Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for Tháng Mười Một 9th, 2014

MÓN NỢ KHÔNG TRẢ ĐƯỢC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 9, 2014

Món Nợ Không Trả Được

phan xuân sinh

 

Tôi có một người bạn tên Thanh, quê ở Đại Lộc Quảng Nam. Mỗi lần nó xuống Đà Nẵng chơi, nó thường dẫn tôi đi uống cà phê hay đi ăn. Học sinh nghèo ít có dịp đi nhà hàng, nên mỗi lần trên quê xuống chơi bao giờ nó cũng lận lưng một ít tiền để đi chơi với tôi. Một lần nó xuống với một thằng bạn cùng quê tên là Bảo, ăn ở nhà tôi hai ba ngày rồi về lại Đại Lộc. Thỉnh thoảng Bảo ghé nhà tôi chơi mặc dù không có Thanh. Tôi xem Bảo như một người bạn, có khi ngủ lại nhà tôi. Bảo tính tình cũng dễ thương, đời sống của nó không được thoải mái như Thanh nghĩa là ít khi nào có tiền trong túi. Tôi thường dẫn Bảo đi uống cà phê, dù sao tôi cũng chạy chọt được tiền để đãi bạn nghèo. Tôi xem Bảo như Thanh, một người bạn quý của tôi.

Một buổi chiều sau khi đi học về, tôi thấy thằng Bảo đứng ngoài ngõ chờ tôi. Bảo nói với tôi là tối nay nó đi ăn đám cưới ở nhà một người bà con, nhưng không có một bộ áo quần nên hình nên nó tới nhà mượn tôi một bộ đồ. Tôi không ngần ngại lấy cho nó mượn bô quần áo mới may hôm tết. Khi nó thay đồ xong đi ra, tôi nhìn thấy dưới chân nó mang đôi dép Nhật mòn lỉn, tôi cởi đôi giầy đang mang đưa cho nó luôn. Nó bảo ngày mai sẽ mang tới trả cho tôi để tôi đi học. Tôi cũng nói cho nó biết là tôi chỉ có hai bộ áo quần thay đổi và chỉ có một đôi giày nên cố gắng trả cho tôi sớm. Nó gật đầu rồi ra đi có vẻ thích thú với bộ đồ vừa vặn. Ngày mai chủ nhật ở nhà tôi chờ mãi vẫn không thấy thằng Bảo tới. Tôi đem bộ đồ của nó để lại ra xem, bộ đồ sờn rách, áo trắng đã ngả màu cháo lòng, dơ dáy hôi hám. Tôi đem đi giặt để khi nó trả đồ cho tôi, nó có một bộ đồ sạch sẻ. Tôi chờ mãi hết ngày nầy qua ngày khác vẫn không thấy nó đến trả đồ cho tôi. Tôi chỉ còn “nhứt y, nhứt quởn”  nên phải chia lịch trình thứ hai, thứ ba mặc xong thứ tư giặt đồ. Thứ năm, thứ sáu mặc xong là thứ bảy giặc đồ. Khổ nhất là đôi giày tiền đâu để mua đôi giày mới? Lúc đó học sinh trung học đệ nhị cấp phải mang giày chứ không được mang dép. Tôi đành phải cạy tủ của cậu tôi để mượn đôi giày. Chân của cậu tôi lớn nên khi tôi mang đôi giày rộng rinh, phài lấy dẻ rách độn phía trước mủi dày mới khỏi bị sút ra. Tuy thế vẫn thấy đôi dày quá khổ trông thật tức cười. Xin nói rõ cậu tôi đi lính đóng ở Quảng Ngãi thỉnh thoảng mới về phép. Mỗi lần mở tủ nhìn thấy bộ áo quần của thằng Bảo, tôi tức điên người, không ngờ mình có một thằng bạn đốn mạt như vậy. Một bộ áo quần với người khác có mất cũng không quan trọng, còn đối với tôi một thằng học trò nghèo, sắm được một bộ quần áo không phải là chuyện dễ dàng. Vì thế nên tôi cứ ấm ức mãi chuyện nầy một thời gian dài. Sau nầy tôi cũng ngôi ngoai và nghĩ lại mất một bộ quần áo không đáng tiếc, mất đi một người bạn đáng tiếc hơn. Dù sao sau nầy Bảo không mặt mũi nào gặp lại tôi.

Thanh thỉnh thoảng ra thăm tôi, trong khi ngồi uống cà phê tôi có hỏi thăm  về Bảo, Thanh cho biết Bảo đi Sài Gòn làm ăn để giúp mẹ vì gia đình nghèo. Nghe chuyện nầy thực tình tôi xúc động và cảm thấy thương nó. Cực chẳng đả nó mới làm một việc như vậy. Mấy lần thằng Thanh ra Đà Nẵng đi chơi với tôi, tôi không hề kể chuyện thằng Bảo mượn áo quần của tôi rồi đi luôn, nên Thanh hoàn toàn không biết chuyện nầy.

Chuyện của thằng Bảo xem như quên lảng, khuôn mặt của nó lâu quá tôi cũng không còn nhớ. Rồi cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt. Tụi tôi lần lược vào lính, mỗi thằng mỗi ngã ít có dịp gặp lại. Thanh ra trường về tiểu khu Quảng Tín, tôi về Trung Đoàn 51 Biệt Lập đóng quân ở Cẩm Hà, Quảng Nam với chức vụ trung đội trưởng trung đội viễn thám. Một buổi trưa nọ không đi hành quân tôi thiêu thiêu ngủ thì người thư ký của đại đội đến phòng tôi gỏ cửa và bảo với tôi rằng có ba người lính mới tăng cường bổ xung cho trung đội của tôi. Tôi ra mở cửa bất thần tôi nhìn thấy Bảo, một trong ba nười lính mới. Bảo cũng kinh ngạc khi nhìn thấy tôi, tôi chắc trong lòng Bảo lo lắng, Bảo cúi mặt không dám nhìn thẳng vào tôi. Tôi mời tất cả vào phòng, tôi nói với Bảo là đi đâu mà bao nhiêu năm biệt tích không gặp lại bạn. Bảo cho biết sau bữa đám cưới người bà con là hắn đi Sài Gòn làm ăn được vài năm thì bị bắt lính. Nó ở nhiều đơn vị, đào ngũ nhiều lần, cuối cùng trốn về quê ở Đại Lộc làm ruộng bị Nghĩa Quân xã bắt vì tội đào ngũ, đưa làm lao công đào binh sau vài tháng được cho trở về đơn vị,  Trung Đoàn 51 nhận. Tôi bảo nó thôi ở đây chứ đừng đi đâu nữa, nó hứa với tôi là nó không đào ngũ.

Chừng vài tháng sau nó nhận được thư nhà là mẹ nó đau nặng, nó nhờ tôi xin giùm cho nó về phép. Hình như những lao công đào binh khi trở lại lính chính quy, sau một năm mới được đi phép, tôi nhớ mang máng như vậy, nhưng tôi cũng xin cho nó với đại đội trưởng khi chúng tôi ngồi ăn cơm. Ông bảo với tôi trường hợp thằng Bảo khó cho nó đi vì nó đã năm lần bảy lược đào ngũ. Nói vậy, nhưng sáng hôm sau ông gọi nó lên trình diện rồi cho nó năm ngày phép. Hết năm ngày không thấy nó vào, hai mươi mốt ngày sau đơn vị báo cáo đào ngũ. Khi ngồi ăn cơm ông Đại Đội Trưởng nói với tôi: “Ông thấy không, mấy thằng lính nguyên là lao công đào binh không thể tin chúng nó được, hở ra là trốn ngay chứ đừng nói chi là đi phép. Mình giúp cho nó phương tiện đào ngũ dễ dàng. Từ nay đừng mắc phải sai lầm nầy.”  Tôi nghe ông nói cảm thấy mình có lỗi quá, từ nay về sau không xin cho ai nữa. Ai muốn đi phép lện thẳng Đại Đội Trưởng mà xin. Ông không quở trách tôi một tiếng, không nói nặng nhẹ với tôi, nhưng tôi cảm thấy đau điếng. Như vậy thằng Bảo đã hai lần sai với tôi. Lần nầy tôi cũng đoán nhận ra được là Bảo đã gặp một điều gì bất trắc, không thể giải quyết được nên đành phải đào ngũ.

Ba tháng sau tôi nhận thư của nó gửi. Trong thư nó cho biết là nó xin lỗi vì thất hứa với tôi. Nhưng không ở lại đơn vị vì mỗi sáng trông thấy tôi, nó cảm thấy xấu hổ. Xấu hổ thứ nhất là mượn áo quần của tôi khi còn đi học mà không trả, thứ hai là người bạn thành người chỉ huy của mình. Một cuộc gặp gỡ oái ăm mà nó không bao giờ muốn, thế mà trời xuôi đất khiến lại gặp nhau chỗ nầy. Nó cảm thấy cay nghiệt và nhục nhã.  Mấy tháng trong đơn vị nó lẩn tránh tôi, trường hợp bất khả kháng nó mới gặp. Nó phải làm cái gì đó để trả lại những món nợ cho tôi, những ưu ái mà tôi đã dành cho nó. Trong thư nó kể dài dòng về cuộc sống nghèo khổ của nó, người mẹ tảo tần không nuôi nổi con, cha đi tập kết bỏ hai mẹ con ở lại. Lời phân bua cho tôi biết hoàn cảnh của nó như vậy nên đưa đẩy nó làm càng. Chứ nó không phải là người đốn mạt như vậy. Nó xin tôi tha lỗi. Đọc thư nó tôi rất xúc động, nhưng mọi chuyện xem như đã an bài. Nó thề, có ngày sẽ gặp lại tôi trong một thế thượng phong chứ không như bây giờ, nói viết trong thư mà tôi có cảm tưởng như nó nhìn thẳng vào mặt tôi nhìn, chứ không như bây giờ phải cúi xuông và luôn luôn lẫn tránh. Tôi tự hỏi tại sao nó phải hành hạ nó như vậy? Trong lúc tôi hoàn toàn không ghi điều sai trái của nó trước đây trong lòng.

Có lần Thanh về phép gặp tôi ngoài phố, hai đứa đưa nhau vào cà phê. Tôi hỏi Thanh có gặp Bảo không? Thanh nói nhỏ với tôi là nó đi theo quân giải phóng rồi. Tôi có nói cho Thanh biết là Bảo trước đây ở đơn vị của tôi, ngoài ra tôi không nói gì cho Thanh biết về chuyện mà Bảo đã lấy của tôi một bộ áo quần khi còn đi học. Tất cả mọi chuyện trôi vào quên lảng. Nghe tin nó đi theo quân giải phóng, tôi giật mình, chỉ có con đường nầy mới giải quyết những rối rắm trong lòng nó. Tôi hoàn toàn không thể ngờ  rằng sự toan tính của nó sau nầy lại ứng với điều nó mong mỏi. Chuyện của Bảo dần dần quên lãng. Hằng ngày tôi vẫn đi hành quân, vẫn sống thanh thản, mỗi lần đi hành quân trong vùng Đại Lộc, Điện Bàn, Hòa Vang tôi lại nghĩ tới Bảo. Biết đâu ở phe bên kia Bảo đã đụng độ với chúng tôi. Hoặc, mỗi khi có một chiến binh Việt Cộng nào chết, tôi cũng lật lên xem mặt, biết đâu người đó là Bảo. Cứ thế nó trở thành một thói quen với tôi. Cho đến ngày tôi bị thương, nỗi ám ảnh đó mới chấm dứt.

Tôi sinh sống tại Sài Gòn từ cuối năm 74, tôi có một hảng bột giặt tại đường Đinh Bộ Lĩnh, gần ngả ba Hàng Xanh, nơi nầy chỗ ở và cũng là nơi làm việc của chúng tôi, có chừng gần năm mươi công nhân làm việc tại đây. Buổi trưa tất cả thợ thầy đều nghỉ, thì thằng cháu vào phòng gọi tôi, có một người Bộ Đội muốn gặp tôi. Tôi chạy ra thì trông thấy Bảo. Tôi rất ngạc nhiên tự hỏi tại sao Bảo lại biết tôi ở đây? Tôi đưa tay ra bắt và mời Bảo vào văn phòng nơi chúng tôi tiếp khách. Bảo nhìn quanh rồi nói với tôi: “Giải Phóng, những sĩ quan của chế độ Miền Nam ai cũng te tua sất bất, mà bạn, tôi thấy phây phây, sung túc, giỏi thật.” Tôi trả lời một cách thành thật: “Thì cái khó ló cái khôn. Người ta khỏe mạnh thì làm ruộng, đạp xích lô. Còn mình yếu đuối phải tìm cái gì đó nhẹ nhàng để làm, chứ không thì chết đói.” Ủa, sao bạn không khỏe mạnh à?  Tôi cho Bảo biết là khi bạn rời khỏi đơn vị chừng vài tháng sau là tôi bị thương mất bàn chân phải tại Cẩm Hải  trong mùa hè khốc liệt 1972. Bảo nhìn tôi rớm nước mắt rồi nói lời xin lỗi vì không có ai cho Bảo biết điều nầy. Tôi lấy xe Honda chở Bảo tới một cái quán bia hơi gần chợ Bà Chiểu vừa uống vừa nói chuyện.

Bảo kể cho tôi nghe chuyện của Bảo. Bảo kể  khi mượn bộ áo quần của tôi đi đám cươi, trong lòng nghĩ rằng ngày mai giặt giũ sạch sẽ mang trả lại cho bạn. Thế nhưng trong đám cưới gặp một người bà con ở Sài Gòn làm nghề dệt tại Ngã Tư Bảy Hiền. Họ nói với tôi đi với họ, họ cho tiền xe, vào tới Sài Gòn họ bao ăn ở. Đang khi nghèo, đói khát, nghe được tin nầy tôi đi ngay. Ngồi trên xe đò tôi nghĩ tới bạn, chắc giờ nầy bạn trông tôi tới nhà để trả lại bộ áo quần. Tôi biết bạn cũng nghèo, cũng khó khăn chứ có dư giả gì đâu. Thế nhưng dù sao bạn cũng còn một bộ áo quần lành lặn có thể cầm cự năm bảy tháng. Còn tôi bộ đồ đã sờn rách, không có khả năng may cái khác. Lại phải đi Sài Gòn cần một bộ đồ hơn. Vì vậy tôi quyết định lấy bộ đồ của bạn, chấp nhận những điều bạn nguyền rủa, khinh khi tôi.

Tôi hứa với lòng mình khi lãnh được tiền lương tôi sẽ ra tiệm may lại cho bạn hai bộ quần áo, hai đôi giày trả cho bạn, để bạn thay đổi khi đi học. Tôi đã thực hiện lời hứa nhưng không có ai quen về Đà Nẵng để tôi gửi cho bạn. Hai bộ quần áo tôi giữ năm nầy qua năm khác đến khi tôi bị bắt quân dịch. Bộ áo quần nầy đã dày vò tôi suốt năm nầy qua năm nọ, tôi khổ sở với nó. Thấy học sinh mặc đồng phục quần xanh, áo trắng là tôi nghĩ tới bạn, người đã giúp tôi có được áo quần tương đối sạch sẽ để dự đám cưới của đứa em. Trời đã phạt tôi để tôi gặp lại bạn trong hoàn cảnh nghiệt ngã, bạn là cấp chỉ huy của tôi. Bạn không hề nhắc lại bộ quần áo mà chỉ hỏi thăm sưc khỏe trong lần gặp lại đầu tiên, làm cho tôi càng thêm thẹn với lòng. Cử chỉ bao dung của một con người ở thế thượng phong, đã làm cho tôi kính nễ nhân cách cao quý của bạn. Những ngày sống trong đơn vị, tôi biết bạn đã dành cho tôi những đặc ân khó quên, chính điều nầy tôi càng thấy mình hèn hạ đáng khinh. Tôi không thể mang tâm trạng nầy mãi được, nên tôi tìm cách phải rời xa đơn vị càng sớm càng tốt, để bạn khỏi vì tôi mà không công bằng với anh em dưới quyền của bạn.

Về đến nhà tôi thẩn thờ mãi không biết phải làm gì, phải theo con đường nào cho hợp lý. Theo quân Giải Phóng thì tôi không thích mặc dù cha tôi là người của phe bên nầy. Dù sao đi nữa tôi đã sống với chế độ Miền Nam từ nhỏ tới lớn, đã quen với lối sống tự do khó chấp nhận cuộc sống khắc khổ. Còn trở lại đơn vị thì gặp bạn, tôi cảm thấy đau khổ, lương tâm tôi dày vò mãi. Tôi và bạn ai cũng trốn chạy sự thật. Bạn không nhắc lại chuyện cũ vì sợ tôi xấu hổ. Còn tôi không dám nhắc lại vì không đủ can dảm. Chính vì vậy mà hai bên cảm thấy xa nhau. Cuối cùng tôi quyết định theo quân Giải Phóng, con đường nầy đối đầu với bạn. Biết đâu một ngày nào đó phe bên tôi thắng trận, gặp lại bạn tôi không còn mặc cảm thua thiệt. Tôi có thể giúp bạn khi thấy bạn khó khăn, để trả lại món nợ cũ, một món nợ nhỏ nhoi mà trở thành vô giá với tôi. Trời không phụ lòng tôi, tôi là người vui sướng nhất khi quân Giải Phóng thắng trong cuộc chiến nầy. Tôi không còn phải cúi gầm mặt khi gặp lại bạn, tôi có thể dang tay ra gúp bạn, tôi có thể ngồi ngang hàng với bạn để nói chuyện. Khi biết sĩ quan quân đội Miền Nam bị lùa vào trại cải tạo, nếu bạn còn sống chắc chắn bạn không tránh khỏi mẻ lưới rông lớn mà Cộng Sản giăng ra quật ngả anh em.

Năm đầu, tôi phải chờ sự bố trí của thượng cấp, phải ổn định đời sống rồi tôi mới ra Đà Nẵng tìm nhà của bạn để hỏi thăm tin tức về bạn. Tôi gặp được ông già của bạn, tôi tự giới thiệu là bạn hồi nhỏ với bạn, nếu bạn đi học tập ở đâu tôi sẽ tới thăm. Bác cho tôi biết bạn đang sống ở Sài Gòn và cho tôi địa chỉ. Trên đường về Đại Lộc, tôi thắc mắc mà không dám hỏi Bác. Tại sao bạn là sĩ quan mà không đi học tập, bạn trốn học tập à? Vào đây rồi tôi mới hay là bạn bi thương, tôi thở phào nhẹ nhỏm. Nhìn cơ ngơi của bạn, nhìn cuộc sống thoải mái của bạn tôi cảm thấy mừng cho bạn. Nói cho cùng bạn xứng đáng hưởng những ân sủng của thượng đế dành cho. Thú thật, Tôi có mang vào một số tiền nho nhỏ để giúp bạn vì tôi biết các sĩ quan cũ ai cũng chật vật, cũng khó khăn, bạn cũng vậy thôi. Gặp lại bạn mới biết bạn thành công ngoài sức tưởng tượng của tôi. Thôi mừng cho bạn vậy. Món nợ của bạn tôi mang suốt cuộc đời nầy.  Tôi sẽ kể lại cho con tôi biết bài học lớn trong đời tôi. Sống trong nghèo nàn, chấp nhận túng thiếu. Dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ cho được tấm lòng ngay thẳng, chớ l;ường gạt người khác. Đó là sự nhục nhã không bao giờ rữa sạch, lương tâm cắn rứt, người đời khinh bỉ.

Bạn cho tôi được trả tiền bữa rượu nầy, xem như tôi có được cơ hội để mời bạn chén rượu tạ lỗi. Lặn lội từ Đà Nẵng vào đây mong có dịp giúp bạn, thế mà vẫn không làm được. Mong bạn hiểu cho tấm lòng của tôi, dù tôi biết bạn xem chuyện nầy không có gì. Thế nhưng vói tôi là một điều không thể tha thứ được.

Tôi im lặng nhìn và nghe Bảo nói. Nói ra được để nhẹ bớt những u uất trong lòng bao nhiêu năm nay. Tôi thấy tội nghiệp cho Bảo, nhầm lẫn một việc làm mà hối hận suốt cả cuộc đời. Ước gì lúc nầy tôi nghèo rớt mồng tơi để Bảo có dịp giúp tôi thì hay biết mấy, Bảo cảm thấy đã trả lại cho tôi một món nợ. Còn bây giờ Bảo vẫn còn mang tâm trạng một “món nợ không thể trả” dù biết mình có thừa khả năng làm chuyện nầy. Nhìn thấy Bảo trầm tư trước ly bia đầy mà không thể uống cạn, hình như có cái gì đã chặn ngang cổ họng. Để giải tỏa không khí nặng nề bao quanh bữa rượu. Tôi lên tiếng như một cách xoa dịu, một lời an ủi: “Bạn và tôi uống cạn ly bia nầy”. Chúng tôi ngửa cố uống hết. Đặt ly xuống bàn tôi nói với Bảo là mặc cảm của bạn quá lớn. Khi Thanh nói với tôi là bạn đi Sài Gòn tìm việc làm để giúp mẹ, tôi giật mình. Tôi hãnh diện được quen với một người con hiếu thảo như bạn. Nếu lúc đó biết chuyện nầy sớm thì dù bạn có mang tới trả lại bộ đồ cho tôi, tôi cũng không nhận để bạn có một bộ đồ lành lặn khi bước vào nơi làm việc đầu tiên. Bạn bè làm chung khỏi nhìn bạn với con mắt khinh khi, một thắng Quảng Nam vào ăn mặc rách rưới như một tên ăn mày. Dù sao bạn cho tôi góp một bàn tay với bạn. Nếu biết bạn đi xa như vậy thì một bộ áo quần có nghĩa chi để bạn phải bận tâm như vậy. Bạn biết không, khi bạn bước chân vào đơn vị gặp tôi, thật tình tôi vừa kinh ngạc, mà cũng vừa thương xót cho bạn. Sao lại có một cuộc gặp gỡ cay nhiệt như vậy? Cuộc đời nầy sao tàn nhẫn quá phải không? Vì vậy, sau buổi gặp lại, tôi suy nghĩ phải tìm cách giúp bạn. Với sĩ quan tép riêu như tôi thì làm sao giúp được bạn. Tôi biết gia cảnh của bạn một mẹ một con thì thế nào bạn cũng được cứu xét ở một đơn vị không tác chiến. Nhưng trường hợp của bạn trước đây là quân nhân đào ngũ thì phải ráng ở đơn vị một thời gian, thế nào rồi bạn cũng trở vế gần với gia đình. Thế rồi bạn đào ngũ và gia nhập hàng ngũ quân giải phóng, nghĩ lại lá thư bạn gửi cho tôi, không biết điềm lành hay điềm dữ. Rồi kết cuộc quân Bắc Việt thắng trận, tôi thấy ý định của bạn trở thành sự thật, thâm tâm tôi mừng cho bạn. Ngày hôm nay bạn bè ngồi lại với nhau uống ly rượu mừng là gặp lại nhau sau một cuộc chiến tương tàn, kẻ thắng người thua thân tàn ma dại. Còn lại nhau chút tình, đừng xem nhau như kẻ thù. Bạn biết đó, chúng ta chỉ là những con cờ, hãnh diện làm chi với cái thắng thua./

Houston, ngày 6 tháng 4 năm 2014

Phan Xuân Simh

Posted in Truyện ngắn | 1 Comment »

NGƯỜI GÁC CẦU DE LATTRE

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 9, 2014

Người Gác

Cầu  “DE LATTRE”

Truyện của Phan xuân Sinh

Chị Hương quen với dì tôi, những người quen với dì, tôi cũng gọi bằng dì. Nhưng riêng với chị Hương, tôi gọi bằng chị. Chị muốn tôi gọi như vậy. Chị lớn hơn tôi chừng hơn mười tuổi, chị rất đẹp. Nhà chị buôn bán ở chợ Cồn Đà Nẵng. Tôi không thấy cha của chị chỉ biết chị đang sống với người mẹ, cũng không thấy chị có anh chị em. Hồi đó, buổi sáng phải chất hàng trên chiếc xe bò, thuê người kéo phía trước, còn mẹ chị đẩy phía sau. Người đẩy xe có nhiệm vụ khi ra tới chợ phải phụ với mẹ chị bày hàng ra rồi mới đẩy xe không về nhà, chiều kéo xe ra lấy hàng về. Chị Hương lúc đó làm ở sở quế của ông Bửu, nghe nói ông nầy kinh doanh cho cậu Cẩn, em Tổng Thống Diệm.

 

Nghe chị Hương nói chuyện với dì tôi là mẹ chị Hương cần thuê một người đàn ông kéo xe và phụ giúp việc nhà. Dì tôi giới thiệu anh Quờn ở quê mới ra đang tìm việc làm. Mẹ chị Hường đồng ý ngay, thế là anh Quờn trở thành một thành viên trong gia đình chị Hương. Công việc của anh buổi sáng kéo xe hàng ra chợ, bày hàng ra sạp, chờ mẹ chị Hương ra ngồi bán, anh được sai đi lấy hàng, rồi về nhà lo cơm nước cho mẹ con chị. Từ ngày có anh Quờn mẹ con chị đỡ vất vả, mọi chuyện trong gia đình anh Quờn lo tất cả. Chuyện như vậy êm xuôi năm nầy qua năm khác. Cho đến một hôm tôi nghe tin anh Quờn cưới chị Hương. Một cái tin làm tôi sửng sốt vì anh Quờn là người cục mịch, quê mùa. Còn chị Hương là người thật đẹp, vóc dáng tiểu thơ, được nhiều thanh niên bảnh trai theo đuổi. Sao chị lại ưng một người không cân xứng với chị như vậy. Tôi hỏi chuyện nầy với dì của tôi thì bả lắc đầu không trả lời. Tôi thấy chuyện nầy có cái gì đó bí ẩn mà tôi không biết.

 

Rồi chị Hương sinh đứa con gái đầu lòng, anh Quờn săn sóc vợ chu đáo. Anh thêm một nghề mới là nuôi đẻ. Hồi trước, khi sinh nở phải có một người đàn bà lo việc giặt giũ, hơ háp, tắm rửa cho đứa bé sơ sinh. Việc nầy phải thuê một người đàn bà giúp trong vòng một vài tháng đến khi người sinh nở cứng cáp. Anh Quờn làm việc nầy không cần phải thuê ai cả đến khi chị Hương đi làm việc trở lại, ngoài những việc thường ngày trước đây, anh Quờn kiêm luôn nghề nuôi giữ con nít. Cả xóm ai trông thấy cảnh nầy của anh cũng thương cho anh. anh làm việc nhà túi bụi. tối anh phải ngủ dưới bếp. Anh rất sợ chị Hương, mỗi khi anh làm việc gì không đúng ý của chị, chị la mắng anh như một bà chủ, anh run rẩy sợ sệch thật tội nghiệp.

 

Những người bạn trai hay lui tới nhà chị, anh phải bồng con đi chơi đâu đó để chị rảnh rang tiếp chuyện với bạn trai. Tối, anh phải dỗ cho con ngủ với anh ở nhà bếp, để chị ngủ trong phòng một mình khỏi phải bị quấy rầy khi đứa bé thức giấc nửa đêm đòi sữa. Nghe nói, đôi khi chị tiếp bạn trai trong phòng ngủ mà chẳng sợ anh ghen tuôn. Chị xem anh như một bức bình phong để che đậy những việc làm tồi bại của gái đã có chồng. Sau nầy nghe nói là khi còn con gái chị quen với một ông sĩ quan đã có vợ. Khl chị có thai thì người sĩ quan kia chuồn mất. Bà mẹ quýnh quá gọi anh vào nói chuyện rồi gả chị cho anh Quờn. Như vậy đứa con nầy không phải là con của anh. Đám cưới của chị gia đình nhà gái lo hết, anh không tốn một đồng xu. Con người của anh không biết phải diễn tả như thế nào cho đúng. Khù khờ cũng không đến nỗi khù khờ mà tỉnh táo cũng không phải là người tỉnh táo. Anh rất vui vẻ xem chuyện của vợ lăng nhăng với người khác là chuyện bình thường, không dính dấp gì với anh. Khi nào vợ cần ngủ với anh thì gọi anh vào, xem như lâu lâu anh được thưởng công, hoặc đôi khi chị có mang rồi thì gọi anh vào làm tình để anh có cảm tưởng rằng đứa con đó là con của anh. Hàng xóm người ta nói đùa, anh là người thêm chân thêm tay cho đứa bé, còn người khác tạo ra hình tượng.

 

Chị quen với ông làm quản lý cho sở Quế của ông Bửu, ông nầy là xếp của chị, ông trông coi khoản chừng bốn trăm công nhân trong đó có chị.  Khi nào ông nầy tới nhà chơi, anh Quờn phải lo dọn dẹp phòng ngủ cho tươm tất, xịt dầu thơm trong phòng để không còn mùi gì khác lạ. Nửa đêm ông ấy ra về, anh phải dắt xe honda của ông đó ra ngõ rồi mới được vào ngủ, dù khuya mấy anh cũng phải chờ để làm việc đó. Sáng sớm bốn giờ, anh phải thức dậy nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, đẩy hàng ra chợ. Khi mẹ chị Hương ra chợ trông coi, anh mới được trở về. Chị Hương có thêm một đứa con gái chào đời, đứa nầy giống ông quản lý sở Quế như đúc. Nghe nói ông nầy cho chị một số tiền lớn để ếm nhẹm chuyện có con với chị. Mà chị cũng muốn như vậy vì trên thực tế chị là gái có chồng. Có thêm một đứa con thứ nhì, chị không cần phải giữ gìn ý tứ, công khai ăn nằm với người khác một cách ra mặt. Chị nói chuyện với bạn bè của chị là những đứa con mỗi đứa cha chúng nó khác nhau. Có một điều rất lạ là những đứa bé mặt mày mỗi đứa giống y hệt từng người tình ngủ với chị.

 

Người tình cuối cùng của chị là ông mắt lé. Ông nầy là một quan chức thế lực ở thành phố, con gái của ông cặp với ông Thị Trưởng nên ông dựa hơi làm ăn giàu có. Ông cặp với chị có một đứa con gái. Đứa con nầy mắt cũng lé như ông, nhìn đứa bé nầy giống ông y hệch. Thường thường mấy mối tình vụng trộm thì đứa bé hay giống cha. Trường hợp những đứa con chị Hương nói lên điều đó.

 

Khi Tổng Thống Diệm bị lật đổ, đất nước bắt đầu chìm sâu trong chiến tranh, nên những người đàn ông không tránh khỏi con đường vào lính. Anh Quờn trốn quân Dịch được ít lâu, đến hồi không còn cách trốn tránh được nữa, chị nghĩ ngay tới ông bồ cũ sĩ quan có đứa con đầu với chị, chị phải nhờ ông nầy xin cho anh Quờn vào lính đồn trú chung quanh thành phố. Chị  tìm ra được tông tích của ông sĩ quan bồ cũ của chị, ông hiện thời là Đại úy phục vụ tại Quân Trấn.

 

Một ngày đẹp trời chị đến thăm ông. Ông Đại úy nhìn thấy chị hết hồn không biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Ông mời chị ra Câu Lạc Bộ của đơn vị uống nước để tránh khỏi tai mắt những người lính trong phòng của ông. Điều trước tiên chị trách là mười mấy năm ông chưa hề bén mảng đến nhà chị thăm con, bỏ bê mẹ con chị cho trời đất. Một mình chị chống chọi với biết bao nhiêu mũi dùi đâm thọc với cái tội không chồng chửa hoang. Chị kể khổ với ông đủ điều chỉ xin ông mỗi một việc là tìm cách cho ông chồng chị, người đã đưa lưng ra gách chịu cái tai họa do ông gây ra và làm cha cho đứa con của ông. Ông Đại úy nghe nói với một cái giá rẻ mạt như vậy, trong tầm tay của ông có thể lo được. Xin cho một thằng đi nghĩa quân hay địa phương quân tại thành phố nầy thì dễ ợt. Ông hứa với chị Hương sẽ cho anh Quờn đi lính ở địa phương, không phải ra tác chiến.

 

Chừng mười hôm sau, anh Quờn đi trình diện ở đặc khu Quảng Đà và được đưa ra Phú Bài học căn bản quân sự. Hai tuần sau, chị Hương ra Phú Bài thăm anh Quờn. Không biết làm thế nào mà chị lẹo tẹo với ông Đại Đội trưởng khóa sinh, xin cho anh Quờn ở nhà tạp dịch, khỏi phải ra bãi học. Chị thường lấy cớ ra thăm chồng, nhưng quả thật là ra Huế ngủ đò với ông sĩ quan chỉ huy của anh Quờn. Đời lính sau nầy của anh Quờn sướng thân cũng nhờ ở chị. Anh Quờn về kể cho chị nghe sĩ quan nào khó tính, bắt nạt anh thì chị đi gặp ông nầy ngay. Qua một vài lần ông nào cũng được chị cho ăn nằm, nên anh Quờn được đi phép dài dài là vì vậy.

 

Một hôm, anh Quờn nghe mấy thằng lính trong đơn vị nói chuyện về gác cầu, sướng lắm, buổi tối thay phiên nhau gác, ban ngay thì ngủ hoặc về nhà. Anh đem chuyện nầy nói với chị Hương để tìm chỗ chạy chọt. Chị Hương thì không giàu nên không có khả năng mà đút lót tiền bạc, đành phải đem thân mình ra  dụ dỗ mấy cha nội quyền chức. Không biết ai cho chị biết lính tráng trong Đặc Khu đổi nơi nầy qua nơi khác là do Ban Một điều động. Trưởng Ban Một là ông thiếu tá già nhưng có máu ham gái. Nắm được yếu điểm nầy chị sửa soạn thật đẹp, đến gặp ông Thiếu Tá tại văn phòng. Không biết giữa chị và ông thiếu tá đó xẩy ra việc gì tại chỗ làm, ngày hôm sau anh Quờn được sự vụ lệnh đổi đến gát cầu De Lattre.

 

Cầu De Lattre cách trung tâm thành phố Đà Nẵng chừng gần hai cây số. Chiếc cầu sắt duy nhất thuở đó bắt qua sông Hàn, mang tên của ông Đai Tướng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Tên đầy đủ của ông tướng nầy là “Jean De Lattre De Tassigny”. Thời ông Diệm chiếc cầu được đổi tên cho một ông tướng Việt Nam theo đạo Cao Đài là Trịnh Minh Thế, thế nhưng người dân Đà Nẵng gọi tên chiếc cầu nầy theo lối cũ là cầu “Đờ-Lách”. Đến thời đó, chiếc cầu sắt nầy rất cũ kỹ, xe chạy trên cầu rung rinh như răng rụng. Thế nhưng vì chiến tranh không ai nghĩ đến chuyện làm chiếc cầu mới thay thế.

 

Anh Quờn cầm sự-vụ-lệnh đến trình diện người chỉ huy toán gác cầu, không biết ông nầy cấp bậc là gì, chắc thuộc hàng hạ sĩ quan. Thấy thằng lính mới, mặt mày tối om, thân hình cục mịch nên ông không có cảm tình. Ông bắt anh Quờn không được ra ngoài phạm vi cầu ngày cũng như đêm. Thấy tình hình căng quá, anh Quờn nhờ người nhắn cho chị Hương biết để chị tìm cách cầu cứu. Trưa hôm sau chị Hương đến chỗ cầu De Lattre, ở đó có một lô-cốt cho người chỉ huy cầu vừa làm nơi làm việc, vừa làm chỗ ngủ. Chị đi ngay vào lô-cốt, thấy ông chỉ huy đang thiu thiu ngủ trên ghế bố. Thấy chị ông vội vàng ngồi dậy tiếp chị. Chị tự giới thiệu chị là vợ của anh Quờn. Ông nầy trố mắt nhìn chị, không biết chị có đùa không? Một thằng lính ngớ ngẩn mà sao có vợ đẹp thế. Chị đẩy đưa với ông vài câu, xin ông dành cho anh Quờn những đặc ân. Không biết là chị sau nầy có ăn ngủ với ông hay không mà anh Quờn ban ngày ở nhà lo quán xuyến nhà cửa, tối mới vào đơn vị gác cầu. Thỉnh thoảng hàng xóm trông thấy người chỉ huy toán gác cầu “Đờ-Lách” đến thăm chị vào ban đêm, trong lúc đó anh Quờn đang gác cầu.

 

Chị có tất cả là bốn người con gái, con của bốn ông bồ khác nhau. Có lẽ chị cũng cảm thấy mỏi mệt với những mối tình bất chính. có chồng mà chưa cho ông chồng của mình một đứa con nào. Nhìn thấy người chồng lam lũ suốt cả cuộc đời vì mình, chăm sóc mình và các con của chị một cách tận tụy. Chị cảm thấy thương hại cho anh, cảm thấy hối hận bao lâu nay đối xử với anh một cách tàn tệ. Chính vì vậy chị cho phép anh vào phòng ngủ ăn nằm với chị. Lúc nầy chị không còn ông bồ nào khác, lbây giờ tuổi của chị đã vượt qua con số bốn mươi, không còn lực thu hút những người lắm bạc nhiều tiền. Chị tự nguyện sống với chồng con, không còn liếc mắt đưa tình với những người đàn ông khác.

 

Chị Hương nhìn  anh Quờn đang bửa củi ngoài sân, thân hình vạm vỡ khỏe mạnh, nước da sạm nắng trông thấy thật hấp dẫn. Một người chồng như thế nầy mà trước đây chị bỏ bê, chạy theo những hào nhoáng bên ngoài. Chị gọi anh vào, pha cho anh một ly nước trà, lấy khăn lau mồ hôi trên người anh, nắn bóp từng bắp thịt cuồng cuộn trên người. Bất thần chị hôn lên môi anh say đắm. Lần đầu tiên chị mới có cảm giác xao xuyến với chồng. Chị dắt tay anh vào buồng.

 

Chị bắt đầu xa lánh mấy ông bồ chỉ nghĩ tới xác thịt của chị, lợi dụng nhau để sống. Còn anh Quờn thì một lòng một dạ với chị, chân tình với chị. Chị cảm thấy có lỗi nên hối hận. Sau buổi trưa anh đang bửa củi chi gọi anh vào buồng, chị thấy trong ngườiị có những triệu chứng thay đổi đột ngột. Chị biết, chị đã mang thai với anh. Khác với những lần trước, mỗi lần mang thai là lo lắng, sợ sệt. Lần nầy chị cảm thấy vui và sung sướng. Gần mười lăm năm lấy nhau, bây giờ chị mới chính thức cho anh một đứa con, mới biết thế nào là mái ấm gia đình, mới biết cái hạnh phúc sống bên chồng. Chị không còn thấy khuôn mặt tăm tối của chồng mà tự nhiên chị cảm thấy cũng khuôn mặt đó bây giờ rạng rỡ, tươi sáng. Tình yêu nó biến tất cả mọi thứ trở thành đẹp và chị biết nâng niu nó như là một báu vật.

 

Khi chị mang thai được bảy tháng, thì một trận lụt dữ dội đã xẩy ra cho dân Quảng Nam, lụt năm thìn 1964. Người dân Đà Nẵng thì không ảnh hưởng gì tới trận lụt nầy bao nhiêu, chỉ thấy mưa to gió lớn gần một tuần lễ. Bờ sông Hàn tràn ngập, những mái nhà trôi trên sông bị nước cuốn trôi từ vùng quê đổ ra cửa sông Hàn, có người còn bu trên nóc nhà nhưng không ai có thể cứu được. Một trận lụt đã chôn vùi bao nhiêu làng mạc miền quê, giết hại không biết bao nhiêu người dân. Chiều hôm đó, anh Quờn cơm nước xong, choàng chiếc poncho, lên xe đạp chạy ra cầu “Đờ-lách” gác cầu như mọi ngày. Có biết đâu, đây là lần cuối cùng anh giã từ vợ con.

 

Mười hai giờ đêm, anh ra cầu để thay ca gác. Thường thường mỗi ca có ba người, hai người ở hai đầu cầu, một người ở giữa cầu. Đêm đó phiên anh gác giữa cầu. Anh vừa ra giữa cầu, hút chưa hết điếu thuốc thì anh nghe tiếng chuyển động, không kịp chạy thì nhịp cầu anh đang đứng đổ xuống nước, nghe một tiếng “rầm” lớn và hai người lính gác ở hai đầu cầu nghe tiếng anh kêu cứu. Tất cả mọi người đều sững sờ. Dòng nước chảy siết trong đêm đã cuốn thân thể anh trôi ra biển lớn.

 

Ngay đêm đó, người chỉ huy toán gác cầu đạp xe đến nhà chị Hương báo tin, anh Quờn đã bị nước cuốn đi trong đêm. Cả nhà thức dậy khóc lóc thảm thiết. Sáng ngày hôm sau, chị Hương nhờ người đi dọc theo hai bờ sông tìm kiếm xác anh, nhưng không thấy. Chị lập bàn thờ, chị và các con để tang cho anh. Đời anh Quờn đã chấm dứt trong mùa bão lụt năm thìn 1964, trên chiếc cầu De lattre oan nghiệt của Đà Nẵng. Sau nầy, khi cơn lụt chấm dứt, quân đội Mỹ làm một chiếc cầu dã chiến, bắt song song với cầu De Lattre đã sửa lại. Hai chiếc cầu ghi dấu hiện diện của hai quân đội Pháp và Mỹ đã có mặt trên chiến trường Việt Nam.

 

Ngày nay, Đà Nẵng có nhiều cầu bắt qua sông Hàn, hiện đại và mỹ thuật. Thế nhưng với chúng tôi học sinh thuở đó vẫn còn nhớ mãi chiếc cầu De Lattre cũ kỷ, những ngày nghỉ học đoàn học sinh chúng tôi gò lưng trên yên xe đạp vượt qua cầu để đi picnic ở Mỹ Thị, Non Nước hay Mỹ Khê, Tiên Sa, Sơn Chà. Riêng đối với tôi, mỗi lần đạp xe trên cầu, tôi nhớ lại anh Quờn, người lính gác cầu năm xưa đã bỏ mình trong trận lụt năm thìn. Điều an ủi vong linh của anh, là anh còn để lại một đứa con trai nối dõi tông đường./

 

Houston, đầu năm Quý Tỵ (10.2.2013

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

THỨC TĨNH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 9, 2014

THỨC TỈNH

truyện của Phan Xuân Sinh

 

Luật vượt biển đến Hồng Kông năm 1982, sau khi cải tạo tại Tiên Lãnh được sáu năm. Chuyến đi của anh suông sẻ chỉ mất hai ngày hai đêm trên biển. Điều trước tiên, anh đánh điện tín về nhà báo tin cho vợ con biết anh đã vượt thoát khỏi Việt Nam an toàn để chị mừng. Anh theo chân những người tị nạn vào phố Hồng Kông xin việc làm, anh được một nhà hàng sắp xếp cho anh rửa chén bát, việc làm cũng không đến nỗi khổ cực, lương tương đối khá. Mỗi ngày người ta cho anh mang về trại thức ăn dư thừa để anh chia cho những người không tìm được việc làm. Ở đây anh cảm thấy thoải mái hơn khi ở quê nhà rất nhiều. Không ai quan tâm hoặc theo dõi kẻ khác, không phạm pháp thì không sợ sệt ai. Trong trại ai cũng thân thiện, tận tâm chỉ vẽ nhau những điều người khác không biết. Mọi người chung quanh thương mến anh vì bản tính hiền lành. Ở Hồng Kông gần 1 năm thì anh được phái đoàn Mỹ nhận cho đi định cư.

Thế nhưng có một điều làm anh thắc mắc mãi, tại sao một ông thầy chùa đã giúp đỡ anh tận tình như vậy? anh chưa hề quen biết ông. Anh nhớ lại cái đêm vượt biên bị Công An phát giác, anh nhảy xuống sông vừa bơi vừa lặn, trước khi tàu Công An kẹp sát. Lên bờ vì trời tối anh không biết đây là nơi nào. Anh lần mò trong bóng tối chừng ba tiếng đồng hồ vẫn không thấy đường cái. Bỗng nhiên anh trông thấy ánh đèn từ xa, anh đi tới, thì ra đây là ngôi chùa nhỏ. Anh vào chùa gặp vị sư còn trẻ, Sư hỏi anh cần gì? anh tình thật thưa rằng anh đang lạc đường và xin được giúp đỡ. Vị Sư đưa anh vào chánh điện rồi đến thưa với thầy trụ trì. Thầy trụ trì chừng trên dưới sáu mươi tuổi, mặc bộ đồ màu lam, nước da ngăm đen, khuôn mặt hiền từ. Khi nhìn thấy anh Thầy có vẻ hơi giật mình. Thầy bảo người Sư trẻ dọn cơm cho anh ăn. Trong lúc nói chuyện để anh an tâm, Thầy cho anh biết sẽ không có ai làm phiền hay quấy rối anh. Anh muốn ở đây bao lâu cũng được. Thầy đích thân dọn phòng cho anh ngủ. Anh tự hỏi giữa lúc khó khăn, gạo châu củi quế, thế mà nhà chùa lại rộng lượng quá vậy.

Sáng dậy, anh bước ra phòng rửa mặt thì đã thấy Thầy ngồi tại bàn ăn đang uống trà. Thầy mời anh cùng uống trà và nói chuyện. Tuyệt đối Thầy không hỏi anh về cuộc sống hiện thời, về gia đình, về nơi ăn chốn ở. Thầy dặn anh có ai hỏi thì bảo anh là bà con ở quê ra thăm thầy. Thầy cũng cho anh biết ngôi chùa nhỏ nghèo nàn nên ăn uống sơ sài, không biết anh có chịu được không? Anh chắp tay cám ơn Thầy và nói “Được Thầy bảo bọc, chuyện ăn uống không thành vấn đề, tất cả đều tốt với tôi. Xin Thầy đừng bận tâm”. Khi còn ở nhà, anh và vợ con bữa đói bữa no, làm gì được như thế nầy.Trong những ngày ở chùa, Thầy ít khi gặp anh, ít nói chuyện với nhau ngoại trừ vào bữa ăn. Không hiểu sao Thầy cố giữ anh lại, mà không cho biết lý do. Chừng  mười ngày sau, khi ăn cơm chiều xong, Thầy bảo anh ngồi lại để Thầy nói chuyện. Chỉ còn lại hai người đối diện nhau, Thầy nói với anh:

“Khi anh bước chân vào chùa nầy, tôi đã biết anh là người trốn thoát Công An lùng bắt vì tội vượt biên. Ở đây tôi đã gặp vài trường hợp giống anh và tôi đã che chở nên họ về nhà an toàn. Như anh biết chùa là nơi mở rộng vòng tay giúp đỡ cho những người sa cơ thất thế, chúng tôi làm hết sức mình trong điều kiện cho phép. Hơn nữa vượt biên theo tôi không phải là cái tội, họ chỉ trốn thoát chế độ không phù hợp với họ, không chống cự, không phản đối, thì không thể bảo họ mang tội. Trường hợp của anh khác với những người kia, khác như thế nào sau nầy anh sẽ rõ. Đêm nay có một chuyến vượt biên uy tín mà tôi tin tưởng, tôi muốn gửi anh đi trong chuyến nầy, mười một giờ sẽ có người tới dẫn anh đi. Tôi đã chuẩn bị sẵn cho anh mọi thứ,  gồm có hai bộ quần áo để anh thay đổi khi tới nơi, và một lượng vàng cho anh tiêu dùng trong thời gian chờ định cư đến nước thứ ba.”

Anh trố mắt nhìn Thầy mà không nói nên lời, anh đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác. Không biết lý do gì mà Thầy tận tình giúp đỡ anh như vậy. Thầy bảo anh về phòng nằm nghỉ, chờ đến giờ có người tới đưa đi. Thầy không cho anh nói một lời nào dù là lời cám ơn. Thầy lên chánh điện tụng kinh. Anh nằm suy nghĩ mãi về sự giúp dỡ nầy của Thầy. Một lượng vàng là một tài sản không nhỏ vào thời điểm đó. Thế mà Thầy lại biếu anh, chưa kể Thầy còn phải đóng tiền cho chủ ghe để được đi, chứ không ai cho đi không. Anh thắc mắc sao lại có một người tốt như vậy. Anh hứa với lòng mình, sau khi an cư lạc nghiệp ở xứ người, anh trở về thăm thầy, anh hỏi thầy lý do tại sao thầy đã giúp đỡ anh. Anh nghĩ sẽ hoàn trả lại số vàng bằng gấp bao nhiêu lần mà Thầy đã chi phí cho anh. Thầy nói chùa đã từng che chở cho những người vượt biên bị bể, đã đưa họ về nhà, đó là một việc làm tốt, một công đức cao cả mà chỉ có Bồ Tát mới hành xử như vậy. Vì biết bao nhiêu hệ lụy sẽ gây rắc rối cho chùa và cho Thầy nếu chính quyền biết được. Ấy vậy mà Thầy chẳng sợ gì. Niềm tin nào đã làm cho Thầy hành động một cách liều lĩnh như thế. Sống giữa một xã hội mà người dân chỉ còn cách trốn ra nước ngoài mới yên thân, thì còn sợ chi chuyện bắt bớ. Tuy nhiên ở trường hợp của Thầy lại khác, Thầy đứng ngoài mọi liên hệ với những người chạy trốn, mà lại dang tay ra đỡ cho họ khỏi bị tù tội. Còn hoàn cảnh của anh được Thầy che chở rồi lại tìm cách đưa đi tiếp. Qua sự việc nầy, Thầy đã tạo cho anh một niềm tin vào cuộc đời, vẫn còn có người đầy lòng nhân ái.

Anh nằm trong phòng không nhắm mắt được. Anh nghe tiếng tụng kinh của thầy ngoài chính điện, giọng thầy trầm bổng uy nghi, gieo vào lòng anh một thức tỉnh và suy tư. Anh chưa bao giờ nghe được những lời kinh có uy quyền, thấm đẫm vào lòng anh một cách sâu xa, xoa dịu những nhọc nhằn căng thẳng mà anh đã từng gánh chịu. Anh suy nghĩ, đây mới chính là nơi Phật hiện diện. Không cần chi chùa phải lớn, phải nguy nga. Chính ngôi chùa nhỏ bé nầy, ở một nơi hẻo lánh mà đã chứa lực đại hùng của Phật, sáng tỏa trong lòng anh sự từ bi mà bây giờ anh mới ngộ ra được. Người anh lâng lâng như đang bước vào một cõi tâm thức, tiếng kinh như thinh lặng, đôi lúc dìu dặt, đôi lúc khoan thai, có phải chăng đang dìu anh ra khơi trong êm ả, một chuyến đi mà anh không còn mang nỗi sợ… Rồi anh thiếp đi lúc nào không hay.

Gần mười một giờ đêm, Thầy vào gọi anh dậy. Thầy trao cho anh cái bọc nylon chứa hai bộ quần áo và một lượng vàng.  Thầy bảo anh cẩn thận cất vàng vào túi quần sau cài nút lại. Trong bọc nylon có một lá thư, Thầy dặn khi lên ghe lớn hãy đọc. Nếu trường hợp bị Công An phát hiện, bằng mọi cách phải hủy lá thư trước. Thầy đứng ngay cửa nhìn anh ra khỏi chùa. Người dẫn đường đưa anh ra ghe nhỏ cách đó chừng nửa giờ. Trên ghe có khoảng mười người, rồi ghe chạy ra sông cái tấp vào ghe lớn đang chờ sẵn. Khi leo lên ghe anh làm rớt bọc nylon xuống sông không vớt lên được. Như vậy lá thư và hai bộ áo quần mất từ đó.

Đúng như lời Thầy nói, chuyến đi rất an toàn, hai ngày sau tới Hồng Kông. Anh đổi lượng vàng ra thành 10 chỉ ,để tiêu dùng trong những ngày sống ở trại tị nạn. Anh tiện tặn vì không biết chờ đợi đến bao lâu mới đi định cư ở nước thứ ba. Anh may mắn được phái đoàn  Mỹ phỏng vấn và cho đi sớm. Một gia đình người Mỹ ở Oakland California làm sponsor cho anh. Lúc đó Oakland chưa có người Việt nhiều, thành phố toàn người Mỹ đen và Mễ. Dần dần những năm sau người Việt tới dịnh cư và những quán café mọc lên ở đường E.14. Chính ở đây là nơi truyền những tin tức từ Việt Nam qua, chuyện bàn luận chính trị bắt đầu sôi nổi trên bàn café của những chính khách không tên tuổi. Đúng, sai không ai cần biết, có cãi vả với nhau khi bất đồng, nhưng tất cả đều bỏ lại bàn, không ai mang trong lòng.  Đó là niềm vui duy nhất của mỗi cuối tuần cho những người Việt tha hương sinh sống trong thành phố. Anh share phòng với một gia đình Việt Nam, ăn uống anh tự túc nấu lấy, nên tiết kiệm thêm một ít tiền. Anh viết thư bảo vợ thỉnh thoảng qua chùa Mân Thái cúng Phật và thăm Thầy Trụ Trì. Anh cho chị biết, Thầy là ân nhân của anh và gia đình, chị phải thay anh thăm viếng Thầy thường xuyên.

Sau khi có quốc tịch Hoa Kỳ, anh làm hồ sơ bảo lãnh vợ con. Anh thu xếp một chuyến về Việt Nam, để  trước hết thăm Thầy, sau đó hỏi về lý do Thầy đã tận tình giúp anh. Một thắc mắc cứ canh cánh trong lòng khiến anh trăn trở mãi. Thầy thường che chở cho những người vượt biên, nhưng Thầy chưa bao giờ nói là đã giúp ai phương tiện và vật chất để họ tiếp tục đi như anh. Thăm viếng gia đình, bà con hang xóm xong, anh đón xe đi Mân Thái thăm Thầy. Chùa vẫn y nguyên như xưa, như những ngày anh sống dưới sự bảo bọc của Thầy. Anh gặp vị sư trẻ, vị sư nầy nhận ra anh ngay. Thầy nhìn anh, đôi mắt Thầy sáng lên đầy ngạc nhiên và vui mừng. Anh chạy đến ôm Thầy, anh cảm thấy sung sướng, nước mắt ràn rụa. Thầy mời anh ngồi trên chiếc bàn ăn ngày nào. Anh tình thật thưa với Thầy là lúc hối hả leo lên tàu lớn trong đêm tối, anh đánh rơi bọc nylon có lá thư và hai bộ áo quần Thầy cho, nên đến bây giờ anh vẫn không biết trong thư Thầy viết gì. Thầy cười hiền hòa và nói trong thư căn dặn anh phải giữ gìn sức khỏe, luôn luôn nghĩ tới vợ con, chứ không có gì quan trong. Thế nhưng anh không nghĩ như vậy, có một điều gì bí mật mà Thầy chưa tiện nói ra.

Anh ở lại chùa vài ngày để trò chuyện với Thầy, luôn tiện anh xin Thầy cho anh quy y. Thầy đồng ý. Thế là mỗi đêm, khi Thầy tụng kinh anh cũng chắp tay ngồi phía sau, vừa nghe câu kinh Thầy tụng vừa thấy lòng mình lắng xuống, như ngộ ra được một cái gì đó rất tâm linh mà không thể nào diễn tả được. Mỗi lần tụng xong câu kinh Thầy gõ một tiếng chuông, rồi cúi xuống lạy. Tiếng chuông ngân vang trong đầu anh, như dẫn dắt anh bước vào sâu thẳm của cõi siêu hình. Dạy cho ta những đạo đức để giữ mình, để sống với tha nhân. Anh cảm thấy những ngày ở chùa tuy ngắn ngủi nhưng anh đã học được nhiều điều quý giá. Một buổi tối sau khi ăn cơm xong, Thầy và anh ngồi uống trà nói chuyện. Thầy nhìn thẳng vào mắt anh, rồi từ từ nói:

“Chắc anh thắc mắc trong lòng bấy lâu nay, là tại sao tôi tận tình giúp anh, tiếp tay làm tròn ước nguyện mong muốn của anh là vượt thoát ra khỏi đất nước. Chẳng qua đó là cái ơn mà tôi phải trả cho anh trong thời kỳ chinh chiến. Có lần anh đã giúp tôi mà anh tuyệt nhiên không hay biết. Bây giờ tôi xin kể đầu dây mối nhợ của câu chuyện. Anh không còn nhớ, nhưng với tôi chuyện gặp anh lúc đó tôi không bao giờ quên được. Trước khi nhắc lại chuyện cũ, Tôi xin nói về tôi. Tôi có vợ và hai con, hồi đó gia đình chúng tôi sống trong vùng mất an ninh. Tôi hoạt động cách mạng và làm đến chức Huyện Ủy Viên. Vợ con tôi chết trên chuyến đò tiếp tế bị máy bay phát hiện, từ đó tôi là người không có gia đình. Tôi được cấp trên giao cho nhiệm vụ hoạt động trong vùng Hòa Vang và Điện Bàn. Để dễ dàng đi lại, tôi giả làm một nhà sư mặc áo nâu sòng, trên vai luôn luôn mang cái bị chuông mõ, nhưng thực tế trong đó chứa những tài liệu hoạt động và một khẩu súng ngắn. Tôi tránh đi lại ban ngày vì sợ dễ bị phát giác. Thường di chuyển vào lúc mặt trời sụp tối và du kích địa phương báo trước cho tôi biết đoạn đường nào an toàn để đi. Buổi chiều tôi nhận được lệnh là sáng hôm sau tôi có một cuộc họp với thượng cấp tại xã Thanh Trường, huyện Điện Bàn. Tôi và hai cận vệ yên tâm ra đi, người cận vệ đi đầu bi đau bụng nên ngồi lại đi cầu, như vậy tôi trở thành người đi đầu. Đi được một đoạn thì tôi bị một toán lính Quốc Gia phát hiện, người đi phía sau tôi núp vào bụi cây nên thoát được. Tôi được dẫn vào trình diện ông trung úy đại đội trưởng, người chỉ huy cuộc hành quân đó. Tôi nghĩ trong bụng, tôi không thể nào thoát được lần nầy, thế nào họ cũng xét người và chiếc bị mang trên vai, đầy tài liệu và cây súng ngắn trong đó.. Dưới ánh đèn nho nhỏ, ông trung úy ngước lên nhìn tôi với khuôn mặt hiền từ, hỏi tôi một câu cho lấy lệ: “Thầy đi đâu trong đêm tối? Thầy có biết vùng nầy nguy hiểm lắm không?”  Tôi thưa với ông rằng: “Xóm trên có người mới mất, tôi đến tụng kinh rồi ra vế. Không ngờ trời sụp tối mau vậy.” Người lính đứng gần hỏi ông trung úy có cần xét ông thầy nầy không? Ông trung úy nói khỏi cần, rồi sai người lính trãi poncho cho thầy ngủ lại, sáng mai hãy về, chứ đi trong đêm thế nào cũng bị bắn.Tôi nghĩ lúc đó có  người  khuất mặt che chở cho tôi nên họ không xét người tôi.  Sáng hôm sau thức dậy, ông trung úy đưa cho tôi một ca nước trà, rồi tôi lên đường. Suốt trên đoạn đường đi, tôi suy nghĩ mãi về ông trung úy. Điều gì đã làm cho ông cư xử với tôi như vậy? Ông có biết rằng trong đêm đó tôi có thể giết ông rồi bỏ chạy, giữa đêm khuya tối mịt làm sao bắn trúng tôi? Ai đã khiến tôi, ngăn cản tôi không làm điều đó. Trong chiến tranh không từ nan bất cứ thủ đoạn nào, giết người không một chút cắn rức. Nhưng giữa anh và tôi, hai kẻ thù gặp nhau ở điểm “lòng nhân ái”, không biết nó đã tiềm ẩn trong người tự lúc nào mà khi nó tỉnh dậy lại vào lúc đúng nhất. Từ đêm đó, tôi bắt đầu suy nghĩ về tâm linh, chiếc áo nâu sòng tôi đang mặc, phải có cái duyên tôi mới khoác nó lên người. Trong những năm cuối cùng chiến tranh chiếc áo như đã che chở cho tôi tránh những lằn tên mũi đạn. Tôi nguyện trong lòng, sau khi cuộc chiến chấm dứt, thế nào tôi cũng tìm gặp anh. Ánh mắt và khuôn mặt anh không làm sao tôi quên được. Anh đã cứu tôi không những tại mặt trận, mà  còn cứu tôi ra khỏi vũng lầy của sự hận thù. Tôi luôn luôn âm thầm cầu nguyện cho anh thoát khỏi mọi tai ương. Cái đêm anh bước vào chùa, khi anh ngước lên nhìn tôi, cũng ánh mắt ấy cách đây hơn mười năm giống hệt nhau. Tôi giật mình, ân nhân năm xưa bây giờ đã đến, tôi có bổn phận phải giúp anh, phải đưa anh thoát khỏi nghịch cảnh mà anh và gia đình gánh chịu. Bây giờ anh đã hiểu rồi chứ? Đây là cơ hội cho tôi trả lại anh món nợ cũ. Điểu làm tôi suy nghĩ mãi là cơ duyên nào đưa anh tới đây? Có phải chăng ơn trên đã dẫn dắt anh. Trong cuộc sống thiên hình vạn trạng, rất hiếm có trường hợp giống nhau. Thế mà chúng ta lại rơi đúng vào sự trùng hợp nầy một cách bất ngờ. “

 

Luật sững sờ nhìn Thầy, một câu chuyện mà anh không hề nghĩ đến, cho đến bây giờ Thầy nhắc. Đúng là trường hợp hi hữu, tất cả đều có sự sắp xếp của ơn trên.  Ký ức anh bắt đầu quay về khoảng không gian mười năm trước đây:

“Hồi đó đơn vị anh hành quân ở khu vực Miếu Bông, sát quốc lộ 1, giũa đường từ Đà Nẵng vào Vĩnh Điện. Gần 6 giờ chiều, anh được lệnh di chuyển vào khu vực xã Hòa Lân gần một con lộ đá từ Non Nước vào Hội An. Chính sự di chuyển nầy đánh lạc hướng du kích địa phương và những liên lạc viên, vì họ không ngờ đơn vị của anh di chuyển ban đêm. Ông Huyện ủy viên tưởng rằng không có lính quốc gia hành quân, nên ông mới đi trên lộ trình nầy. Khi ông bị lính chận lại, ông rất ngạc nhiên tại sao một cuộc hành quân như vậy mà du kích không phát giác được. Chỉ huy đại đội đóng gần cái miểu, anh treo chiếc võng bên ngoài, định nằm nghỉ thì người lính gác dẫn một ông thầy chùa vào trình diện. Anh ngước nhìn thấy ông thầy chùa cũng lớn tuổi, con người khắc khổ tôi nghiệp. Anh không nghi ngờ gì cả, bảo ông nghỉ lại đây cho an toàn rồi ngày mai về sớm. Đi trong đêm nguy hiểm vì có thể gặp đon vị quốc gia khác đi kích, lúc đó khó tránh khỏi rắc rối. Đơn giản là như vậy, chứ anh hoàn toàn không có ý nghĩ gì khác, hoặc nghi ngờ ông thầy chùa là Việt Cộng. Sáng hôm sau khi ông thầy chùa đi rồi, thì anh mới tự hỏi tại sao mình không lục xét ông thầy, biết đâu ông là Việt Cộng thì sao? Giữa thời buổi chiến tranh bất cứ ai cũng có thể nghi ngờ.  Nghĩ như vậy, nhưng anh không cho lính chạy theo gọi ông trở lại. Chuyện nầy anh cũng lãng quên, bây giờ Thầy nhắc anh mới nhớ lại.”

Anh nhìn Thầy, nhưng hoàn toàn không còn nhớ khuôn mặt. Càng nghĩ anh càng cảm thấy sự màu nhiệm của đức tin, có thể biến đổi được con người, xoa dịu những vết thương tưởng chừng như không bao giờ xóa đi được. Anh lặng người để tâm hồn lắng xuống, nhìn Thầy như cảm nhận có được một luồng hùng lực tỏa sáng. Khuôn mặt Thầy hiền từ, ăn nói chậm rãi, từ tốn. Anh thấy, Thầy hoàn toàn lột xác. Thường thường chính trị viên nào cũng ăn nói lưu loát, cứng rắn, họ là những người nắm sinh mạng của đơn vị, đẩy những chiến binh dưới quyền mình vào chỗ dầu sôi lửa bỏng. Bây giờ lời Thầy có một hấp lực mang đến sự an lành cho mọi người. Ôi, tất cả đều nằm trong nghiệp số.

-Thưa Thầy, thế thì lúc nào Thầy mới chính thức bước vào đường tu hành?

Thầy nhìn anh cười. Bây giờ anh mới để ý nụ cười của Thầy hiền lành, đúng là một bậc chân tu:

  -Sau 30 tháng 4 năm 1975, khi quân cách mạng hoàn toàn chiếm Miền Nam, cũng vào ngày đó tôi chính thức đi tu. Những bạn bè cũ cùng chiến đấu với tôi rất ngạc nhiên. Lúc được hưởng những sung sướng nhất, giàu sang nhất, tôi lại chọn lấy con đường cực khổ nhất. Tôi trả lại tất cả những chức vụ, đảng viên, những quyền hành v.v.. chỉ xin một điều, hãy để cho tôi yên, đừng quấy phá làm phiền tôi. Những ai đến thăm chùa, những ai ngụ trong chùa xin các người đừng gây rắc rối cho họ. Những ngày tôi theo cách mạng, hy sinh cả vợ con, sự cống hiến của tôi đã đủ. Bây giờ cho tôi yên phận trong tuổi già.  Tôi nghĩ chỉ có con đường nầy mới giải thoát được tôi, vợ con tôi dưới suối vàng cũng mĩm cười. Lúc đầu họ không chịu, nhưng tôi quyết liệt quá, họ đành phải chìu ý tôi. Họ bảo tôi lãnh đạo Phật Giáo tỉnh, tôi từ chối. Tôi muốn làm một người tu hành đúng nghĩa nhất. Không lợi dụng chiếc áo cà-sa nữa, vì tôi đã lợi dụng nó quá nhiều trong thời chiến tranh để che đỡ mình.

 

Lúc đầu khi về chùa tôi thỉnh một bộ kinh và sắm chuông mõ, tôi tự trồng trọt để nuôi thân. Dân địa phương họ biết tôi trước đây hoạt động cho quân Giải Phóng nên họ rất e dè, ít người lui tới. Dần dần người nầy truyền đạt cho người kia về tôi, họ thấy tôi không nguy hiểm mà trái lại rất dễ thương. Từ đó chùa có một sinh khí mới, buổi tối ai rãnh thì đến chùa tụng kinh với tôi. Đạo hữu họ cũng biết chùa che chở cho nhiều người trốn thoát công an, họ cho đó là việc làm đúng. Công An họ tin rằng tôi là một đảng viên, không thể chấp chứa những thành phần phản động. Nhưng họ không ngờ rằng tôi bây giờ đã hoàn toàn lột xác, tất cả đều là anh em, không thù không oán. Chính vì vậy chùa đã bao che cho những người vượt biển trốn tại đây,

-Thưa Thầy, chùa nầy đã có trước đây hay mới làm và người đệ tử theo Thầy từ lúc nào?

  -Chùa nầy trước đây là chùa hoang, nằm trong vùng oanh kích tự do nên không ai dám lui tới. Làng mạc tiêu điều, dân làng ra thành phố tỵ nạn tránh bom đạn, chùa không còn ai hương khói. Chỉ có tượng Phật lành lặn, còn tất cả đều bị đạn bắn phá. Chính điều nầy cũng làm cho tôi bao nhiêu đêm suy nghĩ, tượng Phật không hề hấn gì cũng lạ thật. Những năm cuối cuộc chiến, tôi ngủ dưới bệ tượng Phật, tôi cảm thấy an tâm, hình như có một cái gì đó che chở cho tôi. Tôi nguyện trong lòng, sau khi đất nước hòa bình, tôi sẽ về đây tu bổ lại ngôi chùa và sinh sống. Nếu gặp được phước duyên tôi sẽ đi tu, gia đình vợ con không còn nữa, chẳng còn chỗ nào làm nơi nương tựa. Trong thời chiến tôi lấy nơi đây làm nơi cư ngụ và hoạt động. Sau nầy, như  mong ước, tôi tu bổ dần dần trở thành một ngôi chùa tuy không lớn, nhưng đạo hữu đến cũng khá đông. Tôi dự định sang năm đủ tiền,sẽ xây lại lớn hơn, để những người con Phật có nơi khang trang hành lễ trong những ngày vía lớn. Người Thầy trẻ phụ giúp tôi trong chùa, lúc thầy đến mới 10 tuổi, cha mẹ thất lạc lúc chạy loạn. Thấy tội nghiệp tôi nuôi nấng cho ăn học. Bây giờ thầy đã là kỹ sư công nghệ. Tôi bảo thầy có thể ra đời lấy vợ, vì chuyện ở chùa chỉ là hoàn cảnh bức bách lúc đó. Thầy bảo là con quyết tâm tu hành theo chân sư phụ. Thôi biết đâu cũng là cơ duyên. Tôi không bao giờ sai bảo thầy nhỏ những gì mà tôi có thể làm được, thầy thấy tôi làm việc nầy thì thầy làm việc khác, từ xưa đến giờ trở thành một nề nếp. Cách đây hai năm cha mẹ của thầy trẻ từ nước ngoài về tìm thầy. Khi họ lạc nhau thầy đã 10 tuổi nên thầy dễ dàng nhận ra cha mẹ. Cha mẹ sẽ bảo lãnh cho thầy đi, nhưng thầy vẫn chưa quyết định. Tôi có khuyên thầy nên đi, dù sao tình ruột thịt cũng cần thiết hơn. Tôi nghĩ thế nào thầy trẻ cũng rời khỏi chùa, nên tôi đang tìm một người sau nầy sẽ thay tôi. Cái khó không phải là không có người, mà người thay thế tôi có được lòng bà con, có siêng năng tu luyện, có đủ nghị lực để quán xuyến ngôi chùa không. Và điều quan trọng nhất là đừng để chùa biến thành công cụ phụng sự chính trị.  Nhiều đêm suy nghĩ nhưng chưa tìm được người như vậy. Thật tình thì có lo lắng cũng không được. Thôi thì cứ để mọi chuyện từ từ, người nào có Phật duyên tự nhiên sẽ đến.

 

Bây giờ tôi già rồi, những việc nặng nhọc không làm được, người đệ tử của tôi quán xuyến hết. Hơn nữa đạo hữu cũng khá nhiều, mỗi ngày có vài người đến chùa làm công quả, nên tôi có thì giờ nghỉ ngơi, chỉ lo Phật sự. Tôi tự tu luyện, học trong kinh sách của Phật dạy. Phần nhiều kinh sách viết bằng chữ Hán nên đã gây cho tôi khó khăn lúc ban đầu.

 

Mặc dù Thầy không đi tu từ nhỏ, nhưng quyết tâm cố gắng của Thầy, kiên trì học hỏi của Thầy, đã tạo cho Thầy một con người thông hiểu giáo lý nhà Phật, có một kiến thức rộng. Thầy không có một vị sư đỡ đầu, trong Phật Giáo gọi người nầy là Thầy Bổn Sư, nên khi gặp những rắc rối liên quan đến sự tu luyện, Thầy tìm đến những cao tăng xin chỉ dạy.  Mỗi tháng hai lần, ngày mồng một và ngày rằm Thầy thuyết giảng để đạo hữu hiểu những điều Phật dạy, để sửa mình, để tu thân. Chính quyền tại đây biết rõ vế Thầy nên không ai đến quấy rầy. Vì vậy Thầy yên tâm tu hành. Từ khi chính thức bước vào cửa chùa, Thầy không quan tâm đến sự việc bên ngoài. Tiếng tăm của Thầy dần dần được những phật tử quanh vùng biết đến và từ đó sinh hoạt phật sự trong chùa trở nên nhộn nhịp hơn. Có người đề nghị với Thầy nên trùng tu lại ngôi chùa cho phù hợp với số đạo hữu ngày càng gia tăng. Thầy nhận biết diều nầy, nhưng Thầy không dám kêu gọi đóng góp. Thầy cố tiện tặn để  dành nhưng vẫn chưa đủ tiền thực hiện.

Một buổi sáng trong lúc uống trà, Luật đặt một bọc tiền trên cái khay nhỏ, rồi thưa với Thầy:

-Thưa Thầy, đây là số tiền con dành dụm từ lâu, con hứa khi về quê nhà con sẽ nhờ Thầy dùng nó để làm việc gì mà Thầy cảm thấy cần thiết phải làm. Con không nghĩ là trả lại cái ơn mà Thầy đã giúp, vì ơn nầy to lớn quá con không trả nỗi. Con thấy Chùa hư hại quá nhiều, Thầy cho con góp một tay với Thầy xây dựng lại tốt hơn. Nếu có thiếu hụt trong lúc trùng tu, con sẽ gửi về thêm để Thầy trang trãi.

Thầy nhìn anh, Thầy cảm thấy như anh trả lại món nợ trước đây Thầy đã giúp anh vượt biên, nhưng khi nghe anh trình bày thành thật. Thầy trầm tư, đắn đo có nên nhận của anh hay không? Cuối cùng Thầy quyết định:

-Lòng tốt của anh Thầy ghi nhận.Tuy chùa cũng rất cần, nhưng nhận số tiền nầy của anh Thầy cảm thấy áy náy quá. Thôi thì thay mặt chùa, Thầy cám ơn anh. Thầy sẽ nhờ người vẽ kiểu rồi từ từ thực hiện theo đó. Làm cho đến khi nào hết tiền thì ngưng, có tiền làm tiếp. Ngày xưa các vị sư tổ xây chùa từ đời nầy qua đời khác, không có ai xây chùa chỉ một đời. Lấy kinh nghiệm nầy, Thầy sẽ thực hiện cho đên khi nào Thầy không còn khả năng.

Thầy và Luật bàn nhiều chuyện, trong đó để tiết kiệm tiền bạc, Thầy định làm một lò nung gạch, đào đất trước sân chùa để làm gạch. Cái hố lấy đất sau nầy sẽ trồng sen, trở thành một hồ sen. Thấy những dự tính của Thầy hợp lý, Luật cũng vui thích.

Trở lại Mỹ, mỗi đêm anh ngồi trước bàn thờ tụng kinh. Lúc đầu anh không biết tụng kinh như vậy để làm gì, sau vài tháng anh ngộ ra được một điều cái “quả” mà anh nhận được bây giờ, gia đình yên vui, vợ con sẽ đoàn tụ, công việc trôi chảy, chính nhờ vào cái “nhân” mà anh đã gieo. Anh tụng kinh là nhắc nhở mình phải luôn luôn gìn giữ cái tâm ngay thẳng. Anh không nghĩ đến những chuyện cao siêu, chỉ biết đơn giản là tu thân tích đức. Anh cảm thấy tâm hồn anh thanh thản hơn, bỏ ra ngoài những hệ lụy rắc rối không mang tới niềm vui cho mình, cho mọi người. Câu kinh anh tụng trở nên nhiệm màu.

Vợ con Luật sau vài năm tới Mỹ theo diện đoàn tụ. Anh có hỏi vợ về ngôi chùa ở Mân Thái. Vợ anh cho biết ngôi chùa đã xây xong, không lớn lắm nhưng khang trang. Thầy có làm một tấm đá gắn trên tường khắc tên những người đóng góp xây dựng nên ngôi chùa như một lời tri ân. Nhiều đêm không ngủ được anh lại nghĩ tới ngôi chùa, nghĩ tới Thầy. Ngôi chùa nhỏ nhưng chứa một tấm lòng quá lớn. Đối với gia đình anh đây cũng là thánh địa, đã cứu giúp anh vượt qua những khó khăn. Trong chiến tranh, chỉ một lần ngẫu nhiên gặp gỡ mà người Thầy đã giác ngộ, đã từ bỏ hết những danh vọng, những quyền thế, xóa sạch những hận thù, những dĩ vãng đen tối. Chấp nhận một cuộc sống thanh bần khổ cực. Mấy ai trên đời nầy làm được như Thầy? Công đức của Thầy theo anh, đó là một ngọn thái-sơn mấy ai leo tới. Năm nay Thầy đã bát tuần, như một quyễn kinh đã đọc đến những trang gần cuối. Thầy không có gì phải vướng bận khi ra đi, chắc Thầy cũng đã sẵn sàng khi Phật muốn gọi về. Cuộc đời, mọi vật rồi cũng sẽ trở thành cát bụi, chỉ còn chăng là một tấm lòng. Luật viết thư cho quý đạo hữu hãy báo tin cho anh biết khi Thầy viên tịch, anh sẽ thu xếp về ngay để tiễn đưa Thầy lần cuối./

Houston, ngày 24 tháng 9 năm 2013

Phan Xuân Sinh

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »