Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Sol Duc Falls

    Back to forest

    Prairie Falcon 2016

    Starry night

    It was snowing !

    Northern Flicker (Intergrade)

    Northern Pintail descent

    It's as Easy as 1-2-3

    Dolls clinic.

    Superstition Mountains

    More Photos
  • Lưu trữ

QUẢNG NAM, CHUYỆN TẦM PHÀO BÊN TÁCH CÀ PHÊ

Posted by phanxuansinh on Tháng Mười 16, 2011

Quảng Nam,
Chuyện tầm phào bên tách cà phê.

Phan Xuân Sinh

Trở lại chuyện mì Quảng. Có rất nhiều người viết về mì Quảng như Tưởng Năng Tiến, Phạm Phú Minh, Tường Linh, Hòang Lộc v.v..và còn rất nhiều người nữa.. Mì Quảng được tả tỉ mỉ được phân tích và những người Quảng Nam chúng ta ai ai cũng một lần đọc qua, dĩ nhiên mỗi người mỗi cách cho ta hiểu rỏ tường tận hình thành một tô mì như thế nào. Bây giờ tôi xin trình bày tô mì Quảng mà tôi đã gặp. Một lần ở Boston vào một tiệm ăn nghe một người khách Quảng Nam gọi ra một tô mì Quảng. Bàn của ông cạnh bàn của tôi nên tôi nghe ông càm ràm khi tô mì được mang ra: “Mì gi mà lạt lẽo, nước lèo lềnh bềnh không đúng cách”. Tôi hỏi ông như vậy tô mì như thế nào mới đúng cách? Ông cho biết là mì phải béo, ít nước, nhưn tôm thịt phải mặn mòi, phải có giá trụng và nhiều thứ lỉnh kỉnh khác. Nhận xét và kinh nghiệm của ông không chối cải được. Thế nhưng ngày xưa trên quê nhà trong thời kỳ chiến tranh, tôi lội khắp vùng Quảng Nam, tôi đã ăn biết bao nhiêu tô mì Quảng và không có nơi nào giống nơi nào hết. Ở vùng biển thì tô mì có sứa, chả cá phụ thêm vào. Ở vùng núi thì nhưn mì bằng mít trộn. Ở mùa lũ lụt thì nhưn bằng thịt gà hay thịt vịt. Mì Quảng gia giảm và ứng biến tùy theo hoàn cảnh sống của người dân. Cho đến bây giờ bảo rằng mì Quảng đúng cách phải như thế nào, tôi chịu thua. Hầu hết nhưn bằng tôm, thịt heo là chiếm đa số. Một điều mà không thể nào diễn tả được, dù biến đổi nhưn nhị ra sao khi ăn vào hậu vị của nó cũng gần giống nhau. Người Quảng Nam tha hương tìm cái hậu vị mì Quảng trên đất khách quê người quả thật rất khó. Bảo tôi mô tả cái hương vị nầy, tôi không tả được.

Một lần đi vào Cẩm Hải (vùng biển gần Hội An) thăm mộ má tôi. Chúng tôi tấp vào quán mì bên vệ đường, quán đơn sơ nghèo nàn, tô mì lèo tèo vài con tôm bạc vài lát thịt mỡ. Mì không đặc sắc nhưng hậu vị của nó y chang như hương vị ngày xưa khi tôi còn sống trên quê nhà. Tôi mới nghiệm ra rằng, mì Quảng mà người Quảng Nam đi xa tìm lại, cái mà họ bảo không đúng với tô mì Quảng tại Quảng Nam chính là chỗ nầy, cái vị đậm đà quen thuộc mà không ai có thể mô tả được. Ngày tôi về Đà Nẵng, thằng em chở tôi đi ăn mì Quảng, nơi mà nó giới thiệu rằng ngon nhất ở đây. Tôi ăn vẫn không thấy được cái hương vị ngày xưa. Tại sao thế? Tôi cũng không biết được. Như vậy, mì Quảng không cần phải nhưn nhị phong phú, không cần phải gia vị nhiều. Cái mà ta cần nó đã thấm đẩm vào da thịt của ta, khi ta bắt gặp lại tự nhiên nó sống dậy trong ta. Người Quảng Nam đi nơi khác khó tìm lại hương vị nầy cũng chính vì vậy.

Năm 2008 tôi về Đà Nẵng, tôi than với bạn bè là không tìm thấy nơi nào bán mì Quảng ngon, thì nhà thơ Đoàn Huy Giao bảo rằng tôi sẽ đưa ông đi ăn. Đoàn Huy Giao là dân Quảng Ngãi nhưng sinh sống tại Đà Nẵng, tôi nghi ngờ cái nhận định tô mì Quảng ngon của anh, vì chính người dân Quảng Nam ăn mì Quảng mòn răng còn mù mờ vế nhận định nầy. Thì làm sao tôi tin anh được. Anh dẫn chúng tôi vào Cẩm Hà (từ Vĩnh Diện đi Hội An). Nơi nầy, hồi còn nhỏ đi về quê Kim Bồng xe đò đổ gia đình tôi xuống đây, rồi xuống đò qua sông. Quê nội tôi bên kia sông Thu Bồn..Hồi dó nơi nầy cũng có một quán mì, Ba tôi dẫn vào ăn mì và ngồi chờ xe đò ra Đà Nẵng. Tôi không biết quán mì nầy khi xưa còn lại đây không? Bước vào quán tôi thấy trên bàn khách đang ngồi ăn, các tô mì ăn xong chồng chất lên nhau. Trí nhớ tôi bỗng trở vế, người Quảng Nam ăn mì là phải ăn vài ba tô là lẽ thường, ít ai ăn một tô rồi đứng dậy. Đúng như Đoàn Huy Giao giới thiệu, mì Quảng quá ngon. Khi về quê nhà lần đầu tiên tôi mới cảm thấy tô mì Quảng tại đây ngon và hội đủ những điều mong muốn của tôi, không phụ lòng Uyên Hà lái xe hơn ba mươi cây số, ăn xong rồi lái trở về. Cám ơn Đoàn Huy Giao cho tôi thấy lại hương vị mà tôi đã đánh mất từ lâu.

Ngày xưa ở Quảng Nam nỗi tiếng là mì Cây Trâm, tôi chưa bao giờ tới đây ăn thử. Nơi đây cũng chính là quê hương của anh Phạm Tử Thiên (tức nhà thơ Phạm Cây Trâm). Quen với anh từ lâu, nhưng không dám đề nghị với anh cho ăn mì Cây Trâm (tức mì Quảng tại Cây Trâm, Tam Kỳ.). Chúng tôi từ Houston đi Dallas, định ghé thăm anh tại Arlington. Anh hỏi tôi muốn ăn món gì Quảng Nam để anh chị đãi. Tôi chộp ngay cơ hội nên đề nghị anh chị cho chúng tôi ăn mì Cây Trâm. Anh cười ha hả nói với tôi là trúng ý anh rồi. Buổi tiệc khoản tãi chúng tôi toàn những  món Quảng Nam do chị làm. Đặc biệt một điều là từ bánh tráng và mì do chị tự xay bột và làm lấy ở nhà. Mì Quảng ngon thật, từ khi qua Mỹ tới nay mới ăn được tô mì ngon như thế nầy. Cho nên sau nầy mỗi lần đến thăm anh chị là sẽ được ăn mì Cây Trâm chính hiệu do chị nấu. Người làm mì Quảng cũng ngon mà tôi đã ăn đó là Nhật Hoàng, chủ nhiệm tuần báo Trẻ tại Dallas.

Thật tình thì mì Quảng cách nấu cũng rất đơn giản, không cầu kỳ và người Quảng Nam nào cũng nấu được. Thế nhưng cho thật ngon thì rất ít người nấu được bởi thế chúng ta đòi hỏi y chang như những quán nỗi tiếng ở Quảng Nam hay Đà Nẵng thì rất ít người làm được. Tô mì phải béo,ít nước, sợi mì phải dày vàng óng ánh, thịt phải có mỡ, bánh tráng phải chiên lên, mà những thứ đó lại cấm kỵ những người tuổi cao như bọn mình, lại sống tại nước ngoài khi dư thừa thực phẩm.  Thực khách là dân Quảng Nam lại khó tính, thiếu một chút cũng không được, khác một chút cũng không được. Họ ăn mì bằng vị giác, bằng khứu giác và bằng cả một tấm lòng dành cho quê hương. Họ đến quán ăn tô mì không ngon, nhưng thỉnh thoảng họ vẫn tới lui và cái ăn của họ mang một ý nghĩa khác, “đở ghiền” khi nhớ lại quê nhà. Người Quảng Nam tha hương bước vào quán ăn nào trong đó có món mì Quảng thì ít khi nào họ bỏ qua. Người đầu bếp nấu mì Quảng là bà Bắc kỳ hay bà Huế rặt thì làm sao hiểu rằng người Quảng Nam ăn mì Quảng là họ ăn những cái mà nó đã có trong tô mì và kể cả những cái mà nó không nằm trong tô mì.

Bây giờ xin bước qua một chuyện khác, mang chút trần tục hơn.

Một người bạn dân Sài Gòn cất cớ hỏi tôi: “Người Quảng Nam của bạn câu  chừi nhau như thế nào cho là thông dụng nhất?”. Tôi lúng túng hết sức, nhưng rồi tôi tìm ngay được câu trả lời: “Con c..”. Người bạn trố mắt nhìn tôi, tưởng rằng tôi nói đùa. Anh đó nghĩ trong bụng là dân Quảng Nam của tôi thô lỗ thật. Đọc được sự ngạc nhiên của bạn mình, tôi bảo với anh là: “Trong hai chữ “đ…mẹ” của dân Sài Gòn và “con c..” của dân Quảng Nam tôi, cái câu chửi thề nào nặng nề nhất?”. Anh bạn tôi “à” lên một tiếng, mới hiểu rằng chữ đầu môi mà dân Nam hay dùng nó mang tính anh chị hơn, giang hồ hơn và nặng nề hơn. Thế nhưng  câu chửi thề nầy nó thông dụng quá lan tràn từ Nam chí Bắc nên quen tai, mọi người không thấy chất thô lỗ, mất dạy của nó. Còn chữ “con c…” mà dân Quảng Nam hay dùng, nó gói ghém quanh quẩn trong xứ sở của chúng tôi. Khi những người ở tỉnh khác nghe được câu “trổ c…” lạ tai họ không chịu được, nó vừa cộc cằn vừa thô lỗ nghe rất chướng tai. Thật tình câu chửi thề nào cũng mang tính mất dậy không chấp nhận được, thế nhưng người Quảng Nam dùng từ nầy ngoài chưởi thề ra còn mang tính than oán hay diễn tả một việc xấu đến với mình. Một người làm công bị chủ chèn ép, người khác hỏi anh làm ăn ra sao? Anh ta trả lời một cách đanh thép: “Thằng chủ như con c…, nên tôi trổ c…đi về”. Người Quảng Nam chúng tôi nghe câu nầy hiểu ngay là thằng cha chủ đối xử không tốt nên người đó chửi một câu rồi đi về. Đọc một câu thơ không hay, chúng tôi hay nói: “Thằng cha nầy làm thơ như con c..” Buôn bán lỗ lã là họ nói: “Năm nay buôn bán như con c..” tức chúng ta hiểu ngay là năm nay làm ăn thất bại. Cái gì xấu họ chỉ cần dùng từ nầy là chúng ta hiểu ngay sự việc không cần phải dông dài. Thật tôi nghiệp, lấy của “nợ” đàn ông nầy tiêu biểu cho điều xấu xa, chứ quả thật ra nó cũng oai phong lẫm liệt lắm chứ. Mới đây một bà Việt Nam ở Mỹ cắt của quý của chồng bỏ vào cối xay để nó không còn khả năng tung hoành. Nó mang chất “ưu việt” như vậy mà người Quảng Nam chúng tôi lại bêu xấu nó như vậy. Trời biết.

Thế nhưng từ “con c…” thỉnh thoảng họ dùng trong những trường hợp thân tình nhất. Gặp thằng bạn thân lâu ngày, muốn rủ bạn làm vài xị đế, người đó sẽ nói: “Ê, thằng con c… vào đây làm vài ve chơi”. Người được mời hiểu ngay thằng bạn thân mời mình vào nhậu mà không cho như vậy là câu chưởi mắng. Thành thử cùng một chữ đó, người Quảng Nam dùng trong mọi trường hợp và nó cũng mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Tùy theo hoàn cảnh, thân tình hay phẩn nộ từ nầy sẽ mang một ý nghĩa khác nhau. Ở Quảng Nam người ta hay kể một câu chuyện về một nhân vật (hiện nay đang sống tại Mỹ, xin được giấu tên). Trong giữa thập niên 50, khi ông Ngô Đình Diệm mới chấp chánh, thường kêu gọi thành phần trí thức ở ngoại quốc  về giúp nước. Có một ông kỷ sư người Quảng Nam khăn gói hưởng ứng lời kêu gọi trở về. Ông được ông Diệm mời làm Bộ Trưởng Canh Nông, nhưng nhìn cung cách quan liêu của ông Diệm, ông ái ngại và xin một vài tuần về thăm nhà rồi quyết định sau. Sau vài tuần ông trở vào gặp ông Diệm ông từ chối vì cảm thấy mình không có khả năng nhận lãnh chức vụ cao như vậy. Về Quảng Nam nhiều người đến hỏi ông về lý do thật sự của vấn đề nầy. Ông từ tốn trả lời: “Mình không quen cung cách quỳ lụy, cho nên sẽ xẩy ra hai vấn đề đều thiệt thân cho mình. Mình không quỳ lụy nịnh hót thì trước sau cũng bị đuổi việc. Còn nếu mình làm theo ý mình mà họ không chấp nhận thì mình sẽ “trổ c…” ra về. Đằng nào cũng thiệt thân, thôi về làm ruộng không mất lòng ai”. Đúng là quan niệm của một kẻ sĩ. Cho nên người Quảng Nam thường làm cách mạng thì được, mà làm chính trị thì chớ. Họ ăn nói ngay thẳng, sẳn sàng va chạm, không tránh né khó khăn. Nhưng họ lại có yếu điểm thiếu tế nhị, thiếu giao thiệp, không chịu đầu môi chót lưỡi. Tất cả các thứ đó cần cho người làm chính trị.

Người Quảng Nam họ không có câu chửi nào ra hồn, lặp đi lặp lại cũng cái câu “Tổ cha mi”. Cho nên nó không có cái mệnh danh là “văn hóa chửi” như người Bắc hay người Huế. Để so sánh tôi trưng bày ra đây cách chửi của người Bắc có bài bản, văn hoa, sâu đậm  và nghe ra chết người thiệt. Người Bắc có bài “chửi mất gà”:

“Làng trên, xóm dưới, bên ngược , bên xuôi, tôi có con gà mái xám. Sáng nay tôi còn cho nó ăn, thế mà bây giờ nó bị mất ! Ai bắt được thì cho tôi xin, nếu không trả thì tôi chửi cho mà nghe đấy …ấy….ấy !
Bố cái thằng chết đâm chết chém, cha cái con chết xỉa ! Mày day tay mặt , mày đặt tay trái, nỡ ăn cắp của bà đây con gà. Này bà bảo cho chúng mày biết : Thằng đứng chiều ngang, thàng sang chiếu dọc, thằng đọc văn tế , thằng bế cái hài, thằng nhai thủ lợn….Con gà nó ở nhà bà là con gà. Nó bị bắt rtộm về nhà mày thì thành con cú, con cáo, con thành đanh mỏ đỏ. Nó sẽ mổ mắt, xé xác ông bà cha mẹ vợ chồng con cái nhà mày đấy….ấy….. ấy !

Mày mà ăn thì con gà nhà bà thì ăn một miếng chết một đứa, ăn hai miếng chết hai đứa, ăn ba miếng chết ba đứa, và ăn cả con gà đó sẽ chết cả nhà cả ổ nhà mày.

Cha tiên nhân ông nội, ông ngoại, ông dại, ông khôn, đồng môn chi rễ nhà mày nhá.  Mày gian tham đã ăn trộm ăn cắp con gà mái nhà bà. Rồi ra , nhà chúng mày chết một đời cha , chết ba đời con, đẻ non đẻ ngược, chân ra trước đầu bước ra sau, đẻ sót nhau, chết mau chết sớm! Chết trẻ, để ngang nhá !

Bốn thằng cầm cờ xanh đứng đầu ngõ, ba thằng cầm cờ đỏ đứng đầu làng, đưa đám tang cả nhà mày ra đồng chôn đấy. Mày có khôn hồn , mang trả ngay con gà đó cho bà, kẻo không bà đào mồ , quật mả cao tằng tổ khảo , cao tằng tổ tỉ , thúc bá đệ huynh, cô di tỉ muội nhà mày đấy .
Hôm nay bà chửi một bài, ngày mai bà sẽ chửi hai làn liền. Bà chửi cho mày hoá điên , bà rủa suốt tháng liên miên không ngừng. Bây giờ bà mệt quá chừng. Bà về cơm nước, nhớ đừng quên a…. Muốn sống thì thả gà ra , lạy bà hai lạy bà tha cho mày”

Người Huế họ cũng có bài “chửi mất gà” lời lẻ cũng độc địa không kém:

“ Cao tằng tổ đĩ, cao tằng tổ khảo, cố tổ gia tông cả ông cả bà, cả cha cả mẹ, chú bác, anh em, họ nội, họ ngoại, xa gần ân ái, họ gái hoị trai, dưới âm phủ đội mũ mà đi lên, trên thiên đàng xếp hàng đi xuống, bây hãy vén mái tai, gài mái tóc đặng chống tai lên cho rõ, chống cửa ngõ cho cao, chặt hàng rào cho thấp để mà nghe tao chửi đây này :

Tam canh mụ đội, xóm hội xóm phường , xóm truớc xóm sau, xóm trên xóm dưới, lư hương bát nước, chiếu trải giường thờ, tao bới mả cha bay rung rinh như thuyền mành gặp sóng, tau nín như nín địt, tau dập như dập cứt mà bay cứ bươi ra , bay chọc cho tau chửi. Tau chửi cho tan nát tông môn họ hàng cái quân khốn kiếp, cái quân vô hậu kế đợi đã ăn của tau bảy con gà xám, tám con gà vàng. Bay ăn chi mà ác nhơn ác nghiệp . Bây ăn bằng nồi đồng, bây ăn bằng nồi đất, bay ăn lật đật, bay ăn ban đêm, bưa túi. Bây ăn cho chồng bây sợ, coi con bây kinh, bây ăn cho ngả miếu sập đình, cho mồ cha bây chết hết để một mình bây ngồi đó bây ăn. Đồ quân ăn chó cả tông, ăn hồng cả hột. Cái quân không sợ trời dánh thánh đâm, trời đánh thánh vật. Bây ăn mần răng mà hết một chục rưỡi con gà ?”

Người Quảng Nam không có chửi rủa mất gà như người Bắc, người Huế, và nếu họ có chửi thì cũng không có bài bản thâm sâu như vậy được. Khi còn nhỏ tôi cũng thường nghe họ chửi nhưng không tìm ra được có dây có nhợ như vậy, bất quá lắm cũng chỉ là; ‘Tổ cha mi, ăn chi ác nhơn ác đức. Ăn cho lòi họng mi ra…” Cho nên nghiệm ra người Quảng Nam ăn nói cộc cằn, nhưng không có tâm địa ác độc. Câu chửi của họ không thâm sâu, không quỷ quyệt. Lời chửi mắng của họ không hấp dẫn, không bài bản. Từ đó ta nghiệm ra rằng cách ứng xử của họ trong chửi mắng chậm chạp. Đó là nói chung chung trong dân gian, thật ra những người có học nỗi tiếng ứng phó nhanh lẹ trong mọi vấn đề. Trong thập niên 30 thế kỷ trước ta xem một cuộc bút chiến giữa Trần Trọng Kim (Bắc Kỳ) và Phan Khôi (Quảng Nam) về Nho Giáo, ta mới thấy được sự nhanh nhẹn nhạy bén của Phan Khôi trước những lý luận chặt chẻ bênh vực cho ý kiến của mình. Cách ứng xử của ông cũng mau lẹ vững vàng trong lập luận.

Chuyện người Quảng Nam đi ăn nhà hàng ngày xưa.

Hôm trước đây có một người bạn Quảng Nam đến chơi, anh rủ tôi ra ngoài “kéo ghế” một bữa. Tôi giật mình, từ “kéo ghế” nầy ngay trên đất Quảng Nam của tôi cũng đã mai một từ lâu, họa hoằn lắm mới nghe những người lớn tuổi dùng tới. “Kéo ghế” tức là ăn nhà hàng vậy, người tỉnh khác làm sao biết được. Tôi nhớ lại hồi còn nhỏ, một người bạn của Ba tôi tới nhà chơi, tôi hỏi ông tại sao không bảo là đi “nhà hàng” mà gọi là “kéo ghế”. Ông giải thích cho tôi nghe một cách mơ hồ, vừa đậm nét tiếu lâm cho nên thực hư đến bây giờ theo tôi cũng không rõ ràng. Ông bảo: Người Quảng Nam xưa nay ít có dịp đi ra tiệm ăn uống, một phần sợ tốn kém, một phần không quen được người khác cung phụng. Có khách tới chơi đều tổ chức ăn uống ở nhà. Phần đông nhà dân chúng nền nhà bằng đất, muốn ngồi phải “bưng ghế” ra ngồi, chứ không được kéo vì sợ hư nền nhà một phần và sợ mòn chân ghế (tiết kiệm mà). Ra tiệm ăn thì thoải mái “kéo ghế” ra ngồi mà không sợ hư nền nhà, không sợ mòn chân ghế, không sợ làm như vậy sẽ bị la rầy. Nhà hàng là nơi kéo ghế thoải mái nhất, vì nền nhà tráng ci-ment nên không sợ hư. Dần dần từ “kéo ghế” thay cho đi ăn tiệm là vì vậy”.

Thực hư đúng không thì cho đến bây giờ tôi vẫn mù mờ, tuy nhiên lý luận kiểu nầy thấy đúng một phần. Ngày xưa các tiệm ăn dành cho tầng lớp có tiền, sang trọng. Người dân chân lấm tay bùn không vào được. Hồi tôi còn rất nhỏ Ba tôi mặc veston, cà vạt, đi xe đạp, chở tôi đi ăn tiệm. Nhìn thấy khách khứa ra vào tôi cũng biết họ thuộc tầng lớp khác với bà con xóm làng của tôi, mặc dù còn nhỏ tuổi tôi cũng  biết được nhiều người cả đời không biết “nhà hàng” là gì. Phần đông dân chúng không bén mảng tới được. Từ “kéo ghế” bây giờ ngay trên quê nhà cũng chẳng còn ai dùng. Đời sống ngày càng tiến bộ, thành phần nào cũng có thể đi nhà hàng. Hiện nay nhà nào cũng lót gạch bông hay nền nhà tráng ci-ment không phải bưng ghế lên để xuống vất vả, nên từ “kéo ghế” dành cho nhà hàng không còn thích hợp.

Hôm nay ngồi bên tách cà phê luận bàn về những chuyện tầm phào với quý vị đồng hương. Chuyện nầy bắt qua chuyện kia mà đôi khi ta cảm thấy không ăn nhập gì với nhau, nhưng hề gì, miễn sao có được nụ cười trên môi của quý vị. Những chuyện tôi kể ra đây mang nét đặc thù của người Quảng Nam mà những người thuộc tỉnh khác không có. Bây giờ sự đi lại rất dễ dàng, những phương tiện dồi dào giúp cho sự giao tiếp với nhau giữa vùng nầy với vùng khác dễ dàng nên khó phân biệt bản chất đặc biệt của từng vùng. Nhân đây, bên tách ca phê tôi cũng xin được thưa một chuyện. Tôi sống ở Sài Gòn và ỡ Mỹ gần bốn chục năm. Uống một “ly” cà phê ở Sài Gòn hay ở Mỹ, nó không thú vị bằng một “tách” cà phê ở Đà Nẵng hay Hội An. Tôi không biết người ta đã dùng tách để pha cà phê từ lúc nào, mà từ quán cốc bên đường cho đến các quán sang trọng cà phê nóng được đựng trong chiếc tách rất lịch sự. Nhớ ngày xưa ở Sài Gòn về thăm nhà, trời nóng hay trời lạnh, tôi cũng thích uống cà phê nóng cũng chỉ để cầm chiếc tách uống từng hớp nhỏ cà phê nóng. Khi đất nước còn khó khăn, các quán cà phê Sài Gòn trộn lẫn bột bắp, bột gạo vào cà phê, không có quán nào giữ cà phê nguyên chất. Thế nhưng về Đà Nẵng dù trong hoàn cảnh khó khăn chung như vậy tách cà phê vẫn thơm ngon nguyên chất. Dân Quảng Nam ít uống cà phê hơn dân Sài Gòn, nhưng phong cách và chất lượng bao giờ cũng trội hơn. Hồi còn đi học những năm cuối của bậc trung học chúng tôi hay la cà mấy quán cà phê Diệp Hải Dung, cà phê Thông Tin, cà phe Ngọc Lan, cà phê Phán v.v.., những tên mà hơn bốn chục năm qua vẫn còn in sâu trong đầu chúng tôi.  Không biết bây giờ quê nhà còn giữ được chiếc “tách” để đựng cà phê cho khách Không?

Khi quý vị đã đọc đến đây, những chữ cuối cùng của chuyện “tầm phào”, chắc quý vị có đoạn đồng ý, có đoạn không đồng ý những điều tôi bộc bạch. Những chuyện nầy xa nhà lâu ngày ngồi nhớ lại, dĩ nhiên không thể tránh khỏi những sai lầm. Nếu có điều gì so suất. Kính mong quý vị lượng tình tha thứ.

Houston, ngày 10-10-2011

PHAN XUÂN SINH

2 phản hồi to “QUẢNG NAM, CHUYỆN TẦM PHÀO BÊN TÁCH CÀ PHÊ”

  1. Dũng Chợ Mới said

    Anh Phan Xuan Sinh

    Quán ca` phê Thông Tin ma` anh nhắc đến , co’ nhieu bai viet vê` Đa` Nẳng ngày xưa cũng hay nhắc đến , tên là quan ca phê Thanh Long , cafe ngon và rẻ, nằm doi dien voi pho`ng thong tin Da Nang , phia ben kia la` xe mi` a Cầu nổi tiếng, va` kế đó la` tiem
    phở Cấp Tiến trên đường Yên Báy
    Nhửng ngày mưa gió sut sui` tui va` va`i người bạn thich xuong đó co ro ngồi uong cafe hut basto xanh ….

    • phanxuansinh said

      Cám ơn anh Dũng. Anh ở chợ Mới gần nhà tôi rồi. Tôi ở đường Trưng Nữ Vương (chợ Nại Hiên tây). Ngày xưa tôi học trường Tiểu học Hòa Vang (Chợ Mới), tôi có người bạn học một lớp tên là MAI (cận thị nặng) nhà bán cát sạn gần chợ Mới chắc anh biết. Trước đây tôi có viết bài ĐÀ NẴNG CỦA TÔI cũng có nói về Quán Cà phê Thông Tin, bên kia đường là kiosque bán kính mà người con gái con bà chủ tên là Đông. Không ngờ năm 2008 tôi về Đà Nẵng thì cô Đông cũng về. Đông có một người cháu gọi bằng dì là nhà thơ Huỳnh Lê Nhật Tấn, Tấn quen với tôi hiện sống ở Đà Nẵng, Tấn đến xin tôi quyễn sách “Bơi Trên Dòng Nước Ngược” trong đó có bài ĐNCT. Cũng may là mình khen cô ta đẹp chứ còn nói lung tung chắc chết. Gặp một người đồng hương, thích lắm.
      Kính chúc anh Mùa Giáng Sinh vui vẻ và một năm mới an khang.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: