Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for Tháng Bảy, 2012

CHIM SÁO KHÔNG CHỊU SANG SÔNG

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 26, 2012

 

CHIM SÁO KHÔNG CHỊU SANG SÔNG

Ai đem con Sáo sang sông
để cho con Sáo sổ lồng bay xa.
Ca Dao.

ta đứng ngó mà lòng rũ rượi
không qua sông Sáo cũng bay xa
ta tiếc một đời em phận bạc
một đời ứng với số tài hoa

chim bay mãi có hồi mỏi cánh
khi dừng chân, lá không còn xanh
dưới chân mình cỏ cây tàn rụi
tóc pha sương mà mộng chửa thành

khi em tới, thấy lòng ấm lại
sao con Sáo không chịu sang sông?
nên tiếng hót đượm mùi oán trách
em  khiến ta chìm lặng trong lòng

đời vẫn trôi theo từng biến loạn
không sang sông, Sáo muốn chờ ai?
nắng sắp tắt phía sau ngọn núi
để từng đêm ôm giấc mộng dài

sao ta không gặp em ngày đó
để bây giờ thèm tiếc sắc hương
có phải em hẹn từ lúc trước
nên chi gặp nhau là lẻ thường

cám ơn bài ca em hát tặng
em về bên đó, lời chúc vui
con Sáo vẫn là con Sáo ấy
để lại trong ta chút ngậm ngùi

Houston, đêm 17/7/2012
Phan Xuân Sinh

Advertisements

Posted in THƠ MỚI | Leave a Comment »

CHIM SÁO TRONG VƯỜN TA

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 18, 2012

CHIM SÁO TRONG VƯỜN TA

bao năm tình đã ngủ say
lửa như đã tắt những ngày chờ mong
bỗng dưng em đánh động lòng
mang chi chim sáo vang trong cõi nầy

tiếng em dìu dặt bên tai
“về đây nghe..” giọng hát đầy trong ta
vườn như trổi dậy nở hoa
lòng như trổi dậy thiết tha với người

em đi bỏ lại  nụ cười
bỏ ta đứng sững bên trời lặng câm
đời như những ngọn sóng ngầm
vỗ bên bờ chút thăng trầm với nhau

ai mang chim sáo đi đâu?
mà nay tiếng hót đượm màu nhớ thương
giọng  em còn chút vấn vương
lặng nghe như khúc đoạn trường năm xưa

nhìn nhau lòng  rũ cơn mưa
tình như đã chết chợt vừa dậy lên
bao năm chờ tiếng hát em
thỏa lòng bay khắp giữa thềm phù hoa

cám ơn em để trong ta
chút hương thoang thoảng lời ca ngọt ngào
tiển  đưa nhau vẫy tay chào
mà nghe lòng chạnh lên cao nỗi buồn

em đi như mạch suối tuôn
chảy tràn qua những ngạnh nguồn nhánh sông
môi em còn thắm vết son?
vẽ giùm ta lại chiếc hôn tạ từ

Houston, ngày 17 tháng 7 năm 2012
Phan Xuân Sinh

Posted in THƠ MỚI | Leave a Comment »

NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 16, 2012

“NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI” CỦA HUỲNH HỮU ỦY..
Bài nhận xét của Phan Xuân Sinh.
Đây là một quyển sách đồ sộ về hình thức cũng như nội dung, nhận đinh về hội họa và điêu khắc từ khi Việt Nam bắt đầu mở trường Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội năm 1924 cho tới nay. Tác giả là Huỳnh Hữu Ủy nhà nghiên cứu hội họa, tên tuổi của ông từ lâu đã gắn liền với hội họa tại Miền Nam trong thời gian đất nước chia cắt. Sau 1975 mặc dù ông không tham gia viết lách nhận định hội họa trên báo chí, nhưng ông đã âm thầm làm việc nầy. Sau khi ra hải ngoại ông tiếp tục con đường của ông đã chọn và ông thanh thản từng bước đi vững chắc, chín chắn nhìn nền hội họa nước nhà một cách sắc bén và theo tôi chỉ có ông mới có thẩm quyền nhận xét về nến Hội Họa Viết Nam vì ròng rã mấy chục năm ông đã nghiên cứu, truy cập, một cách tỉ mỉ. Tôi là một người không biết về hội họa, nhưng khi đọc quyễn sách nậy tôi bắt đầu thấy say mê, hướng dẫn cho tôi cách nhìn về những tác giả mà tài năng của họ lẫy lừng bấy lâu nay,. cũng như những tên tuổi mà tôi chưa từng nghe thấy.

Để mô tả về sinh hoạt hội họa của Sài Gòn sống trong tự do. Huỳnh Hữu Ủy nhận định như sau: “…Những năm giữa thập niên 1950 kéo dài đến đầu 1960, không khí văn học nghệ thuật ở Sài Gòn như hừng hực những ánh lửa kêu đòi đổi mới, khao khát sáng tạo. Làm mới, làm mới, phải bước qua những trang đời đã quá nhạt nhòa cũ kỹ không còn thể nào chịu nổi nữa. Trước vận hội đầy hứa hẹn của đất nước trẻ trung vừa vươn mình đứng dậy, sức sống sáng tạo thực sự bùng nổ. Sài Gòn đã có những tiếng nói rất mới, đầy âm vang  mạnh mẽ và vô cùng thiết tha, ví  dụ là những Duy Thanh, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng , Thái Tuấn, Quách Thoại.”(1)

Trong sự khao khát đó, một số nghệ sĩ từ miền Bắc di cư vào họ mang trong lòng một chút phiêu lưu lại gặp một Miền Nam tự do, phóng khoán, họ hội nhập một cách thoải mái. Tài năng của họ được nở rộ. Họ là những người tiên phong cho nền nghệ thuật nước nhà mang sắc màu đổi mới. Đến giữa thập niên 60 đến 70, theo sau họ là những nghệ sĩ xuất thân từ hai trường Mỹ Thuật Huế và Sài Gòn còn rất trẻ, nô nức và hăm hở hội nhập nhanh chóng vào nền hội họa Việt Nam bắng những bức phá và cải cánh, sắc màu trở nên táo bạo, theo Huỳnh Hữu Ủy: “…phải kể đến những khuôn mặt quy tụ chung quanh nhóm nghệ thuật tiền phong của Sài Gòn là HỘI HỌA SĨ TRẺ VIỆT NAM.”(2)

Từ trong NGHỆ THUẬT  TẠO HÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI, ta mới biết được lịch sử hội họa Việt Nam, những nghệ sĩ tiếng tăm, những bức tranh làm say mê giới thưởng ngoạn một thời. Những họa sĩ như Duy Thanh, Ngọc Dũng, Tạ Tỵ, Duy Liêm, Thái Tuấn, Ngô Viết Thụ là những cây cổ thụ của hội họa Miền Nam, là những người tiên phong trong ngành hôi họa của Miền Nam còn son trẻ. Chúng ta cũng được biết tên tuổi của Nguyễn Gia Trí, Lê Văn Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Nguyễn Anh, Nguyễn Siêu, Trần Văn Thọ, Tú Duyên, Trần Đắc, Lê Văn Bình, Trọng Nội v.v…những họa sĩ tài danh của hội họa Việt Nam của thời kỳ tiền chiến. Đọc “Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại” ta tường lãm thêm được những khuynh hướng, trào lưu của những họa sĩ đeo đuổi trong sinh hoạt hội họa của họ.

Trước đây chúng ta đã nghe nói về HỘI HỌA SĨ TRỂ VIỆT NAM. Vì chúng ta không sinh hoạt trong hội họa, vì chúng ta ít quan tâm đến hội họa, vì chúng ta đến với hội họa chỉ cởi ngựa xem hoa, nên không biết rỏ về “Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam”. Thì đây, Huỳnh Hữu Ủy cho chúng ta biết về lý do, về sự cần thiết, trong một giai đoạn mà những thao thức, những đòi hỏi, mà hội nầy quy tụ một số họa sĩ tài năng để đưa nền hội họa đến tầm cỡ mà mọi người phải quan tâm:“ Đề cập đến nghệ thuật tạo hình Sài Gòn của những năm 60 và 70 trên bối cảnh chung là tất cả nền nghệ thuật có từ trước cùng với lớp họa sĩ đứng tuổi, kỳ cựu, phải nhắc đến những nghệ sĩ, điêu khắc gia quy tụ chung quanh Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, có thể nhìn nhận họ là những đại biểu đặc sắc nhất của giai đoạn lịch sử mỹ thuật của Sài Gòn và miền Nam trước đây. Góp phần xây dựng nền hội họa hiện đại, chúng ta đã đề cập đến Tạ Tỵ, Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng,  và phải kể tiếp theo các tên tuổi như : Cù Nguyễn, Rừng, Nghiêu Đề, Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Mai Chững, Dương văn Hùng, Trịnh Cung, Nguyễn Phước, Hồ Thành Đức, Nguyễn Lâm, Lê Tài Điển, Nguyên Khai, Hồ Hữu Thủ, Nghy Cao Uyên, Nguyễn Đồng. Đây là những nghệ sĩ trẻ say mê với nghệ thuật có tài hoa bẩm sinh, cộng thêm vào đó là nhiều suy nghĩ, tìm kiếm, những nghiên cứu thấu đáo ngôn ngữ tạo hình của thời đại. Sau vài cộng tác với nhau, đã phát biểu có chất lượng trong nghệ thuật tạo hình, họ cũng tự thấy là cần phải làm việc nhiều hơn, đào sâu kỹ thuật và tư tưởng, tiến về phía quảng đại quần chúng, và nhất là phải biết đặt mình trong tình cảnh của đất nước khổ đau và hùng tráng, để tìm một ngôn ngữ riêng của hội họa Việt Nam. Thái độ đó tỏ rõ rằng họ có một lập trường dân tộc tiến bộ nhưng không hẹp hòi mà cùng lúc cũng đặt mình trong tiếng nói tạo hình chung của nhân loại…”(3)

Hoặc  một nhận định hoàn toàn xác thực về “Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam”:

“Hai mươi năm hội họa Miền Nam 1964 – 1975, đó là một chuyển động liền mạch nhưng mang nhiều tính bức phá và bùng nổ, cho nên từ nhóm Sáng Tạo, nền nghệ thuật ấy đã chuyển động mạnh với sự xuất hiện của các  khuôn mặt trong nhóm Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam. Chúng ta có thể khẳng định rằng nền nghệ thuật ấy, tuy chỉ ngắn ngủi trong vòng 20 năm, cũng đã thành hình và trở thành một giai đoạn mỹ thuật khá đặc biệt, rất quan trọng trong lịch sử mỹ thuật chung của toàn bộ đất nước”.(4)

Việc làm của Huỳnh Hữu Ủy trong hội họa cũng tương tự như Võ Phiến trong văn chương, ngồi lượm lặt từng tác phẩm, từng tác giả để tạo dựng lại một sinh hoạt văn hóa của Miền Nam từ 1954 đến 1975. Vì tất cả những gì trong 20 năm đó tại Miền Nam, những người thắng trận phương bắc đã xóa sạch không còn gốc tích. Họ chỉ đưa ra những tác phẩm tuyên truyền trong chiến tranh không có một chút nghệ thuật hay văn hóa, vì tất cả thứ nầy dưới sự chỉ đạo của guồng máy cai trị, phụng sự cho chính trị. Khi đặt văn hóa nghệ thuật của Việt Nam trong 20 năm chiến tranh, thì chỉ có Miền Nam sống trong tự do nên văn hóa nghệ thuật mới đúng nghĩa nhất. Thế nhưng tại Việt Nam hiện nay không thể tìm lại những gì đã mất vì đã bị hủy diệt một cách thô bạo sau khi Sài Gòn thất thủ. Công lao của Huỳnh Hữu Ủy và Võ Phiến hiện nay rất to lớn đối với những người sau nầy đi tìm những chứng tích văn hóa nghệ thuật của Miền Nam trong thời chiến tranh. Hai ông đã tìm được tài liệu gần như đầy đủ và tái xây dựng lại một cách hệ thống để người sau dễ dàng trong việc nghiên cứu.

Hội VAALA nơi bảo trợ in tập sách”Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại” của Huỳnh Hữu Ủy có một tham vọng lớn hơn là sẽ in tập sách nầy bằng Anh ngữ, do Trần Thiện Huy (một thành viên của Ban Biên Tập tạp chí Da Màu) lãnh nhiệm vụ dịch thuật. Để giới thiệu nghệ thuật tạo hình Việt Nam với những người ngoại quốc muốn tìm tòi về hội họa. Vì hiện nay trong các thư viện tại Mỹ người ta chỉ thấy sách về hội họa của Hà Nội, giới thiệu về hội họa của họ rất nghèo nàn, thiếu tính nghệ thuật. Tập sách của Huỳnh Hữu Ủy đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu về hội họa đa dạng của Việt Nam. Và cũng để giới thiệu cho giới trẻ Việt Nam biết về hội họa của nước mình một cách tường tận, biết lịch sử hôi họa từ phôi thai cho đến hiện tại.

Lời phát biểu của Ann Phong trong ngày khai mạc phòng tranh tại Houston 21tháng 8 năm 2010 thì đây là quyển sách cần thiết cho những người muốn tìm hiểu về hội họa Miền Nam từ 1954 đến 1975. Trong các thư viện của Mỹ và trên thế giới khi tìm hiểu hội họa Việt Nam, người ta chỉ đọc những sách xuất bản từ Hà Nội và những bức tranh đượm chất tuyên truyền của miền Bắc. Chúng ta không tìm thấy một quyển sách nào đề cập đến nền hội họa của Miền Nam trước đây. Thực chất hội họa miền Nam mới phô bày được tính nghệ thuật, chất lượng, phóng khoáng, tài hoa của người nghệ sĩ và mới đích thực tiêu biểu cho nền hội họa chung của dân tộc. Công lao của Huỳnh Hữu Ủy tìm tòi nghiên cứu gần một đời người về hội họa, thì hội họa miền Nam chiếm một phần rất lớn trong đó.

Việc làm của Huỳnh Hữu Ủy có một sự hy sinh to lớn cho hội họa, mang lại một giá trị vô biên cho hội họa Việt Nam. Công lao của Huỳnh Hữu Ủy đối với các thế hệ sau thật quý giá và đó cũng là công ơn của ông đối với các họa sĩ quá vãng cũng như đương thời mà sự nghiệp của họ  sẽ bị mai một, quên lãng nếu không kịp thời được Huỳnh Hữu Ủy ghi lại trong sách. Vì cho đến bây giờ vẫn chưa thấy ai làm chuyện đó. Mà nếu có ai đó làm việc nầy thì cũng không đủ tài liệu, không đủ bằng chứng như Huỳnh Hữu Ủy đã tích lũy mấy chục năm nay. Cho nên chúng ta phải nhìn nhận tập “Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại” có một giá trị to lớn, đã ghi lại các khuynh hướng, các trào lưu hội họa Việt Nam đầy đủ nhất từ khi phôi thai cho đến nay. Giúp cho sự nghiên cứu hội họa Việt Nam sau nầy dễ dàng và chính xác.

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN, MỘT NHÂN DÁNG LỚN CỦA SINH HOẠT VĂN NGHỆ SÀI GÒN

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 16, 2012

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN,
MỘT NHÂN DÁNG LỚN CỦA SINH HOẠT VĂN NGHỆ SÀI GÒN
Bài viết của Phan Xuân Sinh

Rất nhiều người nói về ông, viết về ông. Ông là một nghệ sĩ đích thực đã để lại trong lòng người đọc, người nghe một ấn tượng khó quên từ nhiều thập niên trước cho đến bạy giờ. Trong lãnh vực phát thanh tối thứ năm của đài Sài Gòn mọi người chờ nghe Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ông có một lối dẫn nhập rất lạ và rất hấp dẫn lôi cuốn người thưởng ngoạn. Cho đến bây giờ lớp tuổi trên dưới 60 vẫn không quên  lời dẫn vào bài hát như thỏ thẻ với người yêu, nó nhẹ nhàng trầm lắng với giọng đọc rất điêu luyện của chính ông, đã làm say mê biết bao con tim thuở đó. Nội trong lãnh vực nầy ông đã chiếm trọn vẹn người thưởng thức.  Tôi còn nhớ lúc đó ngoài chiến trường với chiếc radio transistor nhỏ bằng bao thuốc, một cái ecouteur gắn vào tai. Chúng tôi có những giây phút chìm vào chương trình nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ông đã mang lại cho chúng tôi những giờ nghỉ ngơi thật tuyệt vời khi đối đầu với chiến trường.
Tôi nhớ lại, khi còn ngồi trên ghế nhà trường vào khoảng giữa thập niên năm 60. Chúng tôi đứa nào cũng thuộc vài câu thơ “Khúc Ca Phạm Thái” của Nguyễn Đình Toàn. Bài thơ lấy nhân vật Phạm Thái và Trương Quỳnh Như trong “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” truyện lịch sử của Khái Hưng:

Ta tráng sĩ hề , lòng không mềm bằng kiếm,
Ta anh hùng hề , sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như .
Chí nhỏ lòng Kiêu, đổ thừa vận rủi,
Tài sơ sức mỏi , trách với thời cơ .
Lòng chua cay uống mãi rượu giang hồ….

Rồi sau nầy khi ở trong quân đội, mỗi lần nhậu say có một thằng bạn chuẩn úy đứng lên đọc bài thơ nầy, giọng đọc mạnh. Bình thường thì nó không thuộc, nhưng khi tới chỉ thì nó sang sảng đọc thuộc bài thơ một cách trôi chảy. Sau khi đọc xong thì nó khóc. Cho nên trong đơn vị anh em ai cũng nhớ vài câu là vì vậy. Sau khi nó mất năm 1971 trong mặt trận ở Đức Dục, Quảng Nam, mỗi lần anh em còn lại ngồi nhậu đều nhớ tới nó và nhớ bài thơ “Khúc Ca Phạm Thái” của Nguyễn Đình Toàn.

Ông là một nhà thơ nên lời của ông viết nhạc nó cũng mang âm hưởng của thơ. Ta hãy đọc qua mấy câu đầu của bài hát “Tình khúc thứ nhất” nhạc của Vũ Thành An, lời của Nguyễn Đình Toàn. Lời nhạc như thơ:

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường

Hay lời trong bản nhạc “Mẹ”, lời nhạc bức phá qua những khuôn phép.. Cách dùng chữ và âm điệu không theo một qui luật  nào cả, như một loại thơ cách tân:

“Chân tay con mẹ cho với sữa mẹ. Trong tim con mẹ san máu xuân thì. Nôi xinh xinh ngày nhỏ bé. Bóng thơm mẹ còn ghi. Như măng non hoa vừa hé. Tóc mẹ thiết tha che. Trong đêm khuya mẹ như ánh trăng rằm. Soi cho… (Mẹ)

Một ca khúc mà khi còn ở trong nước ông làm gửi chui qua được tới Pháp. Ông Võ Văn Ái gửi qua cho chị Khánh Ly ở Mỹ. Bản nhạc  mang tên “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” ký tên là  Hồng Ngọc ( Vì còn ở trong nước nên ông lấy tên nầy để khỏi  bị làm khó dễ). Sau một thời gian ngắn bản nhạc được người ở hải ngoại lẫn trong nước đón nhận một cách  nồng hậu. Sau khi được định cư ở Mỹ bài hát nầy ông  lấy lại cái tên mà chính ông đặt trước đây: “Nước Mắt Cho Sài Gòn”:

“….Sài Gòn ơi! Tôi mất người như người đã mất tôi
như trường xưa mất tuổi thiên thần
hy vọng xa hay mộng ước gần
Đã lìa tan…….”

Ông  là một trong những người làm văn học, mang một làn gió mới từ Bắc vào Nam. Cũng như phần đông các văn nghệ sĩ di cư, ông mang Hà Nôi vào Nam bằng những hồi tưởng, nhớ thương, xúc động v.v…nên người nghe, người đọc của ông có cảm tưởng rằng Hà Nội không còn riêng của các ông mà Hà Nội cũng là của họ. Vì đọc của ông nó đã ăn sâu trong lòng họ. Ông thuộc thế hệ với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Trần Phong Giao v.v…và ê-kíp nầy đã thay đổi bộ mặt văn học Miền Nam thành mới mẻ, tươi tắn. Những bài thơ và truyện của ông đã xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn và đã có một chỗ đứng vững vàng khi ông còn rất trẻ. Tiếng tăm của ông trên các địa hạt Thơ, Văn, Nhạc và sau nầy trên đài phát thanh đã chiếm lĩnh người đọc, người nghe một cách trang trọng, quý mến.

Những tác phẩm của ông trước 1975 gồm có:
1. Chị Em Hải, nhà xuất bản Tự Do, 1962
2. Những Kẻ Đứng Bên Lề, nhà xuất bản Giao Điểm, 1964
3. Con Đường, nhà xuất bản Giao Điểm, 1967
4. Ngày Tháng, nhà xuất bản An Tiêm, 1968
5. Phía Ngoài, nhà xuất bản Hồng Đức, 1969
6. Giờ Ra Chơi, nhà xuất bản Khai Phóng, 1970
7. Đêm Hè, nhà xuất bản Hiện Đại 1970
8. Đêm Lãng Quên, Văn Uyển, 1970
9. Không Một Ai, nhà xuất bản Hiện Đại, 1971
10. Đám Cháy, Văn Uyển 1971
Đã cộng tác với: Văn, Tự Do, Văn Học, v.v.

Ông cũng được một giải thưởng văn học cao quý của Miền Nam trước 1975. Đó chưa kể nhạc phẩm của ông sáng tác.
Khi qua Mỹ một thời gian ông giữ mục văn học nghệ thuật trên đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA). Đây là khoảng thời gian ông đọc những tác giả đang viết tại hải ngoại, nhận định của ông sắc bén,  thêm một chút lãng mạn và được ông đọc trên đài VOA với một giọng đọc truyền cảm của thuở nào, vừa ấm vừa chậm. Lại một lần nữa thu hút thính giả người Việt từ trong nước ra tới hải ngoại.

Trong một lần cách đây chừng 7 năm, tôi được hân hạnh gặp ông tại Dallas trong ngày Văn Hóa do nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp và Hiệp Hội Báo Chí Dallas tổ chức. Buổi tối  ban tổ chức khoản đãi anh chị em văn nghệ sĩ từ xa đến, máy bay của chúng tôi xuống trễ nên không được nghe phần giới thiệu tên tuổi của anh chị em có mặt. Tôi được ngồi trước mặt ông Nguyễn Đình Toàn mà tôi không biết, cho đến khi ông Thanh Hùng người trước đây ngâm bài thơ “Khúc Ca Phạm Thái” trên đài Phát Thanh Sài Gòn đến chào ông, thì tôi mới biết người ngồi trước mặt tôi là một cây cổ thụ văn nghệ của Sài Gòn năm xưa. Sau đó đến phần uống trà và chuyện trò, tôi lần mò tới gần để chào ông. Sau phần nói chuyện xã giao, ông hỏi tôi: “Chắc anh cũng thuộc trong giới viết lách?”. Tôi tình thật thưa với ông là tôi cũng viết lách chút đỉnh, tôi còn giữ hai bài viết của ông đọc trên đài VOA về tôi. Một bài về văn và một bài về thơ. Đó là bài viết mà tôi  rất sung sướng bởi được một người nổi tiếng để mắt tới. Ông để tách trà xuống bàn rồi đứng dậy ôm tôi. Hành động nầy của ông một lần nữa làm tôi xúc động. Tôi một thằng viết lách nhảm nhí, một đứa em út chập chững trên văn đàn mà được một đàn anh, một bậc thầy dành cho một tình cảm như vậy. Từ đó tôi quý mến nhân cách của ông, con người của ông và cũng từ đó chúng tôi thỉnh thoảng liên lạc với nhau. Có dịp đến Nam Cali  tôi đều đến thăm vợ chồng ông.

Nói về ông không hết được, ông có một bề dày đồ sộ trong sinh hoạt văn nghệ trước và sau 75. Trong địa hạt nào ông cũng được người thưởng ngoạn xếp vào một chỗ đứng trang trọng, một nhân dáng lớn của Sài Gòn trước đây và hải ngoại bây giờ. Theo tôi, dù ông có thành công trên lĩnh vực nào thì trước hết ông là một nhà thơ cái đã. Ông mang chất thơ vào các lãnh vực khác, biến tất cả trở thành lãng mạn, êm ả. Nên ông dễ dàng chinh phục người đọc, người nghe một cách tài tình.

Cám ơn ông, cám ơn những cống hiến của ông với cuộc đời nầy.

Houston, ngày 6 tháng 6 năm 2012.
Phan Xuân Sinh

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

QUAN NIỆM VỀ THƠ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 16, 2012

 

QUAN NIỆM VỀ THƠ

Phan Xuân Sinh
trả lời Lê Bảo Hoàng

Câu hỏi thật đơn giản mà cũng thật khó. Khi chưa có ai đặt cho tôi câu hỏi nầy, thì trong đầu tôi “chẳng có quan niệm” gì cả, thơ miễn sao làm cho hay thì được rồi. Thế nhưng cái khó của người làm thơ là làm sao mình biết được thơ mình hay? Một nhận định khách quan thường phải do người đọc nhận xét. Tâm lý chung chung người làm thơ nào dù mới chập chững, cũng đều cho rằng thơ của mình thuộc thiên hạ đệ nhất. Không thể nào dở được, nếu ai chê thì người đó ganh ghét, hoặc lòng dạ hẹp hòi. Chứ mình thì không thể nào chấp nhận thơ mình dở được. Cái mâu thuẩn đáng ghét đó chính là cái nguyên nhân tạo nên những nhà thơ, họ lầm lì sáng tác, chai mặt sáng tác, bất kể búa rìu dư luận. Bài thơ sau hay hơn bài thơ trước, bước đi lúc đầu chập chững, nhưng về sau vững vàng. Họ làm mãi, trau chuốt dần dần, sửa tới sửa lui, câu kéo không còn lòng thòng mà trở thành cô đọng. Ðúng là văn ôn võ luyện. Thơ không thuộc loại tuyệt phẩm, thì ít ra cũng thuộc loại hay. Sự thành công của những người nầy, rất ít trong giới cầm bút. Những người làm thơ hay phần đông họ có năng khiếu. Bài thơ của họ chào đời được đón nhận ngay. Họ được ưu đãi và trọng vọng.

Tôi không thuộc vào hai lớp người trên, không có cái khiếu làm thơ, khi đọc thơ của thiên hạ tôi thấy những điều tôi nghĩ, họ đã nói giùm tôi hết rồi, mà lại nói hay hơn những điều tôi nghĩ. Tôi không nhẫn nhục can đảm ngồi lì để trau chuốt từng chữ, từng ý, như những người không có năng khiếu nhưng biết học hỏi, biết nhận thức. Nên tôi ngại không dám viết. Trong đời sống thường nhật không dễ gì đọc được những bài thơ vừa ý, số nầy ít ỏi quá. Thường thì đọc các bài thơ lẩm cẩm thì nhiều. Buồn tình tôi ngồi làm thơ cho mình tự đọc chơi, dần dần trở thành thói quen. Tôi thì làm thơ “phang” đại, tới đâu thì tới, không giống ai hết. Nói lên cái ý của mình muốn nói. Gửi gấm chút tâm sự, chút lòng mình ao ước. Nên thơ tôi cục mịch, chữ nghĩa rẻ rúng, không chắt lọc, không cao siêu. Thơ của tôi dành cho những người dễ dãi đọc chơi rồi bỏ qua. Còn đối với những người khó tính, thì họ không chấp nhận loại thơ như thế nầy. Loại thơ bình dân, không cân não, không trí tuệ.
Cho nên quan niệm về thơ của tôi cũng thật đơn giản. Thơ phải dễ hiểu, chữ dùng đơn giản, ý thơ đâu đó rõ ràng. Tôi biết thơ mà như vậy thì không “thơ mộng” chút nào. Thế nhưng quen rồi không đổi được, cái quan niệm cổ lỗ sỉ nầy đã trở thành một cái rãnh quá sâu, không sao khỏa lấp được. Kính mong quí độc giả lượng thứ cho.

Ðối với tôi thói quen thì có, còn kinh nghiệm thì không. Bởi lẽ làm thơ đối với tôi như một trò chơi, một trò chơi không cần phải có đối thủ hoặc người đồng hành. Sống ở nước người tìm một người chơi những trò chơi khác với mình thì quá khó, ai cũng bận bịu công chuyên, chưa đến tuổi hưu trí để ngồi tán gẫu cả ngày. Thôi thì chơi thơ vậy. Tôi chỉ còn chập chững, chưa có chút kinh nghiệm nào khi làm thơ, cho nên không tiện đề cập đến cái “kinh nghiệm”. Thói quen thì như thế nầy, không biết có nên gọi là thói quen hay không? Khi công việc bề bộn, thì tự nhiên muốn làm thơ. Mấy người bạn của tôi hay nói đùa rằng ” đó là lý do trốn tránh công việc”. Còn tôi thì cho rằng căn thẳng với công việc, nên “thơ” tự nhiên đến để làm thư giản tinh thần, nếu không có thơ chắc điên mất. Trước đây tôi có một hiệu buôn nhỏ, bên cạnh máy tính tiền tôi đứng, bao giờ tôi cũng đặt sẵn một tờ giấy trắng và một cây bút. Khi khách vừa vắng vắng là tôi làm được vài câu thơ. Thế là tôi đi ngược với anh Luân Hoán, đọc ở đâu đó lâu rồi chị Lý vợ anh thổ lộ cho biết, anh Luân Hoán khi làm thơ nằm trên giường. Còn tôi thì làm thơ phải đứng. Nói cho vui vậy chứ tôi chẳng có thói quen nào hết, lúc ngồi trên xe đậu ở parking chờ vợ đi chợ, chẳng biết làm gì lấy viết làm vài câu thơ để đó. Vài tháng sau vô tình tìm được móc ra làm tiếp. Vài ba tháng có khi không làm được bài thơ nào, nhưng cũng có lúc một tháng làm được vài bài. Tôi lái xe mà miệng lấp nhấp là bà xã tôi biết tôi đang bị thơ hành, bà vội vàng lấy tập vở ghi một vài câu tôi đọc. Nửa đêm ngủ không được, nhè nhẹ ra ngoài phòng khách ngồi làm thơ, nhiều khi chẳng rặng ra được câu nào. Thơ thì làm nhiều, nhưng vài ba ngày đọc lại thấy không giống ai đành xé bỏ, số lượng xé bỏ nhiều hơn gấp bội số lượng giữ lại. Một năm chỉ được vài ba bài trình làng xóm cho vui, cho nên tôi rất phục những người làm thơ nhanh và nhiều. Ngoài chuyện làm thơ, thỉnh thoảng tôi cũng hay viết truyện, tùy bút v.v… Có lẽ viết văn xuôi dễ dàng hơn làm thơ. Thơ đòi hỏi phải có cảm hứng thì mới làm được, còn văn thì không cần điều nầy. Hình thành được cốt truyện trong đầu, thì bất cứ lúc nào đặt bút xuống cũng viết được.
Phan Xuân Sinh

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

BÀI CA THẤT CHÍ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 16, 2012

BÀI CA THẤT CHÍ

trong muôn ngàn cổ lục
không thấy ai còn ghi
thì trách chi  phận bạc
để tình gió cuốn đi

bước chân đời vấp ngả
giữa mờ mịt  điêu linh
trăng còn treo trên giá
vàng vỏ đong đưa tình

như một thanh kiếm rỉ
chống  giữa thềm chợ đời
tráng sĩ đành ôm hận
nhìn theo bóng mây trôi

gió thổi tung đời mạt
chén rượu nghiêng nỗi sầu
kê môi đành nuốt cạn
chớp mắt đời trôi mau

giữa đầy đặc chướng khí
ngửa  mặt nhìn trăng soi
chỉ thấy mờ hư ảo
rượu cay đọng  trên môi

không vỗ gươm mà hát
không lang thang trên đường
ngồi đây bên chén rượu
rủ lòng đau tận xương

đời ta ai hiểu được?
ray rức nát tâm can
tình đi như trốn chạy
người đi như biệt tăm

ngày rời Tổng Y Viện Duy Tân
(10 tháng 7 năm 1972)

Posted in THƠ MỚI | Leave a Comment »