Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • It's a Family Affair...

    Trains (over the bridge)

    Burrowing Owl

    Morning sunlight2

    Entrapment

    Ceannabeinne

    Mammatus over Kansas

    Cuckoo, Cuckoo

    Aliens - dormant...

    b r û l é e | marin county, california

    More Photos
  • Lưu trữ

SỢ

Posted by phanxuansinh on Tháng Tư 22, 2011

phiếm

SỢ

Phan Xuân Sinh

Hôm nay bắt chước ông bạn già của tôi nhà văn Song Thao, viết một bài phiếm và đề tài chỉ một chữ “Sợ”. Không biết cái đề nầy anh Song Thao đã viết chưa? Nếu viết rồi thì xin anh cho tôi “cầm nhầm” một chút, bởi vì tôi muốn viết về cái “sợ” của người Việt Nam mình. Thường thì chúng ta đọc  “phiếm” của Song Thao, cái đề của anh chỉ một chữ, nhưng chứa đựng một kho tàng đông tây kim cổ được anh sưu tầm một cách ngoạn mục, rồi nhắc vào con chữ và trang giấy của anh một cách tài tình. Người đọc cười tủm tỉm nhưng rất sảng khoái. Đề tài của tôi hạn hẹp chỉ vòng quanh xa gần với anh em mình, bà con mình, không cần phải vận dụng “đông tây kim cổ” quá lớn như anh Song Thao. Mong rằng người đọc sẽ tha thứ cho sự hiểu biết sơ sài, nông cạn của tôi. Tôi hy vọng sẽ mang đến cho người đọc nụ cười “một nửa” thôi, đủ mãng nguyện lắm rồi. Nếu có sự trùng hợp thì chỉ là sự vô tình. Kính mong độc giả lượng tình tha thứ.

“Sợ” hình như nó bắt nguồn từ lâu đời, nó đã ăn sâu trong huyết quảng của người Việt mình. Dưới sự đô hộ một ngàn năm của Tàu, thử tưởng tượng ông bà mình sống trong hoàng cảnh nầy mà không biết sợ thì đi chầu Diêm Vương ngay. Sở dĩ biết sợ nên răm rắp vâng lời, mới duy trì được cuộc sống đến đời chúng ta hôm nay. Cái sợ nó đã thấm đẩm trong máu chúng ta, nó đe dọa cuộc sống của chúng ta không nhiều thì ít, không ngoại trừ bất cứ ai. Ông Tàu “Tô Định” giận hét lên một tiếng thì từ vua tới quan của ta đều sốn đái trong quần, kể chi tới hàng thứ dân cùng đinh như lá cỏ, muốn chém giết ai chẳng được. Nên tổ tiên của mình luôn luôn sống trong sợ hãi, cái máu sợ hãi di truyền đến đời cha ông chúng ta thì gặp cái lúc thực dân Pháp cai trị.

Pháp dù sao đi nữa nó cũng không sắt máu bằng Tàu, thế nhưng chỉ dễ thở hơn một chút thôi, chứ không biết sợ cũng dễ bay đầu như chơi. Ba tôi kể lại rằng mỗi lần Tây Lê Dương bố ráp xóm tôi ở Đà Nẵng là đàn ông biết tiếng tây trốn mất, chỉ có hai bà cô thứ bảy và thứ chín của tôi biết tiếng tây ra đối phó. Nếu bọn tây nầy đàng hoàng thì hai bà dẫn đi từng nhà làm thông ngôn cho họ lục xét. Còn nếu bọn nầy dở trò cà chớn thì hai bà la lớn lên: “Đại úy, cứu chúng tôi”. Tức thì ông Đại úy trưởng kho xăng gần nhà tôi, dẫn lính chạy ra can thiệp ngay. Mà tụi Tây thấy đàn bà biết tiếng tây nó cũng nễ một phần, một phần nó cũng sợ cấp chỉ huy. Thường thường thì lính trong đồn đi tuần tiểu chung quanh vì sợ Việt Minh trà trộn trong xóm để phá hoại kho xăng. Mấy thằng lính mới tới, khi lục xét thấy đàn bà con gái muốn dở trò hãm hiếp là hai bà cô tôi la toán lên. Ông đại úy cầm batoon chạy trước, lính của ông cầm súng chạy sau. Cây batoon của ông đánh tới tấp mấy thằng lính cà chớn nầy. Thành thử xóm của tôi lúc ấy cũng bớt sợ. Tôi hỏi ba tôi lại sao mấy bác và ba tiếng tây giỏi hơn hai cô mà không ra làm thông ngôn, để hai cô phải làm chuyện ấy? Ba tôi bảo là đàn ông ra nói chuyện với chúng nó đôi khi nó chẳng thèm nghe mà còn xúm lại đánh mình. Mình chưa kịp kêu cứu thì đã bị đánh nhừ tử. Cho nên ai cũng sợ đi trốn hết. Còn đàn bà mà nói được tiếng tây chúng nó cũng nễ nang hơn. À, thì té ra tụi tây phương trước đây cũng coi trọng đàn bà.

Đó là mấy chuyện sợ của thời xa xưa, đến đời tôi lúc ấy đất nước mới chia cắt, sống trong thanh bình, ông Ngô Đình Diệm điều khiển đất nước từ vĩ tuyến 17 trở vào, còn bên kia do ông Hồ Chí Minh cầm đầu miền Bắc. Những năm đầu thanh bình, người dân Miền Nam không còn phải sợ sệt như thời Pháp thuộc, ai cũng nghĩ như vậy. Thế nhưng dưới con mắt thơ ngây của tôi lúc đó, chính tôi đã chứng kiến những oan khiên mà người dân dưới thời ông Diệm phải gánh chịu.

Năm tôi học lớp tư (lớp hai bây giờ), Khoản năm 1956, Tổng Thống đi kinh lý Đà Nẵng. Học sinh trường tôi 3 giờ sáng phải dậy tập trung ở trường để đi đón Tổng Thống. Trước khi các thầy cô giáo dẫn chúng tôi ra ngoài đường Trưng Nữ Vương, con đường dẫn từ phi trường vào thành phố Đà Nẵng, thì cán bô thông tin quận Hòa Vang (tôi học trường tiểu học Hòa Vang lúc ấy),  lên micro dặn dò học sinh, trước khi đứng vào vị trí hai bên đường chờ xe Tổng Thống đi qua. Thay vì dặn dò thì ông cán bộ thông tin nầy dùng lời lẽ hăm dọa: “Khi xe Tổng Tống đi qua, tôi hô “hoan hô Tổng Thống” thì các em hô “hoan hô”. Tôi hô “đá đảo Cộng Sản” thì các em hô “đá đảo”. Nếu tôi hô “hoan hô” mà các em hô “đá đảo”…thì các em chết với tôi”. Ông ta nghiến răng để tỏ thái độ răng đe. Nghe xong huấn thị thì đứa nào cũng sợ run người. 12 giờ trưa, xe Tổng Thống tới. Không biết tại sao khi tới chỗ chúng tôi đứng, xe ngừng lại và Tỏng Thống bước xuống đi bộ một đoạn hỏi thăm học sinh, rồi lên xe đi tiếp. Thằng bạn học một lớp, tên là Ca cùng xóm với tôi, miệng nó hay ăn nói bậy bạ và có giọng cười hô hố rất khó chịu. Ca xoay qua tôi cười hô hố và nói oan oan: “Tổng Thống gì mà mập như con heo”. Vừa nói xong, tức thì có một bàn tay chụp lên đầu nó, nắm tóc nó kéo ra phía sau. Tôi nhìn theo thấy ông ta một tay cầm tóc nó kéo lên, một tay vả vào mồm nó liên tục, máu từ miệng văng ra Tôi sợ quá không dám nhìn tiếp. Công An, mật vụ đứng phía sau học sinh mà chúng tôi không hề hay biết.

Khi tan hàng, tôi chạy về nhà thằng Ca báo cho cha mẹ nó biết là nó bị bắt, đang giữ trên quận Hòa Vang. Cha mẹ của Ca là phu khuân vác gạo ở bến tàu. Mới vừa đi làm về, cha nó không kịp thay áo quần, mặc quần xà lỏn, áo cánh, trên vai còn cái khăn vác gạo. Ông chạy lên quận để xin cho con về. Chừng hai giờ sau, ông khiêng thằng Ca về nhà, nó nằm bất tĩnh, thân hình bầm nát. Ba tôi và tôi chạy qua nhà để hỏi thăm tin tức. Trông thấy mặt mày của ông cũng bị sưng vù. Ba tôi hỏi cớ sự làm sao mà cha con bị đánh sưng mày sưng mặt như vậy, thì được ông cho biết là họ ghép ông vào hai tội. Tội thứ nhất là coi thường công quyền quận, đến cơ quan công quyền mà mặc quần xà lỏn, áo cánh (giống như áo bà ba cắt ngắn tay, những người lao động thời đó hay mặc). Tôi thứ hai là không biết dạy dỗ con cái, để nó xúc phạm đến uy danh Tổng Thống. Ba tôi ngửa mặt kêu trời không thấu, chế độ gì mà cay nghiệt như vậy. Một thằng bé con mới sáu bảy tuổi, ăn nói chưa rành, suy nghĩ chưa tới, lầm lở một chút mà đánh nó như đánh kẻ thù thì làm sao trong lòng nó không nuôi oán hận. Chứng kiến mấy cái cảnh hà hiếp của công an mật vụ thời ông Diệm in sâu trong đầu óc tôi từ lúc đó. Thú thật tôi không có cảm tình với chế độ nầy cho đến bây giờ. Thằng Ca sau nầy là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, mất tích trong trận Hạ Lào (Chiến dịch Lam Sơn 719).

Một lần khác, chú Dũng (người chú họ của tôi) từ trong quê ra Đà Nẵng báo cho Ba tôi biết tin là chú phải dẹp bàn thờ ông bà để theo đạo Thiên Chúa. Nếu không họ sẽ đưa chú đi vào khu dinh điền lập ấp (giống như đi kinh tế mới dưới thời Cộng Sản). Chú hỏi Ba tôi bây giờ phải làm sao. Ba tôi không đắn đo nói với chú là nên làm theo lời họ cho yên thân, còn tin hay không là tự lòng mình biết. Cha mẹ của Chú Dũng khóc hết nước mắt, dẹp hương đèn trên bàn thờ để thờ Chúa. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm cáo chung, chú Dũng lại dẹp tượng Chúa, đem hương đèn, hình ảnh của ông bà đặt lại lên bàn thờ. Dân quê miền Trung dưới thời ông Diệm, người dân chứng kiến biết bao nhiêu cảnh oan trái mà không dám hé môi. Đêm nào cũng trông thấy người bị giết bỏ vào bao bố thả trôi sông. Cảnh tượng nầy làm cho người dân kinh hoàng sợ đến mất ăn mất ngủ. Dân chúng chưa bao giờ thấy “Cậu Cẩn” em ruột Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng nghe tên cậu ai cũng khiếp vía. Cái gì của cậu Cẩn ai cũng tránh né, không dám đụng đến. Không biết cậu có “ác” như người ta đồn hay không, nhưng bộ hạ của cậu tác oai tác quái, mượn danh cậu làm những điều “trời không dung đất không tha”. Nữa đêm nghe tiếng gỏ cửa của công an mật vụ, là xem như gia đình đó có người biến mất trên cỏi đời nầy, nếu được cho trở về cũng thân tàn ma dại. Sống trong sợ hải như vậy, thà chết cón sướng hơn. Có lẻ vì vậy mà đẩy một số người đi theo bên kia làm nồng cốt cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau nầy, hình như là MTGPMN thành lập 1960 thời của ông Diệm. Trong thời của chế độ Ngô Đình Diệm, người dân quê miền Trung đi “nhảy núi” rất nhiều. Còn bao nhiêu chuyện khác mà gia đình ông gây ra thảm họa cho rất nhiều người dân vô tội.

Có lẽ trong thời gian người dân miền Nam thoải mái nhất, ăn nói mạnh miệng mà không cần phải giữ ý tứ. Đó là thời đệ nhị Cộng Hòa. Trong thời nầy người dân mới cảm thấy được dân chủ một chút thì đúng vào lúc chiến tranh “khốc liệt” nhất. Không sợ bị bắt vì ăn nói, nhưng sợ chết vì súng đạn. Trong thành phố, nhà nào cũng làm hầm trú ẩn để tránh đạn pháo kích. Thanh niên thì sợ ra chiến trường. Không có một nơi nào an toàn cho người dân. Người dân luôn luôn sống trong sợ hải, trong lo lắng. Mặc dù trong cách sống rất thoải mái. Phải thành thật mà nói trong tất cả các chế độ từ trước tới nay, chế độ do ông Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống là chế mà người dân cảm thấy tốt nhất, ít bị công an cảnh sát khuấy nhiểu, làm phiền. Người dân được hưởng những quyền tự do, dân chủ. Còn những chuyện về chính trị của chế độ ông thế nào thì lịch sử sẽ phán xét sau nầy.

Từ 1954 đến 1975 miền Bắc sống như thế nào, sau nầy nghe những người ngoài kia vào kể lại. Thật ra cái sắc máu của thời Ngô Đình Diệm thua xa cái sắt máu của thời Hồ Chí Minh. Người dân ngoài đó răm rắp tuân hành như một trại lính. Lòng người không được ngơi nghĩ bởi những xáo trộn do đảng Cộng Sản nghĩ ra: Cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, Tiêu cực chống đảng, thanh niên đi bộ đội vào Nam giải phóng, người dân sống bằng tem phiếu, không tuân hành chế độ là bị cắt khẩu phần. Nên tất cả răm rắp tuân hành. Những món nầy không một món nào mà không đưa tới chết người. Người dân không ở trong tổ chức nầy thì ở trong tổ chức khác, kiểm soát nhau. Đến nỗi nhà văn Nguyễn Tuân cũng phải thú nhận rằng, sỡ dĩ ông sống được cho đến bây giờ là bởi vì ông “biết sợ”.

Còn sau 30 tháng 4 người dân miền Nam có còn sợ không?

Tôi không biết còn từ ngữ nào mô tả cái “sợ” mà nó hơn cả cái sợ mà từ trước tới nay tôi đã chứng kiến. Cái thời Pháp thuộc, cái thời Đệ Nhất, Đệ Nhị Công Hòa đều không ra gì so với cái “sợ” sống dưới chế độ Cộng Sản sau 30/4/1975 rất khủng khiếp và nó không trừ một ai (dĩ nhiên đám chóp bu thì tôi không biết) nhưng nói chung chung từ cán bộ cho tới nhân dân ai ai cũng sống trong sự sợ hải. Những gia đình ngụy quân, ngụy quyền thì luôn luôn bị đe dọa, nửa đêm công an tới nhà lục xét, bắt bớ, bị tịch thu nhà, đi kinh tế mới, con cái không được học hành, bị cắt khẩu phần ẩm thực v.v.. Sống trong lo âu, không biết đến lúc nào tới phiên mình. Những tháng năm từ 1975 đến 1985 người dân sống trong lo âu sợ sệt. Mười năm đó sống trong tận cùng nghèo khổ, dân chúng thê thảm sống dưới một chính sách cực kỳ cay nghiệt, ăn toàn bo bo một thứ thực phẩm chỉ dành cho heo. Chính quyền điều khiển dân chúng bằng phương thức bóp lấy bao tử người dân. Cho nên vì sợ đói toàn dân phải răm rắp tuân theo, cúi đầu khuất phục. Cán bộ thì không thể sống bằng đồng lương nên phải ăn hối lộ, mánh mung, ăn cắp của công. Người dân làm các nghề buôn bán hay sản xuất thi sưu cao thuế nặng nên làm nhiều khai ít, trốn thuế, đút lót cho cán bộ, ăn nhậu với cán bộ. Nghĩa là một chế độ tạo dựng ra tất cả mọi người đều phạm tôi. Đụng vào ai, vào thành phần nào cũng tội lỗi đầy mình. Nên ai ai cũng phải sợ, sống trong hoan mang sợ hải.

Tôi nhớ một người cán bộ từ miền Bắc vào ở gần nhà tôi. Ông là một người thanh liêm nổi tiếng trong cơ quan. Tiêu chuẩn của gia đình ông rất cao nên nhu yếu phẩm hằng tháng của ông cũng rất đặc biệt. Một hôm bà vợ ông qua nhà tôi gợi ý với vợ tôi là bà dư dùng một số nhu yếu phẩm hằng tháng, bà muốn nhượng lại cho vợ tôi để lấy tiền dùng vào chuyện khác. Thế rồi hằng tháng bà mang qua nhà tôi các thứ thịt, cá, dầu mỡ, thuốc lá, đường sữa, và rất nhiều thứ khác mà người dân bình thường không thể có được. Vợ tôi bảo là tại sao bà không mang ra chợ bán, thì được bà cho biết là bà sợ quần chúng dị nghị, sợ công an bắt điều tra những thứ nầy từ đâu ra khấy nhiểu đến tư cách của ông. Buôn bán các thứ cấm kỵ chỉ có nhà nước mới có quyền kinh danh. Nên bà sợ không dám mang ra ngoài là vì vậy. Mỗi lần bà mang các thứ nầy đến nhà tôi, bà dấu hàng trong cái rỗ đậy bằng lá chuối ngụy trang cho mọi người không biết. Tôi nghiệp, một quan cách mạng thanh liêm chỉ sống bằng đồng lương và các nhu yếu phẩm tiêu chuẩn dành cho mình mà còn phải sợ như vậy, thì thử hỏi các quan chức hối lộ làm sao mà không sợ.

Còn chuyện làm ăn bên ngoài, tất cả các Tổ Hợp cũng như Hợp Tác Xã phần đông đều trá hình. Chỉ có một ông chủ còn tất cả đều là những người làm công, nhưng phải núp dưới bóng tập thể nầy. Phường và Quận là các cơ quan trực tiếp quản lý, họ biết rỏ nhưng họ làm lơ vì nhân viên của cơ sở không khiếu nại thì xem như hợp pháp, khui ra làm gì để mất miếng ăn. Quan trọng hơn là các ông chủ của các cơ sở nầy chi tiền rộng rãi, tiếp đón hậu hỉ thì phải để yên cho họ yên thân làm ăn, để mình còn có chút cháo. Còn tiền thuế nộp cho nhà nước chỉ đại khái cho lấy lệ, phải trốn thuế để lấy tiền nầy chi cho các quan chức, tiếp khách, nhậu nhẹt. Cho nên bất cứ cơ sở sản xuất nào cũng đều có vấn đề. Nhưng nếu nhà nước điều tra thì “bức dây động rừng”, cơ sở đó chết, bị phá sản thì họ liều mạng tố cáo các quan chức đã từng ăn chịu, như cái vụ “Nguyễn Văn Mười Hai” của cơ sở nước hoa Thanh Hương ở Sài Gòn trước đây hơn hai mươi năm, lường gạt biết bao nhiêu tiền của dân, mượn đầu nầy đắp đầu kia. Đến khi công chuyện đổ bể, Nguyễn Văn Mười Hai vào tù kéo theo không biết bao nhiêu quan chức lớn nhỏ vào tù theo. Vì vậy sự phạm pháp dây chuyền nầy không ai dại gì làm ra vì bên nào cũng chết. Cái dù to che chắn đủ mọi phía. Nhưng thực chất bên nào cũng sợ mất ăn mất ngủ, nếu có ai đó tố cáo mà các cái dù không đủ che đậy. Thì phải vào tù cả đám. Không biết bây giờ đã thay đổi gì chưa, chứ từ năm 75 đến năm 90 tất cả các nơi buôn bán cũng như sản xuất chi phí cho quan chức nhiều lắm để họ che chắn cho mình làm ăn. Thế nhưng đụng tới nơi nào là xem như nơi đó không còn thuốc chữa.

Như vậy từ cán bộ tới dân ai cũng phạm pháp không nhiều thì ít, nên ai cũng phải sợ. Chính phủ cũng lo sợ dân chúng bị chèn ép quá có ngày nổi loạn. Dân chúng thì sợ chính phủ bắt bớ vì phạm tội của mình. Một chế độ mà sống trong sợ sệt thì mất đi lý thú. Bây giờ nhiều người giàu sụ, tôi nghĩ rằng đây là những đồng tiền không sáng sủa, những đồng tiền do việc làm bất hợp pháp tạo nên. Chứ làm ăn một cách đàng hoàn thì không thể nào giàu có một cách nhanh chóng như vậy được. Tôi nghĩ tất cả người cán bộ giàu có bây giờ cũng đang sống trong lo âu sợ sệt, ai cũng có những tì vết bất chính, những đồng tiền chèn ép, chận yết hầu người khác. Chúng ta ở hải ngoại về nước đụng phải các “đại gia” nầy phải kinh sợ cái lối tiêu tiền như nước của họ, chúng ta không thể tưởng tượng được cái giàu có của họ. Nếu làm ăn đàng hoàng, tuân hành thuế khóa, đồng tiền làm ra bằng mồ hôi nước mắt của mình thì không thể giàu một cách kinh khủng như vậy. Tất cả tiền bạc kiểu nầy đều bất chính, mà bất chính thì họ luôn luôn sống trong sợ hãi.

Có lẽ một nguyên nhân làm giàu nhanh nhất là đất đai. Người dân không ai có quyền quản lý hay làm chủ đất, dù đất đó xưa nay là của mình, do mình hay ông bà để lại. Cán bộ chính quyền là những người lập ra các kế hoạch xây dựng nên họ biết những đất đai nằm trong kế hoạch. Họ trưng dụng hoặc đền bù cho dân một số tiền nhỏ và họ bán lại cho người khác với số tiền lớn gây ra tệ nạn bất công trong dân chúng. Đất đó chia cho cán bộ cho nên tự nhiên tạo thành tầng lớp cán bộ giàu có là vì vậy. Ta tự hỏi cán bộ “cướp đất” như vậy có sớ không? Có lẽ trong thâm tâm của họ lúc nào cũng sợ. Họ chèn kéo nhau, bảo vệ cho nhau để vun đắp chế độ hết mình vì họ biết nếu có một nhà nước dân chủ sẽ kéo theo một sự sụp đổ và hậu quả tất nhiên không lường được cho họ. Cái gì của dân phải trả lại cho dân. Ta thử tưởng tượng xem các nhà tư sản đỏ sẽ lòi ra toàn là “kẻ cướp”.

Từ một cái nhìn bên ngoài đất nước, ta nhận ra được ngay các quan chức chóp bu họ cực kỳ giàu có, sống trong xa hoa lộng lẫy. Con cái của họ tiêu tiền như vứt rác qua cửa sổ. Họ không lường được cái giá họ phải trả sau nầy. Cái gương của sự sụp đổ của các nhà cai trị Trung Đông trong cách mạng “hoa lài” đã để lại cho họ một cái giật mình. Rồi đến một lúc nào đó chính họ cũng phải như vậy. Có lẽ họ còn “sợ hãi” hơn, hậu quả khốc liệt hơn./

Houston, 22-4-2011

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: