Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for Tháng Mười Một, 2014

NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 13, 2014

NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH

*Phan Xuân Sinh.

Tôi từ Sài Gòn về hôm nay thì ngày mai đám giỗ má tôi. Thằng em út tôi đề nghị sáng hôm sau dậy sớm để vào thăm mộ má trước, tới chiều mới làm mâm cơm đám giỗ má sau. Tôi quên không hỏi nó bây giờ má chôn ở đâu? Vì trước đây tất cả mồ mả được qui hoạch chôn vô một chổ, chứ không có nhiều nghĩa địa như ngày xưa. Tối hôm đó tôi đi chơi với mấy thằng bạn tới khuya mới về rồi đi ngủ, còn mọi chuyện thằng em tôi lo tất cả.

 

Sáng dậy sớm uống một ly cà phê, rồi nó chở tôi trên chiếc xe honda của nó. Tôi chỉ hỏi đường đi có xa không? Nó bảo là đi chừng một tiếng đồng hồ. Rồi hai anh em cứ thế mà đi. Hơn hai mươi năm không về Đà Nẵng, tôi không còn nhớ đường xá nhất là trong thời kỳ tốc độ xây dựng chóng mặt, nên mọi nơi chốn đều lạ lẫm với tôi. Tôi nhớ thằng em chở tôi qua cầu Trịnh Minh Thế, rồi nhắm hướng chùa Non Nước. Qua khỏi chùa Non Nước thì tôi không còn biết nơi chốn nó đi tới, vì hai bên đường nhà cửa san sát, nó không còn là đồng quê. Ngày xưa nơi đây là đồng không mông quạnh là vùng oanh kích tự do. Đơn vị của tôi thường đi hành quân trên vùng nầy, nhưng bây giờ nó đã trở thành một thị trấn khá tấp nập. Đúng là vật đổi sao dời.

 

Thằng em tôi ngừng xe lại một quán Mì Quảng bên đường, nó nói là anh em mình vào ăn một tô mì rồi đi tiếp. Nó sực nhớ là tôi ở Mỹ về nên nó hỏi: “Mà anh có ăn được không? Đây  là quán bình dân, ăn cốt cho no chứ không ngon”. Tôi gật đầu, ngầm bảo với nó là ăn được. Tôi nhớ ngày xưa còn nhỏ, nhà nghèo đâu dễ gì ăn được một tô mì dù là mì bình dân như bây giờ. Một tô mì phải độn thêm vào hai chén cơm, một muỗng nước mắm mặn. Nó không còn hương vị của mì, thế nhưng khi ăn xong vẫn còn thèm thuồng. Bà chủ quán mang ra hai tô mì, rồi bà nhìn chăm chăm vào mặt tôi như soi mói một cái gì. Có lẽ bà thấy tôi trắng trẻo mập mạp, nên bà nghi tôi không phải dân ở đây. Tôi cúi đầu hì hụp ăn như không cần biết mọi vật chung quanh mình. Tô mì rất thân quen với con mắt của tôi mặc dù mấy mươi năm mới thấy lại. Cũng vài con tôm bạc, vài lát thịt mỡ, vài cọng hành, một ít đậu phụng rang và nửa cái bánh tráng nướng. Chế biến đơn giản nhưng mùi vị y chang như thời xa xưa mà tôi đã từng nếm qua nhiều lần. Mấy chục năm trên đầu lưỡi của tôi đã tiếp nhận biết bao thứ đậm đặc gia vị, tôi nghĩ rằng cách nấu nướng đơn giản của vùng quê mình sẽ không được ngon miệng. Thế nhưng tô mì nầy đã làm cho tôi giật mình cảm thấy đã tìm về được nét “đậm đà bản sắc dân tộc” (mà người trong nước hay dùng từ nầy để chỉ những phong tục, tập quán, lễ nghi v.v…mang tính riêng của quê hương). Tôi ăn ngon lành như vừa mới khám phá ra món lạ. Thằng em ngồi bên cạnh thấy tôi ăn nó gật gù thích thú.

 

Khi ăn xong ngồi uống nước, tôi hỏi bà chủ quán về địa danh vùng nầy. Bà cho biết đây là xã Hòa Lân, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Bà hỏi tôi đã từng đi qua vùng nầy lần nào chưa? Tôi trả lời với bà trong thời chiến tranh tôi có đi lại vùng nầy vài ba lần. Tôi hỏi bà xã Hòa Lân có một cái chùa cách đây bao xa? Bà chỉ tay vào phía trong cách chừng sáu bảy trăm mét. Có lẽ bà tự hỏi tại sao ở đây tôi biết có một cái chùa? Phải là người thân quen với vùng nầy. Chính vì thế bà đọc được trên nét mặt của tôi có chút gì thân thiết, nên bà trả lời rất cặn kẽ và đượm một tí cảm tình. Tôi nhớ lại năm 1972, trong một cuộc hành quân tại vùng nầy, trung đội của tôi khám phá được một căn hầm y tế gần cái chùa của xã Hòa Lân. Dưới hầm có một nam bác sĩ và một nữ y tá. Thường thường khi phát hiện được một căn hầm thì chúng tôi cột mấy thỏi chất nổ TNT thả xuống theo đường thông hơi rồi giật sập, để tránh trường hợp mở đường máu tẩu thoát. Thế nhưng hôm đó tôi lại không cho lính làm vậy. Sau khi bố trí lính nằm chung quanh hầm  chỉ chừa một khoảng để tác xạ, rồi kêu gọi những người dưới hầm lên đầu hàng, nếu không lên chúng tôi buộc lòng phải phá sập hầm. Chúng tôi thấy từ dưới hầm chui lên hai người, một nam và một nữ, họ cho biết là dưới hầm không còn ai. Hai người đến gần tôi và yêu cầu tôi cho họ gặp người chỉ huy cuộc hành quân. Tôi nói với họ là người chỉ huy trên máy bay trực thăng, chỉ có tôi trực tiếp tại đây, anh cần gì? Anh chỉ xin một điều là đừng bắn anh. Tôi cười vỗ vai anh, không có ai làm gì anh hết, yên tâm. Anh nhìn tôi với một sự nghi ngờ không biết tôi có thực quyền che chở cho anh không? Anh cho tôi biết anh là bác sĩ và người con gái là y tá, hai người mới đến vùng nầy. Người bác sĩ trạc bằng tuổi tôi lúc đó, người Miền Bắc, khuôn mặt rất tuấn tú. Chỉ có nước da trắng xanh có lẽ vì ban ngày phải nằm dưới hầm. Tôi mời anh hút thuốc để trấn an sự sợ hãi. Có lẽ người ta tuyên truyền rằng chúng tôi là những con người khát máu, lòng dạ lang sói, không một chút tình người. Chỉ biết chém giết. Một điều may mắn cho hai người là hôm đó chúng tôi không phá sập căn hầm, cho nên hai người mới được sống sót.

 

Ngồi chờ máy bay ở sân chùa, anh thấy anh em chúng tôi nói cười vui vẻ không có một chút gì ghê gớm, trên khuôn mặt hồn nhiên. Dần dần sự sợ hãi cũng mất đi, anh thành thật trả lời những gì tôi hỏi. Thật tình thì tôi chỉ hỏi những vấn đề sinh sống ở Miền Bắc vì hiếu kỳ muốn biết, chứ không có tính cách khai thác. Tôi biết lúc ấy anh có cái nhìn khác về chúng tôi. Thì té ra chúng tôi cũng là những con người như anh vậy. Chiến tranh thật kinh khủng, không những chém giết nhau mà còn dối trá, lừa lọc. Nhét vào đầu những cái xấu xa, những hận thù. Để khi anh em gặp nhau ngỡ ngàng nghi kỵ. Không biết anh Bác Sĩ đó có còn sống sau cuộc chiến tranh khốc liệt, tương tàn nầy không? Mong rằng anh đọc được những dòng chữ nầy.

 

Chúng tôi trả tiền rồi lên xe đi tiếp. Thằng em bây giờ mới nói cho tôi biết là Má chôn ở Cẩm Hải. Tôi giật mình. Sao lại có sự trùng hợp lạ kỳ nầy vậy. Địa danh nầy tôi không thể nào quên được. Ngày 01 tháng 6 năm 1972, tôi mất một bàn chân tại Cẩm Hải trong cuộc chiến. Bây giờ má tôi lại được chôn nơi nầy. Ôi, những oan nghiệt cứ đeo mãi theo tôi thế nầy. Tôi muốn quên đi tất cả, thế mà cứ dây mơ rể má cột chặt tôi vào một nơi chốn đã làn tan nát đời tôi. Tôi bước xuống xe nhìn chung quanh, tôi không còn nhận ra một dấu vết nào của cái vùng mà ngày xưa tôi đã dẩm nát. Căn cứ Đại Hàn để lại cho Trung Đoàn 51 cũng không còn dấu vết, chỉ có mồ mã bạt ngàn. Nơi đây ngày xưa buổi sáng chúng tôi dẫn lính ra tập thể dục, rồi tắm biển. Những buổi chiều tôi hay đi một mình trên bãi hoặc ngồi nhìn sóng vỗ. Tôi thích tiếng sóng vì âm vang của nó nghe vừa êm tai mà cũng vừa như áp đảo. Tôi không hiểu tại sao người ta lại dùng một bãi biển đẹp như vậy làm nghĩa địa. Thật uổng phí mất một thắng cảnh.

 

Chúng tôi vào thăm mộ má, tôi rất hài lòng với ngôi mộ được xây dựng đơn giản nhưng rất uy nghi. Nó nói với tôi là ở đây cũng không được chắc chắn, có thể sau nầy người ta trưng dụng đất đai, lại dời mã đi nơi khác. Vì vậy không dám xây một cách hoành tráng được. Tôi bảo là không cần thiết phải làm như vậy, như thế nầy là đủ quá rồi. Trong nghĩa trang nầy dễ nhận ra được một điều là mồ mã nào xây dựng to lớn đẹp đẽ là có bàn tay của Việt Kiều. Đúng vậy, tôi đi xem mấy tấm bia người đứng tên xây dựng đang ở Mỹ, Pháp, Canada, Úc v.v…Thôi thì cũng nở mặt nở mày cho người sống cũng như người chết còn ở lại Việt Nam. Tôi nghĩ rằng họ cố gắng xây dựng mồ yên mã đẹp cho thân nhân vì sau đời họ con cái cháu chắt không còn trở về để lo cho ông bà như họ được.

 

Nhìn nghĩa địa chúng ta liên tưởng đến đời sống của cõi dương nầy. Âm, dương cũng không cách biệt nhau lắm, có kẻ giàu người nghèo. Có nhiều ngôi mộ nguy nga lộng lẫy, được xây dựng chắc chắc, chạm trổ công phu. Nhưng cạnh đó cũng có những nấm mộ vun đắp sơ sài, không hương không khói. Nằm ở giữa huyệt lạnh mà cũng không thoát được cảnh nghèo khó. Tội nghiệp cho những linh hồn bị cái cảnh dương thế chi phối nặng nề. Ai nói nằm xuống đất là hết đâu? Không cần phải nhìn đâu xa, nhìn nghĩa trang Cẩm Hải nầy cho ta liên tưởng đến một xã hội bên ngoài. Kẻ thì quá giàu còn người thì quá nghèo. Sự chênh lệch quá đổi làm cho ta phải lặng người, thương cho số phận hẩm hiu của những kiếp người bất hạnh đeo đuổi họ từ dương thế đến cõi âm.

 

Tôi lấy ba cây hương đến trước mộ má tôi khấn rằng: “Thưa Má, hôm nay con lại về trúng vào ngày giỗ Má nên con vội vàng vào thăm Má. Nơi Má nằm chính là nơi con gửi lại một bàn chân trong cuộc chiến, thương con Má cứ ôm nó vào lòng như ngày xưa Má ôm con vậy. Nếu nhớ con Má có thể vuốt ve nó vì chính nó là thân xác của con. Má không còn sợ cô đơn vì nó là da thịt xương máu của con đang cận kề bên má. Má phù hộ cho gia đình con có đầy đủ sức khỏe, ăn nên làm ra để có đủ điều kiện về thăm Má thường xuyên”. Tôi không biết Má tôi có nghe lời tôi khấn nguyện không? Nhưng tôi cảm thấy trong lời khấn nguyện thành thật của tôi, có chút chua xót, cay đắng.

 

Một người đàn ông đi tới và tự giới thiệu với tôi, ông là người chăm sóc những ngôi mộ nầy, ông gìn giữ cẩn thận nên mới được hoàn hảo như ngày hôm nay. Chứ không thì tụi chăn trâu đập phá. Ông xin tôi một số tiền thù lao mà ông đã chăm sóc bấy lâu nay. Thằng em tôi chưng hửng vì nó thường vào thắp nhang cho Má mà có thấy ai đâu, bây giờ lại gặp tình trạng khó xử như thế nầy. Nó hỏi ông đó là phải trả cho ông bao nhiêu? Ông nói một tràng không ngượng ngập, sượng sùng gì cả: “Ông cho tôi tiền nhiều thì tôi giữ cẩn thận, còn cho tôi tiền ít thì cái mộ nầy sẽ bị hư hại. Tùy theo mức độ tiền nhiều hay ít rồi tôi sẽ tự liệu”. Thằng em tôi thấy vậy, rút đưa cho ông năm chục ngàn. Ông chần chừ chê ít không chịu lấy. Nó phải rút thêm ba chục ngàn nữa, ông mới chịu đi. Sau khi ông đi thì cái đám chăn trâu không biết ở đâu bu lại cả chục thằng, lần đầu thì xin đồ cúng để ăn, sau thì xin tiền. Chúng nó nói thẳng vào mặt thằng em tôi, nếu không cho tiền thì lần sau vào sẽ thấy cái mã nầy tanh bành. Cái thằng cha vừa rồi đâu có làm gì, hắn ở đâu đâu thỉnh thoảng tới hù dọa mấy ông cho tiền ổng, còn tụi tôi ở đây hằng ngày thì làm lơ, đâu có được. Chúng nó đánh trúng vào tâm lý sợ sệt của anh em tôi, thằng em tôi rút cho mỗi thằng mười ngàn, rồi hối tôi lên xe chạy ngay chứ chần chờ sẽ có người khác đến làm phiền thêm.

 

Tôi ra khỏi nghĩa trang lòng đầy bối rối, không ngờ những chuyện nhỏ nhặt nầy để lại

cho tôi một mối suy tư về lòng dạ con người, không có một chút liêm sỉ, một chút đạo

đức nào nữa hết sao? Lâu quá rồi xa quê hương, trên xứ người tôi chưa bao giờ gặp

những tình huống làm tiền trắng trợn như vậy. Về chứng kiến những sự thật phủ phàng

trong lòng tôi ít nhiều đổ vỡ. Thằng em ngồi phía trước xe xoay ngang mặt, nói với tôi:

“Hơi sức đâu mà anh để ý mấy cái chuyện vụn vặt nầy. Ở đây có nhiều chuyện làm tiền

trắng trợn hơn nữa. Làm lớn thì ăn lớn, làm nhỏ thì ăn nhỏ. Không cần biết người khác

sống chết ra sao, miễn sao tiền bạc vô đầy túi”.

 

Thằng em chở tôi ghé vào Hội An đi vòng vòng cho biết, thăm lại thành phố nầy ngày xưa tụi tôi hay la cà mấy cái tiệm cà phê những ngày không đi hành quân. Các tiệm cà phê Chiều ở đường bờ sông, hoặc cà phê Phượng ở phía trước cổng Tiểu Khu là những quán mà chúng tôi hay ngồi nhất. Thành phố vẫn không thay đổi mấy, hình như người ta muốn giữ lại những cấu trúc thời xa xưa. Ở nước ngoài mình quen mắt với đường xá, nhà cửa đồ sộ. Về nhìn lại Hội An thấy cái gì cũng nhỏ, nhà cửa thấp lè tè nhưng rất dễ thương. Một thành phố từ đầu trên đến xóm dưới đều biết nhau, quen nhau. Không những quen biết thôi mà còn hiểu tường tận gốc gác của nhau nữa. Có lẽ đó là cái đặc thù nhất của Hội An mà dù có đi khắp thế giới tìm một thành phố mà những con người gắn bó, thân thiết như vậy cũng thật hiếm hoi.

 

Tôi nhớ hồi còn đi học thỉnh thoảng tôi hay vào Hội An chơi với mấy ông bạn “thi sĩ” của tôi: Hạ Đình Thao, Lê Văn Trung, Lê Anh Huy, Kiều Uyên v.v… Đi xuống gần Cẩm Thanh để ăn mì Bà Đợi hay qua cầu Cẩm Phô để ăn chè. Tối về thì vào chùa Phước Kiến ngủ với Thái Tú Hòa (em ruột nhà thơ Thái Tú Hạp). Thấy tôi đến bao giờ Hòa cũng gọi Cẩm (cô em gái của Hòa) mang cái tô ra bà Cảnh mua một tô cao lầu cho tôi và không quên thêm một chén cơm nguội. Tuyệt vời, không có cái gì ngon bằng. Cho đến bây giờ hơn bốn mươi năm tôi vẫn còn nhớ như mới ngày nào. Tội nghiệp tụi tôi đứa nào cũng nghèo xơ xác, mình có thể nhịn ăn nhưng khi gặp bạn bè  thì đãi bạn một cách hào phóng. Hào phóng ở đây có nghĩa là ăn một tô mì hay uống một ly cà phê chẳng hạn. Chứ làm gì có tiền đãi nhau thịnh soạn được, nhà đứa nào cũng nghèo. Mấy ông nầy ra Đà Nẵng tôi đãi một món đặc sản là đậu phụng chiên với nước mắm. Nước mắm khi khô bám vào hạt đậu, vừa dòn vừa mặn, để ăn với cơm. Ngày nào cũng vậy, chẳng có ai khiếu nại về chuyện ăn uống, để dành tiền đi uống cà phê Diệp Hải Dung.

 

*

 

Buổi trưa anh em tôi về lại Đà Nẵng để lo đám giỗ. Tôi có mời vài người bạn đến ăn đám giỗ má tôi. Lâu quá, dễ chừng gần hai mươi năm không gặp lại nhau. Bạn bè người nào cũng quá nhiều thay đổi, từ con người đến cuộc sống, tụi tôi bắt đầu bước vào tuổi già. Thế mà khi ngồi lại nói chuyện với nhau như hồi còn trẻ. Tôi kể cho tụi nó nghe về những gì mà tôi đã gặp sáng nay, tôi thấy trên khuôn mặt chúng nó không có một chút ngạc nhiên. Như vậy, chuyện như thế nầy cũng thường xẩy ra và ai sống tại quê nhà cũng thường gặp. Đời sống khó khăn, con người sinh ra nhiều biến thái.

 

Sau khi dùng cơm xong, chúng tôi rủ nhau đi uống cà phê. Tôi không nhận ra một chút gì cái thành phố mà tôi đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở đó. Bây giờ nó mang một bộ mặt khác sang trọng và lịch lãm hơn. Những con đường rộng rãi và dân cư đông đúc. Một vài người hỏi tôi nghĩ gì về những thay đổi vội vàng của Đà Nẵng. Tôi trầm tư biết trả lời sao đây? Hơn 30 năm rồi, quê hương nhiều mất mác quá. Tôi thấy hình như mọi người cố gắng chạy đua cho kịp, thể hiện cho người ta biết mình có tiền có của, mạnh ai nấy xây nhà. Những hình thù nhà cửa thật nham nhở lố lăng, thể hiện một cái thứ trưởng giả học làm sang. Tôi không biết người ngoại quốc đánh giá cách xây dựng nầy ra sao. Chứ còn tôi không chịu được, vừa cỗ của thời Louis nhưng cũng vừa hiện đại của thế kỷ nầy. Nó giống như râu ông nọ cắm cằm bà kia. Không biết vài chục năm sau, thế hệ con cháu chúng ta đánh giá lối kiến trúc nầy thế nào. Chứ riêng cá nhân tôi nhận thấy vừa hợm hĩnh nhưng cũng vừa tội nghiệp. (Có thể nhận định của tôi sai lầm, vì con mắt của tôi quá trần tục, không có đầu óc mỹ thuật. Cái nhìn có thể sai lạc).

 

Tụi tôi không còn cái tuổi ngồi hằng giờ ở mấy quán cà phê thuở trước như: Lộng Ngọc, Hạ, Ngọc Lan, Diệp Hải Dung, Thạch Thảo, Star, Danube v.v…để say sưa nghe nhạc. Một thằng bạn dẫn tụi tôi đến một quán cà phê thật yên tĩnh để dễ dàng nói chuyện. Một thằng bạn khác hỏi tôi: “Cái gì ở Đà Nẵng đã gây cho mầy “ấn tượng” nhiều nhất, khi xa nhà?”. Tôi trả lời không chút đắng đo: “Xóm Chuối”. Chúng nó cười ồ lên tưởng rằng tôi nói đùa. Ai sống ở Đà Nẵng cũng đều biết Xóm Chuối là nơi tập trung mấy cô gái làng chơi, nằm phía sau bệnh viện Toàn Khoa. Nhưng tôi cũng có một kỷ niệm sâu đậm ở đó. Tôi có một cô bồ học ở trường Bồ Đề, nhà ở trong con hẽm đường Trần Bình Trọng, con hẽm nầy ăn thông qua đường Trần Tế Xương (đường nầy có nhà in Trúc Mai). Thường thường thì cô bạn tôi theo đường Trần Tế Xương đi ra đường Yersin cho gần. Tụi tôi thường hẹn nhau ở góc Yersin (bên hông bệnh viện) và cũng gần đường vô Xóm Chuối. (Hẹn xa xa vì sợ gia đình cô ta biết) vì vậy gặp bao nhiêu chuyện phiền phức. Mấy người đàng hoàng đi ngang qua thấy tôi đứng chỗ đó thì nghĩ là tôi tìm gái làng chơi. Còn mấy cô gái làng chơi nghĩ rằng tôi đang đi tìm họ, cho nên họ chạy ra níu kéo tôi. Một lần hẹn ở đó tôi tởm tới già và cũng nhớ suốt đời cái địa danh nầy. Khi cô bạn của tôi ra ngồi trên yên sau xe, tôi mới bắt đầu càm ràm. Tôi cho rằng cô ta chơi tôi, hạ nhục tôi. Chứ không biết cái chỗ “hang hùm” ở đó sao mà lại hẹn nhau chỗ ấy? Cô ta ngồi phía sau ôm bụng cười ngất nga ngất ngẻo, còn tôi thì tức lộn ruột. Sau nầy cô ta mới nói cho tôi biết là cô ta không biết nơi đó là ổ gái mãi dâm. Tội nghiệp cho cô bạn học trò ngây thơ của tôi.

 

Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện trên đời. Phần đông các bạn trai thuộc thành phần lính tráng của Miền Nam, còn các bạn gái có chồng cũng đi lính. Nên đời sống các bạn sau nầy về kinh tế rất eo hẹp. Chúng tôi rơi vào thế hệ đứng giữa cuộc chiến khốc liệt nhất, cấp bậc không cao, phần đông bỏ thây tại chiến trường. Nếu còn sống sót cũng không đủ tiêu chuẩn đi qua Mỹ theo diện HO. Vì vậy sau khi học tập trở về đều sống lây lất, làm những công việc nặng nhọc sống qua ngày. Nhìn anh em đó tuổi đời không nhiều nhưng tinh thần lẫn thể xác già cổi trước tuổi. Lâu ngày không gặp nhau, anh em nói mãi không hết chuyện. Khi tiệm cà phê báo cho biết đến giờ đóng cửa, chúng tôi mới chia tay ra về.

 

Những ngày còn lại, thỉnh thoảng tôi đến thăm một vài người bạn. Buổi chiều tôi rủ vài người về nhà uống rượu. Chỉ có những bữa rượu anh em mới thổ lộ hết tâm tình của mình. Có một điều lạ là trước đây tôi ít uống rượu, tửu lượng của tôi một chai bia hay một ly nhỏ rượu đủ làm cho tôi say. Thế mà tôi không ngờ rằng về quê lần nầy tôi đã hạ mấy thằng bạn nát rượu. Đã làm cho nhiều người ngạc nhiên mà tôi cũng không ngờ rằng mình uống không thua gì chúng nó. Có lẽ vì vui quá, anh em lâu ngày không ngồi với nhau, về lại quê hương trong nhiều năm xa cách v.v…nhiều yếu tố làm cho tôi cảm thấy thoái mái. Vì vậy mà tôi uống được nhiều.

 

Cái nhìn của tôi về quê nhà có thể rất khiếm diện và vội vàng. Có thể làm cho nhiều người không đồng ý. Nhưng tôi biết làm sao hơn khi mà một thực thể nó đã như vậy, tôi nói lên với tất cả tấm lòng dành cho quê hương mình. Có một điều mà cho đến bây giờ vẫn không nghĩ ra được mọi người nhìn tôi với con mắt xa lạ, cách biệt trong lúc thâm tâm của tôi muốn hòa đồng, muốn thân thiện. Có một cái gì đó muốn đẩy tôi ra xa ngoài vòng tay của quê hương tôi. Sau khi trở lại Mỹ, sau nhiều đêm suy nghĩ tôi mới tìm ra được một giải trình cho mình. Có lẽ phần đông mang một mặc cảm thua thiệt vì nghèo khó, nhìn mấy ông bà Việt Kiều tiêu tiền hào phóng họ cảm thấy cách xa với họ. Cho nên họ nhìn những người trở về như một loại “cá mè một lứa”. Họ đâu biết rằng có người trước khi về họ đã dành dụm bao nhiêu năm, cũng cày sâu cuốc bẩm, cũng lao tâm lao lực mới có được tiền. Vì biết bà con bên quê nhà làm ăn khó khăn nên họ phải “gánh” cho đỡ bớt gánh nặng khi phải tiếp họ. Những thành phần thuộc tư bản trong nước bây giờ, cách vung tiền của họ mới khiếp. Các “đại gia” nầy ra tay thì các “hảo hán” có máu mặt của Việt Kiều đành phải lép vế.

 

Dù gì chăng nữa tôi vẫn thấy những ánh mắt nhìn tôi không còn thân thiện, coi tôi không phải là người dân đã sinh ra và lớn lên trên quê hương. Cái nhìn và cách đối đãi của họ với tôi như một người khách. Cách hành xử nầy làm cho tôi thấm đau như có ai đó nhổ toẹt vào mặt mình. Chúng tôi không có tội gì hết, khi xa quê hương chúng tôi đau lắm vì nơi đây chôn nhau cắt rún, cha mẹ anh em đang hiện diện ở đây và rất nhiều, rất nhiều cái lý do khác không dễ gì dứt bỏ ra được. Thế nhưng trong hoàn cảnh bắt buộc phải rời xa đất nước. Đó là điều đau lòng cho tất cả những người đang xa xứ. Trong những ngày trở về, tôi ít đi đâu vì tôi mang một mặc cảm xa lạ, nên suốt ngày quanh quẩn trong nhà. Để tìm lại những thân thiện, những tình cảm mà tôi tưởng chừng như bị đánh mất ngay cả những người ruột thịt với mình. Tôi không muốn làm một người khách lạ./

 

 

Dallas, 18 tháng 8 năm 2007

Phan Xuân Sinh

 

 

 

Advertisements

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

MẠCH SỐNG VẪN CHẢY

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 13, 2014

MẠCH SỐNG VẪN CHẢY

Truyện của Phan Xuân Sinh

Tôi gặp lại Hưng và vợ nó tại khu Eden, Washinton DC. Tôi đi từ Boston đến để tham dự đám cưới con của người bạn, sáng hôm sau đi dạo khu Eden thì gặp vợ chồng Hưng  đang đi mua đồ ở đó. Từ khi qua Mỹ tôi có nghe tin phong phanh là gia đình Hưng định cư tại đây, thế nhưng không liên lạc được. Lần nầy vô tình lại gặp nhau. Hưng mừng lắm vào bên trong chợ gọi vợ ra, chúng tôi dẫn nhau vào Phở Tàu Bay cho dễ dàng nói chuyện.

 

Tôi hỏi Hạnh vợ của Hưng có thường liên lạc với với Linh không? Hạnh cho biết thỉnh thoảng, thường thường đến tết gọi về Việt Nam chúc tết Linh. Khi nhắc tới Linh tôi thấy cả hai vợ chồng đều khựng lại, như có cái gì cản trở. Để xua đuổi không khí nặng nề nầy tôi lái qua chuyện khác, tôi không ngờ câu chuyện xưa cũ còn để lại trong lòng họ một nỗi đau. Tôi bảo Hưng là hơn hai mươi năm mới gặp lại bạn, bây giờ đứa nào cũng già đi nhiều. Tôi muốn tránh thế nhưng Hạnh lại muốn khui lại chuyện của Linh. Hạnh nói rằng cách đây hai năm Hạnh có về Việt Nam, có đến thăm gia đình Linh, gia đình hạnh phúc, Linh có hai đứa con trông rất bảnh và đã nghỉ làm việc cho chính phủ. Ở nhà mở một tiệm buôn bán điện máy, rất giàu, có xe hơi riêng. Linh bảo với Hạnh trước đây Linh buôn bán nhà đất.

 

Tụi tôi chia tay nhau tại đây, tôi lên xe trở vế Boston còn vợ chồng Hưng ở lại tiếp tục đi chợ. Ngồi trên xe tôi nhớ lại chuyện của chúng tôi ngày xưa. Tôi, Hưng và Linh học một lớp từ nhỏ ở Đà Nẵng. Trong ba đứa Linh là người học rất giỏi, siêng năng. Còn tôi và Hưng học rất tầm thường. Ba đứa lúc nào cũng đi chơi với nhau, thân nhau lắm.

 

Linh yêu Hạnh và hai người rất gắn bó với nhau, sau nầy đi uống cà phê tụi tôi có thêm Hạnh cùng đi. Tôi không ngờ rằng thằng Hưng cũng yêu Hạnh, nhưng không nói ra, không tỏ bày cho ai biết, cứ âm thầm giữ trong bụng. Một hôm Hưng đến nhà tôi vào phòng ngủ của tôi ngồi nói chuyện. Tôi thấy thắng nầy sao bữa nay ít nói, suy tư và có vẻ thất thần. Tôi hỏi nó hôm nay mầy có sao không, trông thấy mầy rất lạ. Hưng không trả lời, chỉ nhìn ra cửa sổ, tôi cũng chẳng cần phải hỏi thêm, cứ để cho nó suy nghĩ viễn vông. Tôi mở sách ra đọc tiếp chừng mười phút sau, thì nó quay qua tôi nói:

 

“Tau có một chuyện nầy, cần nói cho mầy biết trước khi tau nhập ngũ. Tau cảm thấy không thể để trong lòng được nữa, từ bấy lâu nay tau âm thầm chịu đựng. Mầy là thắng bạn thân, nên tau thổ lộ cho mầy biết.”

 

Tôi hỏi dồn dập:

 

“Chuyện gì mà quan trọng đến thế, sao hồi trước tới giờ mầy không nói cho tau biết, mầy có nói cho thằng Linh biết không?”

 

“Bây giờ chỉ có mầy, đừng nói cho bất kỳ ai biết, nhất là thằng Linh.”

 

Rồi nó thong thả nói với tôi:

 

“Tau yên con Hạnh”

 

“Trời đất”

 

Tôi nghe như tiếng sét bên tai mình, tôi có vẻ trách nó. Thiếu gì người mà sao lại yêu con bồ của bạn mình. Con đường rộng thênh thang không chọn, lại chọn con đường cụt không lối thoát. Nhưng khi nhìn khuôn mặt đau khổ của nó, tôi lại thấy thương hại cho nó. Nó nói xong rồi ôm mặt khóc. Tôi không có cách nào giúp được nó. Tôi bảo nó ra nhà sau rửa mặt, rồi đi uống ca phê. Tôi hỏi nó có cần rủ thắng Linh với con Hạnh đi không, nó lắc đầu.Tôi với nó đi xuống Cà phê Ngọc Lan, ngồi vào bàn nó im lặng không nói gì cả. Tôi thấy không khí nặng nề quá và hơn nữa chỉ con vài ngày nữa nó vào trại Nhập Ngũ Số 1, nên tôi đề nghị với nó là nên gọi Linh và Hạnh ra quán để cho nó nhìn Hạnh những ngày cuối cùng. Nó không ý kiến, tôi ra lấy xe đạp đến nhà Linh và bảo Linh rủ Hạnh cùng đi. Tôi đạp xe trước về lại quán Cà Phê với Hưng, chừng mười lăm phút sau hai người chở nhau tới.

 

Nhìn thấy Hưng mặt mày ủ rủ, Hạnh lên tiếng trước, anh Hưng sao hôm nay buồn bả quá vậy? Tôi chống chế, để che đi sự thật của Hưng, tôi bảo rằng sở dĩ nó buồn vì nó sắp trình diện nhập ngủ, rồi tôi, Linh và Hạnh nói chuyện vu vơ, để cho Hung chìm trong suy nghĩ của mình. Suốt trong buổi cà phê đó, Hưng không mở miệng một lời. Khi tan chầu cà phê, tôi với Hưng tách ra ngả bờ sông ngồi trên ghế đá trước sông Hàn để nói chuyện, còn Linh chở Hạnh về nhà.

 

Tôi có hỏi Hưng là chuyện của mầy với Hạnh có ai biết không? Nó lắc đầu. Tôi nói là mầy nên giữ kín, nói ra sẽ gây khó khăn thêm chứ không giải quyết được gì, sẽ làm cho Linh và Hạnh khó xử.

 

Chừng ba ngày sau, tôi qua nhà Hưng chở nó đi trình diện, nhìn theo nó bước vào cổng Trại Nhập Ngũ, tôi thấy nó thật tội nghiệp, mang trong lòng cả một sự tan nát mà không biết nói cùng ai. Vào Thủ Đức nó viết cho tôi vài lá thư thăm hỏi, tán dốc với nhau nhưng tuyệt đối không nhắc nhở gì về Hanh. Tôi nghĩ thôi như vậy cũng yên, xa cách sẽ làm cho nó quên mọi chuyện rắc rối vế Hạnh. Từ khi nó đi, tôi cũng ít đi cà phê với Linh và đứa nào cũng lo cho chuyện sinh sống của mình. Lúc nầy tôi xin đi làm sở Mỹ, chức vụ storekeeper (thủ kho) để chờ đợi lên đường theo gót chân của Hưng. Linh đi học ở Đại Học Huế, tôi thấy tương lai của nó thật sáng lạng.

 

Một đêm nọ, vào khỏan 11 giờ đêm. Hạnh chạy qua nhà tôi gỏ cửa, bước vào nhà, kéo tôi vào buồng nói nhỏ là Linh bị bắt. Nghe tin tôi sửng sốt, một thắng hiền lành, không bao giờ chú ý tới chính trị lại đi rải truyền đơn cho Mặt Trận Giải Phóng, không biết có cái gì xui khiến nó làm công việc nầy. Tôi hỏi Hạnh bây giờ phải làm sao? Hạnh lắc đầu. Thôi thì việc làm của nó, nó phải chịu thôi không ai giúp được. Tôi hoàn toàn không biết chuyện nầy có bàn tay của Hạnh, hay đúng hơn là của gia đình Hạnh. Thỉnh thoảng tôi có qua thăm Hạnh, để hỏi thăm tin tức của Linh, tôi không còn thấy mấy người anh trai của Hạnh, chỉ có bà già và Hạnh thôi. Một lần từ nhà Hạnh ra về, tôi gặp thằng Điềm học cùng lớp với tụi tôi, nhà ở cạnh nhà Hạnh, Điềm cho tôi biết là nhà của Hạnh theo quân Giải Phóng, hai người anh đã lên núi nên mấy hôm nay Cảnh Sát Chìm rình rập, trong xóm ai cũng biết. Mầy không nên tới lui nhà đó. Điềm hoàn toàn không biết thằng Linh bị bắt ở Huế.

 

Từ đó tôi không dám qua nhà Hạnh vì sợ liên lụy, chừng vài tháng sau Hạnh qua cho tôi biết có ra Huế đến Lao Thừa Phủ thăm Linh. Tôi hỏi qua loa về sức khỏe, chuyện tôi quan tâm bấy lâu nay là tôi nghi Hạnh và gia đình ép Linh vào việc rải truyền đơn nầy, vì gia đình Hạnh có ông bố tập kết, các ông anh của Hạnh đều theo Cộng Sản. Tôi gặn hỏi nhiều lần, nên Hạnh phải thú thật với tôi là người anh của Hạnh ra Huế ở chung phòng trọ với Linh, anh ấy nhờ Linh đi rải truyền đơn với anh. Linh không thể từ chối nên mới rải lần đầu thì bị bắt. Thiệt ra Linh không ở trong các tổ chức của Mặt Trận. Khi mọi chuyện đổ bể, hai người anh của Hanh bỏ lên núi. Hạnh nói là Hạnh không biết chuyện nầy, nhưng sau vài tháng không biết sao Hạnh lại nói với tôi là Hạnh có nói với Linh đi rải dùm truyền đơn cho hai anh của Hanh ở Huế.

 

Mọi chuyện đã rồi, có nói thì cũng không mang lại cho Linh một cuộc sống bình thường được, tiếc là bỏ lỡ cơ hội học hành của Linh. Gia đình của Linh sau nầy ra Huế biết được hai người anh của Hạnh cù rủ Linh, nên bà Cụ rất hận Hạnh. Mỗi lần tôi qua thăm bà cụ bà đều khóc và mắn nhiếc Hạnh thậm tệ.Đến năm 1968 khi quân đội Giải Phóng tấn công tết Mậu Thân  ở Huế, giải thoát lao Thừa Phủ. Linh đi theo họ lên núi và sau đó được đưa ra Bắc.

 

Hưng về phục vụ tại Tiểu Khu Quảng Nam, thỉnh thoảng về Đà Nẵng có đến thăm Hạnh. Có nhiều lần ra phố tôi bắt gặp Hưng chở Hanh phía sau xe honda. Tự nhiên tôi nghĩ lại chuyện cũ, khi Hưng có lần thú thật với tôi là đã yêu Hanh. Lợi dụng không có mặt Linh, có thể Hưng tiến tới để thay chỗ của Linh. Nghĩ cho cùng Linh đã đi xa miệt mài quá không biết lúc nào trở về, bắt Hạnh phải mỏi mòn trông đợi thì cũng thật bất công.Tôi hoàn toàn không có ý kiến chuyện nầy, hơn nữa Hưng sau nầy hay tránh mặt tôi, ít gặp nhau, mỗi đứa ở đơn vị khác nhau.

 

Năm 1971, tôi đi phép về nhà thì thấy một phong bì mời đám cưới để trên bàn, tuần sau đám cưới  của Hưng với Hạnh. Tôi lấy xe honda chạy qua nhà Hạnh, xem thử họ cần gì tôi giúp không? Hạnh gặp tôi rất ngỡ ngàn, tụi tôi ra ngồi ngoài hàng hiên nói chuyện. Hạnh xin lỗi, vì không thể nào chờ đợi Linh vì không biết ngày nào mới hòa bình. Gia đình chỉ có hai người đàn bà, cần một người đàn ông trong gia đình. Tôi hoàn toàn thông cảm cho mọi lý do của Hạnh đưa ra. Nếu không có Hưng thì cũng phải có một người khác.Thế nhưng sao tôi thấy trong cuộc tình tay ba nầy nó mang một ấn tượng sâu trong đầu tôi, nó vừa đẹp nhưng cũng vừa tàn nhẫn.

 

Đến năm 1974 tôi đi Sài Gòn để chuẩn bị đi học trở lại, thì mùa xuân năm đó mất Ban Mê Thuộc, rồi dần dần mất các tỉnh Miền Trung. Sài Gòn tấp nập những người Miền Trung chạy vào. Vợ chồng Hưng cũng chạy được vào Sài Gòn, mua một cái nhà nhỏ ở Gò Vấp của một người đi Mỹ bán lại, cũng may là gia đình Hạnh Cách Mạng, hai người anh của Hạnh sau 30/4 về Sài Gòn nên mới giữ được căn nhà đó cho Hạnh. Những ngày trước khi đi học tập Hưng đạp xe lên chỗ tôi bán chợ trời ngồi nói chuyện. Cái điều của Hưng lo âu là sau nầy sẽ gặp lại Linh, thì không biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Linh có tha thứ cho vợ chồng Hưng không? Tôi nói với Hưng mọi chuyện đã xong, không thể nào đổi khác. Chuyện gì tới nó sẽ tới, đừng lo âu làm gì cho thêm mệt.

 

Trước khi Hưng đi học tập, nó lên nhờ tôi là thỉnh thoảng lên thăm Hạnh và hai cháu. Tôi gật đầu và đã làm hơn những gì nó mong ước cho vợ con nó. Lúc đó đất nước kiệt quệ, khánh tận chỉ ăn toàn bo bo. Chừng hai tuần tôi mang lên cho Hạnh một hai chục ký gạo, ít ký thịt và một ít tiền để Hạnh sống nuôi hai con. Vì lúc đó tôi chưa có vợ và làm ăn cũng khấm khá. Sau nầy có mẹ của Hạnh vào, nên tôi cho Hạnh mượn một ít tiền ra ngoài buôn bán, tính ra thì cũng đủ sống.(Nói là cho mượn, sau nầy Hạnh trả lại mà tôi không lấy, hình như trị giá chừng một cây vàng). Mẹ của Hạnh rất quý tôi vì bà nghĩ  một tình bạn giữa chúng tôi với nhau quá đẹp.

 

Vào năm 1977, khi tôi làm trong hãng bột giặt ở Bình Thạnh, thì thằng bé làm cho tụi tôi vào gọi, nó bảo là có một ông bộ đội tìm tôi. Tôi ra, trông thấy một người đội nón cối, mặc bộ đồ xanh màu olive, tôi chưa kịp nhận ra thì người đó lên tiếng “Linh đây, chưa nhận ra à?”, tôi chạy ra ôm nó, hai đứa đều nghẹn ngào. Linh cho tôi biết hiện giờ nó làm việc cho cơ quan thương nghiệp, vừa mới đổi vô Sài Gòn. Nó hỏi tôi vợ chồng Hưng bây giờ đang ở đâu. Tôi hỏi lại nó, mầy hỏi để làm gì, trả thù tụi nó à. Linh mặt đanh lại, đôi lông mày nhíu lại: “Sao mầy đánh giá tau thấp vậy, chuyện cũ đã đi vào quên lãng, tau muốn thăm vợ chồng nó được hạnh phúc không, vậy thôi.”

 

Tôi bảo thằng bé làm cho tụi tôi, mang xe đạp của Linh ra sau. Tôi chở Linh bằng Honda đến thăm Hạnh, tôi cũng báo cho Linh biết là thằng Hưng đi học tập, chỉ có một mình con Hạnh. Xe tôi chạy lên Gò Vấp, lúc đó vẫn còn thưa thót người, khi chúng tôi vào nhà thì Hạnh đang cho hai đứa bé an cơm. Hạnh dừng tay đút cơm cho con, nhìn Linh rồi thốt lên: “Anh Linh”. Rồi khóc nức nở, tay run lên. Linh cũng chạy tới ôm Hạnh, mắt cũng đỏ hoe. Một cuộc gặp gỡ đầy nước mắt và thật cảm động. Hạnh hỏi Linh đã có vợ con gì chưa? Linh lắc đầu. Linh và tôi ra ngoài bàn ăn ngồi, để cho Hanh cho các con ăn cơm xong, rồi mới bắt đầu nói chuyện.

 

Linh hỏi Hạnh một câu thật bất ngờ:

“Sống với Hưng Hạnh có được hạnh phúc không?”.

 

Hạnh gật đầu.

 

Linh nói tiếp với Hạnh:

“Như vậy, Hạnh đã có một quyết định sáng suốt nhất, chọn lựa cho mình một cuộc sống thích hợp với mình. Anh ủng hộ sự chọn lựa của Hạnh”.

 

Chúng tôi xoay qua đề tài khác, để tránh những trường hợp khó xử. Trong thâm tâm tôi lúc đó tôi rất kính trọng lối hành xử của Linh, dù biết rằng không còn cách chọn lựa nào khác. Linh không có chút hằng học hay mỉa mai. Tôi nghĩ Hạnh cũng đang chờ đợi câu trách móc, để Hanh nói lên hoàn cảnh của mình lúc bấy giờ. Tôi nói với Linh là cái quan trọng hiện nay là làm thế nào để Hạnh có điều kiện nuôi con, chồng không biết đi học tập đến khi nào mới về. Linh nói với tôi là chuyện nầy để tau với mầy tính sau.

 

Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau chừng hơn nửa tiếng đồng hồ, cũng chỉ hỏi thăm người nầy người khác, vì mới gặp lại nhau nên cũng không tránh khỏi sự ngở ngàng, dù hai bên cố tình tránh để câu chuyện trở thành tự nhiên. Chúng tôi chào Hạnh rồi ra về. Tôi đưa Linh vào một tiệm ăn để vừa ăn cơm trưa vừa nói chuyện. Linh nói với tôi là ở ngoài Bắc, nó không biết Hưng với Hạnh lấy nhau, nhưng trước khi bị bắt, khi còn đi chơi chung với nhau nó biết là Hưng yêu Hạnh, vì khi tiếp xúc Hưng để lộ những cử chỉ lúng túng, mất tự nhiên nên Linh đoán ra được. Khi về Đà Nẵng được biết Hưng lấy Hạnh thì Linh cũng không ngạc nhiên.

 

Khi ăn cơm xong, Linh hỏi nhỏ tôi sao mầy không đi, ở đây sống không được với chúng nó đâu. Tôi cho nó biết là đã đi mấy lần mà không xong, thôi bây giờ chờ gia đình bảo lãnh. Khi ngồi trên xe tôi hỏi nó là mầy có vào Đảng không? Nó trả lời là không, vì lý lịch của nó có nhiều nghi vấn. Rãi truyền đơn mà không biết tổ chức của mình. Khi bị bắt, Cảnh Sát Huế đánh gần chết vì bảo rằng nó không khai rỏ tổ chức mà nó làm việc.Thằng anh của Hạnh nhờ nó rải dùm, chỉ đặt ở lề đường khi xe chạy qua truyền đơn tung tóe lên, đơn giản như vậy thôi, nó thấy cũng không nguy hiểm nên nhận lời. Đường phố giới nghiêm, nó vừa đạp xe ra khỏi nhà thì bị Cảnh Sát đi tuần chận lại, xét trong người thì thấy mấy xấp truyền đơn. Thằng anh của Hạnh thấy nó không về, biết là nó bị bắt thế nào cũng liên lụy đến mình nên thằng nầy bỏ lên núi theo quân Giải Phóng luôn.

 

Tôi hỏi Linh:

“Sau nầy mầy có gặp thằng anh của Hạnh không?”

 

“Không. Nghe nói nó làm gì lớn ở Nha Trang. Mà gặp tụi nó để làm gì. Mình ngu thì mình ráng chịu. Bây giờ tau chỉ biết cúi mặt qua trôn. Chỉ có mầy là thằng hiểu tau, đừng bao giờ nói cho ai biết chuyện của tau. Sống để bụng chết mang theo.”

 

Từ đó chúng tôi thường xuyên đến với nhau, tôi không biết Linh làm đến chức gì bên Thương Nghiệp, thỉnh thoảng nó mang đến cho tôi những cái phiếu mua nhu yếu phẩm. Lúc đó tình trang dân chúng kiệt quệ, thoi thóp sống bằng bột mì và bo bo. Hạnh và hai đứa nhỏ cũng nhờ Linh trong thời gian nầy rất nhiều. Linh đã dành cho gia đình Hạnh một ưu đãi đặc biệt.

 

Một lần tôi nghe nói Hạnh có thằng bồ khác, hằng ngày tới chở Hạnh đi đây đi đó. Tôi gọi điện thoại và nói chuyện nầy cho Linh biết, Linh bảo tôi là chiều nay hai đứa đến gặp Hanh để hỏi cho ra lẻ chuyện nầy, rồi tính sau. Linh hẹn tôi ở nhà Hạnh lúc năm giờ chiều, Tôi bận một chút công việc nên tới trễ. Khi tôi tới nơi thì mọi chuyện đã rồi. Tôi thấy Hạnh đang ôm mặt khóc, còn Linh thì mặt mày hầm hầm một đống. Linh nói với tôi là nó đã gặp thằng bồ của Hạnh ở đây và nó đã cho thằng kia một bài học, cấm thằng kia từ nay không được đến cửa nhà nầy, nếu còn lén phén nó sẽ bắn nếu bắt gặp. Tôi bảo nó chuyện gì còn có đó, sao mầy giải quyết hồ đồ như vậy, biết chuyện nầy có đúng vậy không? Hạnh bảo với tôi là Hạnh chỉ nhờ anh đó chở đi công chuyện vì Hạnh không có xe. Chứ thật tình không có chuyện nầy. Tôi cũng có nói với Hạnh là mình là gái có chồng, mà chồng lại đi học tập nên không thể đi như vậy, gây ra nhiều dị nghị.

 

Khi tụi tôi đứng dậy ra về, Linh móc bốp lấy giấy tờ xe honda và chìa khóa đặt trên bàn, rồi bảo với Hạnh: “Đây là xe honda của em, em tự đi lấy không cần ai phải chở.” Hành động của Linh đã làm cho tôi rất thán phục, hồi đó có một chiếc xe honda không phải là chuyện dễ. Cũng bắt đầu từ đó khi có xe honda Hạnh đi đây đi đó dễ dàng và chuyện buôn bán thuốc tây có mòi thành công. Chở Linh về, tôi hỏi từ nay bạn đi xe đạp à. Linh bảo là tại sao phải như vậy, ngày mai sẽ mua xe khác. Linh mới mua căn nhà bằng hóa giá tại đường Nguyễn Trải thật khang trang, tôi bảo sao bạn mới đây mà có được cơ ngơi vững vàng quá vậy. Linh cười cười bảo với tôi tất cả là tiền của chúng nó, phải xài chứ. Linh cho tôi biết là cái mùa kiểm kê nó kiếm được vài trăm cây bằng cách tráo kim loại bằng đồng, để lấy kim loại bằng vàng, nộp cho nhà nước toàn bằng đồng, dĩ nhiên phải chia đều cho các xếp lớn. Một đất nước đã rách toan hoang, kiệt lực đều do những bàn tay nầy tạo nên.

 

Chừng vài năm sau thì Hưng được thả về, nhìn thấy vợ con có một cuộc sống đầy đủ, nó mừng lắm. Mẹ của Hạnh cho nó biết sở dĩ cuộc sống như hôm nay cũng nhờ bạn bè nó giúp đỡ. Hưng chở Hạnh tới nhà tôi để nói lời cám ơn, gặp tôi nó ôm tôi rồi khóc. Nó bảo rằng trên con đường từ Tây Ninh về nhà, nó không biết chuyện gì sẽ xẩy ra cho nó. Về tới nhà nhìn thấy vợ con nó mới biết mình vẫn còn được diễm phúc. Tôi bảo nó cố gắng đến thăm thằng Linh. Ngồi nói chuyện với nhau một lúc thì vợ tôi đi làm về, tôi nói hay tụi mình đi thăm Linh rồi rủ nó ra ngoài ăn cơm chiều. Tôi điện thoại cho Linh trước để tụi tôi đến thăm, vì cán bộ thường thường buổi chiều người ta hay mời, ít có ở nhà. Linh mừng lắm, chúng tôi đi ăn và nói đủ thứ chuyện như hồi còn đi học.

 

Vài năm sau Linh cưới vợ, tóc đã bắt đầu muối tiêu. Vợ Linh lai Tàu có một cửa hàng bán vải ở Chợ Lớn. Đám cưới được tổ chức ở một nhà hàng Quận 5. Vợ chồng tôi và Hưng có tham dự. Cảm động nhất là lúc Linh mời tôi và Hưng lên giới thiệu với mọi người. Đại ý là sở dĩ Linh còn sống được, đời sống có ý nghĩa cũng bởi vì bạn bè là cái phao níu với nhau để sống. Ba đứa tôi ôm lấy nhau và đứa nào cũng ràn rụa nước măt. Tôi có vài câu thưa với quan khách tham dự là chúng tôi quen nhau lúc còn học mẫu giáo trải qua bậc tiểu học và trung học. Bây giờ lại cùng sống chung tại một thành phó xa thành phố quê hương của chúng tôi. Trong thời chinh chiến mỗi thằng mỗi ngả, nhưng bao giờ cũng nhớ về nhau. Hòa bình gặp lại nhau ở đây, cám ơn cuộc đời, cám ơn quê hương.

 

Rồi lần lược đến cuối đời, tôi và Hưng cũng bỏ đất nước  ra đi. Chỉ còn một mình Linh ở lại.

 

Houston, 6 tháng 4

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

ĐÊM ĐỌC THƠ VÀ HÁT THƠ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 10, 2014

ĐÊM ĐỌC THƠ VÀ HÁT THƠ

DO NGUYỄN HƯNG QUỐC VÀ HOÀNG NGỌC TUẤN TRÌNH BÀY TẠI DALLAS.

 

Ghi Nhận của Phan Xuân Sinh

 

Đi từ Houston đến Dallas, gần 300 dặm, ngồi trên xe gồm có ba người, tôi, Tô Thẩm Huy và Dương Phước Tấn.Trong chuyến đi nầy chúng tôi dự trù đến thăm nhà thơ lão thành của đất Quảng Nam anh Phạm Cây Trâm., trước khi tham dư buổi “Sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật và Đêm đọc thơ và hát thơ” Có sự tham dự của hai người vừa là khách mà cũng vừa là chủ chốt trong đêm sinh hoạt đó là giáo sư Nguyễn Ngọc Tuấn (bút hiệu là Nguyễn Hưng Quốc, nhà lý luận văn học) và Giáo sư Hoàng Ngọc Tuấn (dạy âm nhạc và một nhạc sĩ đa tài) . Anh chị Phạm Cây Trâm là người rất hiếu khách, mỗi lần đến thăm, anh chị bao giờ cũng làm những món ăn Quảng Nam để đãi chúng tôi, thật ngon, nhất là món “Mì Cây Trâm” mà người Quảng Nam nào ở cùng thế hệ với tôi trở về trước đều biết tiếng. Mà đúng như lời đồn đãi Mì Cây Trâm chị làm ngon thật. Một sự đặc biệt là lá mì chị tự tay vuốt gạo và xay bột bằng một cái máy xay nhỏ xinh xắn, đặt lên nồi tráng mì chứ không mua mì người ta bán sẵn ngoài chơ, bánh tráng cũng tự tay chị làm. Ở hải ngoại tôi đã ăn mì Quảng nhiều nơi nhưng không có nơi nào ngon bằng mì của chị làm.

 

Chúng tôi ở chơi nhà anh chi Phạm Cây Trâm đến chiều thì chúng tôi đến nhà Luật Sư Nguyễn Xuân Phước, vì đêm nay chúng tôi có cuộc gặp gỡ anh chị em văn nghệ từ các nơi khác về. Nhà Luật Sư Phước nằm trên một bờ hồ rất thơ mộng, tại đây chúng tôi gặp nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp người chủ chốt của đêm sinh hoạt tối mai, Bác sĩ Nguyễn Ý Đức đến tứ Arlington, nhà văn Trương Vũ đến từ Whasington DC, nhạc sĩ Nguyễn Đình Bình đến từ Alabama, tôi, Tô Thẩm Huy (nhà thơ), Dương Phước Tấn (họa sĩ) đến từ Houston và chừng mười văn nghệ sĩ tại địa phương. Anh Trương Vũ gần bảy năm sau tôi mới gặp lại, lúc nầy trông anh khỏe mạnh và trẻ ra, bất ngờ lúc đầu tôi không nhận ra anh. Lâu ngày anh em không gặp nhau, nên khi gặp đủ chuyện để hàn huyên và uống rượu.

 

Chúng tôi đến hội trường tổ chức Đêm Đọc Thơ Và Hát Thơ lúc 5 giờ chiều. Trời Dallas bên ngoài 103 độ F, hừng hực nóng, thế nhưng khi bước vào bên trong hội trường, tôi rất ngạc nhiên người đến tham dự quá đông (chừng khoảng 300 người), phần đông là đồng hương Quảng Nam của Nguyễn Hưng Quốc và tôi. Có lẻ vì người ta nghe tiếng Nguyễn Hưng Quốc tứ lâu nên đến tham dự một phần để biết mặt và một phần khác để nghe tài hùng biện của Nguyễn Hưng Quốc, người con cưng Quảng Nam mà họ rất yêu quý. Tôi nhớ trước đây chừng bảy năm, trong một ngày Đại Hội Quảng Nam – Đà Nẵng hải ngoạ tại Dallasi, tôi có một mục thuyết trình về văn nghệ sĩ Quảng Nam, trong đó tôi có nói đùa rằng”..trong một chu kỳ 30 năm, xứ Quảng Nam chúng tôi sản sinh ra một nhà phê bình văn học lỗi lạc: Thập niên 30 chúng tôi có Phan Khôi, thập niên 60 chúng tôi có Đặng Tiến tại miền nam và thập niên 90 cúng tôi có Nguyễn Hưng Quốc tại hải ngoại…”  Lời nói đùa của tôi cho đến bây giờ chắc không sai và cũng gần đúng với sự thật. Đề tài của Nguyễn Hưng Quốc  trình bày trong buổi chiều sinh hoạt: “Sư Phát Triển Văn Học Hải Ngoại và Cuộc Cách Mang Internet”. Chúng ta đẫ đọc Nguyễn Hưng Quốc bằng nhiều phương tiện như Sách, báo, internet thế nhưng chúng ta tại Texas chưa bao giờ nghe Nguyễn Hưng Quốc trình bày bằng văn nói. Thú thật trước khi giới thiệu Nguyễn Hưng Quốc lên diễn đàn tôi lo lắm. Hơn ai hết, tôi là dân Quảng Nam, tôi biết yếu điểm của dân tôi là viết trôi chảy, cải trôi chảy, nhưng khi trình bày một vấn đề trên micro, yếu điểm thứ nhất cái “giọng” của chúng tôi nghe rất khó chịu, âm điệu chan chát không êm tai như giọng Bắc hay giọng Huế, yếu điểm thứ hai nói hay vấp váp. Thế nhưng Nguyễn Hưng Quốc đã vượt qua khỏi hai yếu điểm đó mà còn trội hơn, giọng của anh nghe nhẹ nhàng, trình bày mọi vấn đề một cách mạch lạc, nói tới đâu chứng minh tới đó. Nghệ thuật nói trước đám đông của anh rất chuyên nghiệp và đó cũng là điều thu hút khán thính giả lắng nghe một cách say mê. Thú thật khi Nguyễn Hưng Quốc ,mở đầu câu chuyện, tôi đã thấy “lấy ăn” rồi.

 

Tôi không đào sâu những gì Nguyễn Hưng Quốc trình bày, tôi chỉ vắn tắt đại ý những gì Nguyễn Hưng Quốc nói trong cuộc nói chuyện qua sự ghi nhận của một người bạn văn nghệ ký tên là Phan đăng trên những tạp chí tại Texas: “Giáo sư Quốc tin tưởng dòng văn học hải ngoại không chết như nhiều suy nghĩ từng được trình bày trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại. Bằng chứng là sức sáng tác và kho tàng Văn học nghệ thuật của người Việt hải ngoại ngày càng phong phú hơn. Nói về số lượng thì nhiều hơn cả nền văn học miền nam trước 1975 trong nước. Tất nhiên, cần có thời gian để đánh giá đúng mức phẩm chất, nội dung, giá trị của những tác phẩm được sáng tác ở hải ngoại, tuy nhiên người ta phải chú ý tới vẻ đa dạng và phong phú của những công trình nghiên cứu về văn hoá nghệ thuật, những tác phẩm viết trong thời kỳ lịch sử Việt nam bị phân hoá; sản sinh ra dòng văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại.”

 

Còn về cuộc cách mạng internet, theo lý luận của Nguyễn Hưng Quốc mỗi ngày báo internet số lượng bài viết nhiều hơn báo in và lấy ví dụ trên Tiền Vệ và Da Màu ta thấy một số lượng đáng khích lệ. Sự nhanh chóng trong truyền thông và thu hút số lượng độc giả trên toàn thế giới, nghĩa là số người đọc hiện nay nhiều gấp bội so với báo viết. Nhất là sự liên lạc giữa tác giả và báo chí không bị thời gian và xa cách cản trở. Tin tức được cập nhật hóa nhanh chóng đưa đến cho người đọc biết ngay những sự việc xẩy ra trên thế giới.

 

Sau phần trình bày của Nguyễn Hưng Quốc được nghỉ giải lao và nhân cơ hội nầy tôi có nói chuyện với Hoàng Ngọc Tuấn, chuyện trò xả giao vì giữa chúng tôi chỉ biết tên tuổi nhau chứ chưa bao giờ gặp mặt kể cả Nguyễn Hưng Quốc cũng vậy. Dù chưa hết chương trình tôi đã thấy sinh hoạt Văn Học và Nghệ Thuật do một nhóm văn nghệ sĩ Dallas thực hiện rất thành công. Sau khi nghỉ giải lao, phần thứ II của chương trình do Hoàng Ngọc Tuấn trình bày những sáng tác của mình, xen kẻ có Hoàng Đình Bình phụ diễn. Quả thật một chương trình nhạc mới lạ mà tôi chưa từng nghe qua. Tôi có biết Hoàng Ngọc Tuấn là một nhạc sĩ sáng tác và giảng dạy âm nhạc.  Đây là lần đầu tiên tôi mới nghe qua Hoàng Ngọc Tuấn trình bày những sáng tác của mình. Tôi không hiểu về âm nhạc, chỉ cảm nhận khi nghe Hoàng Ngọc trình bày những sáng tác của mình, thật tuyệt vời. Những bản nhạc do Hoàng Ngọc Tuấn trình bày phần nhiều phổ thơ từ các thi sĩ nỗi tiếng thế giới từ trước tới nay,. Cái lối phổ thơ của Hoàng Ngọc Tuấn cũng rất mới lạ không theo khuôn phép giống như các nhạc sĩ Việt Nam. Anh nắm phần cốt lỏi.của bài thơ và nhấn mạnh những gì mà tác giả cần nỗi bật.

 

Hoàng Ngọc Tuấn chỉ ôm một cây đàn guitar, tiếng đàn của anh tưởng chừng như có một vài cây đàn khác phụ họa, âm thanh của nó rất đa dạng. Tôi cũng đã từng nghe độc tấu Guitar nhiều lần nhưng tiếng đàn của Hoàng Ngọc Tuấn lần nầy khác lạ, chuyên nghiệp và hấp dẫn,  những người tham dự im phăng phắc lắng nghe, anh đã chinh phục được lòng mọi người từ đầu tới cuối chương trình bởi tài năng và sự phô diễn của anh. Tôi nghĩ đây là sự thành công của anh không những tại Dallas mà tất cả những nơi anh đã từng đi qua trình diễn. Tiếng hát của anh mạnh, hấp dẫn, diển tả hết được những gì mà anh sáng tác.

 

Đêm đọc thơ và hát thơ của Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn rất thành công. Để lại trong lòng những người tham dự một ấn tượng mới lạ và hấp dẫn giữa cái lúc mà “thơ” tưởng chừng sắp đi vào quên lảng của những người lưu vong. Cam ơn Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn đã cho chúng tôi sống lại với thơ ca một cách nhiệt tình và hấp dẫn, cho chúng tôi một niềm tin thơ ca sẽ sống mãi.

 

Sau khi chấm dứt chương trình, chúng tôi có một cuộc hàn huyên với hai tác giả Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn cùng với một số anh em văn nghệ tại Dallas đến 2 giờ sáng. Ba anh em chúng tôi phải chia tay ra vế vì sáng mai chúng tôi phải làm việc, phải lái xe gần năm tiếng đồng hồ trở về Houston, chúng tôi vẫn còn có những điều chưa nói hết. Hy vọng lần sau trở lại Hoa Kỳ của Nguyễn Hưng Quốc và Hòang Ngọc Tuấn nếu hai anh đồng ý, anh em văn nghệ Houston sẽ có dịp gặp gỡ và tổ chức một đêm “thơ nhạc” để có dịp cư dân Việt Nam tại Houston tiếp xúc với hai anh.

 

Houston, tháng 7/2011

Phan Xuân Sinh.

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | 1 Comment »

BÚI GIÁNG, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 10, 2014

BÙI GIÁNG, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP

*Phan Xuân Sinh

(Bài nói chuyện về Bùi Giáng trong ngày Liên Trường Quảng Nam – Đà Nẵng, 31/8/2013 tại Houston)

 

Một nhà làm văn học mà khi còn sống cũng như khi chết bao quanh ông nhiều huyền thoại, giai thoại nhất. Người đó chính là Bùi Giáng.

Bùi Giáng là một nhà thơ, một dịch giả,một triết gia, nhà nghiên cứu văn học. Trong địa hạt nào ông cũng lẫy lừng. Các bút hiệu khác của ông: Trung Niên Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi văn Bốn, Vân Mồng. Ông nổi tiếng khi xuất bản tập thơ” Mưa Nguồn” năm 1962.

Bùi Giáng sinh ngày 17/12/1926 tại Thanh Châu, xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.

Cha của ông là Bùi Thuyên thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi tại Quảng Nam, vợ mất sớm nên ông tục huyền với bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con của Bùi Thuyên và Huỳnh Thị Kiền.

Bắt đầu đi học tại làng Thanh Châu, học tiểu học tại trường Bảo An

Trung học tại trường Thuận Hóa Huế.  Năm 1945 ông đậu bằng Thành Chung. 1950 ông đậu bằng tú tài I. 1952 ông đậu bằng tú tài II. ông vào sài Gòn ghi danh đại học Văn Khoa. Tuy nhiên theo bà Thụy Khuê sau khi nhìn danh sách giáo sư giảng dạy ông quyết định không đi học và cũng chấm dứt việc học tại đây. Ông bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục tại Sài Gòn.

1965 nhà bị cháy, tất cả các bản thảo cũng như sách vở đều bị thêu hủy.

1969 ông bắt đầu điên “rực rỡ” (chữ của Bùi Giáng). Sau đó ông lang thang du hành lục tỉnh (cũng chữ của Bùi Giáng) trong đó có Long Xuyên và Châu Đốc.

1971 ông trở lại sống ở Sài Gòn. Ông mất lúc 2 giờ chiều ngày  7/10/1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy.  Sau những năm tháng “sống điên rồ lừng lẩy” và chết “vẻ vang” (chữ của Bùi Giáng.)

Ông để lại một kho tàng sách vở:

về thơ: 15 tập

về nhận định 4 tập

về Giảng Luận 4 tập

về triết học 4 tập.

về tạp văn 4 tập

về dịch thuật: – 5 tập (1966). 3 tập (1967). 3 tập (1968).  3 tập (1969). 1 tập (1973). 1 tập (1974)

Với chừng đó sách vở đáng khẳng định con người tài hoa của ông.  Trong vòng hai năm 1962 – 1963 ông xuất bản 6 tập thơ và 3 quyển triết học. Đó là một thành tích kỷ lục, với một thời gian ngắn mà ông xuất bản được 9 tác phẩm đều nặng ký. Ta nên nhớ một điều bệnh điên đã chiếm hầu hết thời gian sau nầy của ông, trong khi điên nhảy múa ngoài đường phố ông không sáng tác được, thế mà khi tỉnh ông ngồi vào bàn, viết miệt mài. Ông mê đọc sách, chính điều nầy đã tạo cho ông một kiến thức sâu rộng. Ông là một người có năng khiếu về sinh ngữ, ông biết nhiều thứ tiếng, những tác phẩm do ông dịch thuật rất sâu sắc từ văn chương đến triết học. Lúc đầu những học giả đánh giá ông chịu ảnh hưởng của những triết gia tây phương, nhưng khi nghiên cứu kỹ ông cũng có những ảnh hưởng của Phật và Lão Trang rải rác trong tác phẩm văn chương của ông.

Ông là người cam chịu những khổ đau, vợ con mất trong một tại nạn khủng khiếp, vì vậy theo Khiêm Lê Trung cho rằng đối diện với cái chết ấy ông trở thành nạn nhân của bi kịch định mệnh khắc nghiệt. Nó là vết thương đục khoét tâm hồn ông biến ông thành kẻ lưu đày trong chính số kiếp của mình. Khi đọc Kiều, ông cảm thấy gần gũi với Nguyễn Du, đồng cảm với Nguyễn Du. Ông xem những nghịch cảnh éo le của Kiều, truân chuyên của Kiều chính là cái khổ đau mà chính ông gánh chịu. Từ những suy nghĩ, những khổ đau ngấm ngầm đục khoét tâm hồn ông biến ông trở thành một người điên “rực rỡ” (chữ của ông hay dùng). Trong văn chương Việt Nam ông rất tôn sùng Nguyễn Du và Huy Cận, thế nhưng đọc thơ ông ta không tìm thấy hai thi sĩ nầy ảnh hưởng tới thơ ông.

Hầu hết dân Sài Gòn ai cũng biết ông. Một người đàn ông đứng tuổi ăn mặc xốc xếch diêm dúa, nhảy múa tưng bừng(cũng chữ của ông thường dùng) trên đường phố Sài Gòn. Thân người ốm, nhỏ con nhưng có đôi mắt rực sáng. Nhà thơ Tường Linh nói với chúng tôi rằng ông  trong lúc điên, đang nhảy múa. Muốn cho ông tĩnh lại ghé vào tai ông nói một câu tiếng Tây hay tiếng Anh sai, trật lất,  thì ông tỉnh lại ngay. Kêu người đó lại gần chỉnh ngay, nói như thế nầy mới đúng, nói trật chúng cười. Có lẽ giai thoại về ông nhiều vô kể. Có cái người ta mục kích, cũng có cái người ta thấy ông khùng điên như vậy nên thêu dệt thêm, thêm mắm dặm muối cho vui. Tất cả đều tạo quanh người ông những giai thoại rất dễ thương và cũng rất sâu sắc.

Ông thích đọc kiếm hiệp vì vậy ông dịch tập kiếm hiệp nhan đề tôi còn nhớ mang máng là “ Phiên Kiếm Điêu Linh”(lâu quá không biết có đúng không), Đọc kiếm hiệp của ông dịch, thật tuyệt vời, chữ nghĩa của ông dùng bay bướm, hấp dẫn. Trên địa hạt nầy có lẽ ông là người dịch kiếm hiệp hay nhất từ trước tới nay. Song song với dịch thuật ông còn viết về triết học. Văn chương của ông một cõi riêng, ngôn ngữ của ông một cõi riêng, dưới mắt ông tất cả đều “chơi thôi mà” chữ ông thường dùng nhất. Vì vậy tất cả mọi địa hạt ông đều giỡn mà những người đọc nghiêm chỉnh không chịu được. Ngay cả bút hiệu ông cũng dùng những từ nói lái của quê hương Quảng Nam thường dùngn Bùi Giáng tức là Bàn Dúi. Ông đùa giỡn với thi ca, với triết học, với dịch thuật, với nhận định văn học  và ngay cả cuộc đời của ông cũng vậy. Ông giỡn một cách dễ thương và không từ nan một chỗ nào. “Thi sĩ sinh ra giữa cỏ cây và sẽ chết đi giữa cỏ cây li kỳ gay cấn”. Một câu tưởng chừng nghiêm chỉnh, nhưng cuối câu cũng cà khịa một chút cho vui. Đọc ông ta thấy văn phong của ông không giống ai, một chỗ đứng riêng biệt mà người đọc nhận ra ông ngay.

Thế nhưng cuối cùng nói về Bùi Giáng, chúng ta phải đề cập tới thơ của ông. Trong bài viết của Thụy Khuê: “Ông Bùi Giáng sống tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng thơ, ông cả đời lục bát. Tại sao lục bát? bởi vì đối với Bùi Giáng;”Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển, ba bảy sông hồ”. Thật tình Bùi Giáng cũng có làm thơ nhiều thể loại, nhưng không nhiều lắm. Lục bát là chính và hầu hết thơ của ông đều làm theo thể lục bát.

Ông có nhiều câu thơ xuất thần, lên đồng cõi vô thức, vô thường (lời của Hiền Nguyễn). Hay không chịu được. Mang một ấn tượng sâu lắng, một ý thơ vô cùng cao siêu:

 

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu

Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa

ta về rũ áo mù sa

Trút quần phong nhụy cho tà huy bay

 

Thanh Tâm Tuyền nói về Bùi Giáng với Mai Thảo trong tòa sạn báo Văn: “..Ngủ ra thơ. Thở ra thơ.  Đi ra thơ. Đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ.” Nói thế để biết rằng, Bùi Giáng làm thơ một cách dễ dàng như lấy đồ trong túi ra. Có nhiều người bỏ công ra tìm hiểu thơ Bùi Giáng, nhưng rốt cuộc không mang tới kết quả. Ta hãy đọc ông viết về thơ ông: “Thơ tôi làm (…)chỉ là cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm báo động một lúc thì lập tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Ta gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi (…) Tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vẫn bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao. (tài liệu Bùi Vĩnh Phúc) Viết như vậy đố ai hiểu được, thế nhưng ta cảm được những lý do trong trạng thái bất bình thường đã khiến ông làm thơ. sống với thơ. Và chỉ có thơ mới giải quyết những vấn đề nội tâm của ông:

 

Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?

Ta đi gửi lại đôi dòng

Lá rơi có dội ở trong sương mù.

 

Một tiên đoán huyền diệu, vầng trăng ông gửi lại cho đời vẫn nguyên màu. Đôi dòng ông gửi lại cho hậu thế vẫn còn vang dội. Chỉ có thân xác ông đã tiêu diêu theo mây theo khói. Nhưng với ông hề chi, miễn khi còn sống vui là trên hết: Sống lẫy lừng, chết vẻ vang. Bên ngoài ta thấy ông thật tội nghiệp. Lang thang nhảy múa, áo quần diêm dúa hôi hám, thế nhưng nội tâm của ông trong sáng, hàm chứa một vũ trụ cực kỳ sâu lắng. Ông an nhiên tự tai như một tiên ông, ông hạnh phúc với cái điên của mình đang có. Ông nhìn cuộc đời như một giấc mộng dài, giữa hai bờ sinh tử chẳng có một lằn ranh:

 

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

 

Trịnh Công Sơn lấy câu thơ nầy trong một tác phẩm của ông. Thơ ông đa dạng, mang nhiều triết lý, nhiều ẩn dụ, đôi lúc ngây ngô, đôi lúc trần tục, làm cho người đọc cảm thấy bất ổn khi đọc vì nó nửa hư nửa thật, nửa đùa nửa nghiêm túc. Chính như vậy mới tạo nên cõi thơ riêng của Bùi Giáng, ông không giống ai mà cũng không có ai giống ông. Thơ ông như phiêu bồng trong cõi hư vô, như huyền ảo và mộng mị như người mộng du. Ông có một lối thơ bình di nhưng sâu sắc, chân thật nhưng rất lung linh. Lối thơ nầy người ta cho rằng thơ điên, thế nhưng ngẫm nghĩ đôi khi ta phải giật mình vì nó cao siêu và thanh thoát:

 

Em vui vô tận thiên thần

Anh buồn vô lượng bất thần trở cơn

 

Ông là một hiện tượng lớn của thời thập niên 60 của thế kỷ trước, cùng với Trinh Công Sơn và Phạm công Thiện. Nhưng ông khác với hai người kia ở chổ là khi còn sống cũng như khị ông chết tất cả các huyền thoại, các giai thoại bao quanh ông nhiều vô kể. Có cái hư có cái thật, cái nào cũng có sự thêm thắt, biến câu chuyện trở nên duyên dáng, mặn mòi. Cho nên xung quanh cuộc đời ông, sự nghiệp ông còn rất nhiều chuyện thật giả lẫn lộn, đánh vào sự tò mò của độc giả (theo Hiền Nguyễn) vì thế chuyện về ông chưa thể chấm dứt. Tất cả đều mang một chủ đích ca tụng sự thông minh, bốp chát lanh lẹ, ứng biến nhanh chóng mà chỉ có người tài trí mới hành xử một cách ngoạn mục như vậy. Nói tới Bùi Giáng bao giờ cũng đề cập tới những giai thoại chính người kể tận mắt nghe thấy hay được nghe người ta kể lại. Trước tiên là  vui, sau đó là khâm phục và cuối cùng là cười xòa. Lợi dụng cái “điên” của ông mà người ta nghĩ ra đủ thứ về ông. Chung quy cũng chỉ “vui thôi mà” như lời của ông thường nói. Với ông cuộc đời chẳng có chi là quan trọng cho nên lấy cái vui giải quyết mọi vấn đề.

 

Bùi Giáng là nhà thơ của các nhà thơ. Ông mang một tâm trạng khác thường nửa điên nửa tỉnh. Ông rong chơi cùng khắp bằng đôi chân trần, mang vóc dáng điên khùng nhưng có một trái tim bao dung, có một trí óc thông minh. Ông cũng mang một tâm hồn lãng mạn, nhân văn sâu sắc (chữ dùng của Khánh Huyền). Những yếu tố nầy đã tạo nên một Bùi Giáng mà người đọc ngưỡng mộ và khâm phục.

 

Nói về ông một câu thì thiếu, nhưng ngàn câu vẫn không đủ. Ca tụng ông những lời hoa mỹ cũng bằng thừa, vì chính con người tài hoa của ông đã khỏa lấp những từ ngữ tầm thường. Ông có một chỗ đứng trang trọng không những trong lòng những người yêu văn chương mà ông còn đứng vững chắc trong lòng dân tộc. Ông mang tầm vóc lớn trong thi ca, trong triết học, trong dịch thuật, để lại một kho tàng chữ nghĩa cho hậu thế. Ông biến ngôn ngữ trở thành một trò chơi trí tuệ, vượt qua lằn ranh hiện đại để tiến tới hậu hiện đại, bằng cái nhìn thông thoáng của một thi nhân.

 

Trong thời gian hạn hẹp của bài nói chuyện không cho phép tôi dài dòng thêm về ông và tôi cũng cảm thấy vừa đủ khi giới thiệu về ông. Trước khi dứt lời xin mượn câu thơ của ông “chào nguyên xuân”:

 

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

 

Trân trọng kính chào

 

 

 

http://www.phanxuansinhusa.com

 

 

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

MÓN NỢ KHÔNG TRẢ ĐƯỢC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 9, 2014

Món Nợ Không Trả Được

phan xuân sinh

 

Tôi có một người bạn tên Thanh, quê ở Đại Lộc Quảng Nam. Mỗi lần nó xuống Đà Nẵng chơi, nó thường dẫn tôi đi uống cà phê hay đi ăn. Học sinh nghèo ít có dịp đi nhà hàng, nên mỗi lần trên quê xuống chơi bao giờ nó cũng lận lưng một ít tiền để đi chơi với tôi. Một lần nó xuống với một thằng bạn cùng quê tên là Bảo, ăn ở nhà tôi hai ba ngày rồi về lại Đại Lộc. Thỉnh thoảng Bảo ghé nhà tôi chơi mặc dù không có Thanh. Tôi xem Bảo như một người bạn, có khi ngủ lại nhà tôi. Bảo tính tình cũng dễ thương, đời sống của nó không được thoải mái như Thanh nghĩa là ít khi nào có tiền trong túi. Tôi thường dẫn Bảo đi uống cà phê, dù sao tôi cũng chạy chọt được tiền để đãi bạn nghèo. Tôi xem Bảo như Thanh, một người bạn quý của tôi.

Một buổi chiều sau khi đi học về, tôi thấy thằng Bảo đứng ngoài ngõ chờ tôi. Bảo nói với tôi là tối nay nó đi ăn đám cưới ở nhà một người bà con, nhưng không có một bộ áo quần nên hình nên nó tới nhà mượn tôi một bộ đồ. Tôi không ngần ngại lấy cho nó mượn bô quần áo mới may hôm tết. Khi nó thay đồ xong đi ra, tôi nhìn thấy dưới chân nó mang đôi dép Nhật mòn lỉn, tôi cởi đôi giầy đang mang đưa cho nó luôn. Nó bảo ngày mai sẽ mang tới trả cho tôi để tôi đi học. Tôi cũng nói cho nó biết là tôi chỉ có hai bộ áo quần thay đổi và chỉ có một đôi giày nên cố gắng trả cho tôi sớm. Nó gật đầu rồi ra đi có vẻ thích thú với bộ đồ vừa vặn. Ngày mai chủ nhật ở nhà tôi chờ mãi vẫn không thấy thằng Bảo tới. Tôi đem bộ đồ của nó để lại ra xem, bộ đồ sờn rách, áo trắng đã ngả màu cháo lòng, dơ dáy hôi hám. Tôi đem đi giặt để khi nó trả đồ cho tôi, nó có một bộ đồ sạch sẻ. Tôi chờ mãi hết ngày nầy qua ngày khác vẫn không thấy nó đến trả đồ cho tôi. Tôi chỉ còn “nhứt y, nhứt quởn”  nên phải chia lịch trình thứ hai, thứ ba mặc xong thứ tư giặt đồ. Thứ năm, thứ sáu mặc xong là thứ bảy giặc đồ. Khổ nhất là đôi giày tiền đâu để mua đôi giày mới? Lúc đó học sinh trung học đệ nhị cấp phải mang giày chứ không được mang dép. Tôi đành phải cạy tủ của cậu tôi để mượn đôi giày. Chân của cậu tôi lớn nên khi tôi mang đôi giày rộng rinh, phài lấy dẻ rách độn phía trước mủi dày mới khỏi bị sút ra. Tuy thế vẫn thấy đôi dày quá khổ trông thật tức cười. Xin nói rõ cậu tôi đi lính đóng ở Quảng Ngãi thỉnh thoảng mới về phép. Mỗi lần mở tủ nhìn thấy bộ áo quần của thằng Bảo, tôi tức điên người, không ngờ mình có một thằng bạn đốn mạt như vậy. Một bộ áo quần với người khác có mất cũng không quan trọng, còn đối với tôi một thằng học trò nghèo, sắm được một bộ quần áo không phải là chuyện dễ dàng. Vì thế nên tôi cứ ấm ức mãi chuyện nầy một thời gian dài. Sau nầy tôi cũng ngôi ngoai và nghĩ lại mất một bộ quần áo không đáng tiếc, mất đi một người bạn đáng tiếc hơn. Dù sao sau nầy Bảo không mặt mũi nào gặp lại tôi.

Thanh thỉnh thoảng ra thăm tôi, trong khi ngồi uống cà phê tôi có hỏi thăm  về Bảo, Thanh cho biết Bảo đi Sài Gòn làm ăn để giúp mẹ vì gia đình nghèo. Nghe chuyện nầy thực tình tôi xúc động và cảm thấy thương nó. Cực chẳng đả nó mới làm một việc như vậy. Mấy lần thằng Thanh ra Đà Nẵng đi chơi với tôi, tôi không hề kể chuyện thằng Bảo mượn áo quần của tôi rồi đi luôn, nên Thanh hoàn toàn không biết chuyện nầy.

Chuyện của thằng Bảo xem như quên lảng, khuôn mặt của nó lâu quá tôi cũng không còn nhớ. Rồi cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt. Tụi tôi lần lược vào lính, mỗi thằng mỗi ngã ít có dịp gặp lại. Thanh ra trường về tiểu khu Quảng Tín, tôi về Trung Đoàn 51 Biệt Lập đóng quân ở Cẩm Hà, Quảng Nam với chức vụ trung đội trưởng trung đội viễn thám. Một buổi trưa nọ không đi hành quân tôi thiêu thiêu ngủ thì người thư ký của đại đội đến phòng tôi gỏ cửa và bảo với tôi rằng có ba người lính mới tăng cường bổ xung cho trung đội của tôi. Tôi ra mở cửa bất thần tôi nhìn thấy Bảo, một trong ba nười lính mới. Bảo cũng kinh ngạc khi nhìn thấy tôi, tôi chắc trong lòng Bảo lo lắng, Bảo cúi mặt không dám nhìn thẳng vào tôi. Tôi mời tất cả vào phòng, tôi nói với Bảo là đi đâu mà bao nhiêu năm biệt tích không gặp lại bạn. Bảo cho biết sau bữa đám cưới người bà con là hắn đi Sài Gòn làm ăn được vài năm thì bị bắt lính. Nó ở nhiều đơn vị, đào ngũ nhiều lần, cuối cùng trốn về quê ở Đại Lộc làm ruộng bị Nghĩa Quân xã bắt vì tội đào ngũ, đưa làm lao công đào binh sau vài tháng được cho trở về đơn vị,  Trung Đoàn 51 nhận. Tôi bảo nó thôi ở đây chứ đừng đi đâu nữa, nó hứa với tôi là nó không đào ngũ.

Chừng vài tháng sau nó nhận được thư nhà là mẹ nó đau nặng, nó nhờ tôi xin giùm cho nó về phép. Hình như những lao công đào binh khi trở lại lính chính quy, sau một năm mới được đi phép, tôi nhớ mang máng như vậy, nhưng tôi cũng xin cho nó với đại đội trưởng khi chúng tôi ngồi ăn cơm. Ông bảo với tôi trường hợp thằng Bảo khó cho nó đi vì nó đã năm lần bảy lược đào ngũ. Nói vậy, nhưng sáng hôm sau ông gọi nó lên trình diện rồi cho nó năm ngày phép. Hết năm ngày không thấy nó vào, hai mươi mốt ngày sau đơn vị báo cáo đào ngũ. Khi ngồi ăn cơm ông Đại Đội Trưởng nói với tôi: “Ông thấy không, mấy thằng lính nguyên là lao công đào binh không thể tin chúng nó được, hở ra là trốn ngay chứ đừng nói chi là đi phép. Mình giúp cho nó phương tiện đào ngũ dễ dàng. Từ nay đừng mắc phải sai lầm nầy.”  Tôi nghe ông nói cảm thấy mình có lỗi quá, từ nay về sau không xin cho ai nữa. Ai muốn đi phép lện thẳng Đại Đội Trưởng mà xin. Ông không quở trách tôi một tiếng, không nói nặng nhẹ với tôi, nhưng tôi cảm thấy đau điếng. Như vậy thằng Bảo đã hai lần sai với tôi. Lần nầy tôi cũng đoán nhận ra được là Bảo đã gặp một điều gì bất trắc, không thể giải quyết được nên đành phải đào ngũ.

Ba tháng sau tôi nhận thư của nó gửi. Trong thư nó cho biết là nó xin lỗi vì thất hứa với tôi. Nhưng không ở lại đơn vị vì mỗi sáng trông thấy tôi, nó cảm thấy xấu hổ. Xấu hổ thứ nhất là mượn áo quần của tôi khi còn đi học mà không trả, thứ hai là người bạn thành người chỉ huy của mình. Một cuộc gặp gỡ oái ăm mà nó không bao giờ muốn, thế mà trời xuôi đất khiến lại gặp nhau chỗ nầy. Nó cảm thấy cay nghiệt và nhục nhã.  Mấy tháng trong đơn vị nó lẩn tránh tôi, trường hợp bất khả kháng nó mới gặp. Nó phải làm cái gì đó để trả lại những món nợ cho tôi, những ưu ái mà tôi đã dành cho nó. Trong thư nó kể dài dòng về cuộc sống nghèo khổ của nó, người mẹ tảo tần không nuôi nổi con, cha đi tập kết bỏ hai mẹ con ở lại. Lời phân bua cho tôi biết hoàn cảnh của nó như vậy nên đưa đẩy nó làm càng. Chứ nó không phải là người đốn mạt như vậy. Nó xin tôi tha lỗi. Đọc thư nó tôi rất xúc động, nhưng mọi chuyện xem như đã an bài. Nó thề, có ngày sẽ gặp lại tôi trong một thế thượng phong chứ không như bây giờ, nói viết trong thư mà tôi có cảm tưởng như nó nhìn thẳng vào mặt tôi nhìn, chứ không như bây giờ phải cúi xuông và luôn luôn lẫn tránh. Tôi tự hỏi tại sao nó phải hành hạ nó như vậy? Trong lúc tôi hoàn toàn không ghi điều sai trái của nó trước đây trong lòng.

Có lần Thanh về phép gặp tôi ngoài phố, hai đứa đưa nhau vào cà phê. Tôi hỏi Thanh có gặp Bảo không? Thanh nói nhỏ với tôi là nó đi theo quân giải phóng rồi. Tôi có nói cho Thanh biết là Bảo trước đây ở đơn vị của tôi, ngoài ra tôi không nói gì cho Thanh biết về chuyện mà Bảo đã lấy của tôi một bộ áo quần khi còn đi học. Tất cả mọi chuyện trôi vào quên lảng. Nghe tin nó đi theo quân giải phóng, tôi giật mình, chỉ có con đường nầy mới giải quyết những rối rắm trong lòng nó. Tôi hoàn toàn không thể ngờ  rằng sự toan tính của nó sau nầy lại ứng với điều nó mong mỏi. Chuyện của Bảo dần dần quên lãng. Hằng ngày tôi vẫn đi hành quân, vẫn sống thanh thản, mỗi lần đi hành quân trong vùng Đại Lộc, Điện Bàn, Hòa Vang tôi lại nghĩ tới Bảo. Biết đâu ở phe bên kia Bảo đã đụng độ với chúng tôi. Hoặc, mỗi khi có một chiến binh Việt Cộng nào chết, tôi cũng lật lên xem mặt, biết đâu người đó là Bảo. Cứ thế nó trở thành một thói quen với tôi. Cho đến ngày tôi bị thương, nỗi ám ảnh đó mới chấm dứt.

Tôi sinh sống tại Sài Gòn từ cuối năm 74, tôi có một hảng bột giặt tại đường Đinh Bộ Lĩnh, gần ngả ba Hàng Xanh, nơi nầy chỗ ở và cũng là nơi làm việc của chúng tôi, có chừng gần năm mươi công nhân làm việc tại đây. Buổi trưa tất cả thợ thầy đều nghỉ, thì thằng cháu vào phòng gọi tôi, có một người Bộ Đội muốn gặp tôi. Tôi chạy ra thì trông thấy Bảo. Tôi rất ngạc nhiên tự hỏi tại sao Bảo lại biết tôi ở đây? Tôi đưa tay ra bắt và mời Bảo vào văn phòng nơi chúng tôi tiếp khách. Bảo nhìn quanh rồi nói với tôi: “Giải Phóng, những sĩ quan của chế độ Miền Nam ai cũng te tua sất bất, mà bạn, tôi thấy phây phây, sung túc, giỏi thật.” Tôi trả lời một cách thành thật: “Thì cái khó ló cái khôn. Người ta khỏe mạnh thì làm ruộng, đạp xích lô. Còn mình yếu đuối phải tìm cái gì đó nhẹ nhàng để làm, chứ không thì chết đói.” Ủa, sao bạn không khỏe mạnh à?  Tôi cho Bảo biết là khi bạn rời khỏi đơn vị chừng vài tháng sau là tôi bị thương mất bàn chân phải tại Cẩm Hải  trong mùa hè khốc liệt 1972. Bảo nhìn tôi rớm nước mắt rồi nói lời xin lỗi vì không có ai cho Bảo biết điều nầy. Tôi lấy xe Honda chở Bảo tới một cái quán bia hơi gần chợ Bà Chiểu vừa uống vừa nói chuyện.

Bảo kể cho tôi nghe chuyện của Bảo. Bảo kể  khi mượn bộ áo quần của tôi đi đám cươi, trong lòng nghĩ rằng ngày mai giặt giũ sạch sẽ mang trả lại cho bạn. Thế nhưng trong đám cưới gặp một người bà con ở Sài Gòn làm nghề dệt tại Ngã Tư Bảy Hiền. Họ nói với tôi đi với họ, họ cho tiền xe, vào tới Sài Gòn họ bao ăn ở. Đang khi nghèo, đói khát, nghe được tin nầy tôi đi ngay. Ngồi trên xe đò tôi nghĩ tới bạn, chắc giờ nầy bạn trông tôi tới nhà để trả lại bộ áo quần. Tôi biết bạn cũng nghèo, cũng khó khăn chứ có dư giả gì đâu. Thế nhưng dù sao bạn cũng còn một bộ áo quần lành lặn có thể cầm cự năm bảy tháng. Còn tôi bộ đồ đã sờn rách, không có khả năng may cái khác. Lại phải đi Sài Gòn cần một bộ đồ hơn. Vì vậy tôi quyết định lấy bộ đồ của bạn, chấp nhận những điều bạn nguyền rủa, khinh khi tôi.

Tôi hứa với lòng mình khi lãnh được tiền lương tôi sẽ ra tiệm may lại cho bạn hai bộ quần áo, hai đôi giày trả cho bạn, để bạn thay đổi khi đi học. Tôi đã thực hiện lời hứa nhưng không có ai quen về Đà Nẵng để tôi gửi cho bạn. Hai bộ quần áo tôi giữ năm nầy qua năm khác đến khi tôi bị bắt quân dịch. Bộ áo quần nầy đã dày vò tôi suốt năm nầy qua năm nọ, tôi khổ sở với nó. Thấy học sinh mặc đồng phục quần xanh, áo trắng là tôi nghĩ tới bạn, người đã giúp tôi có được áo quần tương đối sạch sẽ để dự đám cưới của đứa em. Trời đã phạt tôi để tôi gặp lại bạn trong hoàn cảnh nghiệt ngã, bạn là cấp chỉ huy của tôi. Bạn không hề nhắc lại bộ quần áo mà chỉ hỏi thăm sưc khỏe trong lần gặp lại đầu tiên, làm cho tôi càng thêm thẹn với lòng. Cử chỉ bao dung của một con người ở thế thượng phong, đã làm cho tôi kính nễ nhân cách cao quý của bạn. Những ngày sống trong đơn vị, tôi biết bạn đã dành cho tôi những đặc ân khó quên, chính điều nầy tôi càng thấy mình hèn hạ đáng khinh. Tôi không thể mang tâm trạng nầy mãi được, nên tôi tìm cách phải rời xa đơn vị càng sớm càng tốt, để bạn khỏi vì tôi mà không công bằng với anh em dưới quyền của bạn.

Về đến nhà tôi thẩn thờ mãi không biết phải làm gì, phải theo con đường nào cho hợp lý. Theo quân Giải Phóng thì tôi không thích mặc dù cha tôi là người của phe bên nầy. Dù sao đi nữa tôi đã sống với chế độ Miền Nam từ nhỏ tới lớn, đã quen với lối sống tự do khó chấp nhận cuộc sống khắc khổ. Còn trở lại đơn vị thì gặp bạn, tôi cảm thấy đau khổ, lương tâm tôi dày vò mãi. Tôi và bạn ai cũng trốn chạy sự thật. Bạn không nhắc lại chuyện cũ vì sợ tôi xấu hổ. Còn tôi không dám nhắc lại vì không đủ can dảm. Chính vì vậy mà hai bên cảm thấy xa nhau. Cuối cùng tôi quyết định theo quân Giải Phóng, con đường nầy đối đầu với bạn. Biết đâu một ngày nào đó phe bên tôi thắng trận, gặp lại bạn tôi không còn mặc cảm thua thiệt. Tôi có thể giúp bạn khi thấy bạn khó khăn, để trả lại món nợ cũ, một món nợ nhỏ nhoi mà trở thành vô giá với tôi. Trời không phụ lòng tôi, tôi là người vui sướng nhất khi quân Giải Phóng thắng trong cuộc chiến nầy. Tôi không còn phải cúi gầm mặt khi gặp lại bạn, tôi có thể dang tay ra gúp bạn, tôi có thể ngồi ngang hàng với bạn để nói chuyện. Khi biết sĩ quan quân đội Miền Nam bị lùa vào trại cải tạo, nếu bạn còn sống chắc chắn bạn không tránh khỏi mẻ lưới rông lớn mà Cộng Sản giăng ra quật ngả anh em.

Năm đầu, tôi phải chờ sự bố trí của thượng cấp, phải ổn định đời sống rồi tôi mới ra Đà Nẵng tìm nhà của bạn để hỏi thăm tin tức về bạn. Tôi gặp được ông già của bạn, tôi tự giới thiệu là bạn hồi nhỏ với bạn, nếu bạn đi học tập ở đâu tôi sẽ tới thăm. Bác cho tôi biết bạn đang sống ở Sài Gòn và cho tôi địa chỉ. Trên đường về Đại Lộc, tôi thắc mắc mà không dám hỏi Bác. Tại sao bạn là sĩ quan mà không đi học tập, bạn trốn học tập à? Vào đây rồi tôi mới hay là bạn bi thương, tôi thở phào nhẹ nhỏm. Nhìn cơ ngơi của bạn, nhìn cuộc sống thoải mái của bạn tôi cảm thấy mừng cho bạn. Nói cho cùng bạn xứng đáng hưởng những ân sủng của thượng đế dành cho. Thú thật, Tôi có mang vào một số tiền nho nhỏ để giúp bạn vì tôi biết các sĩ quan cũ ai cũng chật vật, cũng khó khăn, bạn cũng vậy thôi. Gặp lại bạn mới biết bạn thành công ngoài sức tưởng tượng của tôi. Thôi mừng cho bạn vậy. Món nợ của bạn tôi mang suốt cuộc đời nầy.  Tôi sẽ kể lại cho con tôi biết bài học lớn trong đời tôi. Sống trong nghèo nàn, chấp nhận túng thiếu. Dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ cho được tấm lòng ngay thẳng, chớ l;ường gạt người khác. Đó là sự nhục nhã không bao giờ rữa sạch, lương tâm cắn rứt, người đời khinh bỉ.

Bạn cho tôi được trả tiền bữa rượu nầy, xem như tôi có được cơ hội để mời bạn chén rượu tạ lỗi. Lặn lội từ Đà Nẵng vào đây mong có dịp giúp bạn, thế mà vẫn không làm được. Mong bạn hiểu cho tấm lòng của tôi, dù tôi biết bạn xem chuyện nầy không có gì. Thế nhưng vói tôi là một điều không thể tha thứ được.

Tôi im lặng nhìn và nghe Bảo nói. Nói ra được để nhẹ bớt những u uất trong lòng bao nhiêu năm nay. Tôi thấy tội nghiệp cho Bảo, nhầm lẫn một việc làm mà hối hận suốt cả cuộc đời. Ước gì lúc nầy tôi nghèo rớt mồng tơi để Bảo có dịp giúp tôi thì hay biết mấy, Bảo cảm thấy đã trả lại cho tôi một món nợ. Còn bây giờ Bảo vẫn còn mang tâm trạng một “món nợ không thể trả” dù biết mình có thừa khả năng làm chuyện nầy. Nhìn thấy Bảo trầm tư trước ly bia đầy mà không thể uống cạn, hình như có cái gì đã chặn ngang cổ họng. Để giải tỏa không khí nặng nề bao quanh bữa rượu. Tôi lên tiếng như một cách xoa dịu, một lời an ủi: “Bạn và tôi uống cạn ly bia nầy”. Chúng tôi ngửa cố uống hết. Đặt ly xuống bàn tôi nói với Bảo là mặc cảm của bạn quá lớn. Khi Thanh nói với tôi là bạn đi Sài Gòn tìm việc làm để giúp mẹ, tôi giật mình. Tôi hãnh diện được quen với một người con hiếu thảo như bạn. Nếu lúc đó biết chuyện nầy sớm thì dù bạn có mang tới trả lại bộ đồ cho tôi, tôi cũng không nhận để bạn có một bộ đồ lành lặn khi bước vào nơi làm việc đầu tiên. Bạn bè làm chung khỏi nhìn bạn với con mắt khinh khi, một thắng Quảng Nam vào ăn mặc rách rưới như một tên ăn mày. Dù sao bạn cho tôi góp một bàn tay với bạn. Nếu biết bạn đi xa như vậy thì một bộ áo quần có nghĩa chi để bạn phải bận tâm như vậy. Bạn biết không, khi bạn bước chân vào đơn vị gặp tôi, thật tình tôi vừa kinh ngạc, mà cũng vừa thương xót cho bạn. Sao lại có một cuộc gặp gỡ cay nhiệt như vậy? Cuộc đời nầy sao tàn nhẫn quá phải không? Vì vậy, sau buổi gặp lại, tôi suy nghĩ phải tìm cách giúp bạn. Với sĩ quan tép riêu như tôi thì làm sao giúp được bạn. Tôi biết gia cảnh của bạn một mẹ một con thì thế nào bạn cũng được cứu xét ở một đơn vị không tác chiến. Nhưng trường hợp của bạn trước đây là quân nhân đào ngũ thì phải ráng ở đơn vị một thời gian, thế nào rồi bạn cũng trở vế gần với gia đình. Thế rồi bạn đào ngũ và gia nhập hàng ngũ quân giải phóng, nghĩ lại lá thư bạn gửi cho tôi, không biết điềm lành hay điềm dữ. Rồi kết cuộc quân Bắc Việt thắng trận, tôi thấy ý định của bạn trở thành sự thật, thâm tâm tôi mừng cho bạn. Ngày hôm nay bạn bè ngồi lại với nhau uống ly rượu mừng là gặp lại nhau sau một cuộc chiến tương tàn, kẻ thắng người thua thân tàn ma dại. Còn lại nhau chút tình, đừng xem nhau như kẻ thù. Bạn biết đó, chúng ta chỉ là những con cờ, hãnh diện làm chi với cái thắng thua./

Houston, ngày 6 tháng 4 năm 2014

Phan Xuân Simh

Posted in Truyện ngắn | 1 Comment »

NGƯỜI GÁC CẦU DE LATTRE

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 9, 2014

Người Gác

Cầu  “DE LATTRE”

Truyện của Phan xuân Sinh

Chị Hương quen với dì tôi, những người quen với dì, tôi cũng gọi bằng dì. Nhưng riêng với chị Hương, tôi gọi bằng chị. Chị muốn tôi gọi như vậy. Chị lớn hơn tôi chừng hơn mười tuổi, chị rất đẹp. Nhà chị buôn bán ở chợ Cồn Đà Nẵng. Tôi không thấy cha của chị chỉ biết chị đang sống với người mẹ, cũng không thấy chị có anh chị em. Hồi đó, buổi sáng phải chất hàng trên chiếc xe bò, thuê người kéo phía trước, còn mẹ chị đẩy phía sau. Người đẩy xe có nhiệm vụ khi ra tới chợ phải phụ với mẹ chị bày hàng ra rồi mới đẩy xe không về nhà, chiều kéo xe ra lấy hàng về. Chị Hương lúc đó làm ở sở quế của ông Bửu, nghe nói ông nầy kinh doanh cho cậu Cẩn, em Tổng Thống Diệm.

 

Nghe chị Hương nói chuyện với dì tôi là mẹ chị Hương cần thuê một người đàn ông kéo xe và phụ giúp việc nhà. Dì tôi giới thiệu anh Quờn ở quê mới ra đang tìm việc làm. Mẹ chị Hường đồng ý ngay, thế là anh Quờn trở thành một thành viên trong gia đình chị Hương. Công việc của anh buổi sáng kéo xe hàng ra chợ, bày hàng ra sạp, chờ mẹ chị Hương ra ngồi bán, anh được sai đi lấy hàng, rồi về nhà lo cơm nước cho mẹ con chị. Từ ngày có anh Quờn mẹ con chị đỡ vất vả, mọi chuyện trong gia đình anh Quờn lo tất cả. Chuyện như vậy êm xuôi năm nầy qua năm khác. Cho đến một hôm tôi nghe tin anh Quờn cưới chị Hương. Một cái tin làm tôi sửng sốt vì anh Quờn là người cục mịch, quê mùa. Còn chị Hương là người thật đẹp, vóc dáng tiểu thơ, được nhiều thanh niên bảnh trai theo đuổi. Sao chị lại ưng một người không cân xứng với chị như vậy. Tôi hỏi chuyện nầy với dì của tôi thì bả lắc đầu không trả lời. Tôi thấy chuyện nầy có cái gì đó bí ẩn mà tôi không biết.

 

Rồi chị Hương sinh đứa con gái đầu lòng, anh Quờn săn sóc vợ chu đáo. Anh thêm một nghề mới là nuôi đẻ. Hồi trước, khi sinh nở phải có một người đàn bà lo việc giặt giũ, hơ háp, tắm rửa cho đứa bé sơ sinh. Việc nầy phải thuê một người đàn bà giúp trong vòng một vài tháng đến khi người sinh nở cứng cáp. Anh Quờn làm việc nầy không cần phải thuê ai cả đến khi chị Hương đi làm việc trở lại, ngoài những việc thường ngày trước đây, anh Quờn kiêm luôn nghề nuôi giữ con nít. Cả xóm ai trông thấy cảnh nầy của anh cũng thương cho anh. anh làm việc nhà túi bụi. tối anh phải ngủ dưới bếp. Anh rất sợ chị Hương, mỗi khi anh làm việc gì không đúng ý của chị, chị la mắng anh như một bà chủ, anh run rẩy sợ sệch thật tội nghiệp.

 

Những người bạn trai hay lui tới nhà chị, anh phải bồng con đi chơi đâu đó để chị rảnh rang tiếp chuyện với bạn trai. Tối, anh phải dỗ cho con ngủ với anh ở nhà bếp, để chị ngủ trong phòng một mình khỏi phải bị quấy rầy khi đứa bé thức giấc nửa đêm đòi sữa. Nghe nói, đôi khi chị tiếp bạn trai trong phòng ngủ mà chẳng sợ anh ghen tuôn. Chị xem anh như một bức bình phong để che đậy những việc làm tồi bại của gái đã có chồng. Sau nầy nghe nói là khi còn con gái chị quen với một ông sĩ quan đã có vợ. Khl chị có thai thì người sĩ quan kia chuồn mất. Bà mẹ quýnh quá gọi anh vào nói chuyện rồi gả chị cho anh Quờn. Như vậy đứa con nầy không phải là con của anh. Đám cưới của chị gia đình nhà gái lo hết, anh không tốn một đồng xu. Con người của anh không biết phải diễn tả như thế nào cho đúng. Khù khờ cũng không đến nỗi khù khờ mà tỉnh táo cũng không phải là người tỉnh táo. Anh rất vui vẻ xem chuyện của vợ lăng nhăng với người khác là chuyện bình thường, không dính dấp gì với anh. Khi nào vợ cần ngủ với anh thì gọi anh vào, xem như lâu lâu anh được thưởng công, hoặc đôi khi chị có mang rồi thì gọi anh vào làm tình để anh có cảm tưởng rằng đứa con đó là con của anh. Hàng xóm người ta nói đùa, anh là người thêm chân thêm tay cho đứa bé, còn người khác tạo ra hình tượng.

 

Chị quen với ông làm quản lý cho sở Quế của ông Bửu, ông nầy là xếp của chị, ông trông coi khoản chừng bốn trăm công nhân trong đó có chị.  Khi nào ông nầy tới nhà chơi, anh Quờn phải lo dọn dẹp phòng ngủ cho tươm tất, xịt dầu thơm trong phòng để không còn mùi gì khác lạ. Nửa đêm ông ấy ra về, anh phải dắt xe honda của ông đó ra ngõ rồi mới được vào ngủ, dù khuya mấy anh cũng phải chờ để làm việc đó. Sáng sớm bốn giờ, anh phải thức dậy nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, đẩy hàng ra chợ. Khi mẹ chị Hương ra chợ trông coi, anh mới được trở về. Chị Hương có thêm một đứa con gái chào đời, đứa nầy giống ông quản lý sở Quế như đúc. Nghe nói ông nầy cho chị một số tiền lớn để ếm nhẹm chuyện có con với chị. Mà chị cũng muốn như vậy vì trên thực tế chị là gái có chồng. Có thêm một đứa con thứ nhì, chị không cần phải giữ gìn ý tứ, công khai ăn nằm với người khác một cách ra mặt. Chị nói chuyện với bạn bè của chị là những đứa con mỗi đứa cha chúng nó khác nhau. Có một điều rất lạ là những đứa bé mặt mày mỗi đứa giống y hệt từng người tình ngủ với chị.

 

Người tình cuối cùng của chị là ông mắt lé. Ông nầy là một quan chức thế lực ở thành phố, con gái của ông cặp với ông Thị Trưởng nên ông dựa hơi làm ăn giàu có. Ông cặp với chị có một đứa con gái. Đứa con nầy mắt cũng lé như ông, nhìn đứa bé nầy giống ông y hệch. Thường thường mấy mối tình vụng trộm thì đứa bé hay giống cha. Trường hợp những đứa con chị Hương nói lên điều đó.

 

Khi Tổng Thống Diệm bị lật đổ, đất nước bắt đầu chìm sâu trong chiến tranh, nên những người đàn ông không tránh khỏi con đường vào lính. Anh Quờn trốn quân Dịch được ít lâu, đến hồi không còn cách trốn tránh được nữa, chị nghĩ ngay tới ông bồ cũ sĩ quan có đứa con đầu với chị, chị phải nhờ ông nầy xin cho anh Quờn vào lính đồn trú chung quanh thành phố. Chị  tìm ra được tông tích của ông sĩ quan bồ cũ của chị, ông hiện thời là Đại úy phục vụ tại Quân Trấn.

 

Một ngày đẹp trời chị đến thăm ông. Ông Đại úy nhìn thấy chị hết hồn không biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Ông mời chị ra Câu Lạc Bộ của đơn vị uống nước để tránh khỏi tai mắt những người lính trong phòng của ông. Điều trước tiên chị trách là mười mấy năm ông chưa hề bén mảng đến nhà chị thăm con, bỏ bê mẹ con chị cho trời đất. Một mình chị chống chọi với biết bao nhiêu mũi dùi đâm thọc với cái tội không chồng chửa hoang. Chị kể khổ với ông đủ điều chỉ xin ông mỗi một việc là tìm cách cho ông chồng chị, người đã đưa lưng ra gách chịu cái tai họa do ông gây ra và làm cha cho đứa con của ông. Ông Đại úy nghe nói với một cái giá rẻ mạt như vậy, trong tầm tay của ông có thể lo được. Xin cho một thằng đi nghĩa quân hay địa phương quân tại thành phố nầy thì dễ ợt. Ông hứa với chị Hương sẽ cho anh Quờn đi lính ở địa phương, không phải ra tác chiến.

 

Chừng mười hôm sau, anh Quờn đi trình diện ở đặc khu Quảng Đà và được đưa ra Phú Bài học căn bản quân sự. Hai tuần sau, chị Hương ra Phú Bài thăm anh Quờn. Không biết làm thế nào mà chị lẹo tẹo với ông Đại Đội trưởng khóa sinh, xin cho anh Quờn ở nhà tạp dịch, khỏi phải ra bãi học. Chị thường lấy cớ ra thăm chồng, nhưng quả thật là ra Huế ngủ đò với ông sĩ quan chỉ huy của anh Quờn. Đời lính sau nầy của anh Quờn sướng thân cũng nhờ ở chị. Anh Quờn về kể cho chị nghe sĩ quan nào khó tính, bắt nạt anh thì chị đi gặp ông nầy ngay. Qua một vài lần ông nào cũng được chị cho ăn nằm, nên anh Quờn được đi phép dài dài là vì vậy.

 

Một hôm, anh Quờn nghe mấy thằng lính trong đơn vị nói chuyện về gác cầu, sướng lắm, buổi tối thay phiên nhau gác, ban ngay thì ngủ hoặc về nhà. Anh đem chuyện nầy nói với chị Hương để tìm chỗ chạy chọt. Chị Hương thì không giàu nên không có khả năng mà đút lót tiền bạc, đành phải đem thân mình ra  dụ dỗ mấy cha nội quyền chức. Không biết ai cho chị biết lính tráng trong Đặc Khu đổi nơi nầy qua nơi khác là do Ban Một điều động. Trưởng Ban Một là ông thiếu tá già nhưng có máu ham gái. Nắm được yếu điểm nầy chị sửa soạn thật đẹp, đến gặp ông Thiếu Tá tại văn phòng. Không biết giữa chị và ông thiếu tá đó xẩy ra việc gì tại chỗ làm, ngày hôm sau anh Quờn được sự vụ lệnh đổi đến gát cầu De Lattre.

 

Cầu De Lattre cách trung tâm thành phố Đà Nẵng chừng gần hai cây số. Chiếc cầu sắt duy nhất thuở đó bắt qua sông Hàn, mang tên của ông Đai Tướng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Tên đầy đủ của ông tướng nầy là “Jean De Lattre De Tassigny”. Thời ông Diệm chiếc cầu được đổi tên cho một ông tướng Việt Nam theo đạo Cao Đài là Trịnh Minh Thế, thế nhưng người dân Đà Nẵng gọi tên chiếc cầu nầy theo lối cũ là cầu “Đờ-Lách”. Đến thời đó, chiếc cầu sắt nầy rất cũ kỹ, xe chạy trên cầu rung rinh như răng rụng. Thế nhưng vì chiến tranh không ai nghĩ đến chuyện làm chiếc cầu mới thay thế.

 

Anh Quờn cầm sự-vụ-lệnh đến trình diện người chỉ huy toán gác cầu, không biết ông nầy cấp bậc là gì, chắc thuộc hàng hạ sĩ quan. Thấy thằng lính mới, mặt mày tối om, thân hình cục mịch nên ông không có cảm tình. Ông bắt anh Quờn không được ra ngoài phạm vi cầu ngày cũng như đêm. Thấy tình hình căng quá, anh Quờn nhờ người nhắn cho chị Hương biết để chị tìm cách cầu cứu. Trưa hôm sau chị Hương đến chỗ cầu De Lattre, ở đó có một lô-cốt cho người chỉ huy cầu vừa làm nơi làm việc, vừa làm chỗ ngủ. Chị đi ngay vào lô-cốt, thấy ông chỉ huy đang thiu thiu ngủ trên ghế bố. Thấy chị ông vội vàng ngồi dậy tiếp chị. Chị tự giới thiệu chị là vợ của anh Quờn. Ông nầy trố mắt nhìn chị, không biết chị có đùa không? Một thằng lính ngớ ngẩn mà sao có vợ đẹp thế. Chị đẩy đưa với ông vài câu, xin ông dành cho anh Quờn những đặc ân. Không biết là chị sau nầy có ăn ngủ với ông hay không mà anh Quờn ban ngày ở nhà lo quán xuyến nhà cửa, tối mới vào đơn vị gác cầu. Thỉnh thoảng hàng xóm trông thấy người chỉ huy toán gác cầu “Đờ-Lách” đến thăm chị vào ban đêm, trong lúc đó anh Quờn đang gác cầu.

 

Chị có tất cả là bốn người con gái, con của bốn ông bồ khác nhau. Có lẽ chị cũng cảm thấy mỏi mệt với những mối tình bất chính. có chồng mà chưa cho ông chồng của mình một đứa con nào. Nhìn thấy người chồng lam lũ suốt cả cuộc đời vì mình, chăm sóc mình và các con của chị một cách tận tụy. Chị cảm thấy thương hại cho anh, cảm thấy hối hận bao lâu nay đối xử với anh một cách tàn tệ. Chính vì vậy chị cho phép anh vào phòng ngủ ăn nằm với chị. Lúc nầy chị không còn ông bồ nào khác, lbây giờ tuổi của chị đã vượt qua con số bốn mươi, không còn lực thu hút những người lắm bạc nhiều tiền. Chị tự nguyện sống với chồng con, không còn liếc mắt đưa tình với những người đàn ông khác.

 

Chị Hương nhìn  anh Quờn đang bửa củi ngoài sân, thân hình vạm vỡ khỏe mạnh, nước da sạm nắng trông thấy thật hấp dẫn. Một người chồng như thế nầy mà trước đây chị bỏ bê, chạy theo những hào nhoáng bên ngoài. Chị gọi anh vào, pha cho anh một ly nước trà, lấy khăn lau mồ hôi trên người anh, nắn bóp từng bắp thịt cuồng cuộn trên người. Bất thần chị hôn lên môi anh say đắm. Lần đầu tiên chị mới có cảm giác xao xuyến với chồng. Chị dắt tay anh vào buồng.

 

Chị bắt đầu xa lánh mấy ông bồ chỉ nghĩ tới xác thịt của chị, lợi dụng nhau để sống. Còn anh Quờn thì một lòng một dạ với chị, chân tình với chị. Chị cảm thấy có lỗi nên hối hận. Sau buổi trưa anh đang bửa củi chi gọi anh vào buồng, chị thấy trong ngườiị có những triệu chứng thay đổi đột ngột. Chị biết, chị đã mang thai với anh. Khác với những lần trước, mỗi lần mang thai là lo lắng, sợ sệt. Lần nầy chị cảm thấy vui và sung sướng. Gần mười lăm năm lấy nhau, bây giờ chị mới chính thức cho anh một đứa con, mới biết thế nào là mái ấm gia đình, mới biết cái hạnh phúc sống bên chồng. Chị không còn thấy khuôn mặt tăm tối của chồng mà tự nhiên chị cảm thấy cũng khuôn mặt đó bây giờ rạng rỡ, tươi sáng. Tình yêu nó biến tất cả mọi thứ trở thành đẹp và chị biết nâng niu nó như là một báu vật.

 

Khi chị mang thai được bảy tháng, thì một trận lụt dữ dội đã xẩy ra cho dân Quảng Nam, lụt năm thìn 1964. Người dân Đà Nẵng thì không ảnh hưởng gì tới trận lụt nầy bao nhiêu, chỉ thấy mưa to gió lớn gần một tuần lễ. Bờ sông Hàn tràn ngập, những mái nhà trôi trên sông bị nước cuốn trôi từ vùng quê đổ ra cửa sông Hàn, có người còn bu trên nóc nhà nhưng không ai có thể cứu được. Một trận lụt đã chôn vùi bao nhiêu làng mạc miền quê, giết hại không biết bao nhiêu người dân. Chiều hôm đó, anh Quờn cơm nước xong, choàng chiếc poncho, lên xe đạp chạy ra cầu “Đờ-lách” gác cầu như mọi ngày. Có biết đâu, đây là lần cuối cùng anh giã từ vợ con.

 

Mười hai giờ đêm, anh ra cầu để thay ca gác. Thường thường mỗi ca có ba người, hai người ở hai đầu cầu, một người ở giữa cầu. Đêm đó phiên anh gác giữa cầu. Anh vừa ra giữa cầu, hút chưa hết điếu thuốc thì anh nghe tiếng chuyển động, không kịp chạy thì nhịp cầu anh đang đứng đổ xuống nước, nghe một tiếng “rầm” lớn và hai người lính gác ở hai đầu cầu nghe tiếng anh kêu cứu. Tất cả mọi người đều sững sờ. Dòng nước chảy siết trong đêm đã cuốn thân thể anh trôi ra biển lớn.

 

Ngay đêm đó, người chỉ huy toán gác cầu đạp xe đến nhà chị Hương báo tin, anh Quờn đã bị nước cuốn đi trong đêm. Cả nhà thức dậy khóc lóc thảm thiết. Sáng ngày hôm sau, chị Hương nhờ người đi dọc theo hai bờ sông tìm kiếm xác anh, nhưng không thấy. Chị lập bàn thờ, chị và các con để tang cho anh. Đời anh Quờn đã chấm dứt trong mùa bão lụt năm thìn 1964, trên chiếc cầu De lattre oan nghiệt của Đà Nẵng. Sau nầy, khi cơn lụt chấm dứt, quân đội Mỹ làm một chiếc cầu dã chiến, bắt song song với cầu De Lattre đã sửa lại. Hai chiếc cầu ghi dấu hiện diện của hai quân đội Pháp và Mỹ đã có mặt trên chiến trường Việt Nam.

 

Ngày nay, Đà Nẵng có nhiều cầu bắt qua sông Hàn, hiện đại và mỹ thuật. Thế nhưng với chúng tôi học sinh thuở đó vẫn còn nhớ mãi chiếc cầu De Lattre cũ kỷ, những ngày nghỉ học đoàn học sinh chúng tôi gò lưng trên yên xe đạp vượt qua cầu để đi picnic ở Mỹ Thị, Non Nước hay Mỹ Khê, Tiên Sa, Sơn Chà. Riêng đối với tôi, mỗi lần đạp xe trên cầu, tôi nhớ lại anh Quờn, người lính gác cầu năm xưa đã bỏ mình trong trận lụt năm thìn. Điều an ủi vong linh của anh, là anh còn để lại một đứa con trai nối dõi tông đường./

 

Houston, đầu năm Quý Tỵ (10.2.2013

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

THỨC TĨNH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Một 9, 2014

THỨC TỈNH

truyện của Phan Xuân Sinh

 

Luật vượt biển đến Hồng Kông năm 1982, sau khi cải tạo tại Tiên Lãnh được sáu năm. Chuyến đi của anh suông sẻ chỉ mất hai ngày hai đêm trên biển. Điều trước tiên, anh đánh điện tín về nhà báo tin cho vợ con biết anh đã vượt thoát khỏi Việt Nam an toàn để chị mừng. Anh theo chân những người tị nạn vào phố Hồng Kông xin việc làm, anh được một nhà hàng sắp xếp cho anh rửa chén bát, việc làm cũng không đến nỗi khổ cực, lương tương đối khá. Mỗi ngày người ta cho anh mang về trại thức ăn dư thừa để anh chia cho những người không tìm được việc làm. Ở đây anh cảm thấy thoải mái hơn khi ở quê nhà rất nhiều. Không ai quan tâm hoặc theo dõi kẻ khác, không phạm pháp thì không sợ sệt ai. Trong trại ai cũng thân thiện, tận tâm chỉ vẽ nhau những điều người khác không biết. Mọi người chung quanh thương mến anh vì bản tính hiền lành. Ở Hồng Kông gần 1 năm thì anh được phái đoàn Mỹ nhận cho đi định cư.

Thế nhưng có một điều làm anh thắc mắc mãi, tại sao một ông thầy chùa đã giúp đỡ anh tận tình như vậy? anh chưa hề quen biết ông. Anh nhớ lại cái đêm vượt biên bị Công An phát giác, anh nhảy xuống sông vừa bơi vừa lặn, trước khi tàu Công An kẹp sát. Lên bờ vì trời tối anh không biết đây là nơi nào. Anh lần mò trong bóng tối chừng ba tiếng đồng hồ vẫn không thấy đường cái. Bỗng nhiên anh trông thấy ánh đèn từ xa, anh đi tới, thì ra đây là ngôi chùa nhỏ. Anh vào chùa gặp vị sư còn trẻ, Sư hỏi anh cần gì? anh tình thật thưa rằng anh đang lạc đường và xin được giúp đỡ. Vị Sư đưa anh vào chánh điện rồi đến thưa với thầy trụ trì. Thầy trụ trì chừng trên dưới sáu mươi tuổi, mặc bộ đồ màu lam, nước da ngăm đen, khuôn mặt hiền từ. Khi nhìn thấy anh Thầy có vẻ hơi giật mình. Thầy bảo người Sư trẻ dọn cơm cho anh ăn. Trong lúc nói chuyện để anh an tâm, Thầy cho anh biết sẽ không có ai làm phiền hay quấy rối anh. Anh muốn ở đây bao lâu cũng được. Thầy đích thân dọn phòng cho anh ngủ. Anh tự hỏi giữa lúc khó khăn, gạo châu củi quế, thế mà nhà chùa lại rộng lượng quá vậy.

Sáng dậy, anh bước ra phòng rửa mặt thì đã thấy Thầy ngồi tại bàn ăn đang uống trà. Thầy mời anh cùng uống trà và nói chuyện. Tuyệt đối Thầy không hỏi anh về cuộc sống hiện thời, về gia đình, về nơi ăn chốn ở. Thầy dặn anh có ai hỏi thì bảo anh là bà con ở quê ra thăm thầy. Thầy cũng cho anh biết ngôi chùa nhỏ nghèo nàn nên ăn uống sơ sài, không biết anh có chịu được không? Anh chắp tay cám ơn Thầy và nói “Được Thầy bảo bọc, chuyện ăn uống không thành vấn đề, tất cả đều tốt với tôi. Xin Thầy đừng bận tâm”. Khi còn ở nhà, anh và vợ con bữa đói bữa no, làm gì được như thế nầy.Trong những ngày ở chùa, Thầy ít khi gặp anh, ít nói chuyện với nhau ngoại trừ vào bữa ăn. Không hiểu sao Thầy cố giữ anh lại, mà không cho biết lý do. Chừng  mười ngày sau, khi ăn cơm chiều xong, Thầy bảo anh ngồi lại để Thầy nói chuyện. Chỉ còn lại hai người đối diện nhau, Thầy nói với anh:

“Khi anh bước chân vào chùa nầy, tôi đã biết anh là người trốn thoát Công An lùng bắt vì tội vượt biên. Ở đây tôi đã gặp vài trường hợp giống anh và tôi đã che chở nên họ về nhà an toàn. Như anh biết chùa là nơi mở rộng vòng tay giúp đỡ cho những người sa cơ thất thế, chúng tôi làm hết sức mình trong điều kiện cho phép. Hơn nữa vượt biên theo tôi không phải là cái tội, họ chỉ trốn thoát chế độ không phù hợp với họ, không chống cự, không phản đối, thì không thể bảo họ mang tội. Trường hợp của anh khác với những người kia, khác như thế nào sau nầy anh sẽ rõ. Đêm nay có một chuyến vượt biên uy tín mà tôi tin tưởng, tôi muốn gửi anh đi trong chuyến nầy, mười một giờ sẽ có người tới dẫn anh đi. Tôi đã chuẩn bị sẵn cho anh mọi thứ,  gồm có hai bộ quần áo để anh thay đổi khi tới nơi, và một lượng vàng cho anh tiêu dùng trong thời gian chờ định cư đến nước thứ ba.”

Anh trố mắt nhìn Thầy mà không nói nên lời, anh đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác. Không biết lý do gì mà Thầy tận tình giúp đỡ anh như vậy. Thầy bảo anh về phòng nằm nghỉ, chờ đến giờ có người tới đưa đi. Thầy không cho anh nói một lời nào dù là lời cám ơn. Thầy lên chánh điện tụng kinh. Anh nằm suy nghĩ mãi về sự giúp dỡ nầy của Thầy. Một lượng vàng là một tài sản không nhỏ vào thời điểm đó. Thế mà Thầy lại biếu anh, chưa kể Thầy còn phải đóng tiền cho chủ ghe để được đi, chứ không ai cho đi không. Anh thắc mắc sao lại có một người tốt như vậy. Anh hứa với lòng mình, sau khi an cư lạc nghiệp ở xứ người, anh trở về thăm thầy, anh hỏi thầy lý do tại sao thầy đã giúp đỡ anh. Anh nghĩ sẽ hoàn trả lại số vàng bằng gấp bao nhiêu lần mà Thầy đã chi phí cho anh. Thầy nói chùa đã từng che chở cho những người vượt biên bị bể, đã đưa họ về nhà, đó là một việc làm tốt, một công đức cao cả mà chỉ có Bồ Tát mới hành xử như vậy. Vì biết bao nhiêu hệ lụy sẽ gây rắc rối cho chùa và cho Thầy nếu chính quyền biết được. Ấy vậy mà Thầy chẳng sợ gì. Niềm tin nào đã làm cho Thầy hành động một cách liều lĩnh như thế. Sống giữa một xã hội mà người dân chỉ còn cách trốn ra nước ngoài mới yên thân, thì còn sợ chi chuyện bắt bớ. Tuy nhiên ở trường hợp của Thầy lại khác, Thầy đứng ngoài mọi liên hệ với những người chạy trốn, mà lại dang tay ra đỡ cho họ khỏi bị tù tội. Còn hoàn cảnh của anh được Thầy che chở rồi lại tìm cách đưa đi tiếp. Qua sự việc nầy, Thầy đã tạo cho anh một niềm tin vào cuộc đời, vẫn còn có người đầy lòng nhân ái.

Anh nằm trong phòng không nhắm mắt được. Anh nghe tiếng tụng kinh của thầy ngoài chính điện, giọng thầy trầm bổng uy nghi, gieo vào lòng anh một thức tỉnh và suy tư. Anh chưa bao giờ nghe được những lời kinh có uy quyền, thấm đẫm vào lòng anh một cách sâu xa, xoa dịu những nhọc nhằn căng thẳng mà anh đã từng gánh chịu. Anh suy nghĩ, đây mới chính là nơi Phật hiện diện. Không cần chi chùa phải lớn, phải nguy nga. Chính ngôi chùa nhỏ bé nầy, ở một nơi hẻo lánh mà đã chứa lực đại hùng của Phật, sáng tỏa trong lòng anh sự từ bi mà bây giờ anh mới ngộ ra được. Người anh lâng lâng như đang bước vào một cõi tâm thức, tiếng kinh như thinh lặng, đôi lúc dìu dặt, đôi lúc khoan thai, có phải chăng đang dìu anh ra khơi trong êm ả, một chuyến đi mà anh không còn mang nỗi sợ… Rồi anh thiếp đi lúc nào không hay.

Gần mười một giờ đêm, Thầy vào gọi anh dậy. Thầy trao cho anh cái bọc nylon chứa hai bộ quần áo và một lượng vàng.  Thầy bảo anh cẩn thận cất vàng vào túi quần sau cài nút lại. Trong bọc nylon có một lá thư, Thầy dặn khi lên ghe lớn hãy đọc. Nếu trường hợp bị Công An phát hiện, bằng mọi cách phải hủy lá thư trước. Thầy đứng ngay cửa nhìn anh ra khỏi chùa. Người dẫn đường đưa anh ra ghe nhỏ cách đó chừng nửa giờ. Trên ghe có khoảng mười người, rồi ghe chạy ra sông cái tấp vào ghe lớn đang chờ sẵn. Khi leo lên ghe anh làm rớt bọc nylon xuống sông không vớt lên được. Như vậy lá thư và hai bộ áo quần mất từ đó.

Đúng như lời Thầy nói, chuyến đi rất an toàn, hai ngày sau tới Hồng Kông. Anh đổi lượng vàng ra thành 10 chỉ ,để tiêu dùng trong những ngày sống ở trại tị nạn. Anh tiện tặn vì không biết chờ đợi đến bao lâu mới đi định cư ở nước thứ ba. Anh may mắn được phái đoàn  Mỹ phỏng vấn và cho đi sớm. Một gia đình người Mỹ ở Oakland California làm sponsor cho anh. Lúc đó Oakland chưa có người Việt nhiều, thành phố toàn người Mỹ đen và Mễ. Dần dần những năm sau người Việt tới dịnh cư và những quán café mọc lên ở đường E.14. Chính ở đây là nơi truyền những tin tức từ Việt Nam qua, chuyện bàn luận chính trị bắt đầu sôi nổi trên bàn café của những chính khách không tên tuổi. Đúng, sai không ai cần biết, có cãi vả với nhau khi bất đồng, nhưng tất cả đều bỏ lại bàn, không ai mang trong lòng.  Đó là niềm vui duy nhất của mỗi cuối tuần cho những người Việt tha hương sinh sống trong thành phố. Anh share phòng với một gia đình Việt Nam, ăn uống anh tự túc nấu lấy, nên tiết kiệm thêm một ít tiền. Anh viết thư bảo vợ thỉnh thoảng qua chùa Mân Thái cúng Phật và thăm Thầy Trụ Trì. Anh cho chị biết, Thầy là ân nhân của anh và gia đình, chị phải thay anh thăm viếng Thầy thường xuyên.

Sau khi có quốc tịch Hoa Kỳ, anh làm hồ sơ bảo lãnh vợ con. Anh thu xếp một chuyến về Việt Nam, để  trước hết thăm Thầy, sau đó hỏi về lý do Thầy đã tận tình giúp anh. Một thắc mắc cứ canh cánh trong lòng khiến anh trăn trở mãi. Thầy thường che chở cho những người vượt biên, nhưng Thầy chưa bao giờ nói là đã giúp ai phương tiện và vật chất để họ tiếp tục đi như anh. Thăm viếng gia đình, bà con hang xóm xong, anh đón xe đi Mân Thái thăm Thầy. Chùa vẫn y nguyên như xưa, như những ngày anh sống dưới sự bảo bọc của Thầy. Anh gặp vị sư trẻ, vị sư nầy nhận ra anh ngay. Thầy nhìn anh, đôi mắt Thầy sáng lên đầy ngạc nhiên và vui mừng. Anh chạy đến ôm Thầy, anh cảm thấy sung sướng, nước mắt ràn rụa. Thầy mời anh ngồi trên chiếc bàn ăn ngày nào. Anh tình thật thưa với Thầy là lúc hối hả leo lên tàu lớn trong đêm tối, anh đánh rơi bọc nylon có lá thư và hai bộ áo quần Thầy cho, nên đến bây giờ anh vẫn không biết trong thư Thầy viết gì. Thầy cười hiền hòa và nói trong thư căn dặn anh phải giữ gìn sức khỏe, luôn luôn nghĩ tới vợ con, chứ không có gì quan trong. Thế nhưng anh không nghĩ như vậy, có một điều gì bí mật mà Thầy chưa tiện nói ra.

Anh ở lại chùa vài ngày để trò chuyện với Thầy, luôn tiện anh xin Thầy cho anh quy y. Thầy đồng ý. Thế là mỗi đêm, khi Thầy tụng kinh anh cũng chắp tay ngồi phía sau, vừa nghe câu kinh Thầy tụng vừa thấy lòng mình lắng xuống, như ngộ ra được một cái gì đó rất tâm linh mà không thể nào diễn tả được. Mỗi lần tụng xong câu kinh Thầy gõ một tiếng chuông, rồi cúi xuống lạy. Tiếng chuông ngân vang trong đầu anh, như dẫn dắt anh bước vào sâu thẳm của cõi siêu hình. Dạy cho ta những đạo đức để giữ mình, để sống với tha nhân. Anh cảm thấy những ngày ở chùa tuy ngắn ngủi nhưng anh đã học được nhiều điều quý giá. Một buổi tối sau khi ăn cơm xong, Thầy và anh ngồi uống trà nói chuyện. Thầy nhìn thẳng vào mắt anh, rồi từ từ nói:

“Chắc anh thắc mắc trong lòng bấy lâu nay, là tại sao tôi tận tình giúp anh, tiếp tay làm tròn ước nguyện mong muốn của anh là vượt thoát ra khỏi đất nước. Chẳng qua đó là cái ơn mà tôi phải trả cho anh trong thời kỳ chinh chiến. Có lần anh đã giúp tôi mà anh tuyệt nhiên không hay biết. Bây giờ tôi xin kể đầu dây mối nhợ của câu chuyện. Anh không còn nhớ, nhưng với tôi chuyện gặp anh lúc đó tôi không bao giờ quên được. Trước khi nhắc lại chuyện cũ, Tôi xin nói về tôi. Tôi có vợ và hai con, hồi đó gia đình chúng tôi sống trong vùng mất an ninh. Tôi hoạt động cách mạng và làm đến chức Huyện Ủy Viên. Vợ con tôi chết trên chuyến đò tiếp tế bị máy bay phát hiện, từ đó tôi là người không có gia đình. Tôi được cấp trên giao cho nhiệm vụ hoạt động trong vùng Hòa Vang và Điện Bàn. Để dễ dàng đi lại, tôi giả làm một nhà sư mặc áo nâu sòng, trên vai luôn luôn mang cái bị chuông mõ, nhưng thực tế trong đó chứa những tài liệu hoạt động và một khẩu súng ngắn. Tôi tránh đi lại ban ngày vì sợ dễ bị phát giác. Thường di chuyển vào lúc mặt trời sụp tối và du kích địa phương báo trước cho tôi biết đoạn đường nào an toàn để đi. Buổi chiều tôi nhận được lệnh là sáng hôm sau tôi có một cuộc họp với thượng cấp tại xã Thanh Trường, huyện Điện Bàn. Tôi và hai cận vệ yên tâm ra đi, người cận vệ đi đầu bi đau bụng nên ngồi lại đi cầu, như vậy tôi trở thành người đi đầu. Đi được một đoạn thì tôi bị một toán lính Quốc Gia phát hiện, người đi phía sau tôi núp vào bụi cây nên thoát được. Tôi được dẫn vào trình diện ông trung úy đại đội trưởng, người chỉ huy cuộc hành quân đó. Tôi nghĩ trong bụng, tôi không thể nào thoát được lần nầy, thế nào họ cũng xét người và chiếc bị mang trên vai, đầy tài liệu và cây súng ngắn trong đó.. Dưới ánh đèn nho nhỏ, ông trung úy ngước lên nhìn tôi với khuôn mặt hiền từ, hỏi tôi một câu cho lấy lệ: “Thầy đi đâu trong đêm tối? Thầy có biết vùng nầy nguy hiểm lắm không?”  Tôi thưa với ông rằng: “Xóm trên có người mới mất, tôi đến tụng kinh rồi ra vế. Không ngờ trời sụp tối mau vậy.” Người lính đứng gần hỏi ông trung úy có cần xét ông thầy nầy không? Ông trung úy nói khỏi cần, rồi sai người lính trãi poncho cho thầy ngủ lại, sáng mai hãy về, chứ đi trong đêm thế nào cũng bị bắn.Tôi nghĩ lúc đó có  người  khuất mặt che chở cho tôi nên họ không xét người tôi.  Sáng hôm sau thức dậy, ông trung úy đưa cho tôi một ca nước trà, rồi tôi lên đường. Suốt trên đoạn đường đi, tôi suy nghĩ mãi về ông trung úy. Điều gì đã làm cho ông cư xử với tôi như vậy? Ông có biết rằng trong đêm đó tôi có thể giết ông rồi bỏ chạy, giữa đêm khuya tối mịt làm sao bắn trúng tôi? Ai đã khiến tôi, ngăn cản tôi không làm điều đó. Trong chiến tranh không từ nan bất cứ thủ đoạn nào, giết người không một chút cắn rức. Nhưng giữa anh và tôi, hai kẻ thù gặp nhau ở điểm “lòng nhân ái”, không biết nó đã tiềm ẩn trong người tự lúc nào mà khi nó tỉnh dậy lại vào lúc đúng nhất. Từ đêm đó, tôi bắt đầu suy nghĩ về tâm linh, chiếc áo nâu sòng tôi đang mặc, phải có cái duyên tôi mới khoác nó lên người. Trong những năm cuối cùng chiến tranh chiếc áo như đã che chở cho tôi tránh những lằn tên mũi đạn. Tôi nguyện trong lòng, sau khi cuộc chiến chấm dứt, thế nào tôi cũng tìm gặp anh. Ánh mắt và khuôn mặt anh không làm sao tôi quên được. Anh đã cứu tôi không những tại mặt trận, mà  còn cứu tôi ra khỏi vũng lầy của sự hận thù. Tôi luôn luôn âm thầm cầu nguyện cho anh thoát khỏi mọi tai ương. Cái đêm anh bước vào chùa, khi anh ngước lên nhìn tôi, cũng ánh mắt ấy cách đây hơn mười năm giống hệt nhau. Tôi giật mình, ân nhân năm xưa bây giờ đã đến, tôi có bổn phận phải giúp anh, phải đưa anh thoát khỏi nghịch cảnh mà anh và gia đình gánh chịu. Bây giờ anh đã hiểu rồi chứ? Đây là cơ hội cho tôi trả lại anh món nợ cũ. Điểu làm tôi suy nghĩ mãi là cơ duyên nào đưa anh tới đây? Có phải chăng ơn trên đã dẫn dắt anh. Trong cuộc sống thiên hình vạn trạng, rất hiếm có trường hợp giống nhau. Thế mà chúng ta lại rơi đúng vào sự trùng hợp nầy một cách bất ngờ. “

 

Luật sững sờ nhìn Thầy, một câu chuyện mà anh không hề nghĩ đến, cho đến bây giờ Thầy nhắc. Đúng là trường hợp hi hữu, tất cả đều có sự sắp xếp của ơn trên.  Ký ức anh bắt đầu quay về khoảng không gian mười năm trước đây:

“Hồi đó đơn vị anh hành quân ở khu vực Miếu Bông, sát quốc lộ 1, giũa đường từ Đà Nẵng vào Vĩnh Điện. Gần 6 giờ chiều, anh được lệnh di chuyển vào khu vực xã Hòa Lân gần một con lộ đá từ Non Nước vào Hội An. Chính sự di chuyển nầy đánh lạc hướng du kích địa phương và những liên lạc viên, vì họ không ngờ đơn vị của anh di chuyển ban đêm. Ông Huyện ủy viên tưởng rằng không có lính quốc gia hành quân, nên ông mới đi trên lộ trình nầy. Khi ông bị lính chận lại, ông rất ngạc nhiên tại sao một cuộc hành quân như vậy mà du kích không phát giác được. Chỉ huy đại đội đóng gần cái miểu, anh treo chiếc võng bên ngoài, định nằm nghỉ thì người lính gác dẫn một ông thầy chùa vào trình diện. Anh ngước nhìn thấy ông thầy chùa cũng lớn tuổi, con người khắc khổ tôi nghiệp. Anh không nghi ngờ gì cả, bảo ông nghỉ lại đây cho an toàn rồi ngày mai về sớm. Đi trong đêm nguy hiểm vì có thể gặp đon vị quốc gia khác đi kích, lúc đó khó tránh khỏi rắc rối. Đơn giản là như vậy, chứ anh hoàn toàn không có ý nghĩ gì khác, hoặc nghi ngờ ông thầy chùa là Việt Cộng. Sáng hôm sau khi ông thầy chùa đi rồi, thì anh mới tự hỏi tại sao mình không lục xét ông thầy, biết đâu ông là Việt Cộng thì sao? Giữa thời buổi chiến tranh bất cứ ai cũng có thể nghi ngờ.  Nghĩ như vậy, nhưng anh không cho lính chạy theo gọi ông trở lại. Chuyện nầy anh cũng lãng quên, bây giờ Thầy nhắc anh mới nhớ lại.”

Anh nhìn Thầy, nhưng hoàn toàn không còn nhớ khuôn mặt. Càng nghĩ anh càng cảm thấy sự màu nhiệm của đức tin, có thể biến đổi được con người, xoa dịu những vết thương tưởng chừng như không bao giờ xóa đi được. Anh lặng người để tâm hồn lắng xuống, nhìn Thầy như cảm nhận có được một luồng hùng lực tỏa sáng. Khuôn mặt Thầy hiền từ, ăn nói chậm rãi, từ tốn. Anh thấy, Thầy hoàn toàn lột xác. Thường thường chính trị viên nào cũng ăn nói lưu loát, cứng rắn, họ là những người nắm sinh mạng của đơn vị, đẩy những chiến binh dưới quyền mình vào chỗ dầu sôi lửa bỏng. Bây giờ lời Thầy có một hấp lực mang đến sự an lành cho mọi người. Ôi, tất cả đều nằm trong nghiệp số.

-Thưa Thầy, thế thì lúc nào Thầy mới chính thức bước vào đường tu hành?

Thầy nhìn anh cười. Bây giờ anh mới để ý nụ cười của Thầy hiền lành, đúng là một bậc chân tu:

  -Sau 30 tháng 4 năm 1975, khi quân cách mạng hoàn toàn chiếm Miền Nam, cũng vào ngày đó tôi chính thức đi tu. Những bạn bè cũ cùng chiến đấu với tôi rất ngạc nhiên. Lúc được hưởng những sung sướng nhất, giàu sang nhất, tôi lại chọn lấy con đường cực khổ nhất. Tôi trả lại tất cả những chức vụ, đảng viên, những quyền hành v.v.. chỉ xin một điều, hãy để cho tôi yên, đừng quấy phá làm phiền tôi. Những ai đến thăm chùa, những ai ngụ trong chùa xin các người đừng gây rắc rối cho họ. Những ngày tôi theo cách mạng, hy sinh cả vợ con, sự cống hiến của tôi đã đủ. Bây giờ cho tôi yên phận trong tuổi già.  Tôi nghĩ chỉ có con đường nầy mới giải thoát được tôi, vợ con tôi dưới suối vàng cũng mĩm cười. Lúc đầu họ không chịu, nhưng tôi quyết liệt quá, họ đành phải chìu ý tôi. Họ bảo tôi lãnh đạo Phật Giáo tỉnh, tôi từ chối. Tôi muốn làm một người tu hành đúng nghĩa nhất. Không lợi dụng chiếc áo cà-sa nữa, vì tôi đã lợi dụng nó quá nhiều trong thời chiến tranh để che đỡ mình.

 

Lúc đầu khi về chùa tôi thỉnh một bộ kinh và sắm chuông mõ, tôi tự trồng trọt để nuôi thân. Dân địa phương họ biết tôi trước đây hoạt động cho quân Giải Phóng nên họ rất e dè, ít người lui tới. Dần dần người nầy truyền đạt cho người kia về tôi, họ thấy tôi không nguy hiểm mà trái lại rất dễ thương. Từ đó chùa có một sinh khí mới, buổi tối ai rãnh thì đến chùa tụng kinh với tôi. Đạo hữu họ cũng biết chùa che chở cho nhiều người trốn thoát công an, họ cho đó là việc làm đúng. Công An họ tin rằng tôi là một đảng viên, không thể chấp chứa những thành phần phản động. Nhưng họ không ngờ rằng tôi bây giờ đã hoàn toàn lột xác, tất cả đều là anh em, không thù không oán. Chính vì vậy chùa đã bao che cho những người vượt biển trốn tại đây,

-Thưa Thầy, chùa nầy đã có trước đây hay mới làm và người đệ tử theo Thầy từ lúc nào?

  -Chùa nầy trước đây là chùa hoang, nằm trong vùng oanh kích tự do nên không ai dám lui tới. Làng mạc tiêu điều, dân làng ra thành phố tỵ nạn tránh bom đạn, chùa không còn ai hương khói. Chỉ có tượng Phật lành lặn, còn tất cả đều bị đạn bắn phá. Chính điều nầy cũng làm cho tôi bao nhiêu đêm suy nghĩ, tượng Phật không hề hấn gì cũng lạ thật. Những năm cuối cuộc chiến, tôi ngủ dưới bệ tượng Phật, tôi cảm thấy an tâm, hình như có một cái gì đó che chở cho tôi. Tôi nguyện trong lòng, sau khi đất nước hòa bình, tôi sẽ về đây tu bổ lại ngôi chùa và sinh sống. Nếu gặp được phước duyên tôi sẽ đi tu, gia đình vợ con không còn nữa, chẳng còn chỗ nào làm nơi nương tựa. Trong thời chiến tôi lấy nơi đây làm nơi cư ngụ và hoạt động. Sau nầy, như  mong ước, tôi tu bổ dần dần trở thành một ngôi chùa tuy không lớn, nhưng đạo hữu đến cũng khá đông. Tôi dự định sang năm đủ tiền,sẽ xây lại lớn hơn, để những người con Phật có nơi khang trang hành lễ trong những ngày vía lớn. Người Thầy trẻ phụ giúp tôi trong chùa, lúc thầy đến mới 10 tuổi, cha mẹ thất lạc lúc chạy loạn. Thấy tội nghiệp tôi nuôi nấng cho ăn học. Bây giờ thầy đã là kỹ sư công nghệ. Tôi bảo thầy có thể ra đời lấy vợ, vì chuyện ở chùa chỉ là hoàn cảnh bức bách lúc đó. Thầy bảo là con quyết tâm tu hành theo chân sư phụ. Thôi biết đâu cũng là cơ duyên. Tôi không bao giờ sai bảo thầy nhỏ những gì mà tôi có thể làm được, thầy thấy tôi làm việc nầy thì thầy làm việc khác, từ xưa đến giờ trở thành một nề nếp. Cách đây hai năm cha mẹ của thầy trẻ từ nước ngoài về tìm thầy. Khi họ lạc nhau thầy đã 10 tuổi nên thầy dễ dàng nhận ra cha mẹ. Cha mẹ sẽ bảo lãnh cho thầy đi, nhưng thầy vẫn chưa quyết định. Tôi có khuyên thầy nên đi, dù sao tình ruột thịt cũng cần thiết hơn. Tôi nghĩ thế nào thầy trẻ cũng rời khỏi chùa, nên tôi đang tìm một người sau nầy sẽ thay tôi. Cái khó không phải là không có người, mà người thay thế tôi có được lòng bà con, có siêng năng tu luyện, có đủ nghị lực để quán xuyến ngôi chùa không. Và điều quan trọng nhất là đừng để chùa biến thành công cụ phụng sự chính trị.  Nhiều đêm suy nghĩ nhưng chưa tìm được người như vậy. Thật tình thì có lo lắng cũng không được. Thôi thì cứ để mọi chuyện từ từ, người nào có Phật duyên tự nhiên sẽ đến.

 

Bây giờ tôi già rồi, những việc nặng nhọc không làm được, người đệ tử của tôi quán xuyến hết. Hơn nữa đạo hữu cũng khá nhiều, mỗi ngày có vài người đến chùa làm công quả, nên tôi có thì giờ nghỉ ngơi, chỉ lo Phật sự. Tôi tự tu luyện, học trong kinh sách của Phật dạy. Phần nhiều kinh sách viết bằng chữ Hán nên đã gây cho tôi khó khăn lúc ban đầu.

 

Mặc dù Thầy không đi tu từ nhỏ, nhưng quyết tâm cố gắng của Thầy, kiên trì học hỏi của Thầy, đã tạo cho Thầy một con người thông hiểu giáo lý nhà Phật, có một kiến thức rộng. Thầy không có một vị sư đỡ đầu, trong Phật Giáo gọi người nầy là Thầy Bổn Sư, nên khi gặp những rắc rối liên quan đến sự tu luyện, Thầy tìm đến những cao tăng xin chỉ dạy.  Mỗi tháng hai lần, ngày mồng một và ngày rằm Thầy thuyết giảng để đạo hữu hiểu những điều Phật dạy, để sửa mình, để tu thân. Chính quyền tại đây biết rõ vế Thầy nên không ai đến quấy rầy. Vì vậy Thầy yên tâm tu hành. Từ khi chính thức bước vào cửa chùa, Thầy không quan tâm đến sự việc bên ngoài. Tiếng tăm của Thầy dần dần được những phật tử quanh vùng biết đến và từ đó sinh hoạt phật sự trong chùa trở nên nhộn nhịp hơn. Có người đề nghị với Thầy nên trùng tu lại ngôi chùa cho phù hợp với số đạo hữu ngày càng gia tăng. Thầy nhận biết diều nầy, nhưng Thầy không dám kêu gọi đóng góp. Thầy cố tiện tặn để  dành nhưng vẫn chưa đủ tiền thực hiện.

Một buổi sáng trong lúc uống trà, Luật đặt một bọc tiền trên cái khay nhỏ, rồi thưa với Thầy:

-Thưa Thầy, đây là số tiền con dành dụm từ lâu, con hứa khi về quê nhà con sẽ nhờ Thầy dùng nó để làm việc gì mà Thầy cảm thấy cần thiết phải làm. Con không nghĩ là trả lại cái ơn mà Thầy đã giúp, vì ơn nầy to lớn quá con không trả nỗi. Con thấy Chùa hư hại quá nhiều, Thầy cho con góp một tay với Thầy xây dựng lại tốt hơn. Nếu có thiếu hụt trong lúc trùng tu, con sẽ gửi về thêm để Thầy trang trãi.

Thầy nhìn anh, Thầy cảm thấy như anh trả lại món nợ trước đây Thầy đã giúp anh vượt biên, nhưng khi nghe anh trình bày thành thật. Thầy trầm tư, đắn đo có nên nhận của anh hay không? Cuối cùng Thầy quyết định:

-Lòng tốt của anh Thầy ghi nhận.Tuy chùa cũng rất cần, nhưng nhận số tiền nầy của anh Thầy cảm thấy áy náy quá. Thôi thì thay mặt chùa, Thầy cám ơn anh. Thầy sẽ nhờ người vẽ kiểu rồi từ từ thực hiện theo đó. Làm cho đến khi nào hết tiền thì ngưng, có tiền làm tiếp. Ngày xưa các vị sư tổ xây chùa từ đời nầy qua đời khác, không có ai xây chùa chỉ một đời. Lấy kinh nghiệm nầy, Thầy sẽ thực hiện cho đên khi nào Thầy không còn khả năng.

Thầy và Luật bàn nhiều chuyện, trong đó để tiết kiệm tiền bạc, Thầy định làm một lò nung gạch, đào đất trước sân chùa để làm gạch. Cái hố lấy đất sau nầy sẽ trồng sen, trở thành một hồ sen. Thấy những dự tính của Thầy hợp lý, Luật cũng vui thích.

Trở lại Mỹ, mỗi đêm anh ngồi trước bàn thờ tụng kinh. Lúc đầu anh không biết tụng kinh như vậy để làm gì, sau vài tháng anh ngộ ra được một điều cái “quả” mà anh nhận được bây giờ, gia đình yên vui, vợ con sẽ đoàn tụ, công việc trôi chảy, chính nhờ vào cái “nhân” mà anh đã gieo. Anh tụng kinh là nhắc nhở mình phải luôn luôn gìn giữ cái tâm ngay thẳng. Anh không nghĩ đến những chuyện cao siêu, chỉ biết đơn giản là tu thân tích đức. Anh cảm thấy tâm hồn anh thanh thản hơn, bỏ ra ngoài những hệ lụy rắc rối không mang tới niềm vui cho mình, cho mọi người. Câu kinh anh tụng trở nên nhiệm màu.

Vợ con Luật sau vài năm tới Mỹ theo diện đoàn tụ. Anh có hỏi vợ về ngôi chùa ở Mân Thái. Vợ anh cho biết ngôi chùa đã xây xong, không lớn lắm nhưng khang trang. Thầy có làm một tấm đá gắn trên tường khắc tên những người đóng góp xây dựng nên ngôi chùa như một lời tri ân. Nhiều đêm không ngủ được anh lại nghĩ tới ngôi chùa, nghĩ tới Thầy. Ngôi chùa nhỏ nhưng chứa một tấm lòng quá lớn. Đối với gia đình anh đây cũng là thánh địa, đã cứu giúp anh vượt qua những khó khăn. Trong chiến tranh, chỉ một lần ngẫu nhiên gặp gỡ mà người Thầy đã giác ngộ, đã từ bỏ hết những danh vọng, những quyền thế, xóa sạch những hận thù, những dĩ vãng đen tối. Chấp nhận một cuộc sống thanh bần khổ cực. Mấy ai trên đời nầy làm được như Thầy? Công đức của Thầy theo anh, đó là một ngọn thái-sơn mấy ai leo tới. Năm nay Thầy đã bát tuần, như một quyễn kinh đã đọc đến những trang gần cuối. Thầy không có gì phải vướng bận khi ra đi, chắc Thầy cũng đã sẵn sàng khi Phật muốn gọi về. Cuộc đời, mọi vật rồi cũng sẽ trở thành cát bụi, chỉ còn chăng là một tấm lòng. Luật viết thư cho quý đạo hữu hãy báo tin cho anh biết khi Thầy viên tịch, anh sẽ thu xếp về ngay để tiễn đưa Thầy lần cuối./

Houston, ngày 24 tháng 9 năm 2013

Phan Xuân Sinh

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »