và giảng dạy âm nhạc.  Đây là lần đầu tiên tôi mới nghe qua Hoàng Ngọc Tuấn trình bày những sáng tác của mình. Tôi không hiểu về âm nhạc, chỉ cảm nhận khi nghe Hoàng Ngọc trình bày những sáng tác của mình, thật tuyệt vời. Những bản nhạc do Hoàng Ngọc Tuấn trình bày phần nhiều phổ thơ từ các thi sĩ nỗi tiếng thế giới từ trước tới nay,. Cái lối phổ thơ của Hoàng Ngọc Tuấn cũng rất mới lạ không theo khuôn phép giống như các nhạc sĩ Việt Nam. Anh nắm phần cốt lỏi.của bài thơ và nhấn mạnh những gì mà tác giả cần nỗi bật.

 

Hoàng Ngọc Tuấn chỉ ôm một cây đàn guitar, tiếng đàn của anh tưởng chừng như có một vài cây đàn khác phụ họa, âm thanh của nó rất đa dạng. Tôi cũng đã từng nghe độc tấu Guitar nhiều lần nhưng tiếng đàn của Hoàng Ngọc Tuấn lần nầy khác lạ, chuyên nghiệp và hấp dẫn,  những người tham dự im phăng phắc lắng nghe, anh đã chinh phục được lòng mọi người từ đầu tới cuối chương trình bởi tài năng và sự phô diễn của anh. Tôi nghĩ đây là sự thành công của anh không những tại Dallas mà tất cả những nơi anh đã từng đi qua trình diễn. Tiếng hát của anh mạnh, hấp dẫn, diển tả hết được những gì mà anh sáng tác.

 

Đêm đọc thơ và hát thơ của Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn rất thành công. Để lại trong lòng những người tham dự một ấn tượng mới lạ và hấp dẫn giữa cái lúc mà “thơ” tưởng chừng sắp đi vào quên lảng của những người lưu vong. Cam ơn Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn đã cho chúng tôi sống lại với thơ ca một cách nhiệt tình và hấp dẫn, cho chúng tôi một niềm tin thơ ca sẽ sống mãi.

 

Sau khi chấm dứt chương trình, chúng tôi có một cuộc hàn huyên với hai tác giả Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn cùng với một số anh em văn nghệ tại Dallas đến 2 giờ sáng. Ba anh em chúng tôi phải chia tay ra vế vì sáng mai chúng tôi phải làm việc, phải lái xe gần năm tiếng đồng hồ trở về Houston, chúng tôi vẫn còn có những điều chưa nói hết. Hy vọng lần sau trở lại Hoa Kỳ của Nguyễn Hưng Quốc và Hòang Ngọc Tuấn nếu hai anh đồng ý, anh em văn nghệ Houston sẽ có dịp gặp gỡ và tổ chức một đêm “thơ nhạc” để có dịp cư dân Việt Nam tại Houston tiếp xúc với hai anh.

 

Houston, tháng 7/2011

Phan Xuân Sinh.

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | 1 Comment »

BÚI GIÁNG, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 10, 2014

BÙI GIÁNG, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP

*Phan Xuân Sinh

(Bài nói chuyện về Bùi Giáng trong ngày Liên Trường Quảng Nam – Đà Nẵng, 31/8/2013 tại Houston)

 

Một nhà làm văn học mà khi còn sống cũng như khi chết bao quanh ông nhiều huyền thoại, giai thoại nhất. Người đó chính là Bùi Giáng.

Bùi Giáng là một nhà thơ, một dịch giả,một triết gia, nhà nghiên cứu văn học. Trong địa hạt nào ông cũng lẫy lừng. Các bút hiệu khác của ông: Trung Niên Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi văn Bốn, Vân Mồng. Ông nổi tiếng khi xuất bản tập thơ” Mưa Nguồn” năm 1962.

Bùi Giáng sinh ngày 17/12/1926 tại Thanh Châu, xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.

Cha của ông là Bùi Thuyên thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi tại Quảng Nam, vợ mất sớm nên ông tục huyền với bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con của Bùi Thuyên và Huỳnh Thị Kiền.

Bắt đầu đi học tại làng Thanh Châu, học tiểu học tại trường Bảo An

Trung học tại trường Thuận Hóa Huế.  Năm 1945 ông đậu bằng Thành Chung. 1950 ông đậu bằng tú tài I. 1952 ông đậu bằng tú tài II. ông vào sài Gòn ghi danh đại học Văn Khoa. Tuy nhiên theo bà Thụy Khuê sau khi nhìn danh sách giáo sư giảng dạy ông quyết định không đi học và cũng chấm dứt việc học tại đây. Ông bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục tại Sài Gòn.

1965 nhà bị cháy, tất cả các bản thảo cũng như sách vở đều bị thêu hủy.

1969 ông bắt đầu điên “rực rỡ” (chữ của Bùi Giáng). Sau đó ông lang thang du hành lục tỉnh (cũng chữ của Bùi Giáng) trong đó có Long Xuyên và Châu Đốc.

1971 ông trở lại sống ở Sài Gòn. Ông mất lúc 2 giờ chiều ngày  7/10/1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy.  Sau những năm tháng “sống điên rồ lừng lẩy” và chết “vẻ vang” (chữ của Bùi Giáng.)

Ông để lại một kho tàng sách vở:

về thơ: 15 tập

về nhận định 4 tập

về Giảng Luận 4 tập

về triết học 4 tập.

về tạp văn 4 tập

về dịch thuật: – 5 tập (1966). 3 tập (1967). 3 tập (1968).  3 tập (1969). 1 tập (1973). 1 tập (1974)

Với chừng đó sách vở đáng khẳng định con người tài hoa của ông.  Trong vòng hai năm 1962 – 1963 ông xuất bản 6 tập thơ và 3 quyển triết học. Đó là một thành tích kỷ lục, với một thời gian ngắn mà ông xuất bản được 9 tác phẩm đều nặng ký. Ta nên nhớ một điều bệnh điên đã chiếm hầu hết thời gian sau nầy của ông, trong khi điên nhảy múa ngoài đường phố ông không sáng tác được, thế mà khi tỉnh ông ngồi vào bàn, viết miệt mài. Ông mê đọc sách, chính điều nầy đã tạo cho ông một kiến thức sâu rộng. Ông là một người có năng khiếu về sinh ngữ, ông biết nhiều thứ tiếng, những tác phẩm do ông dịch thuật rất sâu sắc từ văn chương đến triết học. Lúc đầu những học giả đánh giá ông chịu ảnh hưởng của những triết gia tây phương, nhưng khi nghiên cứu kỹ ông cũng có những ảnh hưởng của Phật và Lão Trang rải rác trong tác phẩm văn chương của ông.

Ông là người cam chịu những khổ đau, vợ con mất trong một tại nạn khủng khiếp, vì vậy theo Khiêm Lê Trung cho rằng đối diện với cái chết ấy ông trở thành nạn nhân của bi kịch định mệnh khắc nghiệt. Nó là vết thương đục khoét tâm hồn ông biến ông thành kẻ lưu đày trong chính số kiếp của mình. Khi đọc Kiều, ông cảm thấy gần gũi với Nguyễn Du, đồng cảm với Nguyễn Du. Ông xem những nghịch cảnh éo le của Kiều, truân chuyên của Kiều chính là cái khổ đau mà chính ông gánh chịu. Từ những suy nghĩ, những khổ đau ngấm ngầm đục khoét tâm hồn ông biến ông trở thành một người điên “rực rỡ” (chữ của ông hay dùng). Trong văn chương Việt Nam ông rất tôn sùng Nguyễn Du và Huy Cận, thế nhưng đọc thơ ông ta không tìm thấy hai thi sĩ nầy ảnh hưởng tới thơ ông.

Hầu hết dân Sài Gòn ai cũng biết ông. Một người đàn ông đứng tuổi ăn mặc xốc xếch diêm dúa, nhảy múa tưng bừng(cũng chữ của ông thường dùng) trên đường phố Sài Gòn. Thân người ốm, nhỏ con nhưng có đôi mắt rực sáng. Nhà thơ Tường Linh nói với chúng tôi rằng ông  trong lúc điên, đang nhảy múa. Muốn cho ông tĩnh lại ghé vào tai ông nói một câu tiếng Tây hay tiếng Anh sai, trật lất,  thì ông tỉnh lại ngay. Kêu người đó lại gần chỉnh ngay, nói như thế nầy mới đúng, nói trật chúng cười. Có lẽ giai thoại về ông nhiều vô kể. Có cái người ta mục kích, cũng có cái người ta thấy ông khùng điên như vậy nên thêu dệt thêm, thêm mắm dặm muối cho vui. Tất cả đều tạo quanh người ông những giai thoại rất dễ thương và cũng rất sâu sắc.

Ông thích đọc kiếm hiệp vì vậy ông dịch tập kiếm hiệp nhan đề tôi còn nhớ mang máng là “ Phiên Kiếm Điêu Linh”(lâu quá không biết có đúng không), Đọc kiếm hiệp của ông dịch, thật tuyệt vời, chữ nghĩa của ông dùng bay bướm, hấp dẫn. Trên địa hạt nầy có lẽ ông là người dịch kiếm hiệp hay nhất từ trước tới nay. Song song với dịch thuật ông còn viết về triết học. Văn chương của ông một cõi riêng, ngôn ngữ của ông một cõi riêng, dưới mắt ông tất cả đều “chơi thôi mà” chữ ông thường dùng nhất. Vì vậy tất cả mọi địa hạt ông đều giỡn mà những người đọc nghiêm chỉnh không chịu được. Ngay cả bút hiệu ông cũng dùng những từ nói lái của quê hương Quảng Nam thường dùngn Bùi Giáng tức là Bàn Dúi. Ông đùa giỡn với thi ca, với triết học, với dịch thuật, với nhận định văn học  và ngay cả cuộc đời của ông cũng vậy. Ông giỡn một cách dễ thương và không từ nan một chỗ nào. “Thi sĩ sinh ra giữa cỏ cây và sẽ chết đi giữa cỏ cây li kỳ gay cấn”. Một câu tưởng chừng nghiêm chỉnh, nhưng cuối câu cũng cà khịa một chút cho vui. Đọc ông ta thấy văn phong của ông không giống ai, một chỗ đứng riêng biệt mà người đọc nhận ra ông ngay.

Thế nhưng cuối cùng nói về Bùi Giáng, chúng ta phải đề cập tới thơ của ông. Trong bài viết của Thụy Khuê: “Ông Bùi Giáng sống tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng thơ, ông cả đời lục bát. Tại sao lục bát? bởi vì đối với Bùi Giáng;”Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển, ba bảy sông hồ”. Thật tình Bùi Giáng cũng có làm thơ nhiều thể loại, nhưng không nhiều lắm. Lục bát là chính và hầu hết thơ của ông đều làm theo thể lục bát.

Ông có nhiều câu thơ xuất thần, lên đồng cõi vô thức, vô thường (lời của Hiền Nguyễn). Hay không chịu được. Mang một ấn tượng sâu lắng, một ý thơ vô cùng cao siêu:

 

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu

Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa

ta về rũ áo mù sa

Trút quần phong nhụy cho tà huy bay

 

Thanh Tâm Tuyền nói về Bùi Giáng với Mai Thảo trong tòa sạn báo Văn: “..Ngủ ra thơ. Thở ra thơ.  Đi ra thơ. Đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ.” Nói thế để biết rằng, Bùi Giáng làm thơ một cách dễ dàng như lấy đồ trong túi ra. Có nhiều người bỏ công ra tìm hiểu thơ Bùi Giáng, nhưng rốt cuộc không mang tới kết quả. Ta hãy đọc ông viết về thơ ông: “Thơ tôi làm (…)chỉ là cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm báo động một lúc thì lập tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Ta gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi (…) Tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vẫn bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao. (tài liệu Bùi Vĩnh Phúc) Viết như vậy đố ai hiểu được, thế nhưng ta cảm được những lý do trong trạng thái bất bình thường đã khiến ông làm thơ. sống với thơ. Và chỉ có thơ mới giải quyết những vấn đề nội tâm của ông:

 

Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?

Ta đi gửi lại đôi dòng

Lá rơi có dội ở trong sương mù.

 

Một tiên đoán huyền diệu, vầng trăng ông gửi lại cho đời vẫn nguyên màu. Đôi dòng ông gửi lại cho hậu thế vẫn còn vang dội. Chỉ có thân xác ông đã tiêu diêu theo mây theo khói. Nhưng với ông hề chi, miễn khi còn sống vui là trên hết: Sống lẫy lừng, chết vẻ vang. Bên ngoài ta thấy ông thật tội nghiệp. Lang thang nhảy múa, áo quần diêm dúa hôi hám, thế nhưng nội tâm của ông trong sáng, hàm chứa một vũ trụ cực kỳ sâu lắng. Ông an nhiên tự tai như một tiên ông, ông hạnh phúc với cái điên của mình đang có. Ông nhìn cuộc đời như một giấc mộng dài, giữa hai bờ sinh tử chẳng có một lằn ranh:

 

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

 

Trịnh Công Sơn lấy câu thơ nầy trong một tác phẩm của ông. Thơ ông đa dạng, mang nhiều triết lý, nhiều ẩn dụ, đôi lúc ngây ngô, đôi lúc trần tục, làm cho người đọc cảm thấy bất ổn khi đọc vì nó nửa hư nửa thật, nửa đùa nửa nghiêm túc. Chính như vậy mới tạo nên cõi thơ riêng của Bùi Giáng, ông không giống ai mà cũng không có ai giống ông. Thơ ông như phiêu bồng trong cõi hư vô, như huyền ảo và mộng mị như người mộng du. Ông có một lối thơ bình di nhưng sâu sắc, chân thật nhưng rất lung linh. Lối thơ nầy người ta cho rằng thơ điên, thế nhưng ngẫm nghĩ đôi khi ta phải giật mình vì nó cao siêu và thanh thoát:

 

Em vui vô tận thiên thần

Anh buồn vô lượng bất thần trở cơn

 

Ông là một hiện tượng lớn của thời thập niên 60 của thế kỷ trước, cùng với Trinh Công Sơn và Phạm công Thiện. Nhưng ông khác với hai người kia ở chổ là khi còn sống cũng như khị ông chết tất cả các huyền thoại, các giai thoại bao quanh ông nhiều vô kể. Có cái hư có cái thật, cái nào cũng có sự thêm thắt, biến câu chuyện trở nên duyên dáng, mặn mòi. Cho nên xung quanh cuộc đời ông, sự nghiệp ông còn rất nhiều chuyện thật giả lẫn lộn, đánh vào sự tò mò của độc giả (theo Hiền Nguyễn) vì thế chuyện về ông chưa thể chấm dứt. Tất cả đều mang một chủ đích ca tụng sự thông minh, bốp chát lanh lẹ, ứng biến nhanh chóng mà chỉ có người tài trí mới hành xử một cách ngoạn mục như vậy. Nói tới Bùi Giáng bao giờ cũng đề cập tới những giai thoại chính người kể tận mắt nghe thấy hay được nghe người ta kể lại. Trước tiên là  vui, sau đó là khâm phục và cuối cùng là cười xòa. Lợi dụng cái “điên” của ông mà người ta nghĩ ra đủ thứ về ông. Chung quy cũng chỉ “vui thôi mà” như lời của ông thường nói. Với ông cuộc đời chẳng có chi là quan trọng cho nên lấy cái vui giải quyết mọi vấn đề.

 

Bùi Giáng là nhà thơ của các nhà thơ. Ông mang một tâm trạng khác thường nửa điên nửa tỉnh. Ông rong chơi cùng khắp bằng đôi chân trần, mang vóc dáng điên khùng nhưng có một trái tim bao dung, có một trí óc thông minh. Ông cũng mang một tâm hồn lãng mạn, nhân văn sâu sắc (chữ dùng của Khánh Huyền). Những yếu tố nầy đã tạo nên một Bùi Giáng mà người đọc ngưỡng mộ và khâm phục.

 

Nói về ông một câu thì thiếu, nhưng ngàn câu vẫn không đủ. Ca tụng ông những lời hoa mỹ cũng bằng thừa, vì chính con người tài hoa của ông đã khỏa lấp những từ ngữ tầm thường. Ông có một chỗ đứng trang trọng không những trong lòng những người yêu văn chương mà ông còn đứng vững chắc trong lòng dân tộc. Ông mang tầm vóc lớn trong thi ca, trong triết học, trong dịch thuật, để lại một kho tàng chữ nghĩa cho hậu thế. Ông biến ngôn ngữ trở thành một trò chơi trí tuệ, vượt qua lằn ranh hiện đại để tiến tới hậu hiện đại, bằng cái nhìn thông thoáng của một thi nhân.

 

Trong thời gian hạn hẹp của bài nói chuyện không cho phép tôi dài dòng thêm về ông và tôi cũng cảm thấy vừa đủ khi giới thiệu về ông. Trước khi dứt lời xin mượn câu thơ của ông “chào nguyên xuân”:

 

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

 

Trân trọng kính chào

 

 

 

http://www.phanxuansinhusa.com

 

 

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »