Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Sol Duc Falls

    Back to forest

    Prairie Falcon 2016

    Starry night

    It was snowing !

    Northern Flicker (Intergrade)

    Northern Pintail descent

    It's as Easy as 1-2-3

    Dolls clinic.

    Superstition Mountains

    More Photos
  • Lưu trữ

LÁ THƯ HOUSTON

Posted by phanxuansinh on Tháng Năm 20, 2011

LÁ THƯ HOUSTON

Trong Lá Thư Houston mấy kỳ trước chúng tôi có nhắc đến một cây viết được bạn đọc yêu thích ở Houston. Kỳ này chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tác giả Phan Xuân Sinh, cựu sĩ quan, thương binh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, người đã có nhiều bài viết từ thập niên 1960, đã đoạt giải nhất về sáng tác thơ toàn thành phố Đà Nẵng lúc ông còn đang là học sinh Trung học.

Xin phép được dùng danh xưng “tác giả” hoặc “cây viết” vì tác giả Phan Xuân Sinh không tán thành danh xưng “văn sĩ/nhà văn” hay ”thi sĩ/nhà thơ” mà nhiều nhà phê bình đã gọi ông. Trong khuôn khổ giới hạn của Lá Thư Houston kỳ này, chúng tôi xin tường trình những nét nổi bật nhất về cây viết Phan Xuân Sinh. Mời qúy bạn đọc vào hai trang web www.phanxuansinh.net

www.phanxuansinh.com

để có thêm nhiều chi tiết rất thú vị.

Những tác phẩm chính của Phan Xuân Sinh (PXS) đã xuất bản có thể lược kê như sau:

Về văn xuôi: BƠI TRÊN DÒNG NƯỚC NGƯỢC,

SỐNG VỚI THỜI QÚA VÃNG, …

Về văn vần: KHI TÌNH ĐANG RU ĐỜI,

ĐỨNG DƯỚI TRỜI ĐỔ NÁT, …

Ngoài ra, tác giả PXS còn có nhiều bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau, đã đăng rải rác trên các nhật báo hay tạp chí, đặc san, từ trước năm 1975 ở VNCH và sau 1975 ở hải ngoại.

Một giáo sư đại học Mỹ là Tiến sĩ Christian G. Appy đã phỏng vấn tác giả PXS và đăng bài trả lời trong cuốn sách PATRIOTS, The Vietnam War Remembered From All Sides, Trang 25-27, Nhà Xuất bản Viking trong hệ thống Penguin Group, Inc., New York, năm 2003.

Trong một Lá Thư Houston trước đây chúng tôi có trích dẫn bài trả lời này của tác giả PXS thật là đầy tình tự dân tộc với phát biểu trung thực, ngay thẳng, không cộng sản mà cũng không giả hiệu quốc gia để trục lợi trên xương máu của binh sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà.

Tiếc thay, một đôi người hẹp hòi, bè phái, qúa khích, đã có ác ý xuyên tạc thiện ý của tác giả PXS. Với tư cách là một bạn đọc khách quan, công bình, chúng tôi xin mạn phép nói thẳng rằng tác gỉa PXS là một cây viết yêu nước chân chính, đích thực, là một người Quốc Gia thật sự trong sáng.

Bây giờ mời qúy bạn đọc báo Văn Nghệ Tiền Phong xem bài bình phẩm về cuốn ĐỨNG DƯỚI TRỜI ĐỔ NÁT của Phan Xuân Sinh.

NguồnNguyễn Hàn Chung: Chim bỏ đàn xa xứ ôm nỗi nhớ tàn phai
By HoangHac • Mar 21st, 2011 • Category: Giới Thiệu Tác Giả & Tác Phẩm

Có người cho rằng mạch thơ trong Đứng dưới trời đổ nát của Sinh ít tung tẩy chữ nghĩa như một số bài thơ của anh sau này.Tôi không nghĩ thế ,đọc hết tập thơ ráng căng con mắt thấu thị nhìn vào trong vỉa từ thơ anh tôi cảm thấu trong nội hàm ẩn chứa nhiều phong vị .Trước tiên là phong vị cổ thi’’ta.Trời tây mỏi mắt-người Trời đông chau mày-hai phương mà như một –nào đâu người có hay’’(bên kia nỗi nhớ).Tứ thơ với những hình ảnh ước lệ ngựa hồ ,đất khách cố xứ ,chân mây sẽ khá cũ càng nếu anh không có những câu thơ khải truyền cho từ một tải trọng đời sống huyết tận ‘’khẽ chạm vào huyệt lộ-bỗng dưng người mất tăm’’’’bóng đè lên thân phận –ta đang chiêu hồn ai?).

NguồnNguyễn Hàn Chung: Chim bỏ đàn xa xứ ôm nỗi nhớ tàn phai
By HoangHac • Mar 21st, 2011 • Category: Giới Thiệu Tác Giả & Tác Phẩm

Đắm mình trong nguồn mạch văn chương khí khái hào sảng ngày trước 1975 anh có những bài thơ thấm đẫm hào khí, ngôn từ trong thơ nhắm vào đối tượng với tư cách ngôn từ thông thường ít nhiều còn mang tính tượng trưng nhưng mê đồ chữ nghĩa đã biến dị hiển lộ bản sắc cá nhân với những luận chứng ,luận cứ làm cơ sở của xúc cảm khẳng định lý tưởng hoài bão ôm ấp của mình (hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(một đoạn cho Kiều )(gặp lại bạn ta).Những bài thơ ngóng vọng cố hương của PXS theo tôi đã đạt tới cảnh giới thơ khả thơ phi thường thơ bởi lòng anh và hình tượng thơ đã hòa mạch vào nhau nói như lời Kim Thánh Thán ‘’chỗ mà lòng tới rồi bút bất tất phải tới nữa’’ .Ta hãy nhâm nhi vài ly chữ của Sinh“nửa đêm còn vọng tiếng ai-nghe oan hồn khóc bên tai rã rời-giật mình chỉ biết ngậm ngùi-
làm sao chia bớt với người nỗi đau’’(bay qua đời khói sương)
Câu thơ cuối cùng kết tứ cho đọan thơ dường như vô hình trung đã vận, đã mắc vào đời anh với niềm trăn trở làm sao gánh vác bớt nỗi đau bè bạn ‘’chìm sâu ngàn trùng’’ hoặc ‘’lây lất khốn cùng bến mê’’.(Và theo như tôi biết từ khi anh còn lăn lóc chốn chợ trời cố xứ hay sau khi lăn lộn kiếm được chút của nả xứ người bao bè bạn quê nhà đã được anh cưu mang ,đùm bọc mà anh giống như bậc hành giả dù viết cả một tập truyện ký mang mang hồi ức anh vẫn kín tiếng không hề thố lộ cùng ai)

Một số bài thơ trong ba tập thơ của anh nói như lời nhà thơ Trần Doãn Nho trong bài Vài suy nghĩ về ”sống với thời quá vãng’’ ‘’đã đi vào lòng độc giả với cái chất hiện thực chan hòa trong lối lý sự rất riêng ‘’cái lối lý sự giận dỗi lửa rơm mà hầu như bất cứ ông nhà thơ Quảng Nam kim cổ nào không mắc cũng là mang:‘’muốn may miệng những thằng láu cá-Bợ đỡ tung hô kẻ bất tài ‘’ ‘’khàn hơi chỉ mặt đứa gian manh-bán đứng anh em chơi trò lừa lọc-núp sau lưng đoạt cuộc tranh giành’’ Giận phường bội bạc , ngòi bút anh tung hoành rót về tứ phương để trút cơn phẫn hận chứ ngoài đời anh rất hiền, bạn bè chỉ thấy một PXS chưa hề nặng lời với ai kể cả những kẻ không ra gì…
Những bài thơ viết về vợ của anh rất chân thật và cảm động bởi nó không màu mè dối trá như một số nhà thơ khác .Hơn ai hết anh cảm thấu người bạn đời
là người ‘’cắn răng chịu đời khổ tận –u uất trong lòng-đắng cay chồng chất’’để ông nhà thơ tự thú ‘’ hư thân, bạt mạng ,cuồng ngông, hoang đàng’ ’lao tâm khổ tứ chơi cái trò phụng hiến con chữ mà con chữ hỡi ơi vĩnh viễn hay phù du nào ai biết ai hay.Mảng thơ viết về bạn của anh dàn trải trong nhiều bài thơ ‘’chén rượu tạ lòng bạn hiền-gặp lại bạn ta-nói chuyện với bạn hiền …’’thật sự bộc tỏ lòng anh với bạn’’ ta gióng chuông kêu lên tức tưởi-những oan hồn vất vưởng đâu đây-âm dương .cùng ngồi chung manh chiếu-bạn,thù .chia nhau chén rượu đầy..(nói chuyện với những bạn hiền )
Thơ PXS đặc dị ở chỗ có những câu anh viết rất trụi trần không câu nệ ngôn ngữ toàn dân hay khẩu ngữ nhưng vẫn có tính hàm súc cao,từng câu đều có tính độc lập nội tại, nhiều câu có chiều hướng hướng tới tính chất và cấu trúc của những cách ngôn(hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(đêm nằm nhớ Ức Trai)(nói chuyện với những người sinh vào thiên kỷ mới).
Đứng dưới trời đổ nát của PXS dù vẫn chưa thoát ra mô tip thơ ngất ngây hào khí vang bóng của lớp trai thời loạn một thời nhưng trong thơ anh trời đổ nát đã tái sinh với những hình tượng huyễn tưởng đan cài .Đọc thơ anh không chỉ những tên đồng thị thiên nhai luân lạc nhân , suốt đời vật vã- chạy vòng quanh kiếm tìm trên bước đời lưu lãng chúng ta hắt hiu lòng vọng nhớ những Giếng Bộng,Đò Xu cũ càng,một Cầu Vồng dốc ngược, bến phà Hà Thân đã chết mà những bè bạn quê nhà những kẻ đầu non cuối chợ,búa rìu bổ lên đầu lên cổ cũng tìm trong bóng chữ trong thơ PXS một chút bóng dáng an ủy
trong những năm tháng cuối đời.
Cái tài tình của nhà thơ Phan Xuân Sinh trong tập thơ Đứng dưới trời đổ nát là tuy vẫn bám vào các thể loại cấu trúc của truyền thống cũ nhưng lại nhằm vào những tầng sâu hơn của truyền thống để can dự vào các đề tài vĩnh cữu :tình yêu,quê hương, cái chết ,nỗi đau, niềm tin ,chiến bại… Và một điều đáng để những ai yêu quý thơ PXS lưu tâm là bất cứ dự cảm nào trong hình tượng thơ anh cũng bộc tỏ phong cách rất riêng của người nghệ sĩ không lẫn vào bất cứ nhà thơ hải ngoại nào .Phải chăng đây chính là bản lai chân diện mục của hồn thơ Phan Xuân Sinh!..
Viết tại Lầu Cây khế -Houston Texas
Tác giả:
Nguyễn Hàn Chung
Tháng 10/2009

Và sau đây là quan niệm về THƠ của tác giả PHAN XUÂN SINH:

QUAN NIỆM VỀ THƠ

Phan Xuân Sinh
trả lời Lê Bảo Hoàng

Câu hỏi thật đơn giản mà cũng thật khó. Khi chưa có ai đặt cho tôi câu hỏi nầy, thì trong đầu tôi “chẳng có quan niệm” gì cả, thơ miễn sao làm cho hay thì được rồi. Thế nhưng cái khó của người làm thơ là làm sao mình biết được thơ mình hay? Một nhận định khách quan thường phải do người đọc nhận xét. Tâm lý chung chung người làm thơ nào dù mới chập chững, cũng đều cho rằng thơ của mình thuộc thiên hạ đệ nhất. Không thể nào dở được, nếu ai chê thì người đó ganh ghét, hoặc lòng dạ hẹp hòi. Chứ mình thì không thể nào chấp nhận thơ mình dở được. Cái mâu thuẩn đáng ghét đó chính là cái nguyên nhân tạo nên những nhà thơ, họ lầm lì sáng tác, chai mặt sáng tác, bất kể búa rìu dư luận. Bài thơ sau hay hơn bài thơ trước, bước đi lúc đầu chập chững, nhưng về sau vững vàng. Họ làm mãi, trau chuốt dần dần, sửa tới sửa lui, câu kéo không còn lòng thòng mà trở thành cô đọng. Ðúng là văn ôn võ luyện. Thơ không thuộc loại tuyệt phẩm, thì ít ra cũng thuộc loại hay. Sự thành công của những người nầy, rất ít trong giới cầm bút. Những người làm thơ hay phần đông họ có năng khiếu. Bài thơ của họ chào đời được đón nhận ngay. Họ được ưu đãi và trọng vọng.

Tôi không thuộc vào hai lớp người trên, không có cái khiếu làm thơ, khi đọc thơ của thiên hạ tôi thấy những điều tôi nghĩ, họ đã nói giùm tôi hết rồi, mà lại nói hay hơn những điều tôi nghĩ. Tôi không nhẫn nhục can đảm ngồi lì để trau chuốt từng chữ, từng ý, như những người không có năng khiếu nhưng biết học hỏi, biết nhận thức. Nên tôi ngại không dám viết. Trong đời sống thường nhật không dễ gì đọc được những bài thơ vừa ý, số nầy ít ỏi quá. Thường thì đọc các bài thơ lẩm cẩm thì nhiều. Buồn tình tôi ngồi làm thơ cho mình tự đọc chơi, dần dần trở thành thói quen. Tôi thì làm thơ “phang” đại, tới đâu thì tới, không giống ai hết. Nói lên cái ý của mình muốn nói. Gửi gấm chút tâm sự, chút lòng mình ao ước. Nên thơ tôi cục mịch, chữ nghĩa rẻ rúng, không chắt lọc, không cao siêu. Thơ của tôi dành cho những người dễ dãi đọc chơi rồi bỏ qua. Còn đối với những người khó tính, thì họ không chấp nhận loại thơ như thế nầy. Loại thơ bình dân, không cân não, không trí tuệ.

Cho nên quan niệm về thơ của tôi cũng thật đơn giản. Thơ phải dễ hiểu, chữ dùng đơn giản, ý thơ đâu đó rõ ràng. Tôi biết thơ mà như vậy thì không “thơ mộng” chút nào. Thế nhưng quen rồi không đổi được, cái quan niệm cổ lỗ sỉ nầy đã trở thành một cái rãnh quá sâu, không sao khỏa lấp được. Kính mong quí độc giả lượng thứ cho.

Ðối với tôi thói quen thì có, còn kinh nghiệm thì không. Bởi lẽ làm thơ đối với tôi như một trò chơi, một trò chơi không cần phải có đối thủ hoặc người đồng hành. Sống ở nước người tìm một người chơi những trò chơi khác với mình thì quá khó, ai cũng bận bịu công chuyên, chưa đến tuổi hưu trí để ngồi tán gẫu cả ngày. Thôi thì chơi thơ vậy. Tôi chỉ còn chập chững, chưa có chút kinh nghiệm nào khi làm thơ, cho nên không tiện đề cập đến cái “kinh nghiệm”. Thói quen thì như thế nầy, không biết có nên gọi là thói quen hay không? Khi công việc bề bộn, thì tự nhiên muốn làm thơ. Mấy người bạn của tôi hay nói đùa rằng ” đó là lý do trốn tránh công việc”. Còn tôi thì cho rằng căn thẳng với công việc, nên “thơ” tự nhiên đến để làm thư giản tinh thần, nếu không có thơ chắc điên mất. Trước đây tôi có một hiệu buôn nhỏ, bên cạnh máy tính tiền tôi đứng, bao giờ tôi cũng đặt sẵn một tờ giấy trắng và một cây bút. Khi khách vừa vắng vắng là tôi làm được vài câu thơ. Thế là tôi đi ngược với anh Luân Hoán, đọc ở đâu đó lâu rồi chị Lý vợ anh thổ lộ cho biết, anh Luân Hoán khi làm thơ nằm trên giường. Còn tôi thì làm thơ phải đứng. Nói cho vui vậy chứ tôi chẳng có thói quen nào hết, lúc ngồi trên xe đậu ở parking chờ vợ đi chợ, chẳng biết làm gì lấy viết làm vài câu thơ để đó. Vài tháng sau vô tình tìm được móc ra làm tiếp. Vài ba tháng có khi không làm được bài thơ nào, nhưng cũng có lúc một tháng làm được vài bài. Tôi lái xe mà miệng lấp nhấp là bà xã tôi biết tôi đang bị thơ hành, bà vội vàng lấy tập vở ghi một vài câu tôi đọc. Nửa đêm ngủ không được, nhè nhẹ ra ngoài phòng khách ngồi làm thơ, nhiều khi chẳng rặng ra được câu nào. Thơ thì làm nhiều, nhưng vài ba ngày đọc lại thấy không giống ai đành xé bỏ, số lượng xé bỏ nhiều hơn gấp bội số lượng giữ lại. Một năm chỉ được vài ba bài trình làng xóm cho vui, cho nên tôi rất phục những người làm thơ nhanh và nhiều. Ngoài chuyện làm thơ, thỉnh thoảng tôi cũng hay viết truyện, tùy bút v.v… Có lẽ viết văn xuôi dễ dàng hơn làm thơ. Thơ đòi hỏi phải có cảm hứng thì mới làm được, còn văn thì không cần điều nầy. Hình thành được cốt truyện trong đầu, thì bất cứ lúc nào đặt bút xuống cũng viết được.

Phan Xuân Sinh

Kính chào tạm biệt qúy bạn đọc, và xin hẹn tái ngộ trong LÁ THƯ HOUSTON kỳ tới.

Đào Phan Lưu

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: