Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • It's a Family Affair...

    Trains (over the bridge)

    Burrowing Owl

    Morning sunlight2

    Entrapment

    Ceannabeinne

    Mammatus over Kansas

    Cuckoo, Cuckoo

    Aliens - dormant...

    b r û l é e | marin county, california

    More Photos
  • Lưu trữ

LẠI NÓI CHUYỆN VỀ THƠ

Posted by phanxuansinh on Tháng Chín 6, 2011

LẠI NÓI CHUYỆN VỀ THƠ

Phan Xuân Sinh

Có người bạn hỏi tôi, anh làm thơ thuộc vào khuynh hướng nào? Hiện đại, hậu hiện đại, đương đại, khai phá, dấn thân, mới, cũ v.v… Tôi ú ớ. Tôi không biết mình phải đứng vào hàng ngũ nào cho đúng, vì quả thật tôi chưa bao giờ nghĩ tới thơ có nhiều chỗ đứng như vậy, tôi đứng vào chỗ nào cũng cảm thấy trật. Hơn nữa thơ của tôi cũng thuộc loại xoàng xỉnh, đứng vào đâu cũng tốt không thành vấn đề. Thôi thì tùy ở sự sắp xếp của người đọc xếp tôi đứng vào đâu tôi xin nghiêm chỉnh đứng vào chỗ đó cho đúng với phong cách thơ của  mình mà người đọc chọn chỗ. Tuy nhiên xin cho tôi được trình bày một vài điều cảm nhận của cá nhân tôi  về thơ. Sự nhận xét nầy tôi nghĩ rất nhiều sai lầm, nhưng xin người đọc nếu cảm thấy chỗ nào không vừa lòng cũng xin bỏ qua, các nhà thơ nếu cảm thấy chỗ nào có phần đụng chạm, xem đây là sự vô tình chứ không cố ý nhắm vào ai cả, cũng xin các nhà thơ lượng tình tha thứ.  Bài viết nầy tôi chỉ lấy kinh nghiêm của cá nhân mình, mà cá nhân thì không thể hoàn toàn giống với người khác, nên ngay trong suy nghĩ cũng đã có sự khác biệt.

Khi bài thơ  “Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu”  của Tô Thùy Yên đi trên tạp chí Sáng Tạo năm 1956 (theo Đặng Tiến)., Lúc đó tôi mới 8 tuổi, tôi không đọc được nó. Đến năm tôi học đệ tứ (chừng 15 tuổi), tôi tìm đọc vì nghe mấy ông anh của tôi khen quá, đọc xong tôi thấy bài thơ lạ mà không thấy hay, có lẽ vì tôi đọc quen những bài thơ mang nhiều vần điệu  ẻo lả, bài thơ nầy không hợp với thể tạng của tôi lúc đó. Đến năm tôi mười bảy, mười tám tuổi, đọc lại bài thơ nầy tôi thấy hay quá, tôi thấy con ngựa rượt theo chuyến tàu chạy như điên, cánh đồng lui nhanh về sau, thân nó toát mồ hôi, bờm nó dựng lên.. hình ảnh nầy nhắm mắt tôi tưởng tượng thấy nó rượt theo tàu mà con tàu lao nhanh vun vút. Không có bài thơ nào sống động hơn như vậy. Chữ nghĩa lúc đó Tô Thùy Yên dùng đơn giản nhưng cho tôi một hình ảnh rất sâu đậm. Ngoài năm mươi tuổi đọc lại bài thơ nầy, tôi không còn thích thú như khi xưa. Hỏi tôi tại sao vậy ư? Tôi cũng không biết đường để giải thích. Hình như sự cảm nhận tùy theo thời điểm và tuổi tác. Ngày xưa còn nhỏ đọc thơ tôi dễ dãi hơn, càng về già đọc thơ tôi càng khó khăn hơn. Riêng về thơ Tô Thùy Yên càng về sau chữ nghĩa ông dùng càng thâm sâu, mới lạ. Ai đọc được tập thơ “Thắp Tạ” của ông sau nầy mới thấy đúng phong cách của Tô Thùy Yên. Thế nhưng tôi hỏi rất nhiều độc giả ở nhiều lứa tuổi, họ đều cho rằng, sau bài “Ta Về” thì Tô Thùy Yên thơ không còn hay nữa, phần đông họ nói như vậy. Làm thế nào giải thích đây?

Bài thơ “Ta Về” trong tập “Tô Thùy Yên Thơ Tuyển”  hoàn thành bài thơ tháng 7 năm 1985. Mô tả tâm trạng của một người tù cải tạo, sau hơn mười năm mới được về nhà. Ngày xưa thì “Người về ta chẳng cho về / Ta níu vạt áo ta đề câu thơ”( ca dao). Còn bây giờ thì: “Ta về một bóng trên đường lớn/ Thơ chẳng ai đề vạt áo phai…” (thơ Tô Thùy Yên).  Tâm trạng đó là tâm trạng chung của những người lính Miền Nam đi tù. Bài thơ được đón nhận một cách nhiệt liệt từ trong nước ra tới hải ngoại trong thời điểm sau 1985, khi bài thơ được rò rỉ ra ngoài. Thật tình mà nói, nếu lấy bài thơ nầy làm tiêu biểu cho thơ Tô Thùy Yên thì thật tôi nghiệp cho ông, vì bài nầy nói cho cùng đây là bài thơ dễ dãi của ông, nên dễ đi vào lòng dân chúng, được nhiều người chấp nhận. Nói đến Tô Thùy Yên là phải đánh giá những bài thơ trí tuệ của ông. Thế nhưng những bài thơ thuộc loại nầy rất kén chọn người đọc, ít ai cảm được những bài thơ đó. Tuy nhiên theo tôi những bài thơ sau nầy trong Thắp Tạ đó là những bài thơ giá trị. Trong một lần nhạc sĩ Phạm Duy đến Boston trong chương trình “Minh Họa Kiều” do đại học Harvard mời. Phạm Duy có gặp một số anh em văn nghệ tại   Boston, trong cuộc gặp gỡ nầy có người hỏi Phạm Duy là: “Anh phổ nhạc thơ của nhiều thi sĩ, có hai thi sĩ lớn như Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên. Sao anh không phổ thơ của họ?”. Phạm Duy trả lời: “Hai ông nầy thơ hay thật, thế nhưng thơ của hai ông lý trí quá khó phổ thành nhạc được”. Nói thế để chúng ta biết rằng thơ hay chưa chắc làm rung cảm được người đọc. Bây giờ tôi cho rằng thơ của Tô Thùy Yên hay, qua mặt tất cả những nhà thơ trước đây, chữ nghĩa của anh dùng nặng ký hơn, sâu lắng hơn, thì tôi sẽ bị búa rìu phang lên đầu tới tấp. Ai không chịu thì cứ phang, tôi vẫn khư khư giữa ý định nầy.

Ngày nay chúng ta thấy xuất hiện những bài thơ rất mới. Trong tập thơ của Dương Tường (trong nước) và Ngu Yên (hải ngoại). Thơ của họ nhiều bài ghi bằng những ký hiệu, nhiều khi người đọc quen với thơ vần điệu không thể chấp nhận được. Đọc những bài thơ kiểu nầy ta phải vận dụng trí tuệ, phải nhận ra được cốt lõi của nó, ta cũng thấy hay hay.  Ta phải chấp nhận để cho họ có cơ hội thể hiện cái mới mẻ của mình. Thi ca phải cần mới mẻ, phải sáng tạo thì mới tiến triển được. Lúc đầu ta thấy khó chịu dần dần quen với nó. Hãy rộng lượng tạo cơ hội, tạo đất đứng để những bài thơ kiểu nầy mới thăng tiến và biết đâu sau nầy nó sẽ sống mãi. Đừng vội vàng phê phán nghiêm khắc, đừng bóp chết nó trong trứng nước, hãy để cho nó vươn lên. Thời gian sẽ là nơi phán xét cuối cùng. Cái gì còn lại sẽ miên viễn, cái gì không chịu nỗi bức phá của thời gian sẽ bị chìm vào quên lãng.

Tại hải ngoại, có hai báo điện tử Da Màu và Tiền Vệ có một số lượng độc giả rất đông. Phần đông những người làm văn chương trên hai tạp chí nầy mang tính khai phá. Những cấu trúc văn chương của họ bức phá ra khỏi những lề thói xưa cũ. Việc làm của họ mang mục đích là làm mới văn chương, là sân chơi cho tất cả những ai muốn thừ nghiệm thơ văn mới mẻ của mình. Quả thật hai tạp chí nầy đáp ứng được sự khao khát của những cây bút trẻ cũng như những người thích mới văn chương. Nói thế cũng có những cây bút thành danh trước đây, khi bước vào Da Màu hay Tiền Vệ họ khoát lên một lớp áo mới cho thích họp với đường hướng cũng như tôn chỉ của tờ báo.

Cấu trúc, suy nghĩ, chữ nghĩa phải mới lạ, càng mới càng tốt. Tuy nhiên vì cái mới lạ thì ta muốn làm gì thì làm, nhất là chữ nghĩa, nói gì cũng được như vậy bài thơ nó sẽ trở thành hổ lốn mât. Người làm thơ phải chịu trách nhiệm chữ nghĩa của mình dùng, hiểu thấu đáo những từ ngữ mình sắp xếp trên bài thơ. Người làm thơ hay, đọc qua chữ nghĩa của họ ta đánh giá được ngay họ thuộc đẳng cấp nào. Một người làm thơ lão luyện bài thơ của họ có thể không hay nhưng chữ nghĩa của họ dùng không thể ngô nghê được. Cách đây không bao lâu có một nhà thơ dùng chữ “Lửa Tam Muội” đọc bài thơ đó ai cũng nghĩ rằng ý của nhà thơ muốn nói Tam Muội là lửa dục tình của người đàn bà nổi lên. Một độc giả thấy bực mình quá muốn cho nhà thơ ấy biết là dùng từ nầy trong bài thơ là không đúng, không dùng thì thôi còn dùng phải cho đúng. Ông vận dụng từ triết học, thiền của Phật Giáo để giải nghĩa Lửa Tam Muội cho nhà thơ biết để dùng chính xác hơn, thì nhà thơ ấy trả lời rằng ông dùng lửa tam muội với một ý  khác của riêng mình. Tức là lửa tam muội, lửa từ bì, lửa dục vọng, lửa nào cũng là lửa có thể đem nấu cơm được tuốt (thi sĩ mà, vo tròn bóp méo thế nào cũng được). Có nghĩa là người làm thơ có quyền xử dụng chữ nghĩa tùy ý, không cần chữ đó có nghĩa là gì, không cần phải chính xác. Nói vậy là nói lấy được là không hiểu biết. Nhưng thôi, tôi không đào sâu vấn đề nầy gây thêm một sự tranh cãi vô ích. Bài thơ trở thành ngô nghê, ngớ ngẩn là chính chúng ta dùng chữ không chính xác, không hiểu thấu đáo của chữ dùng hoặc đặt nó không đúng chỗ.

Thi ca luôn luôn có thay đổi, có cuộc cách mạng. Bao giờ lúc đầu cũng gặp phải những điều khó khăn chưa thích ứng với người đọc, dần dần rồi nó sẽ trở thành quen tai quen mắt. Ngày xưa người ta tránh dùng những tiếng gọi của bộ phận sinh dục nam nữ. Những tiếng ỉa, đái, đụ, bú, đít. v.v.. và nhiều từ khác không được phổ biến. Bây giờ chúng ta thấy các từ nầy xuất hiện trong văn thơ từ trong nước ra tới hải ngoại, lúc đầu thấy nó chướng, ngượng ngùng, riết rồi quen dần và bây giờ chúng ta không còn cảm giác khó chịu như lúc ban đầu. Nghĩ cho cùng, nếu chúng ta không dùng những chữ nầy thì chúng ta thay thế chữ nào cho chính xác, mang tính trần trụi. Mà tại sao khi nói thì được, mà khi viết lại tránh nó. Cho nên thích gì chúng ta cứ viết ra thoải mái, không việc gì phải tránh, phải né. Miễn sao khi ta dùng đúng chỗ, đúng nghĩa. Bài thơ tự nhiên sẽ hay. Chúng ta đừng lạm dụng nó dùng một cách bừa bải.

Bài thơ hay là bài thơ chống chỏi được với thời gian, được thời gian sàng lọc vẫn đứng vững được. Còn những bài không chịu được sự thử thách nầy, nó sẽ chìm vào quên lãng. Người đọc nên rộng lượng, dành cho những nhà thơ cách tân có dịp, có cơ hội thử nghiệm và phô diễn những thi ca mới mẻ của mình. Còn chuyện thành công hay thất bại còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố quyết định nó. Người làm thơ phải có một tư cách trong sáng, không nên có những tị hiềm với những dòng thi ca không hợp với mình. Tôi cũng là người làm thơ (tuy thơ của tôi thuộc loại lẩm cẩm, vô tích sự), Tôi cũng chấp nhận những loại thơ cách tân, khai phá, bí hiểm. Thế mà có nhiều bài thơ đọc đi đọc lại tôi không biết tác giả nói gì. Tác giả làm thơ cho mình hay làm thơ cho người khác đọc. Nếu làm thơ chỉ để cho riêng mình thì gửi đăng báo để làm gì?

Tôi thú thật, ngày xưa khi mới lớn tôi mê và thuộc lòng tất cả những bài thơ thời tiền chiến. Dần dần theo tuổi tác tôi không còn thích thú khi đọc lại những bài thơ nầy. Tôi vẫn giữ sự kính trọng, vẫn trân quý những bài thơ nầy, dù gì thì nó cũng mang đến một làn gió mới, thổi tung những niêm luật gò bó, là cuộc cách mạng văn học “long trời lỡ đất” lúc chữ Quốc Ngữ còn phôi thai, công ơn nầy chúng ta vẫn ghi nhớ, nhưng thích thú thì tôi không có cảm giác đó nữa. Cũng như đọc lại Tự Lực Văn Đoàn tôi cũng có cảm giác nầy. Ngoại trừ một tác giả bây giờ đọc vẫn còn thấy hay là Thạch Lam. Hỏi tôi tại sao thì tôi không trả lời được. Giai đoạn của họ là giai đoạn của lịch sử, công lao của họ rất lớn cho văn học nước nhà. Trong thâm tâm tôi vẫn còn kính trọng, nhưng bây giờ đọc cho rằng hay thì tôi không chịu. Một lần tham dự một buổi lễ gì đó, một cô lên ngâm bài thơ của Nguyễn Bính có câu: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi / Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn”. Mới ngâm có hai câu đầu nầy, một ông bên cạnh nói với tôi hai câu thơ hay quá. Tôi giật mình, à thì vẫn còn có nhiều người thưởng thức thơ dễ dàng kiểu nầy. Sự thưởng ngoạn cũng tùy thuộc từng loại độc giả. Những người thích thơ cũ, bắt họ đọc thơ mới nhất là thơ cách tân thì làm sao họ chịu được. Thành phần đọc thơ dễ dàng hiện nay lại chiếm đa số, không ai xê xuyển họ được. Cho nên con đường tiến của thơ tự do cũng gặp nhiều trở ngại không ít.

Tôi quen với nhà thơ Trần Vấn Lệ, tôi gặp anh ở California. Trong một bữa nhậu anh nói với tôi là có nhiều tờ báo anh gửi bài, họ chỉ đọc thấy tên anh là họ ném vào sọt rác vì thơ của anh không hợp với họ. Anh Trần Vấn Lệ là một nhà thơ nổi tiếng. Lần đầu tiên tôi nghe một người thành danh như anh thành thật nói lên điều đó. Anh không phê phán hay buồn lòng, anh cho đây là chuyện thường tình thích thì họ đăng không thích thì họ vất, thế thôi. Đó là một cử chỉ của một người đàn anh đáng phục mà tôi thấy ít ai có được đức tính nầy. Những nhà thơ thuộc loại dấn thân mà tôi đã quen như Chân Phương, Trần Thiên Thị, Huỳnh Lê Nhật Tấn, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lý Đợi, Ngu Yên v.v..những bài thơ của họ tôi thích lắm, không mang cách làm dáng chữ nghĩa, phô trương kiến thức hay lập dị.  Thơ phải đượm chút suy nghĩ, sâu sắc, trí tuệ một và những nhà thơ kể trên hội đủ những điều mà tôi mong muốn. Thơ cần phải dùng ngôn từ mới, lạ, có chiều sâu. Một bài thơ hay dễ cảm nhận ngay bởi chính nó toát lên được phần hồn tinh túy, không cần phải chữ nghĩa rườm rà, cố tình đánh lận người đọc.

Thơ hay cũng như đãi vàng trên cát, hiếm và quí. Còn loại sàn sàn thì nhiều vô kể. Người làm thơ ai cũng mang một hoài bão là nổi tiếng. Chính vì vậy họ bất chấp tất cả thủ đoạn. Họ thấy báo nào đăng được của họ là họ gửi tới tấp và chính họ cũng không biết bài thơ của họ nói lên cái gì. Họ không cần phải đọc của ai, họ không biết thơ hay của người khác. Chỉ biết của mình và chỉ có mình, nên xoay đi xoay lại chính họ dẫm chân lên họ, lặp đi lặp lại chữ nghĩa của họ. Có một nhà phê bình văn học cho loại nầy là múa tay không qua khỏi đầu. Loại nầy thường cố chấp chiếm lĩnh đất đai trồng những loại cây thơ èo uột, không tăng trưởng nỗi. Ít ai nhận ra được điều đó nên bắt người khác phải đọc những bài thơ lẫm cẩm thế nầy.

Hồi còn ở trên Boston, có một nhà thơ mà anh em thường gọi đùa là “nhà thơ bí hiểm”. Anh tự chế ra nhiều chữ để dùng trong thơ của anh, anh ghép chữ nầy qua chữ kia đến nỗi không ai hiểu hết, càng “bí hiểm” càng tốt. Anh chê tất cả những người làm thơ không bắt kịp trào lưu tiến hóa của thi ca quốc tế, chỉ có anh mới “khai phá” đúng nghĩa nhất. Mỗi lần anh em gặp nhau, anh in ra một số bài thơ mới làm cho anh em đọc. Ai cũng lắc đầu không hiểu thơ anh nói gì. Lúc đầu tưởng rằng anh thất vọng, nhưng sau, anh thấy mọi người đọc đều làm thinh anh biết là mọi người không hiểu, anh lại càng thích thú. Anh bảo thơ như vậy mới để đời, còn thơ mấy ông thuộc loại “mì ăn liền”, nuốt trôi bây giờ nhưng về sau không ngửi được nữa. Ngồi nghe anh nói chuyện như một triết gia điên. Anh không gửi thơ cho báo nào vì anh chê tất cả không đủ trình độ đăng thơ của anh. Tôi tưởng chỉ có một mình anh, thế nhưng đi nhiều nơi tôi mới biết “típ” người như anh nơi nào cũng có. Hơn hoặc kém anh chút đỉnh: Tự cao tự đại, xem thơ của mình là nhất thiên hạ. Cũng có một số nhà thơ dùng thơ làm phương tiện bươi móc, nói cạnh nói khóe, chê bai kẻ khác. Họ cho những chuyện họ làm che mắt được thiên hạ.

Căn bệnh trong làng thi ca nhiều trò nhiều kiểu, nói mãi không hết được. Thơ cũ chê thơ mới không biết niêm luật thơ. Thơ mới chê thơ cũ gò bó trong vần điệu lỗi thời. Bên nào cũng đúng. Có một điều quan trọng mà không bên nào chịu hiểu là làm thế nào cho thơ hay. Đó mới quan trọng. Một căn bệnh trầm trọng là những người làm thơ không ai cho rằng thơ của mình dở cả. Bao giờ thơ của mình cũng vô địch trong thiên hạ, dù mình mới tập tễnh làm thơ. Tình trạng nầy không phải riêng tại hải ngoại mà ngay trong nước cũng thế. Chính vì vậy thơ in loạn cào cào không qua sự gạn lọc của ai cả. Có tiền là có thể trở thành thi sĩ, đông vui không chịu được.  Vì vậy, tìm một bài thơ hay rất khó, cũng may là khó nhưng không phải là không có.

Cũng như trong phần mở đầu bài viết, tôi xin xác nhận lại là những gì tôi viết trên đây mang tính cách cá nhân, không theo một đường hướng hay mục đích nào cả. Những gì tôi viết mang tính “đề nghị” chứ không mang tính “khẳng định”, vì có thể đúng với người nầy mà lại sai với người khác và xem nó như một bài tản mạn về thơ chơi cho vui, nên có thể không phù hợp với nhiều người. Kính mong quý vị tha lỗi.

Houston, 04 tháng 9 năm 2011.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: