Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for Tháng Tư 22nd, 2011

PHAN NHỰ THỨC, MỘT ĐOẠN ĐỜI KHẮC KHỔ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 22, 2011

PHAN NHỰ THỨC

Một đoạn đời khắc khổ.

Một buổi chiều, tôi và anh Đynh Trầm Ca ngồi nhậu với vài người bạn tại nhà tôi, thì có hai người đi xe đạp tới tìm Đynh Trầm Ca. Tôi bảo với anh Phụ (tên thật của Đynh Trầm Ca) mời hai anh đó vào lai rai vài ly chơi, thì hai anh đem xe đạp vào nhà và trước khi ngồi vào bàn, anh Phụ giới thiệu hai người đó là: “Hà Nguyên Thạch và Phan Nhự Thức”. Người có bộ râu mép, trán cao là Hà Nguyên Thạch. Người có nước da ngâm ngâm, khuôn mặt xương sẩu là Phan Nhự Thức. Tên của hai anh không lạ gì với tôi, vì trước 75 thỉnh thoảng tôi đọc những bài thơ của hai anh trên những tạp chí văn nghệ ở Sài gòn. Nhưng bây giờ mới được gặp hai anh. Bữa đó chúng tôi uống thật say, tôi được biết hai anh  từ Miền Trung vào định cư tại Sài Gòn chưa được bao lâu. Những tháng năm khó khăn, cả nước lâm vào cảnh bần cùng. Các nhà thơ nhà văn của Sài Gòn  thất tha thất thểu thấy thật tội nghiệp. Có người đi bán rau muống, bán củi, bán than. Có người đi làm những công việc nặng nhọc để kiếm sống. Công dân hạng nhất (cán bộ, đảng viên v.v..) còn không đủ ăn, thì loại công dân hạng nhì (quân nhân, công chức của chế độ Sài Gòn) thì khổ biết chừng nào, quá sức te tua.

Hà Nguyên Thạch khi say thì nói nhiều, anh không còn biết sợ là gì. Còn PhanNhựThức khi say ít nói hơn, trầm ngâm hơn. Sau bữa rượu đầu tiên đó Phan Nhự Thứchay ghé nhà tôi chơi. Nhà tôi lúc đó đang sản xuất kem đánh răng, nên thỉnh thoảng anhcũng chở vài thùng kem đi bỏ mối để tìm một ít tiền chi tiêu. Dần dần rồi chúng tôi thânvới nhau, anh mượn địa chỉ nhà tôi để các bạn của anh ở Mỹ gửi quà về. Vì lúc đó anhsống chui chứ không có hộ khẩu ở Sài Gòn. Tôi có đi nhận giùm cho ảnh vài thùng quà,lần nào đi lãnh đồ ở Hải Quan Tân Sơn Nhất, tôi đều chở ảnh đi. Tôi nhớ lần đầu tiên anhnhận 1 thùng quà, anh mừng quá chân tay anh run run, thật tội nghiệp. Thật tình thì cũngchẳng bao nhiêu, nhưng đối với anh quá lớn. Tôi không bao giờ hỏi công chuyện làm ăncủa anh, vì tôi biết những việc của anh làm nặng nhọc, để kiếm miếng ăn đắp đổi quangày. Tối về anh vào Chợ Lớn ở nhờ nhà bà con hay bạn bè gì đó.

Một lần ngồi uống rượu, anh ao ước có một căn nhà ở vùng quê, nhà tranh vách đất cũngđược không cần phải cao sang, có vợ con đùm bọc lấy nhau. Cái ao ước thật đơn sơ đóthế mà ngoài tầm tay với của anh. Trong lúc đó anh Hà Nguyên Thạch thì ngược lạibằng mọi cách phải bám lấy thành phố mà sống, có bạn bè, có những tiện nghi thoải máihơn. Từ cái quan niệm chân chất ấy của Phan Nhự Thức, tôi thấy thương anh hơn và tôicũng cầu mong cho anh được toại nguyện. Sau nầy anh làm ở vựa củi trên Chợ Lớn,người làm cái nghề than củi thì suốt ngày mặt mày, chân tay lấm lem. Người anh sạm lại,nước da anh vốn dĩ ngâm ngâm đen bây giờ càng đen hơn. Thỉnh thoảng buổi chiều rổirảnh anh hay xuống nhà tôi cùng với một vài anh em nhậu vài ly, rồi lại đạp xe trở về.

Bẳng đi một thời gian, tôi ít gặp lại anh. Có người bảo với tôi là Phan Nhự Thức mở mộtquán nhậu trên Chợ Lớn. Tôi nghĩ thầm trong bụng hết đường rồi hay sao lại mở quán nhậu. Vì tôi biết tính anh ham vui với anh em, mà anh em phần đông tiền bạc chẳng bao nhiêu mà lại thích nhậu nhẹt, nội cái chuyện ghi sổ thiếu nợ sẽ đưa tới tình trạng phá sản của phần đông các anh em văn nghệ cũ ở Sài Gòn chọn cái nghề “lưu linh“ nầy. Anh Sương Biên Thùy sau nầy kể cho tôi nghe về trường hợp mở quán nhậu của ảnh. Gặp anh em thất tha thất thểu, kéo vào quán làm một tô bún “Mụ Chính”, sương sương thêm vài ly cho đời lên hương, ngày nào cũng vậy thâm thủng tiền bạc, sụp tiệm, nợ nần chồng chất. Cũng may có chương trình HO cứu anh thoát khỏi. Trước khi lên máy bay Sương Biên Thùy phải ký tờ giấy nợ qua Mỹ gửi tiền về trả, mới được yên thân. Không biết quán của Phan Nhự Thức cầm cự được bao lâu, sau nầy không nghe ai nói về quán nhậu của anh. Chắc rồi cũng lăn trên vết xe của Sương Biên Thùy.

Một buổi chiều, tôi đang ăn cơm thì Phan Nhự Thức dựng xe đạp ngoài hiên vào nhà. Tôi mời anh dùng cơm với tôi. Khi ngồi uống nước anh đưa cho tôi một giấy mời dự đám cưới một cách trịnh trọng, nhìn khuôn mặt của anh rạng rỡ, vui tươi. Tôi vừa ngạc nhiên và cũng chia vui với anh một cuộc đổi đời thật ý nghĩa, giúp anh có nơi nương tựa, có một tổ ấm mà anh hằng ao ước. Đám cưới của anh tổ chức thật đơn giản ở nhà hàng mới mở tại hồ Kỳ Hòa, phần đông những người dự trong buổi đó là anh em văn nghệ cũ Sài Gòn. Tôi ngồi gần với vợ chồng anh chị Hồ Thành Đức – Bé Ký. Trong buổi tiệc vui đó những người tham dự làm mỗi người một câu thơ ghép lại thành một bài thơ tặng anh để giữ làm kỷ niệm. Cho đến bây giờ vợ của anh Phan Nhự Thức còn giữ bài thơ của anh em tặng vợ chồng anh chị không?

Sau vài năm sống ở Mỹ, một số anh em văn nghệ báo cho biết anh Phan Nhự Thức bị ung thư, một số anh em (bạn cũ) có quyên tiền mỗi người một ít để giúp anh (sau nầy tôi mới nghe chuyện nầy). Một thời gian sau được anh em báo tin cho biết anh mất tại Sài Gòn để lại vợ và đứa con trai còn nhỏ.

Bài viết nầy kể lại một giai đoạn ngắn mà tôi biết về Phan Nhự Thức. Trong thân tình đối với Phan Nhự Thức tôi không có bề dày như một số anh em văn nghệ khác. Tôi nghĩ anh Hà Nguyên Thạch là người cùng ở Quảng Ngãi và có những sinh hoạt chung văn nghệ với Phan Nhự Thức lâu dài. Nếu có anh Hà Nguyên Thạch ở hải ngoại để viết về người  bạn thân thiết của mình thì tuyệt. tôi chỉ là người quen biết với anh, chỉ vài năm trong cuối thập niên1980, trước khi tôi đi Mỹ.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

SỢ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 22, 2011

phiếm

SỢ

Phan Xuân Sinh

Hôm nay bắt chước ông bạn già của tôi nhà văn Song Thao, viết một bài phiếm và đề tài chỉ một chữ “Sợ”. Không biết cái đề nầy anh Song Thao đã viết chưa? Nếu viết rồi thì xin anh cho tôi “cầm nhầm” một chút, bởi vì tôi muốn viết về cái “sợ” của người Việt Nam mình. Thường thì chúng ta đọc  “phiếm” của Song Thao, cái đề của anh chỉ một chữ, nhưng chứa đựng một kho tàng đông tây kim cổ được anh sưu tầm một cách ngoạn mục, rồi nhắc vào con chữ và trang giấy của anh một cách tài tình. Người đọc cười tủm tỉm nhưng rất sảng khoái. Đề tài của tôi hạn hẹp chỉ vòng quanh xa gần với anh em mình, bà con mình, không cần phải vận dụng “đông tây kim cổ” quá lớn như anh Song Thao. Mong rằng người đọc sẽ tha thứ cho sự hiểu biết sơ sài, nông cạn của tôi. Tôi hy vọng sẽ mang đến cho người đọc nụ cười “một nửa” thôi, đủ mãng nguyện lắm rồi. Nếu có sự trùng hợp thì chỉ là sự vô tình. Kính mong độc giả lượng tình tha thứ.

“Sợ” hình như nó bắt nguồn từ lâu đời, nó đã ăn sâu trong huyết quảng của người Việt mình. Dưới sự đô hộ một ngàn năm của Tàu, thử tưởng tượng ông bà mình sống trong hoàng cảnh nầy mà không biết sợ thì đi chầu Diêm Vương ngay. Sở dĩ biết sợ nên răm rắp vâng lời, mới duy trì được cuộc sống đến đời chúng ta hôm nay. Cái sợ nó đã thấm đẩm trong máu chúng ta, nó đe dọa cuộc sống của chúng ta không nhiều thì ít, không ngoại trừ bất cứ ai. Ông Tàu “Tô Định” giận hét lên một tiếng thì từ vua tới quan của ta đều sốn đái trong quần, kể chi tới hàng thứ dân cùng đinh như lá cỏ, muốn chém giết ai chẳng được. Nên tổ tiên của mình luôn luôn sống trong sợ hãi, cái máu sợ hãi di truyền đến đời cha ông chúng ta thì gặp cái lúc thực dân Pháp cai trị.

Pháp dù sao đi nữa nó cũng không sắt máu bằng Tàu, thế nhưng chỉ dễ thở hơn một chút thôi, chứ không biết sợ cũng dễ bay đầu như chơi. Ba tôi kể lại rằng mỗi lần Tây Lê Dương bố ráp xóm tôi ở Đà Nẵng là đàn ông biết tiếng tây trốn mất, chỉ có hai bà cô thứ bảy và thứ chín của tôi biết tiếng tây ra đối phó. Nếu bọn tây nầy đàng hoàng thì hai bà dẫn đi từng nhà làm thông ngôn cho họ lục xét. Còn nếu bọn nầy dở trò cà chớn thì hai bà la lớn lên: “Đại úy, cứu chúng tôi”. Tức thì ông Đại úy trưởng kho xăng gần nhà tôi, dẫn lính chạy ra can thiệp ngay. Mà tụi Tây thấy đàn bà biết tiếng tây nó cũng nễ một phần, một phần nó cũng sợ cấp chỉ huy. Thường thường thì lính trong đồn đi tuần tiểu chung quanh vì sợ Việt Minh trà trộn trong xóm để phá hoại kho xăng. Mấy thằng lính mới tới, khi lục xét thấy đàn bà con gái muốn dở trò hãm hiếp là hai bà cô tôi la toán lên. Ông đại úy cầm batoon chạy trước, lính của ông cầm súng chạy sau. Cây batoon của ông đánh tới tấp mấy thằng lính cà chớn nầy. Thành thử xóm của tôi lúc ấy cũng bớt sợ. Tôi hỏi ba tôi lại sao mấy bác và ba tiếng tây giỏi hơn hai cô mà không ra làm thông ngôn, để hai cô phải làm chuyện ấy? Ba tôi bảo là đàn ông ra nói chuyện với chúng nó đôi khi nó chẳng thèm nghe mà còn xúm lại đánh mình. Mình chưa kịp kêu cứu thì đã bị đánh nhừ tử. Cho nên ai cũng sợ đi trốn hết. Còn đàn bà mà nói được tiếng tây chúng nó cũng nễ nang hơn. À, thì té ra tụi tây phương trước đây cũng coi trọng đàn bà.

Đó là mấy chuyện sợ của thời xa xưa, đến đời tôi lúc ấy đất nước mới chia cắt, sống trong thanh bình, ông Ngô Đình Diệm điều khiển đất nước từ vĩ tuyến 17 trở vào, còn bên kia do ông Hồ Chí Minh cầm đầu miền Bắc. Những năm đầu thanh bình, người dân Miền Nam không còn phải sợ sệt như thời Pháp thuộc, ai cũng nghĩ như vậy. Thế nhưng dưới con mắt thơ ngây của tôi lúc đó, chính tôi đã chứng kiến những oan khiên mà người dân dưới thời ông Diệm phải gánh chịu.

Năm tôi học lớp tư (lớp hai bây giờ), Khoản năm 1956, Tổng Thống đi kinh lý Đà Nẵng. Học sinh trường tôi 3 giờ sáng phải dậy tập trung ở trường để đi đón Tổng Thống. Trước khi các thầy cô giáo dẫn chúng tôi ra ngoài đường Trưng Nữ Vương, con đường dẫn từ phi trường vào thành phố Đà Nẵng, thì cán bô thông tin quận Hòa Vang (tôi học trường tiểu học Hòa Vang lúc ấy),  lên micro dặn dò học sinh, trước khi đứng vào vị trí hai bên đường chờ xe Tổng Thống đi qua. Thay vì dặn dò thì ông cán bộ thông tin nầy dùng lời lẽ hăm dọa: “Khi xe Tổng Tống đi qua, tôi hô “hoan hô Tổng Thống” thì các em hô “hoan hô”. Tôi hô “đá đảo Cộng Sản” thì các em hô “đá đảo”. Nếu tôi hô “hoan hô” mà các em hô “đá đảo”…thì các em chết với tôi”. Ông ta nghiến răng để tỏ thái độ răng đe. Nghe xong huấn thị thì đứa nào cũng sợ run người. 12 giờ trưa, xe Tổng Thống tới. Không biết tại sao khi tới chỗ chúng tôi đứng, xe ngừng lại và Tỏng Thống bước xuống đi bộ một đoạn hỏi thăm học sinh, rồi lên xe đi tiếp. Thằng bạn học một lớp, tên là Ca cùng xóm với tôi, miệng nó hay ăn nói bậy bạ và có giọng cười hô hố rất khó chịu. Ca xoay qua tôi cười hô hố và nói oan oan: “Tổng Thống gì mà mập như con heo”. Vừa nói xong, tức thì có một bàn tay chụp lên đầu nó, nắm tóc nó kéo ra phía sau. Tôi nhìn theo thấy ông ta một tay cầm tóc nó kéo lên, một tay vả vào mồm nó liên tục, máu từ miệng văng ra Tôi sợ quá không dám nhìn tiếp. Công An, mật vụ đứng phía sau học sinh mà chúng tôi không hề hay biết.

Khi tan hàng, tôi chạy về nhà thằng Ca báo cho cha mẹ nó biết là nó bị bắt, đang giữ trên quận Hòa Vang. Cha mẹ của Ca là phu khuân vác gạo ở bến tàu. Mới vừa đi làm về, cha nó không kịp thay áo quần, mặc quần xà lỏn, áo cánh, trên vai còn cái khăn vác gạo. Ông chạy lên quận để xin cho con về. Chừng hai giờ sau, ông khiêng thằng Ca về nhà, nó nằm bất tĩnh, thân hình bầm nát. Ba tôi và tôi chạy qua nhà để hỏi thăm tin tức. Trông thấy mặt mày của ông cũng bị sưng vù. Ba tôi hỏi cớ sự làm sao mà cha con bị đánh sưng mày sưng mặt như vậy, thì được ông cho biết là họ ghép ông vào hai tội. Tội thứ nhất là coi thường công quyền quận, đến cơ quan công quyền mà mặc quần xà lỏn, áo cánh (giống như áo bà ba cắt ngắn tay, những người lao động thời đó hay mặc). Tôi thứ hai là không biết dạy dỗ con cái, để nó xúc phạm đến uy danh Tổng Thống. Ba tôi ngửa mặt kêu trời không thấu, chế độ gì mà cay nghiệt như vậy. Một thằng bé con mới sáu bảy tuổi, ăn nói chưa rành, suy nghĩ chưa tới, lầm lở một chút mà đánh nó như đánh kẻ thù thì làm sao trong lòng nó không nuôi oán hận. Chứng kiến mấy cái cảnh hà hiếp của công an mật vụ thời ông Diệm in sâu trong đầu óc tôi từ lúc đó. Thú thật tôi không có cảm tình với chế độ nầy cho đến bây giờ. Thằng Ca sau nầy là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, mất tích trong trận Hạ Lào (Chiến dịch Lam Sơn 719).

Một lần khác, chú Dũng (người chú họ của tôi) từ trong quê ra Đà Nẵng báo cho Ba tôi biết tin là chú phải dẹp bàn thờ ông bà để theo đạo Thiên Chúa. Nếu không họ sẽ đưa chú đi vào khu dinh điền lập ấp (giống như đi kinh tế mới dưới thời Cộng Sản). Chú hỏi Ba tôi bây giờ phải làm sao. Ba tôi không đắn đo nói với chú là nên làm theo lời họ cho yên thân, còn tin hay không là tự lòng mình biết. Cha mẹ của Chú Dũng khóc hết nước mắt, dẹp hương đèn trên bàn thờ để thờ Chúa. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm cáo chung, chú Dũng lại dẹp tượng Chúa, đem hương đèn, hình ảnh của ông bà đặt lại lên bàn thờ. Dân quê miền Trung dưới thời ông Diệm, người dân chứng kiến biết bao nhiêu cảnh oan trái mà không dám hé môi. Đêm nào cũng trông thấy người bị giết bỏ vào bao bố thả trôi sông. Cảnh tượng nầy làm cho người dân kinh hoàng sợ đến mất ăn mất ngủ. Dân chúng chưa bao giờ thấy “Cậu Cẩn” em ruột Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng nghe tên cậu ai cũng khiếp vía. Cái gì của cậu Cẩn ai cũng tránh né, không dám đụng đến. Không biết cậu có “ác” như người ta đồn hay không, nhưng bộ hạ của cậu tác oai tác quái, mượn danh cậu làm những điều “trời không dung đất không tha”. Nữa đêm nghe tiếng gỏ cửa của công an mật vụ, là xem như gia đình đó có người biến mất trên cỏi đời nầy, nếu được cho trở về cũng thân tàn ma dại. Sống trong sợ hải như vậy, thà chết cón sướng hơn. Có lẻ vì vậy mà đẩy một số người đi theo bên kia làm nồng cốt cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau nầy, hình như là MTGPMN thành lập 1960 thời của ông Diệm. Trong thời của chế độ Ngô Đình Diệm, người dân quê miền Trung đi “nhảy núi” rất nhiều. Còn bao nhiêu chuyện khác mà gia đình ông gây ra thảm họa cho rất nhiều người dân vô tội.

Có lẽ trong thời gian người dân miền Nam thoải mái nhất, ăn nói mạnh miệng mà không cần phải giữ ý tứ. Đó là thời đệ nhị Cộng Hòa. Trong thời nầy người dân mới cảm thấy được dân chủ một chút thì đúng vào lúc chiến tranh “khốc liệt” nhất. Không sợ bị bắt vì ăn nói, nhưng sợ chết vì súng đạn. Trong thành phố, nhà nào cũng làm hầm trú ẩn để tránh đạn pháo kích. Thanh niên thì sợ ra chiến trường. Không có một nơi nào an toàn cho người dân. Người dân luôn luôn sống trong sợ hải, trong lo lắng. Mặc dù trong cách sống rất thoải mái. Phải thành thật mà nói trong tất cả các chế độ từ trước tới nay, chế độ do ông Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống là chế mà người dân cảm thấy tốt nhất, ít bị công an cảnh sát khuấy nhiểu, làm phiền. Người dân được hưởng những quyền tự do, dân chủ. Còn những chuyện về chính trị của chế độ ông thế nào thì lịch sử sẽ phán xét sau nầy.

Từ 1954 đến 1975 miền Bắc sống như thế nào, sau nầy nghe những người ngoài kia vào kể lại. Thật ra cái sắc máu của thời Ngô Đình Diệm thua xa cái sắt máu của thời Hồ Chí Minh. Người dân ngoài đó răm rắp tuân hành như một trại lính. Lòng người không được ngơi nghĩ bởi những xáo trộn do đảng Cộng Sản nghĩ ra: Cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, Tiêu cực chống đảng, thanh niên đi bộ đội vào Nam giải phóng, người dân sống bằng tem phiếu, không tuân hành chế độ là bị cắt khẩu phần. Nên tất cả răm rắp tuân hành. Những món nầy không một món nào mà không đưa tới chết người. Người dân không ở trong tổ chức nầy thì ở trong tổ chức khác, kiểm soát nhau. Đến nỗi nhà văn Nguyễn Tuân cũng phải thú nhận rằng, sỡ dĩ ông sống được cho đến bây giờ là bởi vì ông “biết sợ”.

Còn sau 30 tháng 4 người dân miền Nam có còn sợ không?

Tôi không biết còn từ ngữ nào mô tả cái “sợ” mà nó hơn cả cái sợ mà từ trước tới nay tôi đã chứng kiến. Cái thời Pháp thuộc, cái thời Đệ Nhất, Đệ Nhị Công Hòa đều không ra gì so với cái “sợ” sống dưới chế độ Cộng Sản sau 30/4/1975 rất khủng khiếp và nó không trừ một ai (dĩ nhiên đám chóp bu thì tôi không biết) nhưng nói chung chung từ cán bộ cho tới nhân dân ai ai cũng sống trong sự sợ hải. Những gia đình ngụy quân, ngụy quyền thì luôn luôn bị đe dọa, nửa đêm công an tới nhà lục xét, bắt bớ, bị tịch thu nhà, đi kinh tế mới, con cái không được học hành, bị cắt khẩu phần ẩm thực v.v.. Sống trong lo âu, không biết đến lúc nào tới phiên mình. Những tháng năm từ 1975 đến 1985 người dân sống trong lo âu sợ sệt. Mười năm đó sống trong tận cùng nghèo khổ, dân chúng thê thảm sống dưới một chính sách cực kỳ cay nghiệt, ăn toàn bo bo một thứ thực phẩm chỉ dành cho heo. Chính quyền điều khiển dân chúng bằng phương thức bóp lấy bao tử người dân. Cho nên vì sợ đói toàn dân phải răm rắp tuân theo, cúi đầu khuất phục. Cán bộ thì không thể sống bằng đồng lương nên phải ăn hối lộ, mánh mung, ăn cắp của công. Người dân làm các nghề buôn bán hay sản xuất thi sưu cao thuế nặng nên làm nhiều khai ít, trốn thuế, đút lót cho cán bộ, ăn nhậu với cán bộ. Nghĩa là một chế độ tạo dựng ra tất cả mọi người đều phạm tôi. Đụng vào ai, vào thành phần nào cũng tội lỗi đầy mình. Nên ai ai cũng phải sợ, sống trong hoan mang sợ hải.

Tôi nhớ một người cán bộ từ miền Bắc vào ở gần nhà tôi. Ông là một người thanh liêm nổi tiếng trong cơ quan. Tiêu chuẩn của gia đình ông rất cao nên nhu yếu phẩm hằng tháng của ông cũng rất đặc biệt. Một hôm bà vợ ông qua nhà tôi gợi ý với vợ tôi là bà dư dùng một số nhu yếu phẩm hằng tháng, bà muốn nhượng lại cho vợ tôi để lấy tiền dùng vào chuyện khác. Thế rồi hằng tháng bà mang qua nhà tôi các thứ thịt, cá, dầu mỡ, thuốc lá, đường sữa, và rất nhiều thứ khác mà người dân bình thường không thể có được. Vợ tôi bảo là tại sao bà không mang ra chợ bán, thì được bà cho biết là bà sợ quần chúng dị nghị, sợ công an bắt điều tra những thứ nầy từ đâu ra khấy nhiểu đến tư cách của ông. Buôn bán các thứ cấm kỵ chỉ có nhà nước mới có quyền kinh danh. Nên bà sợ không dám mang ra ngoài là vì vậy. Mỗi lần bà mang các thứ nầy đến nhà tôi, bà dấu hàng trong cái rỗ đậy bằng lá chuối ngụy trang cho mọi người không biết. Tôi nghiệp, một quan cách mạng thanh liêm chỉ sống bằng đồng lương và các nhu yếu phẩm tiêu chuẩn dành cho mình mà còn phải sợ như vậy, thì thử hỏi các quan chức hối lộ làm sao mà không sợ.

Còn chuyện làm ăn bên ngoài, tất cả các Tổ Hợp cũng như Hợp Tác Xã phần đông đều trá hình. Chỉ có một ông chủ còn tất cả đều là những người làm công, nhưng phải núp dưới bóng tập thể nầy. Phường và Quận là các cơ quan trực tiếp quản lý, họ biết rỏ nhưng họ làm lơ vì nhân viên của cơ sở không khiếu nại thì xem như hợp pháp, khui ra làm gì để mất miếng ăn. Quan trọng hơn là các ông chủ của các cơ sở nầy chi tiền rộng rãi, tiếp đón hậu hỉ thì phải để yên cho họ yên thân làm ăn, để mình còn có chút cháo. Còn tiền thuế nộp cho nhà nước chỉ đại khái cho lấy lệ, phải trốn thuế để lấy tiền nầy chi cho các quan chức, tiếp khách, nhậu nhẹt. Cho nên bất cứ cơ sở sản xuất nào cũng đều có vấn đề. Nhưng nếu nhà nước điều tra thì “bức dây động rừng”, cơ sở đó chết, bị phá sản thì họ liều mạng tố cáo các quan chức đã từng ăn chịu, như cái vụ “Nguyễn Văn Mười Hai” của cơ sở nước hoa Thanh Hương ở Sài Gòn trước đây hơn hai mươi năm, lường gạt biết bao nhiêu tiền của dân, mượn đầu nầy đắp đầu kia. Đến khi công chuyện đổ bể, Nguyễn Văn Mười Hai vào tù kéo theo không biết bao nhiêu quan chức lớn nhỏ vào tù theo. Vì vậy sự phạm pháp dây chuyền nầy không ai dại gì làm ra vì bên nào cũng chết. Cái dù to che chắn đủ mọi phía. Nhưng thực chất bên nào cũng sợ mất ăn mất ngủ, nếu có ai đó tố cáo mà các cái dù không đủ che đậy. Thì phải vào tù cả đám. Không biết bây giờ đã thay đổi gì chưa, chứ từ năm 75 đến năm 90 tất cả các nơi buôn bán cũng như sản xuất chi phí cho quan chức nhiều lắm để họ che chắn cho mình làm ăn. Thế nhưng đụng tới nơi nào là xem như nơi đó không còn thuốc chữa.

Như vậy từ cán bộ tới dân ai cũng phạm pháp không nhiều thì ít, nên ai cũng phải sợ. Chính phủ cũng lo sợ dân chúng bị chèn ép quá có ngày nổi loạn. Dân chúng thì sợ chính phủ bắt bớ vì phạm tội của mình. Một chế độ mà sống trong sợ sệt thì mất đi lý thú. Bây giờ nhiều người giàu sụ, tôi nghĩ rằng đây là những đồng tiền không sáng sủa, những đồng tiền do việc làm bất hợp pháp tạo nên. Chứ làm ăn một cách đàng hoàn thì không thể nào giàu có một cách nhanh chóng như vậy được. Tôi nghĩ tất cả người cán bộ giàu có bây giờ cũng đang sống trong lo âu sợ sệt, ai cũng có những tì vết bất chính, những đồng tiền chèn ép, chận yết hầu người khác. Chúng ta ở hải ngoại về nước đụng phải các “đại gia” nầy phải kinh sợ cái lối tiêu tiền như nước của họ, chúng ta không thể tưởng tượng được cái giàu có của họ. Nếu làm ăn đàng hoàng, tuân hành thuế khóa, đồng tiền làm ra bằng mồ hôi nước mắt của mình thì không thể giàu một cách kinh khủng như vậy. Tất cả tiền bạc kiểu nầy đều bất chính, mà bất chính thì họ luôn luôn sống trong sợ hãi.

Có lẽ một nguyên nhân làm giàu nhanh nhất là đất đai. Người dân không ai có quyền quản lý hay làm chủ đất, dù đất đó xưa nay là của mình, do mình hay ông bà để lại. Cán bộ chính quyền là những người lập ra các kế hoạch xây dựng nên họ biết những đất đai nằm trong kế hoạch. Họ trưng dụng hoặc đền bù cho dân một số tiền nhỏ và họ bán lại cho người khác với số tiền lớn gây ra tệ nạn bất công trong dân chúng. Đất đó chia cho cán bộ cho nên tự nhiên tạo thành tầng lớp cán bộ giàu có là vì vậy. Ta tự hỏi cán bộ “cướp đất” như vậy có sớ không? Có lẽ trong thâm tâm của họ lúc nào cũng sợ. Họ chèn kéo nhau, bảo vệ cho nhau để vun đắp chế độ hết mình vì họ biết nếu có một nhà nước dân chủ sẽ kéo theo một sự sụp đổ và hậu quả tất nhiên không lường được cho họ. Cái gì của dân phải trả lại cho dân. Ta thử tưởng tượng xem các nhà tư sản đỏ sẽ lòi ra toàn là “kẻ cướp”.

Từ một cái nhìn bên ngoài đất nước, ta nhận ra được ngay các quan chức chóp bu họ cực kỳ giàu có, sống trong xa hoa lộng lẫy. Con cái của họ tiêu tiền như vứt rác qua cửa sổ. Họ không lường được cái giá họ phải trả sau nầy. Cái gương của sự sụp đổ của các nhà cai trị Trung Đông trong cách mạng “hoa lài” đã để lại cho họ một cái giật mình. Rồi đến một lúc nào đó chính họ cũng phải như vậy. Có lẽ họ còn “sợ hãi” hơn, hậu quả khốc liệt hơn./

Houston, 22-4-2011

Posted in Phiếm Luận | Leave a Comment »

MỘT GÓC NHÌN VỀ ĐẤT NƯỚC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 22, 2011

 MỘT GÓC NHÌN VỀ ĐẤT NƯỚC    

*Phan Xuân Sinh

(Bài viết nầy tôi viết vào tháng 4/2010.  Bây giờ sắp đến 30/4/2011, tôi xin đăng lại trên đây để bạn đọc cùng suy ngẫm. Sau 36 năm hòa binh đất nước vẫn còn nhiều khao khát. Người tranh đấu nổi bậc về dân chủ, TS Cù Huy Hà Vũ đã bị guồng máy Chính Quyền trong nước cố tình nghiền nát bằng những thủ đoạn đê hèn, bất chấp sự can thiệp của thế giới. Đứng bên ngoài đất nước, những người quan tâm đến sự sống còn của dân tộc phải tức tưởi lên tiếng. Bài nầy xem như một sự lên tiếng. Trân trọng)

Mới đó đã ba mươi lăm năm rồi (1975 – 2010). Một chặng đường trải qua bao nhiêu biến đổi, một khúc quanh của lịch sử, một bức tường lòng (cách nói của Tưởng Năng Tiến) dựng lên ngăn chia giữa người và người đã kéo dài từ đó tới nay. Hàng triệu người rạng rở và ngược lại cũng có hàng triệu người đau khổ (như ông Võ văn Kiệt từng nói). Như vậy thực sự hòa bình có đến không? Đó là một câu hỏi tự đáy lòng của những ai còn quan tâm tới đất nước. Chiến tranh không có chiến trường thực sự trên đất nước, nhưng đôi bên vẫn lập nên những chiến tuyến kiên cố, nả “đại pháo” điên cuồng vào niềm tin của dân tộc, hủy diệt ước mơ của toàn dân khao khát. Công tội do ai? Vì ai? Cho đến bây giờ vẫn còn quá sớm để toàn dân luận bàn chuyện nầy, lịch sử lại càng câm lặng không dám hở môi. Người thắng trận thì hiu hiu tự đắc, dùng những đòn thù phủ lên đầu người thua trận, dành lấy quyền xây dựng đất nước mà thực sự phải trên tay của toàn dân, thì ưu tiên xây dựng chổ ngồi vững chắc cho bè phái. Trừng trị thẳng tay những ai còn léng phéng đụng vào “dân chủ”.  Dân chủ phải do nhà cầm quyền ban bố, phân phát, được chừng nào hay chừng đó chứ dân chúng không có quyền đòi hỏi, ai mà lên tiếng thì cho đó là những “thế lực thù nghịch” đánh phá, hoặc những kẻ muốn “lật đổ chính quyền” phải trừng trị ngay. Những tiếng nói lương tâm tức tưởi tắt nghẻn.

Còn phe thua trận thì sao? Gầm gừ uất ức, chưởi bới, mắng mỏ.  Ba mươi lăm năm nay vẫn sao y bổn cũ, kêu gọi biểu tình hò hét liên miêng. Có nhiều người cho chuyện nầy chỉ “gải ngứa” không thấm vào đâu. Thế nhưng nghĩ cho cùng, không có chuyện nầy thì chắc những thành phần như ông Luật Sư Nguyễn Hữu Liêm không cần phải về dự “Đại Hội Việt Kiều” để được hát “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng…” , mà ông sẽ dõng dạt hát to trên đường phố Bolsa, trung tâm điểm của người tỵ nạn một cách nghênh ngang. Không có những người chống cộng kiểu nầy thì vợ chồng Tiến Sĩ Trần Thanh Vân cần gì phải về trong nước mới nhận lãnh bằng khen, bằng thưởng. Lập ngay một khán đài giữa Paris, giữa mắt những người tỵ nạn để vợ chồng ông lên lãnh các thứ nầy hiên ngang, do tòa đại sứ Việt Nam tại Pháp trao cho, không phải sợ ai cả. Như vậy, người thua trận cũng biết vận dụng “có gì dùng gì, có nấy dùng nấy” (kiểu nói của Lý Đợi) để ngăn chận những thành phần điên rồ, thích làm nổi. Biết đâu cái lợi thế nhỏ nhoi của người thua trận, đã tạo nên chướng ngại cho các nhà lãnh đạo trong nước khi viếng thăm nước Mỹ phải dè chừng, phải tránh né, phải tự coi lại việc làm của mình (cho đến bây giờ họ chẳng thèm coi lại làm gì cho mất công, cứ đàn áp thẳng tay là chắc ăn nhất). Thì cần gì phải có súng đạn, có công an, vẫn tạo nên được một sức mạnh, không làm lộn nhào chế độ trong nước, nhưng cũng góp phần gây rắc rối nhà cầm quyền trong nước không ít,và cũng xoa dịu được tự ái thua thiệt.

Trước đây có một cán bộ trong nước qua Mỹ du lịch, gặp tôi họ hỏi ngay: “Sao những người biểu tình có vẻ hung dữ quá?”. Đó là người lớn lên từ miền Bắc, ông ấy chưa bao giờ nhìn thấy cảnh biểu tình tự phát của dân chúng, mà chỉ thấy biểu tình do nhà nước huy động. Tôi hỏi lại ông ấy : “Ông thấy có hung dữ bằng biểu tình tố cáo địa chủ của cải cách ruộng đất trước đây không?”. Ông ta ú ớ. Tôi giải thích cho ông ấy biết rằng, những người biểu tình như vậy vẫn còn hiền hòa, không gây hại cho ai, không đụng chạm đến người khác. Họ là những người phần đông bị tù tôi, bị đối xử tồi tệ, bị gia đình tan nát bởi chế độ trong nước gây ra. Thể hiện lòng căm thù bằng biểu tình như vậy thì cũng không có gì quá lắm. Gây rối loạn, mất trật tự công cộng là cảnh sát Mỹ can thiệp ngay, chứ đừng nói gì đến chuyện đụng chạm người khác. Ở trên đất nước tự do ai cũng có quyền thể hiện chính kiến của mình, những chính kiến có vẻ ngược ngạo như trường hợp ông luật sư Nguyễn Hữu Liêm thì cũng chẳng có ai dám đụng vào sợi lông chân của ông, chỉ hơi bị búa rìu dư luận phang tới tấp cho vui vậy thôi. Ông ấy vẫn ung dung rung đùi và cũng có thể cười nhạo báng “làm gì được tau”.

Trong lúc đó ở trong nước, những người cũng bày tỏ chính kiến của mình thì họ được lao tù đón tiếp nồng hậu, chăm sóc kỷ càng (khi tôi viết bài nầy thì tòa án trong nước đã xử xong bốn nhà tranh đấu dân chủ, với một tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền” mà trong tay của họ chẳng có một thanh sắt). Còn những người khác như Điếu Cày, Trần Khải Thanh Thủy, tiếng nói của họ liệm tắt ngay bởi những tội danh trốn thuế, lường gạt, ấu đả v.v..không ăn nhập gì đến hoạt động cao quý của họ. Không có tội danh chính trị, chỉ có tội về hình sự. Thú thật chính quyền nghĩ ra các tội danh nầy thì quá sức “độc địa” không ai ngờ tới. Thế nhưng sao thấy nó hạ cấp quá, một chính quyền như vậy thì làm sao kham nổi những “chuyện lớn”. Hải ngoại biểu tình, các nước trên thế giới lên án, can thiệp. Tất cả dưới mắt nhà cầm quyền trong nước đó chỉ là các “thế lực thù nghịch” không cần đếm xỉa tới, cứ kêu gào, cứ đòi hỏi, không ăn nhập gì tới họ.  Có nước nào gay gắt mà buộc lòng phải trả lời thì họ lên tiếng “xen vào nội bộ của Việt Nam” hoặc “nhân quyền của Việt Nam khác với nhân quyền của các nước khác” , đại loại như vậy. Chúng ta đã nghe luận điệu nầy lặp đi lặp lại, không tỏ thái độ đáp ứng. Đường ta ta cứ đi, ai cản lại phải lập tức nghiền nát chúng. Phải công nhận rằng các nhà tranh đấu dân chủ tại Việt Nam rất dũng cảm, chống chọi với một chính quyền chẳng coi ai ra gì, chẳng cần tới ai, bất chấp dư luận. Chỉ cần đạt được mục đích bằng bất cứ giá nào. Tiếng kêu than của toàn dân xem như đồ bỏ. Tranh đấu như vậy chỉ thiệt thân, chỉ còn héo hon trong nhà tù. Họ đúng là những con người bất khuất.

Hòa bình thực sự đã được 35 năm, nhưng hai phe lâm chiến vẫn còn kình chống nhau quyết liệt. Có thể nói một mất một còn. Ai thiệt thân? Chỉ có đồng bào trong nước lãnh đủ. Thế thì chính quyền phải tìm mọi cách để hàn gắn lại, chẳng lẽ cứ để mãi tình trạng như thế nầy sao? Người ta chỉ lo cho chiếc ghế đang ngồi, lo cho tập đoàn vững mạnh, để đè bẹp ngay những kẻ đụng tới “chỗ nhạy cảm” của chính quyền. Lãnh vực nào cũng có kẽ hở, nhưng lãnh vực đàn áp thì không có ai thoát được dù đó là đảng viên.

Chỉ cần một lời xin lỗi của ông Nguyễn Minh Triết (như trong bài viết của anh Tiêu Dao Bảo Cự trên Talawas “Thư gửi Nguyễn Hữu Liêm”) thì ông Triết có thể sẽ nắm được dân Việt ở Bolsa. (Thực tế chuyện nầy cũng chưa chắc), thế nhưng dù sao cũng thể hiện sự hiểu biết, sự bao dung. Thế nhưng làm sao có được chuyện nầy khi mà kẻ chiến thắng luôn luôn đứng phía trện không thể cúi xuống được. Một đường lối “kẻ cả” qua bao nhiêu đời vẫn không thay đổi, cho đến bây giờ vẫn tự hào Mac- Le vô địch, không thua ai. Miệng thì nói vậy nhưng toàn bộ đất nước chạy theo tư bản, ì à ì ạch kéo theo cái rờ-mót  Chủ Nghĩa Xã Hội một cách nặng nề, không đành lòng vứt bỏ được. Ông Chủ tịch nước mới đây đến Cuba trong bài nói chuyện, ông ví von đất nước mình là tên công an (hay lính gì đó) canh gác hòa binh thế giới, nghe qua đủ khiếp. Trong lúc đó cái hòa bình nhỏ nhoi của dân tộc chưa giải quyết xong, vẫn còn dây dưa 35 năm rồi không có tiến triển đoàn kết dân tộc. Thế mà vương cánh tay dài ra ôm đồm cả thế giới. Nghĩ cũng lạ thật.

Người dân hải ngoại cũng như trong nước cầu mong đất nước thay đổi theo đường lối dân chủ, để đôi bên sáp lại gần nhau, không còn nói tới chuyện hận thù, chia rẻ. Nhưng chờ dài cổ, tan nát cả cuộc đời vẫn chưa thấy một chút ánh sáng về chuyện nầy le lói. Biết tới bao giờ nó mới trở thành sự thật? Không ai biết được. Các nhà lãnh đạo Việt Nam họ hiểu một cách tường tận về lòng mong muốn của toàn dân. Nhưng nếu họ thay đổi thì sụp đổ tất cả, kéo theo biết bao nhiêu hệ lụy và ngay cả chính họ cũng chưa chắc được an toàn. Cho nên người nầy níu chân người kia tạo thành một bức tường kiên cố, quyết tâm bảo vệ. Họ coi nhẹ cái chuyện dân tộc hay đất bước. Nếu các thứ nầy phải hy sinh để cho họ tồn tại thì họ sẵn sàng chấp nhận.

Mới đây lại thêm một trò chơi mới (rập khuôn theo Trung Quốc) ra đời: “Tin Tặc”. Cho đến bây giờ không ai tự nhận những tên tin tặc do mình cầm đầu, thế nhưng người Việt dùng internet khắp thế giới đều khẳng định chắc chắn tin tặc do một bộ phận của nhà nước cầm đầu, để phá vỡ những website dám đụng vào chỗ nhạy cảm của chính quyền trong nước. Việc làm phạm pháp tày trời nầy họ dám làm, dám nghĩ ra, thì họ không từ nan những chuyện đê hèn khác mà họ đã áp dụng trên đầu dân chúng. Một đất nước được điều khiển với những khối óc nhỏ nhen như vậy thì làm sao dân chúng khá nổi. Ăn rồi chỉ lo nghĩ tới chuyện trừng trị, phá đám thì làm sao xây dựng một đất nước văn minh cho được.

Đất nước ta rơi vào cái bất hạnh nầy mà không cách nào dứt phăng ra được. Phải có một đấng cứu thế như Mikhail Gorbachev, như một tổ chức công đoàn Đoàn Kết thì họa may mới cứu vãng được. Chỉ còn biết trông chờ và cầu nguyện. Hết lớp nầy tới lớp khác bước lên cầm quyền cũng lăn trên vết xe cũ. Hết đại hội đảng nầy, đến đại hội đảng khác cũng chẳng thấy thay đổi. Đến khi hết cầm quyền thì mới bày đặt chỉ trích nọ kia, để cho người dân biết rằng mình có tâm huyết gióng lên tiếng nói của dân. Lúc đó dù có mang phèn la đến đánh vào tai những ông có chức quyền thì họ cũng giạt pheng ông ra, chằng thèm nghe đâu. Trước đây ông Phan văn Khải có thèm nghe ông Võ văn Kiệt? Và bây giờ ông đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết bao nhiêu kiến nghị ngăn cản khai thác bau-xit, họ vẫn cứ làm. Xem như những tiếng nói của quý ông như một lủ già điên rồ, không cần phải để ý. Ông Nguyễn Hữu Liêm lấy tư cách gì khẳng định sau kỳ đại hội đảng sẽ thấy thay đổi? Ông đâu có phải Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng? Hay ông chỉ tưởng tượng cũng như những người dân trong nước mỗi lần có một sự cố thay đổi, họ ngóng cổ trông chờ. Nhưng mọi chuyện không hề thay đổi. Sống ở nước ngoài quá lâu, ông Liêm không mang tâm trạng “trông chờ” như những người trong nước. 35 năm rồi những khao khát của con người đã hóa đá, thế nhưng mọi thứ vẫn y sì.

Người dân Việt Nam đi suốt quảng đường một cách nhọc nhằng, nhiều rủi ro. Không có một cuộc chọn lựa trong cuộc sống, răm rắp tuân theo như một trại lính. Ba hồi Trung Quốc là anh em “môi hở răng lạnh”, thì người dân cũng nói theo “răng lạnh môi hở”. Ba hồi Trung Quốc là bọn “bành trướng Bắc kinh”, thì người dân cũng riu ríu “Bắc Kinh bành trướng”. Nhiều trò, nhiều kiểu, người dân ngao ngán quá. Họ tập cho con người ăn nói như vẹt, ai nói ngược lại thì búa rìu bổ lên đầu ngay. Ông Nguyễn Hữu Liêm có ăn nói ngược ngạo với những người tỵ nạn, thì cũng chẳng có ai làm gì được ông, cho nên ông tha hồ chọc giận. Ông không bị hình phạt, nhưng ông bị người đời chê cười cho cái ngớ ngẫn của ông. Người trí thức mà lãnh những gáo nước lạnh nầy nghĩ cũng buồn thật. Dù là người bình tỉnh nhất còn thấy chướng tai với những lập luận triết học ngô nghê như vậy, thì người không bình tỉnh phẩn nộ tới chừng nào.

Nhìn lại từ 1975 tới nay, ta chỉ thấy đường phố đông hơn, nhà cửa xây dựng nhiều hơn, đời sống dân chúng có đổi khác, có tiến bộ. Phải biết bây giờ đã 35 năm rồi, những gặt hái nho nhoi như vậy không đáng kể, so với tiến hóa chóng mặt của thế giới. Mức độ chênh lệch giữa thôn quê và thành thị quá xa, thu nhập của cán bộ và người dân quá khác biệt. Tham nhũng hoành hành lộng trời. Đất cát của người dân bị chiếm đoạt oan ức. Tôn giáo thì Tam Tòa, Bát Nhã thẳng tay trừng trị. Nhà nước dùng những phương tiện hạ cấp, côn đồ đối với những thành phần chống đối như nếm phân vào nhà, du đảng đành đập, đụng xe đến chết. Nghĩa là trên thế giới chưa có một chính phủ nào dùng những thủ đoạn đê hèn như vậy. Thế thì chúng ta trông chờ những gì? Khi mà nhà cầm quyền thanh toán nhân dân như là băng đảng, tồi tệ đến mức như vậy, thì chúng ta không thể trông chờ họ có thể đưa đất nước đến chỗ cực thịnh được.

Con đường bế tắc thế nhưng vẫn cứ đi. Chỉ có người dân kham khổ, những quyền lợi bị tước đoạt. Hé môi than vãn là mang tội chống đối nhà nước, sẽ lãnh những hình phạt nặng nề. Phần đông dân chúng phải cúi đầu. Bánh xe cứ lăn trên đường, sẳn sàng nghiền nát những chướng ngại. Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Tiến Trung và thêm ai nữa thì cũng sẽ bị dạt qua hai bên đường để nhà cầm quyền thênh thang cất bước. Trong giới lãnh đạo ai cũng giàu sụ, nhà cao cửa rông, cho nên không ai dám thay đổi. Ai cũng bảo vệ chế độ một cách nghiêm ngặt, bảo vệ chiếc ghế vững chắc dù họ biết việc họ làm trái với ý dân. Nếu thuận với lòng dân  thì họ sẽ mất trắng, không vinh thân phì da được. Từ trên xuống dưới quyết bảo vệ cái thành trì nầy cho đến chết. Như vậy 35 năm nay đứng về mặt nhận thức chẳng có gì thay đổi cả./

Houston, tháng 04 năm 2010

Posted in Thời Cuộc | Leave a Comment »