Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for Tháng Hai, 2012

GỬI NGƯỜI YÊU DẤU

Posted by phanxuansinh trên Tháng Hai 24, 2012

gửi người yêu dấu

chiều qua, thấy em ta nhìn sững
nắng hắt, quanh co sáng ngõ về
chờ ai? đôi mắt long lanh thế
dấu mặt tay bưng chiếc nón che

em của người. Sao ta lẫn quẩn
gót chân dẫm nát lòng ta đau
em có chút gì như mời gọi
để ta rạo rực trong bể sầu

đã biết em qua như gió thổi
tình cũng tan nhanh theo khói mây
mà sao ta vẫn chìm dưới đáy
để biết tình tan trong men say

Sài gòn, tháng 7 năm 1975
(những bài thơ tìm lại khi về VN năm 2008)

Advertisements

Posted in THƠ MỚI | Leave a Comment »

NHÀ THƠ THÀNH TÔN, DƯỚI MẮT TÔI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Hai 23, 2012

 

NHÀ THƠ THÀNH TÔN, DƯỚI MẮT TÔI
Bài viết của Phan Xuân Sinh

Một lần Hạ Đình Thao rủ tôi đi thăm anh Thành Tôn ở Đà Nẵng, thế nhưng khi chúng tôi đến thì anh đi vắng nên không gặp. Bây giờ hỏi tôi lúc đó anh Thành Tôn ở đâu tôi cũng không nhớ ra được, vì quá lâu và hơn nữa chưa thấy mặt anh nên không để lại trong trí nhớ của tôi. Khi còn ở trên Boston nghe tin anh Lâm Chương báo cho biết anh Thàn T6n  vừa mới qua Mỹ theo diện HO hơi muộn màng. Tôi nhớ ngay Hạ Đình Thao có lần nói với tôi anh Thành Tôn là người chậm chạp trong mọi vấn đề, đàn hoàn và chín chắn đến độ như một ông thánh.

Tôi không biết anh đã đọc được gì của tôi sau khi qua Mỹ, thế nhưng khi gặp nhau lần đầu ở Cali anh rất quý và thương tôi. Có lẽ theo tôi nghĩ anh biết tôi không vì văn nghệ, mà vì bạn bè văn nghệ của anh có nói với anh về tôi. Điều thứ nhất tôi là dân Quảng Nam cùng một nòi với anh. Điều thứ hai những người bạn văn nghệ của anh phần nhiều họ đều quen biết tôi. Nên khi chúng tôi gặp nhau cảm thấy thân thiết nhau. Tôi đã đọc của anh những bài thơ trên các báo văn nghệ ở Sài Gòn khi tôi còn ngồi trên ghế nhà trường. Thơ anh nó cũng “đàn hoàn” như con người của anh vậy, tôi thích lắm. Văn phong của anh chửng chạc nhưng đượm chất bay bướm, vượt thoát ra khỏi những gò bó, khuôn mẫu. Như người con gái ngám ngầm che dấu những tinh tế và luyến  thoắn một cách kín đáo.

Một lần nhà thơ Thái Tú Hạp tổ chức một buổi ra mắt sách tại Santa Ana gồm các tác giả từ xa: Lân Chương, Hoàng Lộc, Đức Phổ và tôi. Đó là lần tôi gặp anh Thành Tôn đầu tiên và sau nầy khi đến Nam Cali tôi là người làm phiền anh nhiều nhất. Anh biết tôi không có xe nên đi đâu anh cũng đến chở thăm người nầy, thăm người kia và cũng nhờ anh một phần tôi mới có dịp đến thăm các bậc văn nghệ đàn anh. Một lần tôi nghe anh nói với anh Nguyễn Mạnh Trinh là anh photocopy những bài thơ rãi rác của Nguyễn Mạnh Trinh mà anh có dịp đọc qua. Hành động nầy làm cho anh Nguyễn Mạnh Trinh xúc động. Và cũng vì hành động nầy tôi được học của anh cung cách trân quý thi ca và tôn trọng chữ nghĩa. Một hành động mà tôi rất thán phục. Cũng qua anh tôi gặp được chị Trinh vợ anh, một người đàn bà mẫu mực, hiền thục, đảm đan…nghĩa là một người rất hoàn toàn . Bao giờ qua Cali chị cũng đãi tôi một chầu các món Quảng Nam chị tự tay làm lấy. Cái quý mến bạn bè văn nghệ của anh đã đành lại truyền sang chị. Đó là một cặp vợ chồng hoàn hảo nhất đối với anh em.

Tôi nhớ Hạ Đình Thao khi ra trường Thủ Đức được đổi vào Quảng Tín. Tụi tôi gặp nhau uống cà phê trước khi ra đơn vị. Tôi nói với Thao nghe nói anh Thành Tôn làm bí thư cho đại tá Hoàng Đình Thọ Tiểu Khu Trưởng Quảng Tín, Mầy thân với anh Thành Tôn nhờ ảnh nói với ông Thọ một tiếng để ấm thân chút đỉnh. Nó trả lời với tôi là không được đâu, anh Thành Tôn rất ngại những chuyện nầy đừng làm khó ảnh tôi nghiệp. Chính lúc đó tôi mới biết cái tính ngay thẳng của anh Thành Tôn, ngồi một cái nơi dễ dàng tham nhũng, sống giữa một đám tham nhũng có hệ thống mà anh không một chút hệ lụy với nó. Như vậy đủ biết con người của anh như thế nào còn hơn một vị Bồ Tát.

Tôi với Đức Phổ tới Nam Cali thường ngủ ở Little Saigon Inn cho dễ dàng gặp anh em. Buổi sáng thường thường anh Thàn Tôn đến chở tụi tôi đi uống cà phê. Sáng tắm rửa xong, chờ anh Thành Tôn tới cùng đi với anh, chờ mãi không thấy ai gỏ cửa, cửa đóng vì có máy lạnh. Tôi mở cửa dòm thử thì đã thấy anh ngồi trước cửa phòng chờ cả tiếng đồng hồ mà không chịu gỏ cửa. Hỏi anh vì sao không gỏ cửa, anh bảo là để các bạn ngủ mình chờ không sao. Con người của anh sợ làm phiền người khác, còn mình thì thiệt thòi mấy cũng được. Anh quả đúng là người rất dễ thương trên mọi phương diện.

Nói về con người của anh Thành Tôn bao nhiêu lời cũng không đủ, bao nhiêu chữ cũng còn thiếu. Trong một bài thơ dành cho bạn bè, khi nói về  anh Thành Tôn, tôi viết:

“bao năm qua nhìn anh vẫn vậy
một mẫu người chừng mực của thế gian
anh mang tấm lòng hiền như Phật
một đời ta ao ước cũng không màng”.

Tôi không phải là bạn bè của anh. Về tuổi tác cũng như trong sinh hoạt văn nghệ, tôi chỉ là một đứa em còn rất nhiều thói hư tật xấu, thế nhưng anh đối với tôi như bát nước đầy. Sự thân tình của anh dành cho tôi đó là một điều tôi phải luôn luôn ghi nhớ và xem anh như là một tấm gương về nhân cách cũng như ứng xử, để tôi phải tự coi lại mình và lấy đó làm chuẩn mực cho việc xử thế trong cuộc sống./

Houston, 20 tháng 2 năm 2012

Posted in Thời Cuộc | Leave a Comment »

KHI YÊU, THƠ LÊN TIẾNG

Posted by phanxuansinh trên Tháng Hai 19, 2012

KHI YÊU, THƠ LÊN TIẾNG

khi yêu
tôi muốn chọc thủng em
trướn lên cho em nghẹt thở
thế nhưng tôi tìm không thấy chỗ nào
để tôi thực hiện điều đó
trên thân xác em

chọc thủng trái tim em?
đó là cách diểu cợt của mấy cha thi sĩ miệt vườn
muốn làm dáng với mấy cô thôn nữ
muốn rờ vú con gái
mà tay thì xoa trên vú của mình
để tự thấy sung sướng
nghiền ngẩm tưởng tượng
mình đang bay lên chín tầng mây

chọc thủng đôi mắt em
đó là cách của mấy tay phù thủy chữ nghĩa
hô hoán chơi trò ảo thuật
giống như một thứ sơn đông mải vỏ
ngón tay đâm không thủng tờ giấy
mà vẫn cứ lừa dối mình
bằng những bùa phép
để tìm cảm giác
như con vật đến mùa động đực

còn tôi
một loại thất phu thô lổ
yêu ai tôi đè đầu hôn đại
đôi khi lãnh chuổi chà lên đầu
lúc đó thơ mới bắt đầu lên tiếng./

Houston, ngày Valentine 2012

Posted in THƠ MỚI | Leave a Comment »

CHUYỆN KỂ BÊN LY RƯỢU

Posted by phanxuansinh trên Tháng Hai 10, 2012

CHUYỆN KỂ BÊN LY RƯỢU
Phan Xuân Sinh

Uống cà phê với anh Bửu nhiều lần, nhưng chưa lần nào anh kể cho tôi nghe về đời sống của anh. Tôi cứ nghĩ rằng anh sống một cách thanh thản, thì chắc đời sống cũng bình thường như mọi người. Một lần anh rủ tôi tới nhà chơi uống với nhau chén rượu. Chiều ý bạn tôi tới. Việc trước tiên theo thói quen, tôi quan sát tất cả thành viên trong gia đình Bửu. Người vợ cao ráo mặt mày tươi tắn. Tôi thầm nghĩ trong bụng vợ anh khi còn trẻ chắc đẹp lắm. Có bốn  người con còn đi học. Gia đình mới qua Mỹ hơn một năm nên còn thiếu thốn đủ thứ, tuy nhiên họ bằng lòng chấp nhận những gì đang có. Nhìn thấy họ là biết ngay một gia đình hạnh phúc. Tôi rất thán phục con người và phong cách sống của anh.

Trên bàn nhậu để sẵn một dĩa thịt vịt quay còn nóng mới mua về , một dĩa đậu phụng rang, một ổ bánh mì baguette một chai Johnnie Warker Red Labe và hai chai soda Perrier. Vợ anh Bửu và bốn đứa con, hai trai hai gái hôm nay đi chợ ở San Jose. Khi tôi tới cũng là lúc họ chuẩn bị ra xe. Tôi cũng nói rỏ hơn là gia đình tôi và Bửu lúc đó đang sống tại Oakland, California.vào khoản năm 1992. Mỗi sáng thứ bảy anh em cựu quân nhân thường tập trung ở quán cà phê đường E.14.

Uống được vài ly, tôi mở đầu câu chuyện, hỏi Bửu:

–    Anh chị có bốn cháu thôi sao?

Bửu cười cười:

–    Còn kẹt hai cháu lớn ở Việt Nam.

Anh trầm ngâm một hồi rồi nói tiếp:

–    Vợ tôi hiện giờ là người thứ hai. Người vợ trước chúng tôi có hai con gái và chia tay năm 1980. Nghĩa là sau năm năm học tập trở về, tôi và bà đó đành chia tay trong ngậm ngùi, u uất. Lỗi ở tôi một phần và phần nhiều là lỗi của bà đó.

Anh đưa ly cụng với tôi rồi nốc cạn ly của mình. Để ly xuống bàn anh rót thêm cho mình một ly nữa rồi đưa lên uống cạn với một tiếng “khà” rất điệu nghệ. Uống rượu kiểu nầy thì chắc tôi phải thua. Khi vào nhậu anh có nói với tôi là ai uống được bao nhiêu cứ uống, không ép nhau. Tôi yên lòng nên từ từ uống phần của mình. Hình như tôi đã đụng tới vết thương của anh nên khi hỏi tới gia đình anh trầm ngâm vừa muốn kể cho tôi nghe nhưng cũng vừa muốn quên đi chuyện đó. Tôi không muốn làm khó khi anh không muốn đụng tới gia đình. Tôi lái sang chuyện khác hỏi về công ăn việc làm của vợ chồng anh hiện nay. Anh cho biết là anh chị đang đi làm ở hãng điện tử, hai người cùng làm một hãng nên cũng tiện cho việc đi lại. Nhưng có lẽ anh không thích đổi đề tài. Anh muốn tâm sự với tôi những điều ấp ủ trong lòng anh, những điều đã dày vò những tháng năm sau khi chia tay:

–    Anh biết không, tôi lấy vợ năm 1972 đến năm 1975  khi tôi đi học tập thì lúc đó chúng tôi có hai con. Tôi biết những năm tháng nằm trong trại cải tạo vợ tôi bên ngoài chống chọi với cuộc sống rất khó khăn. Tôi không màng vợ tôi thăm nuôi vì tôi nghĩ thân gái yếu đuối với một gánh nặng lo cho hai con còn nhỏ dại đã đuối sức, còn lấy đâu ra để thăm nuôi chồng. Tôi bằng lòng sống với sự thiếu thốn, thèm đủ thứ, đói rát ruột, vẫn mong vợ con bên ngoài khỏe mạnh là mừng rồi. Suốt trong năm năm trường tôi đã gửi về mấy chục lá thư vẫn không có hồi âm thì làm sao có được một lần thăm nuôi của vợ. Tôi nhờ các bạn tù có thăm nuôi nhắn với người nhà họ đến địa chỉ nhà tôi xem thử gia đình tôi ra sao? Tất cả đều cho tôi biết là căn nhà đã bán cho người khác và họ không biết vợ con tôi hiện giờ ở đâu. Trước khi tôi được tha, có một anh bạn tù đến nói với tôi là căn nhà của anh vẫn còn vợ con anh đang sống ở đó, nhưng vợ anh đã có chồng khác. Sỡ dĩ không nói thật chuyện nầy với anh vì sợ anh nghe tin nầy anh sẽ đột quỵ, chi bằng nói láo để anh còn nuôi hy vọng trở về gặp lại vợ con. Nghe tin nầy tôi không đứng vững, tôi biết sẽ gặp muôn vàn khó khăn khi tôi trở về nhà. Nhưng bây giờ biết phải đi đâu?

Nói tới đây mắt anh mờ đục, anh ôm đầu. Anh đưa tay rót thêm ly rượu khác rồi lại uống cạn. Tôi thấy anh uống nhiều nhưng rất tỉnh táo, lời kể chuyện của anh trôi chảy. Rượu vào giúp anh thêm phần can đảm khi đụng tới phần gai góc cuộc đời:

–    Từ lâu tôi ôm chuyện nầy trong lòng không kể cho ai nghe. Đây là lần đầu tiên tôi kể với anh vì tôi thấy anh là người trầm tĩnh, có chiều sâu và được biết thêm anh là người đọc sách, anh sống với chữ nghĩa. Tôi nghĩ anh hiểu thấu đáo được tâm trạng của tôi. Tôi chỉ mong một người hiểu tôi như vậy tôi đã thấy ấm lòng.

Tôi bước vào đầu hẽm, những bà con hàng xóm cũ chạy đến chào hỏi tôi như người thân. Tôi tần ngần bước vào cổng nhà thì vơ tôi chạy ra vì nghe tiếng lao xao hàng xóm hỏi thăm tôi. Vợ tôi chưng hửng nhìn tôi với đôi mắt vừa ngạc nhiên, vừa thất thần. Tôi nhớ mãi đôi mắt vô hồn đó, nó đi theo mãi với tôi suốt trong cuộc đời sau nầy. Đôi mắt mà ngày xưa thật dịu hiền đã làm tôi mê mệt khi gặp nhau lần đầu, rồi yêu nhau lấy nhau. Tôi đã chết vì đôi mắt đó. Còn bây giờ thì tôi cũng chết vì nó, nhưng chết trong sự xua đuổi, trong hất hủi : “Anh về đây làm gì? Anh là người dư thừa. Anh hãy ra đi ngay lập tức vì bây giờ tôi đã có chồng khác. Tôi không muốn có mặt anh ở đây”.

Bà con hàng xóm thấy vợ tôi ức hiếp tôi, họ la ó đẩy tôi vào nhà. Một bà thân hình vạm vỡ, chỉ tay vào mặt vợ tôi: “Nầy, con đàn bà lăng- loàn kia. Mầy và thằng tình nhân của mầy ra khỏi căn nhà nầy chứ không phải là ông Bửu. Mầy không biết xấu hổ với chồng con còn lên giọng kẻ cả, bà đấm vỡ mặt mầy ra bây giờ”. Bà quay qua tôi ra lệnh: “Đây là căn nhà của ông, ông cứ ở đây không đi đâu hết. Không có đứa nào đụng tới ông sợi lông chưn. Bà con hàng xóm chung quanh đây đứng sau lưng ông, con nào hó hé chúng tôi đánh vỡ mặt nó ngay”. Hình như lời hăm dọa của bà, đã làm cho vợ tôi khiếp sợ trốn trong buồng không dám ra..

Hai đứa con gái tôi đi học chưa về, tôi mong gặp lại con tôi sau năm năm. Chắc nó không thể nào nhận ra tôi vì khi tôi vào trại cải tạo chúng nó còn quá nhỏ. Một người đàn ông đẩy xe honda vào nhà, ông gật đầu chào tôi rồi dựng xe xong đi thẳng vào buồng. Đó là người tình nhân của vợ tôi. Ông vào nói chuyện gì đó với vợ tôi chừng mười phút rồi đi ra nói chuyện với tôi. Ông là người Bắc trạc bằng tuổi tôi, hỏi tôi những câu xã giao rồi nói là anh cứ việc ở đây, anh muốn ở hay đi tùy ý. Tôi thấy anh nầy ăn nói rất khéo léo nên tôi trả lời với anh rằng là tôi mới về, chưa tìm ra được chỗ ở nên xin ông bà cho tôi tạm ngủ ở ngoài phòng khách một thời gian ngắn. Chúng tôi chỉ trao đổi vài câu rồi ông ấy trở vào buồng. Tôi ngồi suy nghĩ miên man, muốn ra đi ngay nhưng biết nơi nào chấp chứa mình. Tôi sẽ đi tìm mấy người bạn cũ để xin những ý kiến và sự giúp đở, nhưng trước hết tôi phải gặp hai đứa con trước đã.

Chiều chừng bốn giờ, hai đứa con gái tôi đi học về. Hình như ở đầu ngỏ người ta báo cho chúng nó biết là ba nó mới về. Đi sau nó là mấy đứa trẻ hàng xóm đứng bên ngoài chỉ tôi rồi nói với nó là ba mầy đó vô đi. Tôi nhìn ra hai đứa con gái tôi rụt rè đi chầm chậm về phía tôi. Tôi dang tay ôm hai con vào lòng nước mắt tôi trào ra, mặt mày hai đứa ngơ ngác. Chúng nó còn bé quá làm sao hiểu được sự sung sướng của tôi khi gặp lại hai đứa con, hiểu được vì sao tan rả của gia đình. Vợ tôi rốn rén bước ra cửa phòng nhìn cha con tôi ôm nhau khóc. Tôi ngất mặt lên nhìn thấy mắt nàng cũng rớm lệ. Tôi mới biết rằng tất cả cũng chỉ vì hoàn cảnh, đã lỡ phóng lao không dừng lại được nữa rồi. Tôi mang hai cháu xuống tắm rửa thay áo quần, rồi dẫn chúng ra quán mua mấy cây kẹo, trong số tiền trại cho đi đường chi phí xe cộ. Tài xế xe đò thấy tôi cải tạo được tha nên họ không lấy tiền. Bà chủ quán bán kẹo hiểu hoàn cảnh của tôi bà cũng không lấy tiền kẹo. Tôi thấy mọi người đều tốt với tôi ngoại trừ vợ tôi.

Người hàng xóm mang qua cho tôi một tô cơm lớn với thịt kho mặn, tôi xớt cho hai con cùng ăn chung với nhau. Đêm đó tôi nằm bên ngoài trên một chiếc chiếu manh trải dưới đất, hai con tôi nằm trên chiếc gường tre nhỏ, còn vợ tôi với người tình nhân nằm trong buồng. Nằm gác tay lên trán ngủ không được. Ước gì tôi có cây súng tôi sẽ bắn chết hết cả gia đình rồi tự tử. Làm sao tôi chịu được cái cảnh vợ tôi đang thì thầm với một gả đàn ông khác trong phòng. Tiếng nói của họ làm cho tôi muốn điên lên mà phải cắn răng chịu đựng.. Chờ các con ngủ say, tôi ngồi dậy mở cửa ra ngoài hiên ngồi để khỏi còn nghe thấy tiếng họ thì thầm. Bây giờ tôi mới thấy mình là kẻ thừa thãi trong gia đình nầy, bằng mọi cách phải ra đi càng sớm càng tốt.

Nói tới đây anh lại đưa tay ra rót rượu rồi lại nốc cạn một hơi. “Cuộc đời của tụi mình sao nó đen hơn mõm chó, Mất tuổi thơ, mất tuổi trung niên, tuổi già thì xa quê hương. Gia đình ai cũng gặp nhiều vấn nạn không ít thì nhiều.” Rồi anh lại trầm ngâm kể tiếp câu chuyện dở dang:

Sáng hôm sau khi các cháu chưa ngủ dậy thì tôi đã ra khỏi nhà tìm đến những người bạn cũ vì sợ họ đi làm. Tôi đến nhà Dinh gõ cửa, Dinh nhận ra tôi ngay nhìn tôi từ đầu tới chân rồi vào mở tủ lấy ra một bộ quần áo cũ cho tôi thay, rồi hai đứa mới ngồi nói chuyện. Tôi kể cho Dinh nghe hoàn cảnh gia đình tôi hiện thời. Dinh không ngạc nhiên vì đã trông thấy vợ tôi nhiều lần đi với người đàn ông khác. Cái khó của tôi là phải trình diện công an phường mà theo địa chỉ giấy tờ ra trại đã ghi, nên không thể nào đi nơi khác. mỗi tuần phải trình diện một lần, buổi tối bất kỳ lúc nào họ đến nhà kiểm soát phải có mặt tôi. Dù có chỗ ở khác cũng không thể rời khỏi căn nhà nầy. Mỗi đêm nằm bên ngoài với các con, tôi cứ nghe tiếng rù rì hay đùa giỡn của hai người trong phòng. Tôi cảm thấy đau nhói như ai đó đang tra tấn tôi. Vợ tôi có những hành động khinh khi tôi, cố tình bêu xấu tôi cho tôi tức giận để tôi không chịu được phải ra đi. Tôi biết, nhưng làm sao bây giờ nên phải chịu đựng.

Một người bạn tìm được cho tôi một việc làm thủ kho cho một cơ sở làm đồ nhựa của người Tàu vùng Chợ Lớn. Tôi đến công an phường trình giấy tờ việc làm cho tôi cư ngụ nơi đó. Công An họ cũng hiểu hoàn cảnh của tôi nên chấp nhận ngay. Từ đó tôi như người thoát được địa ngục, không còn chứng kiến cảnh trái tai gai mắt. Thỉnh thoảng tôi đạp xe trở về thăm con, gặp con ở ngoài đường chứ tôi không vào căn nhà đó. Ban ngày tôi lấy mối đồ nhựa đi bỏ ở các sạp hàng trong Chợ Lớn, ban đêm ngủ tại kho đồ nhựa. Cuộc sống tôi dần dần ổn định.

Thỉnh thoảng đến rủ Dinh ra quán của Phượng, người em gái của Dinh uống vài ly bia hơi. Phượng trước đây có chồng là phi công bị tử trận năm 1974, có hai con một trai một gái. Cửa hàng của Phượng buôn bán rất đông khách nhưng lại thiếu người trông coi. Có lần Dinh nói với tôi hay mầy ưng con Phượng để giúp nó một tay, tụi bây rổ rá gặp nhau tau thấy có lý đó. Chính đầu dây mối nhợ nầy tôi mới lấy được bà xã của tôi bây giờ. Sau khi từ trại cải tạo ra, chừng hai năm sau tôi lấy Phượng. Phượng lúc đầu thuê căn nhà mở quán bia hơi, sau nầy có tôi phụ giúp nên mua lại căn nhà đó. Chúng tôi ăn nên làm ra rất nhanh và có thêm hai cháu nữa.

Lúc nầy Bửu đã ngà ngà say, nhưng khi anh kể tới đây tôi thấy đôi mắt anh bỗng dưng sáng lên chứ không còn mờ đục. Anh gật gù đưa tay ra rót rượu cho cả hai. Chai rượu 750 ml đã vơi gần một nữa. Tôi đổi đề tài khác hỏi anh là ngày xưa khi còn chiến tranh chắc anh uống rượu khá lắm phải không? Anh cười ha hả: “Hồi đó còn trẻ, ngày nào không đi hành quân là ngồi vô uống từ sáng tới chiều. Rượu đế bất kể ngon hay dở đều làm láng. Câu Lạc Bộ đơn vị bán rượu ghi sổ, cuối tháng thanh toán chẳng còn đồng nào. Nghĩ lại vui thiệt”. Tôi cũng như anh vậy, dân tác chiến cái chuyện uống rượu xem như một hình thức giải khây. Chỉ có rượu và gái điếm bất kể ngon dở xấu đẹp, miễn sao có để giải quyết, có để làm nguồn vui. Anh Bửu có một lối kể chuyện rất hay, chậm rãi để người nghe thấm những lời mình nói. Tôi hỏi anh sao anh không mang hai đứa con gái riêng của anh với người vợ trước qua Mỹ, mà anh lại mang hai đứa con riêng của vợ? anh nghe tôi hỏi, anh đưa tay nốc cạn ly rượu, mặt anh cúi xuống rồi ngẩng lên trả lời với tôi:

Chương trình đi Mỹ tôi không bao giờ nghĩ tới. Một thằng bạn tù chạy tới nhà bảo tôi nộp đơn qua tại tòa  Đại Sứ Mỹ ở Thái Lan,  có một đường dây của mấy thằng cán bộ làm ở Bưu Điện Sài Gòn gởi cho, chỉ có tụi nó mới gởi được. Nó copy cho tôi bộ đơn, tôi ghi rồi nhờ nó gửi giùm. Chờ dài cổ năm nầy qua năm khác xem như không có gì. Thì đến năm 1990 có người ta rục rịch ra đi thì tôi nhận được giấy báo từ tòa Đại Sứ Mỹ chấp nhận cho tôi đi theo diện HO. Lúc nầy thì tôi lại mệt thêm một lần nữa, tôi phải đến gặp Loan (người vợ cũ) để xin cho hai đứa con gái được đi Mỹ theo với tôi. Dù gì thì Loan cũng là người nuôi nấng chúng nó từ nhỏ tới nay. Còn tôi trên danh nghĩa là cha nhưng chưa có một ngày nào nuôi con. Tôi sống với Phượng cùng hai đứa con riêng của Phượng. Tôi xem chúng như con ruột của mình nên hết lòng yêu thương chúng. Sau nầy chúng tôi có thêm hai đứa con chung. Như vậy nếu được đi Mỹ tôi mang được đến sáu đứa con, nếu Loan đồng ý cho hai đứa con gái theo tôi.

Tôi đến căn nhà cũ, căn nhà mà tôi đã  bỏ ra đi gần mười năm trước đây. Tôi đến đúng vào ngày chủ nhật nên các con tôi ở nhà, Loan đang nấu cơm dưới bếp. Đứa con gái lớn xuống gọi mẹ lên cho tôi nói chuyện. Nhìn Loan tôi hết hồn. Sự tàn tạ đã phá hủy dung nhan của một người đàn bà một cách thô bạo, chỉ có mười năm sau không gặp mặt mà Loan bên ngoài hoàn toàn là một người khác. Tôi mỗi tháng đều mang tiền tới phụ thêm cho Loan nuôi con nhưng chỉ gặp các con thôi, chứ không vào nhà. Chưa bao giờ gặp lại Loan lần nào. Tôi sắt se không nói được nên lời trước mặt Loan. Những sự đối xử tàn tệ của Loan với tôi trước đây tự nhiên bay đâu mất. Tôi hỏi Loan về sức khỏe về gia đình, bỗng nhiên Loan bật khóc.  Các con tôi đến ôm mẹ rồi chúng nó cũng khóc theo mẹ. Tôi nói với Loan trong thổn thức: “Mọi chuyện đã cũ rồi không nên nhớ lại. Anh không trách gì em hết. Đó chỉ là sự chọn lựa nhầm lẫn nên nó bị trượt chân, thế thôi. Mà ai biết được cái gì sẽ xẩy ra? Có điều mình nên biết cái lỗi của mình để sửa”. Tôi nói với Loan một cách nhẹ nhàng như vậy. Rồi tôi đi thẳng vào vấn đề đi Mỹ của các con.

Loan nói với tôi rằng hồi nào đến giờ mẹ con sống với nhau không xa nhau được.Nếu đi thì đi hết, còn nếu không thì thôi. Lại thêm một quyết định sai lầm. Bây giờ tôi đã có vợ con, nếu tôi chọn cho mẹ con Loan đi thì phải bỏ lại mẹ con của Phượng, mà Phượng đâu có lỗi gì với tôi. Tôi cho Loan trong vòng một tháng để suy nghĩ quyết định, nếu không trả lời thì xem như Loan từ chối cho các con đi với tôi. Tôi cũng bảo rằng sau vài năm các con ổn định sẽ bảo lãnh mẹ qua. Loan vẫn khư khư giữ quyết định của mình. Tôi cũng cho anh biết thằng tình nhân của Loan vài tháng sau mà tôi đã gặp trong nhà,nó cuốn gói về Bắc, không liên lạc gì với Loan nữa..Từ đó đến nay cũng chẳng thấy Loan cặp với ai.

Vừa rồi tôi nhận được thư của con gái tôi xin tôi khiếu nại để được đi Mỹ. Tôi có đi hỏi luật sư, thì họ bảo rằng cho đến bây giờ vẫn chưa có thay đổi gì chờ một thời gian nữa. Còn nếu không thì phải chờ năm năm sau khi tôi vào quốc tịch mới bảo lãnh cho con. Nghĩa là trước sau gì tụi nó cũng đoàn tụ với tôi, sớm hay muộn thôi.

Tôi nhìn chai rượu mất đi hai phần ba. Anh hỏi tôi còn uống được nữa không? Tôi lắc đầu. Hình như anh cũng đã tới chỉ. Anh đi pha một bình trà uống với nhau cho giải rượu trước khi tôi lái xe ra về. Ngồi nói chuyện bâng quơ với nhau. Anh nói với tôi: “Đàn bà, họ yêu ai là yêu chết bỏ. Đến khi họ không còn yêu nữa thì họ cũng tàn nhẫn một cách khiếp đảm. Trường hợp của tôi chứng minh cho điều đó. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ. Tôi nhớ cái đêm cuối cùng trước khi tôi đi học tập, Loan khóc hết nước mắt. Cho nên trong thời gian năm năm học tập, tôi vẫn tin tưởng rằng vợ tôi sẽ không bao giờ bỏ tôi. Thế mà mới chừng vài năm sau Loan đã quay ngược đầu lại. Cho đến bây giờ nghĩ lại mình cũng không thể trách được. Lúc đó mình còn quá trẻ vợ cũng vậy, mà đi học tập chẳng biết ngày nào về. Làm sao người đàn bà còn quá trẻ không bị cám dỗ bởi những vật chất bên ngoài, trong lúc mình thiếu thốn đủ thứ mà chồng thì biệt tăm không có ngày về. Nên thôi, ai gặp phải những nghịch cảnh như tôi cũng đừng lấy đó làm thù hận”.

Tôi đồng ý kinh nghiệm sống của anh Bửu trong hoàn cảnh nhiểu nhương cũa đất nước. Rốt cuộc rồi chỉ có sự tha thứ mới giải quyết được mọi vấn đề. Khi tôi đứng dậy ra về, thì chị Bửu va bốn đứa con cũng về tới. Chị nhìn chai rượu rồi nhìn anh. Anh cười cười: “Bữa nay uống rượu ngon thiệt”./

Houston, Sau tết Nguyên Đán Nhâm Thìn (2012)

.

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

NHẬT NGÂN, ….NGƯỜI ĐƯA EM SANG SÔNG

Posted by phanxuansinh trên Tháng Hai 8, 2012

NHẬT NGÂN, NGƯỜI …ĐƯA EM SANG SÔNG.

Phan Xuân Sinh

 

 

Tôi không biết bản nhạc “Tôi đưa em sang Sông” của Nhật Ngân  ra đời từ lúc nào, nhưng khi tôi học đệ lục hay đệ ngũ gì đó ở Đà Nẵng bản nhạc nầy đã có rồi. Trong một giờ học nhạc, thầy Phạm Thế Mỹ có đề cập tới bản nhạc nầy. Thầy Mỹ cho rằng bản nhạc nầy âm điệu mới lạ và Nhật Ngân nếu sau nầy có tiếp tục sáng tác thì cũng rất khó có bản nhạc nào qua mặt được bản nầy. Suốt một đời làm nhạc của Nhật Ngân có rất nhiều bản nhạc rất hay, nhưng khi nói tới Nhật Ngân ai ai cũng nghĩ ngay tới bản “Tôi Đưa Em Sang Sông”, nó là bản nhạc đầu tay của anh và nó cũng là bản nhạc mà theo bạn bè ghi nhận là tiêu biểu của Nhật Ngân,

 

Ở Đà Nẵng thuở ấy đám học sinh tụi tôi đứa nào cũng ngêu ngao vài khúc nhạc của anh. Anh là một trong những người gắn bó với Đà Nẵng, cho nên tác phẩm của anh về Đà Nẵng cũng nhiều, dù biết rằng chữ “Đà Nẵng” đọc ra rất nghịch tai chứ đừng nói chi đến chuyện làm nhạc, thế mà những bản nhạc về Đà Nẵng của anh lại rất hay. Mỗi lần gặp nhau trong các buổi văn nghệ dành cho Đà Nẵng, hoặc trên bàn tiệc Nhật Ngân ôm đàn say sưa hát và không bao giờ thiếu bài “Tôi Đưa Em Sang Sông”, đã nghe anh hát nhiều lần bài nầy, thế nhưng mỗi lần anh hát lại thấy nó hay một cách khác. Anh có tâm sự với nhiều người là bài hát được sáng tác vào đầu thập niên 1960 tại Đà Nẵng, nó đã được rò rỉ ra ngoài và một số người lúc đó đã nghe anh hát. Sau nầy anh mới gửi vào cho nhạc sĩ Y Vân xem để trước khi xuất bản. Nhạc sĩ Y Vân có sữa một số chữ để tránh kiểm duyệt và vì lúc đó anh còn quá trẻ nên nhạc sĩ Y Vân đề nghị để thêm tên một người nữa đã có kinh nghiệm sáng tác đứng chung với anh, như vậy thuận lợi hơn. Cho nên trên nhạc phẩm “Tôi Đưa em Sang Sông” mới có thêm tên Y Vũ đứng chung với anh. Chứ thực tế Y Vũ không sáng tác chung trong nhạc phẩm nầy.

 

Anh là một người hiền hòa và rất dễ thương. Một lần đến California tôi đến quán cà phê Factory rất sớm (đây là nơi gặp gỡ anh chị em văn nghệ), Tôi đã thấy anh ngồi một mình, tôi bảo với anh là tôi đi gọi cà phê thì anh bảo là họ thấy anh ngồi thế nào cũng mang cà phê ra cho anh, cà phê của anh rất đặc biệt. Quả thật đúng như vậy, tôi thấy sửa nhiều hơn cà phê vì anh đau bao tử nên không uống được cà phê đậm. Anh bảo rằng ngày hôm qua nghe anh em nói tôi đã đến Cali, thế nào hôm nay cũng đến đây uống Cà phê sớm nên anh ra trước để chờ, lúc nầy còn vắng khách mình nói chuyên dễ dàng hơn. Lời anh nói làm cho tôi rất cảm động, dù gì chăng nữa anh là một nhạc sĩ tiếng tăm, còn tôi chỉ là một thằng đàn em vô danh mà anh đã dành cho một sự biệt đãi. Tôi rất kính phục vô cùng.

 

Một lần Hội Quảng Đà tổ chức Đại Hội Liên Trường tại Santa Ana. Tiền đại hội có một cuộc picnic tại Square  one mile. Anh Nhật Ngân, anh Thành Tôn và tôi cùng ngồi trên ghế đá nói chuyện, thì có một nhà thơ đến ném trước mặt chúng tôi một tập thơ mới xuất bản của anh. Anh ấy nói với Nhật Ngân là thơ của tôi như thế nầy mà anh không phổ nhạc trong tập “10 Thi Sĩ Quảng Nam”, đó là một thiệt thòi lớn cho dân Quảng Nam. Thú thật chúng tôi rất bàng hoàng và ngạc nhiên trước một thái độ vừa trịch thượng vừa khiếm nhả như vậy. Thế mà anh Nhật Ngân vẫn từ tốn trả lời là xin lỗi anh, đó là một thiếu xót của tôi. Tôi và anh Thành Tôn nhìn nhau lắc đầu. Ai cũng có quyền tự cho mình làm  thơ hay, nhưng họ lại quên một điều rất quan trọng là người đọc họ cũng có quyền đánh giá thơ của người khác bằng một nhận định khách quan, vô tư. Và chính họ mới có thẩm quyền định đoạt mức độ thơ hay, dở, của người khác. Hơn nữa chuyện phổ thơ là sự cảm nhận của nhạc sĩ với bài thơ họ thích. Chứ thơ hay mà người nhạc sĩ không thích thì cũng chịu thôi. Chính vì thái độ nầy về sau tôi tìm đọc các tác phẩm của nhà thơ nầy một cách cẩn trọng, và tôi rút ra một kết luận là anh Nhật Ngân không chọn ông đó trong số 10 Thi Sĩ Quảng Nam là một sự chính đáng.

 

Trong cách chọn thơ để phổ nhạc, anh Hoàng Lộc có kể cho tôi nghe là anh có hỏi Nhật Ngân là những nhà thơ Quảng Nam cũng nhiều và cũng có nhiều bài thơ của người Quảng Nam rất hay mà không thấy bài nào phổ nhạc được nỗi thiếng. Nhật Ngân có trả lời rằng dòng thơ Quảng Nam các ông lý sự nhiều quá, chính cái chất lý sự làm cho bài thơ hay, nhưng ngược lại thơ mang chất lý sự đọc lên cảm thấy khúc mắc, trắc trở, khó khăng cho người nhạc sĩ. Vì vậy nên không phổ nhạc được. Chúng ta cũng biết rằng chính trong thơ đã có nhạc điệu, những bài thơ không mang nhạc điệu mà chỉ có lý sự thì khó phổ nhạc cho hay.

 

Khi tập nhạc “10 Thi Sĩ Quảng Nam” ra đời ( gồm có các nhà thơ: Luân Hoán, Thành Tôn, Nguyễn Nam An, Hạ Quốc Huy, Hồ Thành Đức, Trần Trung Đạo, Phan Xuân Sinh, Thái Tú Hạp, Trần Yên Hòa, Hoàng Lộc) của Nhật Ngân. Các Hội Quảng Nam của các tiểu bang cũng tiếp sức phổ biến cho anh thế nhưng cũng chẳng được bao nhiêu và theo anh cho tôi biết anh đã bị một số thi sĩ Quảng Nam không có tên trong số đó, gọi điện thoại chất vấn và làm phiền anh không ít. Họ nêu lý do là anh lấy tiêu chuẩn nào để chọn bài. Anh trả lời thẳng thắn là không tiêu chuẩn nào cả, tôi “cảm” bài nào là tôi phổ bài đó bất kỳ của ai. Một cách trả trả lời đầy trách nhiệm và khôn ngoan. Xin nói rỏ hơn anh Nhật Ngân chỉ chọn 10 nhà thơ Quảng Nam hiện đang sinh sống tại hải ngoại.

 

Tôi định tháng 3/2012 tôi sẽ đi một chuyến Cali vùng Wesminster.,vì cũng lâu quá không có cơ hội thăm các anh, nhưng khi nghe tin anh Nhật Ngân mất làm tôi cũng mất đi hứng thú. Chiều ngày 21,1,2012, tôi điện thoại nói chuyện với anh Thành Tôn, anh Thành Tôn cho biết là anh Nhật Ngân bệnh nặng khó qua khỏi, nghe tin nầy tôi cũng xót xa. Chừng 10 phút sau xem TV đài SBTN thì được báo tin Nhạc sĩ Nhật Ngân vừa mất sáng nay. Tôi thật sửng sốt và tôi mới biết anh Thành Tôn đã biết tin nầy, nhưng không dám thông báo với anh em, thế nào rồi anh em cũng biết, còn chính anh không đủ can đảm thông báo một tin quá buồn như vậy trong dịp năm hết tết đến.

 

Những ngày sau khi Nhật Ngân mất, tôi đã điện thoại nói chuyện cùng bạn bè tại Cali và tất cả chúng tôi ai ai cũng thương tiếc anh. Ngày thăm viếng và tang lễ của anh đã được rất nhiều người tham dự., đó cũng là niếm an ủi cho những thân nhân của anh còn lại. Bài viết nây thay mặt cho anh em cầm bút Quảng Nam và “10 Thi Sĩ Quảng Nam” gửi đến gia đình anh lời chia buồn cũng như sự hối tiếc về tấm lòng của anh trước đây dành cho. Mong anh thanh thản bay vào miền miên viễn, những tác phẩm của anh vẫn sống mãi ./.

 

Houston, ngày 1 tháng 2 năm 2012

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »