Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for Tháng Tư, 2011

PHAN NHỰ THỨC, MỘT ĐOẠN ĐỜI KHẮC KHỔ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 22, 2011

PHAN NHỰ THỨC

Một đoạn đời khắc khổ.

Một buổi chiều, tôi và anh Đynh Trầm Ca ngồi nhậu với vài người bạn tại nhà tôi, thì có hai người đi xe đạp tới tìm Đynh Trầm Ca. Tôi bảo với anh Phụ (tên thật của Đynh Trầm Ca) mời hai anh đó vào lai rai vài ly chơi, thì hai anh đem xe đạp vào nhà và trước khi ngồi vào bàn, anh Phụ giới thiệu hai người đó là: “Hà Nguyên Thạch và Phan Nhự Thức”. Người có bộ râu mép, trán cao là Hà Nguyên Thạch. Người có nước da ngâm ngâm, khuôn mặt xương sẩu là Phan Nhự Thức. Tên của hai anh không lạ gì với tôi, vì trước 75 thỉnh thoảng tôi đọc những bài thơ của hai anh trên những tạp chí văn nghệ ở Sài gòn. Nhưng bây giờ mới được gặp hai anh. Bữa đó chúng tôi uống thật say, tôi được biết hai anh  từ Miền Trung vào định cư tại Sài Gòn chưa được bao lâu. Những tháng năm khó khăn, cả nước lâm vào cảnh bần cùng. Các nhà thơ nhà văn của Sài Gòn  thất tha thất thểu thấy thật tội nghiệp. Có người đi bán rau muống, bán củi, bán than. Có người đi làm những công việc nặng nhọc để kiếm sống. Công dân hạng nhất (cán bộ, đảng viên v.v..) còn không đủ ăn, thì loại công dân hạng nhì (quân nhân, công chức của chế độ Sài Gòn) thì khổ biết chừng nào, quá sức te tua.

Hà Nguyên Thạch khi say thì nói nhiều, anh không còn biết sợ là gì. Còn PhanNhựThức khi say ít nói hơn, trầm ngâm hơn. Sau bữa rượu đầu tiên đó Phan Nhự Thứchay ghé nhà tôi chơi. Nhà tôi lúc đó đang sản xuất kem đánh răng, nên thỉnh thoảng anhcũng chở vài thùng kem đi bỏ mối để tìm một ít tiền chi tiêu. Dần dần rồi chúng tôi thânvới nhau, anh mượn địa chỉ nhà tôi để các bạn của anh ở Mỹ gửi quà về. Vì lúc đó anhsống chui chứ không có hộ khẩu ở Sài Gòn. Tôi có đi nhận giùm cho ảnh vài thùng quà,lần nào đi lãnh đồ ở Hải Quan Tân Sơn Nhất, tôi đều chở ảnh đi. Tôi nhớ lần đầu tiên anhnhận 1 thùng quà, anh mừng quá chân tay anh run run, thật tội nghiệp. Thật tình thì cũngchẳng bao nhiêu, nhưng đối với anh quá lớn. Tôi không bao giờ hỏi công chuyện làm ăncủa anh, vì tôi biết những việc của anh làm nặng nhọc, để kiếm miếng ăn đắp đổi quangày. Tối về anh vào Chợ Lớn ở nhờ nhà bà con hay bạn bè gì đó.

Một lần ngồi uống rượu, anh ao ước có một căn nhà ở vùng quê, nhà tranh vách đất cũngđược không cần phải cao sang, có vợ con đùm bọc lấy nhau. Cái ao ước thật đơn sơ đóthế mà ngoài tầm tay với của anh. Trong lúc đó anh Hà Nguyên Thạch thì ngược lạibằng mọi cách phải bám lấy thành phố mà sống, có bạn bè, có những tiện nghi thoải máihơn. Từ cái quan niệm chân chất ấy của Phan Nhự Thức, tôi thấy thương anh hơn và tôicũng cầu mong cho anh được toại nguyện. Sau nầy anh làm ở vựa củi trên Chợ Lớn,người làm cái nghề than củi thì suốt ngày mặt mày, chân tay lấm lem. Người anh sạm lại,nước da anh vốn dĩ ngâm ngâm đen bây giờ càng đen hơn. Thỉnh thoảng buổi chiều rổirảnh anh hay xuống nhà tôi cùng với một vài anh em nhậu vài ly, rồi lại đạp xe trở về.

Bẳng đi một thời gian, tôi ít gặp lại anh. Có người bảo với tôi là Phan Nhự Thức mở mộtquán nhậu trên Chợ Lớn. Tôi nghĩ thầm trong bụng hết đường rồi hay sao lại mở quán nhậu. Vì tôi biết tính anh ham vui với anh em, mà anh em phần đông tiền bạc chẳng bao nhiêu mà lại thích nhậu nhẹt, nội cái chuyện ghi sổ thiếu nợ sẽ đưa tới tình trạng phá sản của phần đông các anh em văn nghệ cũ ở Sài Gòn chọn cái nghề “lưu linh“ nầy. Anh Sương Biên Thùy sau nầy kể cho tôi nghe về trường hợp mở quán nhậu của ảnh. Gặp anh em thất tha thất thểu, kéo vào quán làm một tô bún “Mụ Chính”, sương sương thêm vài ly cho đời lên hương, ngày nào cũng vậy thâm thủng tiền bạc, sụp tiệm, nợ nần chồng chất. Cũng may có chương trình HO cứu anh thoát khỏi. Trước khi lên máy bay Sương Biên Thùy phải ký tờ giấy nợ qua Mỹ gửi tiền về trả, mới được yên thân. Không biết quán của Phan Nhự Thức cầm cự được bao lâu, sau nầy không nghe ai nói về quán nhậu của anh. Chắc rồi cũng lăn trên vết xe của Sương Biên Thùy.

Một buổi chiều, tôi đang ăn cơm thì Phan Nhự Thức dựng xe đạp ngoài hiên vào nhà. Tôi mời anh dùng cơm với tôi. Khi ngồi uống nước anh đưa cho tôi một giấy mời dự đám cưới một cách trịnh trọng, nhìn khuôn mặt của anh rạng rỡ, vui tươi. Tôi vừa ngạc nhiên và cũng chia vui với anh một cuộc đổi đời thật ý nghĩa, giúp anh có nơi nương tựa, có một tổ ấm mà anh hằng ao ước. Đám cưới của anh tổ chức thật đơn giản ở nhà hàng mới mở tại hồ Kỳ Hòa, phần đông những người dự trong buổi đó là anh em văn nghệ cũ Sài Gòn. Tôi ngồi gần với vợ chồng anh chị Hồ Thành Đức – Bé Ký. Trong buổi tiệc vui đó những người tham dự làm mỗi người một câu thơ ghép lại thành một bài thơ tặng anh để giữ làm kỷ niệm. Cho đến bây giờ vợ của anh Phan Nhự Thức còn giữ bài thơ của anh em tặng vợ chồng anh chị không?

Sau vài năm sống ở Mỹ, một số anh em văn nghệ báo cho biết anh Phan Nhự Thức bị ung thư, một số anh em (bạn cũ) có quyên tiền mỗi người một ít để giúp anh (sau nầy tôi mới nghe chuyện nầy). Một thời gian sau được anh em báo tin cho biết anh mất tại Sài Gòn để lại vợ và đứa con trai còn nhỏ.

Bài viết nầy kể lại một giai đoạn ngắn mà tôi biết về Phan Nhự Thức. Trong thân tình đối với Phan Nhự Thức tôi không có bề dày như một số anh em văn nghệ khác. Tôi nghĩ anh Hà Nguyên Thạch là người cùng ở Quảng Ngãi và có những sinh hoạt chung văn nghệ với Phan Nhự Thức lâu dài. Nếu có anh Hà Nguyên Thạch ở hải ngoại để viết về người  bạn thân thiết của mình thì tuyệt. tôi chỉ là người quen biết với anh, chỉ vài năm trong cuối thập niên1980, trước khi tôi đi Mỹ.

Advertisements

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

SỢ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 22, 2011

phiếm

SỢ

Phan Xuân Sinh

Hôm nay bắt chước ông bạn già của tôi nhà văn Song Thao, viết một bài phiếm và đề tài chỉ một chữ “Sợ”. Không biết cái đề nầy anh Song Thao đã viết chưa? Nếu viết rồi thì xin anh cho tôi “cầm nhầm” một chút, bởi vì tôi muốn viết về cái “sợ” của người Việt Nam mình. Thường thì chúng ta đọc  “phiếm” của Song Thao, cái đề của anh chỉ một chữ, nhưng chứa đựng một kho tàng đông tây kim cổ được anh sưu tầm một cách ngoạn mục, rồi nhắc vào con chữ và trang giấy của anh một cách tài tình. Người đọc cười tủm tỉm nhưng rất sảng khoái. Đề tài của tôi hạn hẹp chỉ vòng quanh xa gần với anh em mình, bà con mình, không cần phải vận dụng “đông tây kim cổ” quá lớn như anh Song Thao. Mong rằng người đọc sẽ tha thứ cho sự hiểu biết sơ sài, nông cạn của tôi. Tôi hy vọng sẽ mang đến cho người đọc nụ cười “một nửa” thôi, đủ mãng nguyện lắm rồi. Nếu có sự trùng hợp thì chỉ là sự vô tình. Kính mong độc giả lượng tình tha thứ.

“Sợ” hình như nó bắt nguồn từ lâu đời, nó đã ăn sâu trong huyết quảng của người Việt mình. Dưới sự đô hộ một ngàn năm của Tàu, thử tưởng tượng ông bà mình sống trong hoàng cảnh nầy mà không biết sợ thì đi chầu Diêm Vương ngay. Sở dĩ biết sợ nên răm rắp vâng lời, mới duy trì được cuộc sống đến đời chúng ta hôm nay. Cái sợ nó đã thấm đẩm trong máu chúng ta, nó đe dọa cuộc sống của chúng ta không nhiều thì ít, không ngoại trừ bất cứ ai. Ông Tàu “Tô Định” giận hét lên một tiếng thì từ vua tới quan của ta đều sốn đái trong quần, kể chi tới hàng thứ dân cùng đinh như lá cỏ, muốn chém giết ai chẳng được. Nên tổ tiên của mình luôn luôn sống trong sợ hãi, cái máu sợ hãi di truyền đến đời cha ông chúng ta thì gặp cái lúc thực dân Pháp cai trị.

Pháp dù sao đi nữa nó cũng không sắt máu bằng Tàu, thế nhưng chỉ dễ thở hơn một chút thôi, chứ không biết sợ cũng dễ bay đầu như chơi. Ba tôi kể lại rằng mỗi lần Tây Lê Dương bố ráp xóm tôi ở Đà Nẵng là đàn ông biết tiếng tây trốn mất, chỉ có hai bà cô thứ bảy và thứ chín của tôi biết tiếng tây ra đối phó. Nếu bọn tây nầy đàng hoàng thì hai bà dẫn đi từng nhà làm thông ngôn cho họ lục xét. Còn nếu bọn nầy dở trò cà chớn thì hai bà la lớn lên: “Đại úy, cứu chúng tôi”. Tức thì ông Đại úy trưởng kho xăng gần nhà tôi, dẫn lính chạy ra can thiệp ngay. Mà tụi Tây thấy đàn bà biết tiếng tây nó cũng nễ một phần, một phần nó cũng sợ cấp chỉ huy. Thường thường thì lính trong đồn đi tuần tiểu chung quanh vì sợ Việt Minh trà trộn trong xóm để phá hoại kho xăng. Mấy thằng lính mới tới, khi lục xét thấy đàn bà con gái muốn dở trò hãm hiếp là hai bà cô tôi la toán lên. Ông đại úy cầm batoon chạy trước, lính của ông cầm súng chạy sau. Cây batoon của ông đánh tới tấp mấy thằng lính cà chớn nầy. Thành thử xóm của tôi lúc ấy cũng bớt sợ. Tôi hỏi ba tôi lại sao mấy bác và ba tiếng tây giỏi hơn hai cô mà không ra làm thông ngôn, để hai cô phải làm chuyện ấy? Ba tôi bảo là đàn ông ra nói chuyện với chúng nó đôi khi nó chẳng thèm nghe mà còn xúm lại đánh mình. Mình chưa kịp kêu cứu thì đã bị đánh nhừ tử. Cho nên ai cũng sợ đi trốn hết. Còn đàn bà mà nói được tiếng tây chúng nó cũng nễ nang hơn. À, thì té ra tụi tây phương trước đây cũng coi trọng đàn bà.

Đó là mấy chuyện sợ của thời xa xưa, đến đời tôi lúc ấy đất nước mới chia cắt, sống trong thanh bình, ông Ngô Đình Diệm điều khiển đất nước từ vĩ tuyến 17 trở vào, còn bên kia do ông Hồ Chí Minh cầm đầu miền Bắc. Những năm đầu thanh bình, người dân Miền Nam không còn phải sợ sệt như thời Pháp thuộc, ai cũng nghĩ như vậy. Thế nhưng dưới con mắt thơ ngây của tôi lúc đó, chính tôi đã chứng kiến những oan khiên mà người dân dưới thời ông Diệm phải gánh chịu.

Năm tôi học lớp tư (lớp hai bây giờ), Khoản năm 1956, Tổng Thống đi kinh lý Đà Nẵng. Học sinh trường tôi 3 giờ sáng phải dậy tập trung ở trường để đi đón Tổng Thống. Trước khi các thầy cô giáo dẫn chúng tôi ra ngoài đường Trưng Nữ Vương, con đường dẫn từ phi trường vào thành phố Đà Nẵng, thì cán bô thông tin quận Hòa Vang (tôi học trường tiểu học Hòa Vang lúc ấy),  lên micro dặn dò học sinh, trước khi đứng vào vị trí hai bên đường chờ xe Tổng Thống đi qua. Thay vì dặn dò thì ông cán bộ thông tin nầy dùng lời lẽ hăm dọa: “Khi xe Tổng Tống đi qua, tôi hô “hoan hô Tổng Thống” thì các em hô “hoan hô”. Tôi hô “đá đảo Cộng Sản” thì các em hô “đá đảo”. Nếu tôi hô “hoan hô” mà các em hô “đá đảo”…thì các em chết với tôi”. Ông ta nghiến răng để tỏ thái độ răng đe. Nghe xong huấn thị thì đứa nào cũng sợ run người. 12 giờ trưa, xe Tổng Thống tới. Không biết tại sao khi tới chỗ chúng tôi đứng, xe ngừng lại và Tỏng Thống bước xuống đi bộ một đoạn hỏi thăm học sinh, rồi lên xe đi tiếp. Thằng bạn học một lớp, tên là Ca cùng xóm với tôi, miệng nó hay ăn nói bậy bạ và có giọng cười hô hố rất khó chịu. Ca xoay qua tôi cười hô hố và nói oan oan: “Tổng Thống gì mà mập như con heo”. Vừa nói xong, tức thì có một bàn tay chụp lên đầu nó, nắm tóc nó kéo ra phía sau. Tôi nhìn theo thấy ông ta một tay cầm tóc nó kéo lên, một tay vả vào mồm nó liên tục, máu từ miệng văng ra Tôi sợ quá không dám nhìn tiếp. Công An, mật vụ đứng phía sau học sinh mà chúng tôi không hề hay biết.

Khi tan hàng, tôi chạy về nhà thằng Ca báo cho cha mẹ nó biết là nó bị bắt, đang giữ trên quận Hòa Vang. Cha mẹ của Ca là phu khuân vác gạo ở bến tàu. Mới vừa đi làm về, cha nó không kịp thay áo quần, mặc quần xà lỏn, áo cánh, trên vai còn cái khăn vác gạo. Ông chạy lên quận để xin cho con về. Chừng hai giờ sau, ông khiêng thằng Ca về nhà, nó nằm bất tĩnh, thân hình bầm nát. Ba tôi và tôi chạy qua nhà để hỏi thăm tin tức. Trông thấy mặt mày của ông cũng bị sưng vù. Ba tôi hỏi cớ sự làm sao mà cha con bị đánh sưng mày sưng mặt như vậy, thì được ông cho biết là họ ghép ông vào hai tội. Tội thứ nhất là coi thường công quyền quận, đến cơ quan công quyền mà mặc quần xà lỏn, áo cánh (giống như áo bà ba cắt ngắn tay, những người lao động thời đó hay mặc). Tôi thứ hai là không biết dạy dỗ con cái, để nó xúc phạm đến uy danh Tổng Thống. Ba tôi ngửa mặt kêu trời không thấu, chế độ gì mà cay nghiệt như vậy. Một thằng bé con mới sáu bảy tuổi, ăn nói chưa rành, suy nghĩ chưa tới, lầm lở một chút mà đánh nó như đánh kẻ thù thì làm sao trong lòng nó không nuôi oán hận. Chứng kiến mấy cái cảnh hà hiếp của công an mật vụ thời ông Diệm in sâu trong đầu óc tôi từ lúc đó. Thú thật tôi không có cảm tình với chế độ nầy cho đến bây giờ. Thằng Ca sau nầy là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, mất tích trong trận Hạ Lào (Chiến dịch Lam Sơn 719).

Một lần khác, chú Dũng (người chú họ của tôi) từ trong quê ra Đà Nẵng báo cho Ba tôi biết tin là chú phải dẹp bàn thờ ông bà để theo đạo Thiên Chúa. Nếu không họ sẽ đưa chú đi vào khu dinh điền lập ấp (giống như đi kinh tế mới dưới thời Cộng Sản). Chú hỏi Ba tôi bây giờ phải làm sao. Ba tôi không đắn đo nói với chú là nên làm theo lời họ cho yên thân, còn tin hay không là tự lòng mình biết. Cha mẹ của Chú Dũng khóc hết nước mắt, dẹp hương đèn trên bàn thờ để thờ Chúa. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm cáo chung, chú Dũng lại dẹp tượng Chúa, đem hương đèn, hình ảnh của ông bà đặt lại lên bàn thờ. Dân quê miền Trung dưới thời ông Diệm, người dân chứng kiến biết bao nhiêu cảnh oan trái mà không dám hé môi. Đêm nào cũng trông thấy người bị giết bỏ vào bao bố thả trôi sông. Cảnh tượng nầy làm cho người dân kinh hoàng sợ đến mất ăn mất ngủ. Dân chúng chưa bao giờ thấy “Cậu Cẩn” em ruột Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng nghe tên cậu ai cũng khiếp vía. Cái gì của cậu Cẩn ai cũng tránh né, không dám đụng đến. Không biết cậu có “ác” như người ta đồn hay không, nhưng bộ hạ của cậu tác oai tác quái, mượn danh cậu làm những điều “trời không dung đất không tha”. Nữa đêm nghe tiếng gỏ cửa của công an mật vụ, là xem như gia đình đó có người biến mất trên cỏi đời nầy, nếu được cho trở về cũng thân tàn ma dại. Sống trong sợ hải như vậy, thà chết cón sướng hơn. Có lẻ vì vậy mà đẩy một số người đi theo bên kia làm nồng cốt cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau nầy, hình như là MTGPMN thành lập 1960 thời của ông Diệm. Trong thời của chế độ Ngô Đình Diệm, người dân quê miền Trung đi “nhảy núi” rất nhiều. Còn bao nhiêu chuyện khác mà gia đình ông gây ra thảm họa cho rất nhiều người dân vô tội.

Có lẽ trong thời gian người dân miền Nam thoải mái nhất, ăn nói mạnh miệng mà không cần phải giữ ý tứ. Đó là thời đệ nhị Cộng Hòa. Trong thời nầy người dân mới cảm thấy được dân chủ một chút thì đúng vào lúc chiến tranh “khốc liệt” nhất. Không sợ bị bắt vì ăn nói, nhưng sợ chết vì súng đạn. Trong thành phố, nhà nào cũng làm hầm trú ẩn để tránh đạn pháo kích. Thanh niên thì sợ ra chiến trường. Không có một nơi nào an toàn cho người dân. Người dân luôn luôn sống trong sợ hải, trong lo lắng. Mặc dù trong cách sống rất thoải mái. Phải thành thật mà nói trong tất cả các chế độ từ trước tới nay, chế độ do ông Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống là chế mà người dân cảm thấy tốt nhất, ít bị công an cảnh sát khuấy nhiểu, làm phiền. Người dân được hưởng những quyền tự do, dân chủ. Còn những chuyện về chính trị của chế độ ông thế nào thì lịch sử sẽ phán xét sau nầy.

Từ 1954 đến 1975 miền Bắc sống như thế nào, sau nầy nghe những người ngoài kia vào kể lại. Thật ra cái sắc máu của thời Ngô Đình Diệm thua xa cái sắt máu của thời Hồ Chí Minh. Người dân ngoài đó răm rắp tuân hành như một trại lính. Lòng người không được ngơi nghĩ bởi những xáo trộn do đảng Cộng Sản nghĩ ra: Cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, Tiêu cực chống đảng, thanh niên đi bộ đội vào Nam giải phóng, người dân sống bằng tem phiếu, không tuân hành chế độ là bị cắt khẩu phần. Nên tất cả răm rắp tuân hành. Những món nầy không một món nào mà không đưa tới chết người. Người dân không ở trong tổ chức nầy thì ở trong tổ chức khác, kiểm soát nhau. Đến nỗi nhà văn Nguyễn Tuân cũng phải thú nhận rằng, sỡ dĩ ông sống được cho đến bây giờ là bởi vì ông “biết sợ”.

Còn sau 30 tháng 4 người dân miền Nam có còn sợ không?

Tôi không biết còn từ ngữ nào mô tả cái “sợ” mà nó hơn cả cái sợ mà từ trước tới nay tôi đã chứng kiến. Cái thời Pháp thuộc, cái thời Đệ Nhất, Đệ Nhị Công Hòa đều không ra gì so với cái “sợ” sống dưới chế độ Cộng Sản sau 30/4/1975 rất khủng khiếp và nó không trừ một ai (dĩ nhiên đám chóp bu thì tôi không biết) nhưng nói chung chung từ cán bộ cho tới nhân dân ai ai cũng sống trong sự sợ hải. Những gia đình ngụy quân, ngụy quyền thì luôn luôn bị đe dọa, nửa đêm công an tới nhà lục xét, bắt bớ, bị tịch thu nhà, đi kinh tế mới, con cái không được học hành, bị cắt khẩu phần ẩm thực v.v.. Sống trong lo âu, không biết đến lúc nào tới phiên mình. Những tháng năm từ 1975 đến 1985 người dân sống trong lo âu sợ sệt. Mười năm đó sống trong tận cùng nghèo khổ, dân chúng thê thảm sống dưới một chính sách cực kỳ cay nghiệt, ăn toàn bo bo một thứ thực phẩm chỉ dành cho heo. Chính quyền điều khiển dân chúng bằng phương thức bóp lấy bao tử người dân. Cho nên vì sợ đói toàn dân phải răm rắp tuân theo, cúi đầu khuất phục. Cán bộ thì không thể sống bằng đồng lương nên phải ăn hối lộ, mánh mung, ăn cắp của công. Người dân làm các nghề buôn bán hay sản xuất thi sưu cao thuế nặng nên làm nhiều khai ít, trốn thuế, đút lót cho cán bộ, ăn nhậu với cán bộ. Nghĩa là một chế độ tạo dựng ra tất cả mọi người đều phạm tôi. Đụng vào ai, vào thành phần nào cũng tội lỗi đầy mình. Nên ai ai cũng phải sợ, sống trong hoan mang sợ hải.

Tôi nhớ một người cán bộ từ miền Bắc vào ở gần nhà tôi. Ông là một người thanh liêm nổi tiếng trong cơ quan. Tiêu chuẩn của gia đình ông rất cao nên nhu yếu phẩm hằng tháng của ông cũng rất đặc biệt. Một hôm bà vợ ông qua nhà tôi gợi ý với vợ tôi là bà dư dùng một số nhu yếu phẩm hằng tháng, bà muốn nhượng lại cho vợ tôi để lấy tiền dùng vào chuyện khác. Thế rồi hằng tháng bà mang qua nhà tôi các thứ thịt, cá, dầu mỡ, thuốc lá, đường sữa, và rất nhiều thứ khác mà người dân bình thường không thể có được. Vợ tôi bảo là tại sao bà không mang ra chợ bán, thì được bà cho biết là bà sợ quần chúng dị nghị, sợ công an bắt điều tra những thứ nầy từ đâu ra khấy nhiểu đến tư cách của ông. Buôn bán các thứ cấm kỵ chỉ có nhà nước mới có quyền kinh danh. Nên bà sợ không dám mang ra ngoài là vì vậy. Mỗi lần bà mang các thứ nầy đến nhà tôi, bà dấu hàng trong cái rỗ đậy bằng lá chuối ngụy trang cho mọi người không biết. Tôi nghiệp, một quan cách mạng thanh liêm chỉ sống bằng đồng lương và các nhu yếu phẩm tiêu chuẩn dành cho mình mà còn phải sợ như vậy, thì thử hỏi các quan chức hối lộ làm sao mà không sợ.

Còn chuyện làm ăn bên ngoài, tất cả các Tổ Hợp cũng như Hợp Tác Xã phần đông đều trá hình. Chỉ có một ông chủ còn tất cả đều là những người làm công, nhưng phải núp dưới bóng tập thể nầy. Phường và Quận là các cơ quan trực tiếp quản lý, họ biết rỏ nhưng họ làm lơ vì nhân viên của cơ sở không khiếu nại thì xem như hợp pháp, khui ra làm gì để mất miếng ăn. Quan trọng hơn là các ông chủ của các cơ sở nầy chi tiền rộng rãi, tiếp đón hậu hỉ thì phải để yên cho họ yên thân làm ăn, để mình còn có chút cháo. Còn tiền thuế nộp cho nhà nước chỉ đại khái cho lấy lệ, phải trốn thuế để lấy tiền nầy chi cho các quan chức, tiếp khách, nhậu nhẹt. Cho nên bất cứ cơ sở sản xuất nào cũng đều có vấn đề. Nhưng nếu nhà nước điều tra thì “bức dây động rừng”, cơ sở đó chết, bị phá sản thì họ liều mạng tố cáo các quan chức đã từng ăn chịu, như cái vụ “Nguyễn Văn Mười Hai” của cơ sở nước hoa Thanh Hương ở Sài Gòn trước đây hơn hai mươi năm, lường gạt biết bao nhiêu tiền của dân, mượn đầu nầy đắp đầu kia. Đến khi công chuyện đổ bể, Nguyễn Văn Mười Hai vào tù kéo theo không biết bao nhiêu quan chức lớn nhỏ vào tù theo. Vì vậy sự phạm pháp dây chuyền nầy không ai dại gì làm ra vì bên nào cũng chết. Cái dù to che chắn đủ mọi phía. Nhưng thực chất bên nào cũng sợ mất ăn mất ngủ, nếu có ai đó tố cáo mà các cái dù không đủ che đậy. Thì phải vào tù cả đám. Không biết bây giờ đã thay đổi gì chưa, chứ từ năm 75 đến năm 90 tất cả các nơi buôn bán cũng như sản xuất chi phí cho quan chức nhiều lắm để họ che chắn cho mình làm ăn. Thế nhưng đụng tới nơi nào là xem như nơi đó không còn thuốc chữa.

Như vậy từ cán bộ tới dân ai cũng phạm pháp không nhiều thì ít, nên ai cũng phải sợ. Chính phủ cũng lo sợ dân chúng bị chèn ép quá có ngày nổi loạn. Dân chúng thì sợ chính phủ bắt bớ vì phạm tội của mình. Một chế độ mà sống trong sợ sệt thì mất đi lý thú. Bây giờ nhiều người giàu sụ, tôi nghĩ rằng đây là những đồng tiền không sáng sủa, những đồng tiền do việc làm bất hợp pháp tạo nên. Chứ làm ăn một cách đàng hoàn thì không thể nào giàu có một cách nhanh chóng như vậy được. Tôi nghĩ tất cả người cán bộ giàu có bây giờ cũng đang sống trong lo âu sợ sệt, ai cũng có những tì vết bất chính, những đồng tiền chèn ép, chận yết hầu người khác. Chúng ta ở hải ngoại về nước đụng phải các “đại gia” nầy phải kinh sợ cái lối tiêu tiền như nước của họ, chúng ta không thể tưởng tượng được cái giàu có của họ. Nếu làm ăn đàng hoàng, tuân hành thuế khóa, đồng tiền làm ra bằng mồ hôi nước mắt của mình thì không thể giàu một cách kinh khủng như vậy. Tất cả tiền bạc kiểu nầy đều bất chính, mà bất chính thì họ luôn luôn sống trong sợ hãi.

Có lẽ một nguyên nhân làm giàu nhanh nhất là đất đai. Người dân không ai có quyền quản lý hay làm chủ đất, dù đất đó xưa nay là của mình, do mình hay ông bà để lại. Cán bộ chính quyền là những người lập ra các kế hoạch xây dựng nên họ biết những đất đai nằm trong kế hoạch. Họ trưng dụng hoặc đền bù cho dân một số tiền nhỏ và họ bán lại cho người khác với số tiền lớn gây ra tệ nạn bất công trong dân chúng. Đất đó chia cho cán bộ cho nên tự nhiên tạo thành tầng lớp cán bộ giàu có là vì vậy. Ta tự hỏi cán bộ “cướp đất” như vậy có sớ không? Có lẽ trong thâm tâm của họ lúc nào cũng sợ. Họ chèn kéo nhau, bảo vệ cho nhau để vun đắp chế độ hết mình vì họ biết nếu có một nhà nước dân chủ sẽ kéo theo một sự sụp đổ và hậu quả tất nhiên không lường được cho họ. Cái gì của dân phải trả lại cho dân. Ta thử tưởng tượng xem các nhà tư sản đỏ sẽ lòi ra toàn là “kẻ cướp”.

Từ một cái nhìn bên ngoài đất nước, ta nhận ra được ngay các quan chức chóp bu họ cực kỳ giàu có, sống trong xa hoa lộng lẫy. Con cái của họ tiêu tiền như vứt rác qua cửa sổ. Họ không lường được cái giá họ phải trả sau nầy. Cái gương của sự sụp đổ của các nhà cai trị Trung Đông trong cách mạng “hoa lài” đã để lại cho họ một cái giật mình. Rồi đến một lúc nào đó chính họ cũng phải như vậy. Có lẽ họ còn “sợ hãi” hơn, hậu quả khốc liệt hơn./

Houston, 22-4-2011

Posted in Phiếm Luận | Leave a Comment »

MỘT GÓC NHÌN VỀ ĐẤT NƯỚC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 22, 2011

 MỘT GÓC NHÌN VỀ ĐẤT NƯỚC    

*Phan Xuân Sinh

(Bài viết nầy tôi viết vào tháng 4/2010.  Bây giờ sắp đến 30/4/2011, tôi xin đăng lại trên đây để bạn đọc cùng suy ngẫm. Sau 36 năm hòa binh đất nước vẫn còn nhiều khao khát. Người tranh đấu nổi bậc về dân chủ, TS Cù Huy Hà Vũ đã bị guồng máy Chính Quyền trong nước cố tình nghiền nát bằng những thủ đoạn đê hèn, bất chấp sự can thiệp của thế giới. Đứng bên ngoài đất nước, những người quan tâm đến sự sống còn của dân tộc phải tức tưởi lên tiếng. Bài nầy xem như một sự lên tiếng. Trân trọng)

Mới đó đã ba mươi lăm năm rồi (1975 – 2010). Một chặng đường trải qua bao nhiêu biến đổi, một khúc quanh của lịch sử, một bức tường lòng (cách nói của Tưởng Năng Tiến) dựng lên ngăn chia giữa người và người đã kéo dài từ đó tới nay. Hàng triệu người rạng rở và ngược lại cũng có hàng triệu người đau khổ (như ông Võ văn Kiệt từng nói). Như vậy thực sự hòa bình có đến không? Đó là một câu hỏi tự đáy lòng của những ai còn quan tâm tới đất nước. Chiến tranh không có chiến trường thực sự trên đất nước, nhưng đôi bên vẫn lập nên những chiến tuyến kiên cố, nả “đại pháo” điên cuồng vào niềm tin của dân tộc, hủy diệt ước mơ của toàn dân khao khát. Công tội do ai? Vì ai? Cho đến bây giờ vẫn còn quá sớm để toàn dân luận bàn chuyện nầy, lịch sử lại càng câm lặng không dám hở môi. Người thắng trận thì hiu hiu tự đắc, dùng những đòn thù phủ lên đầu người thua trận, dành lấy quyền xây dựng đất nước mà thực sự phải trên tay của toàn dân, thì ưu tiên xây dựng chổ ngồi vững chắc cho bè phái. Trừng trị thẳng tay những ai còn léng phéng đụng vào “dân chủ”.  Dân chủ phải do nhà cầm quyền ban bố, phân phát, được chừng nào hay chừng đó chứ dân chúng không có quyền đòi hỏi, ai mà lên tiếng thì cho đó là những “thế lực thù nghịch” đánh phá, hoặc những kẻ muốn “lật đổ chính quyền” phải trừng trị ngay. Những tiếng nói lương tâm tức tưởi tắt nghẻn.

Còn phe thua trận thì sao? Gầm gừ uất ức, chưởi bới, mắng mỏ.  Ba mươi lăm năm nay vẫn sao y bổn cũ, kêu gọi biểu tình hò hét liên miêng. Có nhiều người cho chuyện nầy chỉ “gải ngứa” không thấm vào đâu. Thế nhưng nghĩ cho cùng, không có chuyện nầy thì chắc những thành phần như ông Luật Sư Nguyễn Hữu Liêm không cần phải về dự “Đại Hội Việt Kiều” để được hát “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng…” , mà ông sẽ dõng dạt hát to trên đường phố Bolsa, trung tâm điểm của người tỵ nạn một cách nghênh ngang. Không có những người chống cộng kiểu nầy thì vợ chồng Tiến Sĩ Trần Thanh Vân cần gì phải về trong nước mới nhận lãnh bằng khen, bằng thưởng. Lập ngay một khán đài giữa Paris, giữa mắt những người tỵ nạn để vợ chồng ông lên lãnh các thứ nầy hiên ngang, do tòa đại sứ Việt Nam tại Pháp trao cho, không phải sợ ai cả. Như vậy, người thua trận cũng biết vận dụng “có gì dùng gì, có nấy dùng nấy” (kiểu nói của Lý Đợi) để ngăn chận những thành phần điên rồ, thích làm nổi. Biết đâu cái lợi thế nhỏ nhoi của người thua trận, đã tạo nên chướng ngại cho các nhà lãnh đạo trong nước khi viếng thăm nước Mỹ phải dè chừng, phải tránh né, phải tự coi lại việc làm của mình (cho đến bây giờ họ chẳng thèm coi lại làm gì cho mất công, cứ đàn áp thẳng tay là chắc ăn nhất). Thì cần gì phải có súng đạn, có công an, vẫn tạo nên được một sức mạnh, không làm lộn nhào chế độ trong nước, nhưng cũng góp phần gây rắc rối nhà cầm quyền trong nước không ít,và cũng xoa dịu được tự ái thua thiệt.

Trước đây có một cán bộ trong nước qua Mỹ du lịch, gặp tôi họ hỏi ngay: “Sao những người biểu tình có vẻ hung dữ quá?”. Đó là người lớn lên từ miền Bắc, ông ấy chưa bao giờ nhìn thấy cảnh biểu tình tự phát của dân chúng, mà chỉ thấy biểu tình do nhà nước huy động. Tôi hỏi lại ông ấy : “Ông thấy có hung dữ bằng biểu tình tố cáo địa chủ của cải cách ruộng đất trước đây không?”. Ông ta ú ớ. Tôi giải thích cho ông ấy biết rằng, những người biểu tình như vậy vẫn còn hiền hòa, không gây hại cho ai, không đụng chạm đến người khác. Họ là những người phần đông bị tù tôi, bị đối xử tồi tệ, bị gia đình tan nát bởi chế độ trong nước gây ra. Thể hiện lòng căm thù bằng biểu tình như vậy thì cũng không có gì quá lắm. Gây rối loạn, mất trật tự công cộng là cảnh sát Mỹ can thiệp ngay, chứ đừng nói gì đến chuyện đụng chạm người khác. Ở trên đất nước tự do ai cũng có quyền thể hiện chính kiến của mình, những chính kiến có vẻ ngược ngạo như trường hợp ông luật sư Nguyễn Hữu Liêm thì cũng chẳng có ai dám đụng vào sợi lông chân của ông, chỉ hơi bị búa rìu dư luận phang tới tấp cho vui vậy thôi. Ông ấy vẫn ung dung rung đùi và cũng có thể cười nhạo báng “làm gì được tau”.

Trong lúc đó ở trong nước, những người cũng bày tỏ chính kiến của mình thì họ được lao tù đón tiếp nồng hậu, chăm sóc kỷ càng (khi tôi viết bài nầy thì tòa án trong nước đã xử xong bốn nhà tranh đấu dân chủ, với một tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền” mà trong tay của họ chẳng có một thanh sắt). Còn những người khác như Điếu Cày, Trần Khải Thanh Thủy, tiếng nói của họ liệm tắt ngay bởi những tội danh trốn thuế, lường gạt, ấu đả v.v..không ăn nhập gì đến hoạt động cao quý của họ. Không có tội danh chính trị, chỉ có tội về hình sự. Thú thật chính quyền nghĩ ra các tội danh nầy thì quá sức “độc địa” không ai ngờ tới. Thế nhưng sao thấy nó hạ cấp quá, một chính quyền như vậy thì làm sao kham nổi những “chuyện lớn”. Hải ngoại biểu tình, các nước trên thế giới lên án, can thiệp. Tất cả dưới mắt nhà cầm quyền trong nước đó chỉ là các “thế lực thù nghịch” không cần đếm xỉa tới, cứ kêu gào, cứ đòi hỏi, không ăn nhập gì tới họ.  Có nước nào gay gắt mà buộc lòng phải trả lời thì họ lên tiếng “xen vào nội bộ của Việt Nam” hoặc “nhân quyền của Việt Nam khác với nhân quyền của các nước khác” , đại loại như vậy. Chúng ta đã nghe luận điệu nầy lặp đi lặp lại, không tỏ thái độ đáp ứng. Đường ta ta cứ đi, ai cản lại phải lập tức nghiền nát chúng. Phải công nhận rằng các nhà tranh đấu dân chủ tại Việt Nam rất dũng cảm, chống chọi với một chính quyền chẳng coi ai ra gì, chẳng cần tới ai, bất chấp dư luận. Chỉ cần đạt được mục đích bằng bất cứ giá nào. Tiếng kêu than của toàn dân xem như đồ bỏ. Tranh đấu như vậy chỉ thiệt thân, chỉ còn héo hon trong nhà tù. Họ đúng là những con người bất khuất.

Hòa bình thực sự đã được 35 năm, nhưng hai phe lâm chiến vẫn còn kình chống nhau quyết liệt. Có thể nói một mất một còn. Ai thiệt thân? Chỉ có đồng bào trong nước lãnh đủ. Thế thì chính quyền phải tìm mọi cách để hàn gắn lại, chẳng lẽ cứ để mãi tình trạng như thế nầy sao? Người ta chỉ lo cho chiếc ghế đang ngồi, lo cho tập đoàn vững mạnh, để đè bẹp ngay những kẻ đụng tới “chỗ nhạy cảm” của chính quyền. Lãnh vực nào cũng có kẽ hở, nhưng lãnh vực đàn áp thì không có ai thoát được dù đó là đảng viên.

Chỉ cần một lời xin lỗi của ông Nguyễn Minh Triết (như trong bài viết của anh Tiêu Dao Bảo Cự trên Talawas “Thư gửi Nguyễn Hữu Liêm”) thì ông Triết có thể sẽ nắm được dân Việt ở Bolsa. (Thực tế chuyện nầy cũng chưa chắc), thế nhưng dù sao cũng thể hiện sự hiểu biết, sự bao dung. Thế nhưng làm sao có được chuyện nầy khi mà kẻ chiến thắng luôn luôn đứng phía trện không thể cúi xuống được. Một đường lối “kẻ cả” qua bao nhiêu đời vẫn không thay đổi, cho đến bây giờ vẫn tự hào Mac- Le vô địch, không thua ai. Miệng thì nói vậy nhưng toàn bộ đất nước chạy theo tư bản, ì à ì ạch kéo theo cái rờ-mót  Chủ Nghĩa Xã Hội một cách nặng nề, không đành lòng vứt bỏ được. Ông Chủ tịch nước mới đây đến Cuba trong bài nói chuyện, ông ví von đất nước mình là tên công an (hay lính gì đó) canh gác hòa binh thế giới, nghe qua đủ khiếp. Trong lúc đó cái hòa bình nhỏ nhoi của dân tộc chưa giải quyết xong, vẫn còn dây dưa 35 năm rồi không có tiến triển đoàn kết dân tộc. Thế mà vương cánh tay dài ra ôm đồm cả thế giới. Nghĩ cũng lạ thật.

Người dân hải ngoại cũng như trong nước cầu mong đất nước thay đổi theo đường lối dân chủ, để đôi bên sáp lại gần nhau, không còn nói tới chuyện hận thù, chia rẻ. Nhưng chờ dài cổ, tan nát cả cuộc đời vẫn chưa thấy một chút ánh sáng về chuyện nầy le lói. Biết tới bao giờ nó mới trở thành sự thật? Không ai biết được. Các nhà lãnh đạo Việt Nam họ hiểu một cách tường tận về lòng mong muốn của toàn dân. Nhưng nếu họ thay đổi thì sụp đổ tất cả, kéo theo biết bao nhiêu hệ lụy và ngay cả chính họ cũng chưa chắc được an toàn. Cho nên người nầy níu chân người kia tạo thành một bức tường kiên cố, quyết tâm bảo vệ. Họ coi nhẹ cái chuyện dân tộc hay đất bước. Nếu các thứ nầy phải hy sinh để cho họ tồn tại thì họ sẵn sàng chấp nhận.

Mới đây lại thêm một trò chơi mới (rập khuôn theo Trung Quốc) ra đời: “Tin Tặc”. Cho đến bây giờ không ai tự nhận những tên tin tặc do mình cầm đầu, thế nhưng người Việt dùng internet khắp thế giới đều khẳng định chắc chắn tin tặc do một bộ phận của nhà nước cầm đầu, để phá vỡ những website dám đụng vào chỗ nhạy cảm của chính quyền trong nước. Việc làm phạm pháp tày trời nầy họ dám làm, dám nghĩ ra, thì họ không từ nan những chuyện đê hèn khác mà họ đã áp dụng trên đầu dân chúng. Một đất nước được điều khiển với những khối óc nhỏ nhen như vậy thì làm sao dân chúng khá nổi. Ăn rồi chỉ lo nghĩ tới chuyện trừng trị, phá đám thì làm sao xây dựng một đất nước văn minh cho được.

Đất nước ta rơi vào cái bất hạnh nầy mà không cách nào dứt phăng ra được. Phải có một đấng cứu thế như Mikhail Gorbachev, như một tổ chức công đoàn Đoàn Kết thì họa may mới cứu vãng được. Chỉ còn biết trông chờ và cầu nguyện. Hết lớp nầy tới lớp khác bước lên cầm quyền cũng lăn trên vết xe cũ. Hết đại hội đảng nầy, đến đại hội đảng khác cũng chẳng thấy thay đổi. Đến khi hết cầm quyền thì mới bày đặt chỉ trích nọ kia, để cho người dân biết rằng mình có tâm huyết gióng lên tiếng nói của dân. Lúc đó dù có mang phèn la đến đánh vào tai những ông có chức quyền thì họ cũng giạt pheng ông ra, chằng thèm nghe đâu. Trước đây ông Phan văn Khải có thèm nghe ông Võ văn Kiệt? Và bây giờ ông đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết bao nhiêu kiến nghị ngăn cản khai thác bau-xit, họ vẫn cứ làm. Xem như những tiếng nói của quý ông như một lủ già điên rồ, không cần phải để ý. Ông Nguyễn Hữu Liêm lấy tư cách gì khẳng định sau kỳ đại hội đảng sẽ thấy thay đổi? Ông đâu có phải Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng? Hay ông chỉ tưởng tượng cũng như những người dân trong nước mỗi lần có một sự cố thay đổi, họ ngóng cổ trông chờ. Nhưng mọi chuyện không hề thay đổi. Sống ở nước ngoài quá lâu, ông Liêm không mang tâm trạng “trông chờ” như những người trong nước. 35 năm rồi những khao khát của con người đã hóa đá, thế nhưng mọi thứ vẫn y sì.

Người dân Việt Nam đi suốt quảng đường một cách nhọc nhằng, nhiều rủi ro. Không có một cuộc chọn lựa trong cuộc sống, răm rắp tuân theo như một trại lính. Ba hồi Trung Quốc là anh em “môi hở răng lạnh”, thì người dân cũng nói theo “răng lạnh môi hở”. Ba hồi Trung Quốc là bọn “bành trướng Bắc kinh”, thì người dân cũng riu ríu “Bắc Kinh bành trướng”. Nhiều trò, nhiều kiểu, người dân ngao ngán quá. Họ tập cho con người ăn nói như vẹt, ai nói ngược lại thì búa rìu bổ lên đầu ngay. Ông Nguyễn Hữu Liêm có ăn nói ngược ngạo với những người tỵ nạn, thì cũng chẳng có ai làm gì được ông, cho nên ông tha hồ chọc giận. Ông không bị hình phạt, nhưng ông bị người đời chê cười cho cái ngớ ngẫn của ông. Người trí thức mà lãnh những gáo nước lạnh nầy nghĩ cũng buồn thật. Dù là người bình tỉnh nhất còn thấy chướng tai với những lập luận triết học ngô nghê như vậy, thì người không bình tỉnh phẩn nộ tới chừng nào.

Nhìn lại từ 1975 tới nay, ta chỉ thấy đường phố đông hơn, nhà cửa xây dựng nhiều hơn, đời sống dân chúng có đổi khác, có tiến bộ. Phải biết bây giờ đã 35 năm rồi, những gặt hái nho nhoi như vậy không đáng kể, so với tiến hóa chóng mặt của thế giới. Mức độ chênh lệch giữa thôn quê và thành thị quá xa, thu nhập của cán bộ và người dân quá khác biệt. Tham nhũng hoành hành lộng trời. Đất cát của người dân bị chiếm đoạt oan ức. Tôn giáo thì Tam Tòa, Bát Nhã thẳng tay trừng trị. Nhà nước dùng những phương tiện hạ cấp, côn đồ đối với những thành phần chống đối như nếm phân vào nhà, du đảng đành đập, đụng xe đến chết. Nghĩa là trên thế giới chưa có một chính phủ nào dùng những thủ đoạn đê hèn như vậy. Thế thì chúng ta trông chờ những gì? Khi mà nhà cầm quyền thanh toán nhân dân như là băng đảng, tồi tệ đến mức như vậy, thì chúng ta không thể trông chờ họ có thể đưa đất nước đến chỗ cực thịnh được.

Con đường bế tắc thế nhưng vẫn cứ đi. Chỉ có người dân kham khổ, những quyền lợi bị tước đoạt. Hé môi than vãn là mang tội chống đối nhà nước, sẽ lãnh những hình phạt nặng nề. Phần đông dân chúng phải cúi đầu. Bánh xe cứ lăn trên đường, sẳn sàng nghiền nát những chướng ngại. Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Tiến Trung và thêm ai nữa thì cũng sẽ bị dạt qua hai bên đường để nhà cầm quyền thênh thang cất bước. Trong giới lãnh đạo ai cũng giàu sụ, nhà cao cửa rông, cho nên không ai dám thay đổi. Ai cũng bảo vệ chế độ một cách nghiêm ngặt, bảo vệ chiếc ghế vững chắc dù họ biết việc họ làm trái với ý dân. Nếu thuận với lòng dân  thì họ sẽ mất trắng, không vinh thân phì da được. Từ trên xuống dưới quyết bảo vệ cái thành trì nầy cho đến chết. Như vậy 35 năm nay đứng về mặt nhận thức chẳng có gì thay đổi cả./

Houston, tháng 04 năm 2010

Posted in Thời Cuộc | Leave a Comment »

HENRY MILLER

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 15, 2011

HENRY  MILLER

NHÀ VĂN  DUNG TỤC

“Le laid peut etre beau,le joli jamais”(1)

(P.Gauguin)

Giữa thế kỷ XX xuất hiện một tác giả khác đời,người đã gây ảnh hưởng không ít trong văn học thời bấy giờ,thay đổi cục diện văn chương Mỹ cũng như khắp nơi trên thế giới.Một thứ văn chương đồi trụy,dâm dục,phi đạo đức làm thương tổn đến những nhà đạo đức học,luân lý học…

Đó là nhà văn Henry Miller(*)Đời lên án ông gắt gao,cho ông là con người đảo khuynh; điều mà xưa nay người ta tránh nói tới thì nay ông mạnh dạn phanh phui,huỵch toẹt không ngại ngùng.”why not”!tại sao không!Từ đó sinh ra hiện tượng Miller.Một hiện tượng phủ nhận mọi tác quyền cũng như những ấn phẩm của ông.Hoa Kỳ và Anh quốc đồng loạt bôi bác,trù dập thứ văn chương dung tục như thế.Vậy nguồn cơn nào đã đẩy ông vào con đường viết lách một cách bạo miệng bạo mồm như thế?

Henry Miller mang trong người giòng máu lai căng,gốc Đức,chứa đựng một tinh thần phóng đãng vagabond/bohemien thích một lối sống cá nhân,biệt lập và một tâm hồn đầy dục tính.

Henry Miller quan niệm rằng: “con người thoát thai từ những khoái lạc xác thịt, điều mà được Thượng đế ban ơn sủng,bù đắp vào sự khổ hạnh mà con người phải gánh chịu…”Không có một sinh vật nào ngẫu nhiên tự có mà không qua khỏi cái chu kỳ nầy,ngoài nhiệm vụ sanh nở bên cạnh đó là những động lực khoái cảm âm dương; đó là nguồn khoái cảm bất tận của con người.Henry nhận thức được điều ấy với tấm lòng chân, ông lấy từ cái “giấu giếm” để nói lên cái”thực đẹp” của bản chất con người.Những tác phẩm của ông đều mang tính dục(sexuality) và tính dục xác thịt(sensuality) một cách tuyệt đối, ông mô tả trắng trợn và thẳng thắng kể cả thư viết cho bạn bè hay người yêu.Miller không ấp úng,không ngượng ngùng xấu hổ và hàm hồ như thế trong văn từ của ông.Vì đó là một thực tế sống thực hơn là một thứ đạo-đức-giả hiệu.

Tiếng nói của Henry Miller trở nên vắng bóng giữa thế gian nầy, ông ngậm ngùi chia sẽ nỗi niềm.Ngọn bút của ông cũng âm thầm vắng lặng không còn đơn giản,diệu vợi giữa người với người.Nhưng không phải vì thế mà lặng câm,con người vô tình lặng câm để chối từ ông “Mais son appel initial n’en est pas devenu muet pour cela,il se tait seulement.L’homme a vraidire n’accorde a ce silence aucune attention”Oái oăm thay! Miller con dân của Mỹ mà đành phải bỏ xứ ra đi tha phương cầu thực vì nước Mỹ chối bỏ ông, ông bỏ luôn cả việc làm,bỏ vợ để đi tìm chân lý tự có của nó.Miller nhận ra được sự hiện hữu của con người, ông lột tả,thoát xác để tìm cho kỳ được chân lý tối thượng ấy,mà con người được quyền thụ hưởng dưới mọi hình thức,thế nhưng đời vẫn khăng khăng cho rằng điều ấy là bỉ ổi,phải che đậy, điều mà không nên nói ra.Vậy nó có từ đâu?Và có ai đã từ chối mỗi khi đụng chạm? Henry Miller cho đó là “thân xác hữu thể”(body subject/corp sujet)một chủ thể hữu ngã bằng cách mô tả con người như một chủ thể tại thể,xuất hiện qua thân thể.Tuy nhiên khó giải thích được chủ thể mà con người đang làm chủ chính nó;trong Tropic Of Cancer (Kinh Tuyến Bắc Giải)Miller không những nói lên chân lý chủ thể mà nói lên tính dục tại thể giữa vợ chồng và người yêu cũng như giữa bạn bè với bạn bè(homosexual).Henry vẫn cho rằng ý thức đó là ý thức hữu giác(perceptive)giữa người với người.

Henry Miller rời Mỹ,định cư ở Pháp(Paris) năm 1930 là một quyết định,thúc đẩy của vợ ông và cũng là điều mơ ước trở nên một nhà văn tên tuổi ở Pháp, ông đã gắng bó giòng sinh mệnh ấy được 10 năm thì trở vế cố quốc 1940.Thời kỳ sống ở Pháp là thời kỳ đen tối, ông phải sống nhờ vợ và bằng hữu,sống kiếp lây lất, lầm than, đó là giai đoạn đầu được mô tả là sự hiện thân của con người.Hiện thân ở đời tức là có một hiện hữu tại thế và tại thể.Người ta nhìn Miller lầm than như nhìn một khủng khoảng nội tại,người ta không thấy sự hiện thân đó nơi thân thể của Miller mà ông đang sống trong ba thế giới. Thế giới sự vật: xứ lạ,quê người,sống trợ cấp của vợ,khốn khổ.Thế giới nhân loại:con người với con người,bôi bác,tước đoạt,lên án.xáo trộn tâm linh giữa gia đình và bạn bè,Miller chứng kiến cảnh bội phản của vợ và tình nhân,họ yêu nhau(lesbian/bisexual) cho Miller thấy nỗi đau của nội tại.Thế giới bên kia: giữa quê nhà và lưu đày(Paris)Henry Miller sống thực tế với ba thế giới nói trên.Thiếu những giá trị tối thiểu đó thì làm sao nói lên được tính dục giữa người với người mà tất cả mọi dự mưu đều đem đến ý nghĩa cho tất cả những gì có liên quan đến con người,con người ở mọi nơi,mọi lúc đều cùng một tình trạng như nhau.Cái tầm quan trọng đó mà Miller ý thức được, đưa ông tới sự dung tục trong văn chương;vì thế mà người ta chối bỏ ông.Henry Miller luôn luôn hồi tưởng đời mình,tha thiết với quê nhà,chứng kiến sự đổ vỡ,chứng kiến sự thối thác,Miller đau khổ trong mọi hoàn cảnh đó là nguyên nhân nói lên cái cơ cấu lý sự của nó.

Ông viết nhiều thư gởi bạn,gởi tình nhân, đối thoại đầy ý nghĩa với vật giới,nhân giới và vũ trụ giới. Ông đem tâm tình đó như một giải tỏa nội tại.Miller không chờ đợi sự phản tỉnh.Sự hồi tưởng,sự phản tỉnh của lý trí về cuộc đời dấn thân của Miller là một thành phần của đời người. Ông có một hoài bảo là trở thành một nhà văn chân chính,mà chính ông đã bộc bạch: “who was I to say;I am a writer”Miller phát họa đời mình qua những trang tiểu thuyết,tiểu luận,truyện ngắn,thư gởi… chất chứa toàn bộ tính dục ở đó:Tropic Of Cancer(Kinh Tuyến Bắc Giải),Tropic Of Capricorn(Kinh Tuyến Dương Nam),The Rosy Crucifixion(Đóng Đinh Thập Tự Giá Hồng)Tất cả những tác phẩm trên đều nói lên sự phản động,dung tục của con người,một cuộc cách mệnh văn chương của Miller nhất là ở Hoa Kỳ và Pháp.

Cuộc đời của Henry Miller và June(vợ) là tất cả những gì đã đi qua đời ông đó là nền tản chín mùi trong tiểu thuyết hư cấu của ông.Miller đau khổ với số phận,cuộc đời dàn trải như tiểu thuyết ông viết;nghĩa là ông nghĩ gì thì gặp lấy.

Giờ đây ông đối diện với thực tế,một thực thể phủ phàng.1927 June ngoại tình với Jean Kronski,họ yêu nhau không phải vì tình mà do nhu cầu dục tính.Miller đối diện với khách thể, đó là lý do chính đáng mà Miller phải ý thức vai trò của mình thể hiện trong cái cơ cấu khách quan.Miller đồng ý với Merleau-Ponty và Jean Paul Sarte tìm hiểu thân thể người ta nhưng lại dùng hình thức khác để giải bày như một sinh lý học.Chỉ có một điều cho Miller nhìn nhận và hồi tưởng về chủ thể,về toàn diện đời người mới làm cho ta ý thức được cái ý nghĩa trong cuộc đời này.Lý lẽ toàn diện mà Henry Miller đã hụych toẹt cái “xấu xa” chân thật, ý thức đó thúc đẩy Miller tục và hàm hồ nhiều hơn thế nữa,làm tình táo bạo,dung tục qúa cở đó là sự thật của cuộc đời.Dung tục của Miller không phải con mắt bình thường nhìn thấy,cái dung tục của Miller là mặt thật của con người “giấu kín” chỉ có sự suy tưởng về chủ thể mới có thể tìm ra giải pháp cho những câu hỏi: Tôi phải làm gì? Cái gì là tục cái gì là thanh? Có phải đó là tội ác? Nghĩa lý ra sao? Sống để làm gì,ngoài cái chết chờ đợi? Chính những câu hỏi đó là giả tạo,không thực với đời sống.

Đôi khi những quẩn bách đó đã đưa Miller đi từ trạng thái nầy đến trạng thái khác làm cho ông điên loạn,cô đơn,phản bội tất cả những điều đó đã chi phối nội tâm ông,nhiều lúc ông không biết ông sẽ đi về đâu.Trong tập ghi chép(notes)Miller đã than thở”hết chịu nỗi”(without effort) có nghĩa là mặc cả giữa ông với June-vợ ông.Giữa chủ thể và khách thể,giữa giả dối và bội phản.Từ đấy Miller cảm thấy lạc lõng,Paris không còn là nơi dung thân đời ông.Tuyệt vọng và căn bệnh trầm cảm lại xẩy ra cho ông không khác những ngày đầu đời ở Brooklyn(New York-USA).Henry trở nên lặng câm với đời, đó là sự tĩnh lặng của hai bề mặt;  sự phàm tục và sự ám ảnh tâm trí ông,mặc khác là sự thánh hóa của nghệ thuật mà được coi như nguồn gốc của hai thứ: tham vọng và khát khao “ It is a meditation on both the protane and divine aspect of an art that has its source in both lust and longing”.

Trong tiểu thuyết của Miller;Tropic Of Cancer(Kinh Tuyến Bắc Giải) vẫn còn là một thể tài khác mặc dù có nhiều cải cách và làm thế nào để viết được cái thật của tính chất đó.Cá nhân của Henry Miller thường nảy sinh một thôi thúc dục tính hướng đến khách thể,hướng đến điều bất biến để đối trị với điều biến thành.Cả hai cuốn Tropic Of Cancer và Tropic Of Capricorn.Miller diễn tả cực độ nỗi thống khổ của hai bề mặt tri giác và hữu thể khi đối diện thực tế tại Paris cũng như trực diện với New York.

Cho dù Henry Miller mô tả về tính dục trong hầu hết truyện của ông viết, đều dựa trên những nguyên tố chính đáng,bởi vì; mỗi khi ông hạ bút xuống viết thì chắc chắn đã có loại người đó nghĩ đến dục tính như ông. Ý sâu xa của Miller:”người ta có thể “đ…”bất cứ nơi đâu nhưng làm thì phải có nơi chốn đàng hoàng”(one can fuck almost anywhere but one must have a place to work!) Đúng vậy;cái khoái cảm tự tại chính là cái khoái cảm khách thể.Miller nói:”cho dù một cuốn tiểu thuyết dở cũng đòi hỏi một cái ghế để ngồi và một chút riêng tư của nó”(Even a bad novel requires a chair to sit on an bit of privaly)Rõ ràng Miller không giới hạn tình dục và tạo ra sinh lực ở cùng một lúc.Trong Tropic Of Cancer; Miller lột tả sự phối hợp giữa hai phái cực kỳ khoái cảm, thời gian Anais Nin ngoại tình với Miller là cả hai làm tình táo bạo,không thiếu một khe hở nào trên da thịt của hai người,Nin đã rành rọt về tính dục khi nàng ở tuổi mới lớn.Vậy thì sự bạo dâm giữa hai người không có gì lạ cả.Henry Miller thấy được vợ mình June đồng tình luyến ái(lesbian)với Anais Nin. Miller,June và Nin là ba biểu tượng họ truyền đạt bằng ngôn từ cảm xúc giữa tình yêu thuộc về thần trí và hữu thể thuộc về bản ngã. Điều đó không những làm sáng tỏ dục tính tay ba mà nó trở nên chân thật,nếu không có sự kiện như thế thì sẽ không có biểu tượng và cũng chẳng ra gì hết…

Sau khi June trở về Mỹ thì Henry và Nin phục hồi tình yêu,họ vẫn truy hoang và hưởng trọn vẹn của tình yêu.Miller thức tỉnh ý thức xác thịt.Nhờ tình yêu bộc phát với Nin, ông say sưa viết,viết ào ạt những tâm sinh lý trong Tropic Of Cancer.Họ sống chung với nhau ở Villa Seurat,Nin có thai với Miller rồi phá thai, cả hai sống sa đọa,trụy lạc,dung tục, đàn điếm, ảnh hưởng con người của Miller;Nin loạn luân với người trong họ Eduardo Sanchez và hai kẻ vô thừa nhận khác,riêng Miller thì ăn ở với gái điếm.Rõ ràng Henry Miller rơi vào hố thẳm của dục vọng xác thịt,cuộc đời ông từ đó chao đảo, bôn ba và trải qua 5 đời vợ trong đời.Cuối cùng chết trong tay người giúp việc.Có phải đó là sứ mệnh mà ông phải thực thi cả tinh thần lẫn thể xác?Henry Miller không tin,tiếp tục vẽ những gì còn tồn tại trong tư tưởng của ông cho tới ngày tàn hơi.

Trong cuốn The Wisdom Of The Heart (Sự Khôn Ngoan Của Con Tim) xuất bản năm 1941 sau khi từ Pháp trở về định cư ở California(Big Sur)trong cuốn đó có một bài tiểu luận viết về âm hộ của phụ nữ The Enormous Womb(Tử Cung Vĩ Đại,)”Thâm Cung Đại Môn”.Henry Miller lý luận:Chính Thâm Cung Đại Môn là nơi phát nguồn của sự sống và không một sinh vật nào không đi ra từ cõi ấy; đó là tử cung,nơi bắt nguồn của người mẹ, đó là vật thể mà chúng ta cần phải nhận biết,tử cung là nguyên nhân lớn lao đưa tới sự khốn khổ.Tuy nhiên những ý tưởng về tử cung vẫn được gói ghém và có lẽ sẽ không bao giờ mất đi bởi hai tình trạng bất tri thức ấy,nghĩa là con người thoát ra khỏi sự đau đớn và đấu tranh. Đó là ân phúc Thượng đế ban phát.Có phải đó là sự vô thức?.Henry Miller cho rằng sự vô thức ít hơn là ý thức.Con người sống trong một trạng thái thức tỉnh mãnh liệt hơn và không còn nỗi sợ hãi vây quanh và từ đó nẫy sinh ra vấn đề sinh tồn hơn là dục thể.

Đó là sự khôn ngoan của lương tâm là lối thoát khả dĩ duy nhất, thoát ra từ tử cung và dĩ nhiên là lý do tại sao quan niệm về Thượng đế ăn sâu trong ý thức nhân loại.Trong tập The Wisdom Of The Heart.Miller lý luận rằng; giữa Thượng đế,các thánh thần xưa nay và con người  quay quanh một tại thể tự tại giữa sinh tồn sống và chết. Đó là cái nhìn khách quan của Henry Miller;chỉ cho thấy sự vật chứ không cho thấy con người.Cái nhìn duy tâm,lối về của chủ thể hữu ngã mà phải vượt qua hai cái nhìn đó là “sự sinh” và “tái sinh”,chính là quan niệm thân xác chủ thể (body subject).

Còn hai cuốn Kinh Tuyến Bắc Giải và Kinh Tuyến Dương Nam là sự gắn bó một dục tính nguyên sơ từ trong đó,từ chủ thể đến khách thể.Henry Miller mượn nhân vật để nói lên mình,nói lên hoàn cảnh thực tại mà con người phải đương đầu để sống với ý thức tự có của nó.

Cuốn  Under The Roofs Of Paris/Sous Le Toits De Paris(Dưới Những Mái Nhà Ba Lê) Được xuất bản ở Mỹ 1941. Đây là một tập truyện gồm có 6 truyện ngắn,Hầu hết được tác giả viết như một tiểu thuyết khiêu dâm(erotic novel)kể lại những tháng ngày sống ở Pháp;lời văn giản dị,có vẻ đơn sơ nhưng hàm chứa vô cùng,có tính ẩn dụ(metaphorical)tuy mô tả sự kích dục nhưng vẫn chứa đựng một thứ tiểu-thuyết-triết-học.Trong 6 truyện Miller viết ở đây nói hụych toẹt cái lối chơi bời của người Pháp cũng như cá nhân ông,lối sống đó đôi phần thích hợp với tâm hồn ông.Miller không thể quên những xáo trộn vô cùng khi đến Paris,tưởng là nơi để Miller hoàn thành chức  năng của mình nào ngờ Paris lôi ông vào vực thẳm của khốn cùng,nhiều lúc Miller muốn bỏ cuộc chơi để trở về nhưng những tư tưởng lớn ở Paris thời ấy níu chân ông lại hay dục vọng níu ông lại…Tuy nhiên;suốt những tháng ngày buông thả có một cái gì âm thầm vắng lặng trong tâm hồn ông,Miller đứng dậy đuổi theo ảo vọng,yêu điên cuồng  bởi một sự tư do qúa trớn đến với Henry rồi lang thang lùng kiếm cái mảnh tròn trăng của người tình hay những gái làng chơi.Miller chối bỏ cái thẩm mỹ ở phụ nữ,bất cứ dưới dạng thức nào có thể trao đổi được, ông cần thứ hạnh phúc thịt da và ân cần dính liền với nhau như sự kiều diễm của Anais Nin,chịu phụng sự cho nhau dù giữa cuộc đời khốn nạn như Henry Miller đã gặp,chỉ đòi hỏi một tinh thần cao cả vị tha,như ông đã vị tha với tình nhân,bạn bè. Đó là thời kỳ khô cạn,thời kỳ chết dập,thời kỳ của bội phản.Muốn “tái sinh” linh hồn lẫn thể xác,Miller đi tìm ơn sủng,sống quên mình,quên luôn cả tổ quốc lơ lửng. Đó là sự vi nhiễu nơi cực tính của Henry Miller, ông không còn thiên kiến trong tha thể hay chủ thể.Hiện hữu kết hợp sự hỗn thể đó.Tâm tư giao động Miller quên luôn bản ngã của mình trà trộn vào cõi vô minh…

“I smack her bare ass…God! It a treat to be able to do that …I grab her bubs and lick them.Even if she has to be held while I do it.I CAN DO ANY FUCKING THING I WANT ! I strech her conillon,let my prick head in to her womb…” Tôi vỗ về nàng hôn hít lên thân nàng.Trời ơi! chiêu đãi nàng như thế chăng?Tôi vồ vập đôi trái hồng đào,nàng nâng cho tôi nhắm mút trái ngọt.Vậy thì TÔI CÓ THỂ “Đ…” BẤT CỨ KIỂU GÌ TÔI MUỐN!Tôi căng nàng ra ba góc nhọn và từ từ đẩy “nó” vào động-thần-thất thế thôi!

Henry Miller luôn luôn tha thiết với phụ nữ từ mọi phương trời,với Miller là tình yêu và dục tính,Henry nếm đủ mùi vị của thế gian ban phát,người tình cuối cùng cũng là người vợ thứ 5 của ông là kỷ nữ Nhật Hoki Tokuda tình yêu của Henry thể hiện rộng rãi như thế đó.”please; don’t tell me she not worth fucking”

nàng không xứng để tôi chơi.Xin đừng nói thế.Cho dù dưới hình thức nào,Miller vẫn tỏ một tình người đáng kể,nó vừa bao dung vừa rộng lượng;bởi Miller thấm nhuần với lẽ sống từ vật chất đến tinh thần,giờ đây hột gạo rơi cũng là đáng qúi.Một biểu tượng rõ rệt trong văn chương của Henry Miller dù có đòi hỏi chăng nữa,cái đòi hỏi đó thuộc tri-giác-tính sau đó mới đòi hỏi lực-tính,nếu không có hai mảng đó thì chắc chắn Miller sẽ mất đi tri thức và hữu thức khi đến gần với tình yêu và chính sự hòa nhập giữa tha thể và hữu thể,Miller không cảm thấy mệt, mà vẫn còn yêu và còn”làm tình” cho tới khi chết trong tay phụ nữ.Henry Miller nhắm mắt trong cái thỏa mộng giang hồ đó…

“let it be abnormal;then I fuck her this way because I like it and she like it too.Just to make certain.I put my dong out.She look around and reachs for immediately.Please!that all she says,and it’s enough to tell me what I want to know…Please;put it back!I was lying,I like to have it done to me…”

Khác thường một cái chơi!Tôi “đ..” kiểu đó vì tôi thích như thế,thế mà nàng cũng thích như tôi(cái lạ thường hấp dẫn hơn cái cũ)Tôi rút đoản-côn ra và nàng nhìn theo,nàng đưa tay đụng thử xem nào.Nàng tha thiết lắm!Tôi nằm lên nàng,  tôi thích chơi kiểu đó cho mãi khi xong…Đó là thời tột cùng của Henry Miller.

Đời của Henry Miller là một cuộc đời tao loạn, ông gởi gắm đời mình trong những tác phẩm đó.Miller không dối lòng,sống thực cho mình, sống thực cho đời và cam chịu số phận đã an bài.Nhờ vào đó ông viết không ngừng nghỉ, ông viết lên cái tệ đoan xã hội như ông đã sống.kể cả những sự sống của ông đều phản ảnh trong những tác phẩm như sau:

Black Spring 1936(Mùa Xuân Đen)The Cosmological Eye 1939(Con Mắt Vũ Trụ)The Clossus Of Maroussi 1941(Tượng Thần Vĩ Đại Ở Maroussi)The Time Of The Assassins 1946(Một thời Của Những Thích Khách)The Air-Condition Nightmare 1945(Đêm Ác Mộng Phòng Lạnh) Đặc biệt cuốn Rosy Crucifixxion 1949(Đóng Đinh Thập Tự Giá Hồng) đó là tập truyện được chia ra tam-đoạn-luận:Sexsus(Dâm dục)Plexus(Cơ mạch)và Nexus(Giây cảm hứng).

Đó là những tác phẩm ưa ý nhất của Henry Miller và quan trọng trong loạt tác phẩm của ông để lại trong tủ sách văn chương dung tục của Mỹ. Âm thanh và tư tưởng đó vang vọng trong những trang sách ông viết.Viết thực của sự “giấu giếm” đời người,tuy phi đạo đức nhưng rất phi thực.Cứ xem như tiếng nói của người kể chuyện cho mình nghe; về chuyện tình bỉ ổi,chuyện vui buồn và chuyện khôn ngoan của lòng can đảm.Nhưng với Henry Miller vẫn xem đời là một con số không to tướng, siêu lý ở chỗ đó! Miller nói: “a zero…a cipher…a nullity” một con số không…một thứ vô nghĩa …một mất mát không đáng kể.

***

1964 Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định trả lại bản quyền cho Miller, tiểu thuyết của ông viết không còn mang tính dâm đãng nữa “not obscene”mà nó trở thành một triết-lý-tiểu-thuyết.Và Miller thấy được một Henry Miller hiện hữu trên cõi đời này.Dù đã qua mấy thập niên,tư tưởng và văn chương của Henry Miller vẫn còn là thời thượng của ngày hôm nay.

Cuối đời đâu còn ai,chỉ còn lại những người ái mộ trẻ,những bạn bè hiểu ông. Ông âm thầm sống trong căn phòng chật hẹp để vẽ lại đời mình trên cây cọ màu nước cho đến mãn đời ở Big-Sur,CA.USA ./.

VÕ CÔNG LIÊM  ( holloween bamươimốt mười khôngchín)

(1)     “cái xấu có thể được coi là cái đẹp,cái gì đẹp không bao giờ” Paul Gauguin(1848-1903)

(*) Henry Miller; sanh 26/12/1891 ở Brooklyn,New York USA.chết 6/1980 ở Big-Sur California

USA. Hai tác phẩm đáng kể nhất của ông: Tropic Of Cancer.Tựa của Anais Nin.xb ở Mỹ 1961.

Tropic Of Capricorn.xb ở Mỹ 1961.Ngoài ra có những tác phẩm giá trị khác.

SÁCH THAM KHẢO:

–          Tropic Of  Cancer

–          Tropic Of Capricorn

–          Sous Les Toits De Paris(Bảng Anh ngữ và Pháp ngữ).

–          The Wisdom Of The Heart

–          Book Of Friends

TƯ LIỆU:

–          DVD Movie: Henry&June

(Đ/diễn:Philip Kaufman.T/tử:Fred Ward và UmaThurman.21 Century Fox USA.1990)

Posted in Văn thơ bầu bạn | Leave a Comment »

NHÂN THẾ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 11, 2011

 

NHÂN THẾ

 

giữa miên mang trời đất

đời như hạt bụi bay

lòng thánh nhân cũng nát

lạ chi tình đổi thay

 

trái sẽ là trái chín

em sẽ là đàn bà

khi đất trời chuyển động

đá đôi khi trổ hoa

 

thì em ơi đừng trách

giữa đất trời vô minh

lòng đôi khi phản trắc

chúa phải đành đóng đinh

 

Sài Gòn , tháng 11/74

 

Posted in THƠ MỚI | Leave a Comment »

GỢI TÌNH

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 8, 2011

GỢI TÌNH

qua vườn còn dấu chân ai

in trên lối nhỏ đượm vài chút hương

như là em trên chặng đường

bước đi hối hả sợ vương mây trời

để quên rớt lại tiếng cười

cho ta mò lượm ướp lời vào thơ

mà sao em cứ giả vờ

để thơ ta mãi dật dờ lượn quanh

vô tình hay em cố quên

để vần thơ rụng trước thềm chửa hay

chỉ cần em ngửa đôi tay

là thơ ta chất thêm đầy hồn em

Sài Gòn, 15-12-74

Posted in THƠ MỚI | Leave a Comment »

MẠCH SỐNG VẪN CHẢY

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 7, 2011

 

MẠCH SỐNG VẪN CHẢY

 

Truyện của Phan Xuân Sinh

 

 

 

Tôi gặp lại Hưng và vợ nó tại khu Eden, Washinton DC. Tôi đi từ Boston đến để tham dự đám cưới con của người bạn, sáng hôm sau đi dạo khu Eden thì gặp vợ chồng Hưng đang đi mua đồ ở đó. Từ khi qua Mỹ tôi có nghe tin phong phanh là gia đình Hưng định cư tại đây, thế nhưng không liên lạc được. Lần nầy vô tình lại gặp nhau. Hưng mừng lắm vào bên trong chợ gọi vợ ra, chúng tôi dẫn nhau vào Phở Tàu Bay cho dễ dàng nói chuyện.

 

Tôi hỏi Hạnh vợ của Hưng có thường liên lạc với với Linh không? Hạnh cho biết thỉnh thoảng, thường thường đến tết gọi về Việt Nam chúc tết Linh. Khi nhắc tới Linh tôi thấy cả hai vợ chồng đều khựng lại, như có cái gì cản trở. Để xua đuổi không khí nặng nề nầy tôi lái qua chuyện khác, tôi không ngờ câu chuyện xưa cũ còn để lại trong lòng họ một nỗi đau. Tôi bảo Hưng là hơn hai mươi năm mới gặp lại bạn, bây giờ đứa nào cũng già đi nhiều. Tôi muốn tránh, thế nhưng Hạnh lại muốn khui lại chuyện của Linh. Hạnh nói rằng cách đây hai năm Hạnh có về Việt Nam, có đến thăm gia đình Linh, gia đình hạnh phúc, Linh có hai đứa con trông rất bảnh và đã nghỉ làm việc cho chính phủ. Ở nhà mở một tiệm buôn bán điện máy, rất giàu, có xe hơi riêng. Linh bảo với Hạnh trước đây Linh buôn bán nhà đất.

 

Tụi tôi chia tay nhau tại đây, tôi lên xe trở vế Boston còn vợ chồng Hưng ở lại tiếp tục đi chợ. Ngồi trên xe tôi nhớ lại chuyện của chúng tôi ngày xưa. Tôi, Hưng và Linh học một lớp từ nhỏ ở Đà Nẵng. Trong ba đứa Linh là người học rất giỏi, siêng năng. Còn tôi và Hưng học rất tầm thường. Ba đứa lúc nào cũng đi chơi với nhau, thân nhau lắm.

 

Linh yêu Hạnh và hai người rất gắn bó với nhau, sau nầy đi uống cà phê tụi tôi có thêm Hạnh cùng đi. Tôi không ngờ rằng thằng Hưng cũng yêu Hạnh, nhưng không nói ra, không tỏ bày cho ai biết, cứ âm thầm giữ trong bụng. Một hôm Hưng đến nhà tôi vào phòng ngủ của tôi ngồi nói chuyện. Tôi thấy thắng nầy sao bữa nay ít nói, suy tư và có vẻ thất thần. Tôi hỏi nó hôm nay mầy có sao không, trông thấy mầy rất lạ. Hưng không trả lời, chỉ nhìn ra cửa sổ, tôi cũng chẳng cần phải hỏi thêm, cứ để cho nó suy nghĩ viễn vông. Tôi mở sách ra đọc tiếp chừng mười phút sau, thì nó quay qua tôi nói:

 

“Tao có một chuyện nầy, cần nói cho mầy biết trước khi tao nhập ngũ. Tao cảm thấy không thể để trong lòng được nữa, từ bấy lâu nay tao âm thầm chịu đựng. Mầy là thắng bạn thân, nên tao thổ lộ cho mầy biết.”

 

Tôi hỏi dồn dập:

 

“Chuyện gì mà quan trọng đến thế, sao hồi trước tới giờ mầy không nói cho tao biết, mầy có nói cho thằng Linh biết không?”

 

“Bây giờ chỉ có mầy, đừng nói cho bất kỳ ai biết, nhất là thằng Linh.”

 

Rồi nó thong thả nói với tôi:

 

“Tao yêu con Hạnh”

 

“Trời đất”

 

Tôi nghe như tiếng sét bên tai mình, tôi có vẻ trách nó. Thiếu gì người mà sao lại yêu con bồ của bạn mình. Con đường rộng thênh thang không chọn, lại chọn con đường cụt không lối thoát. Nhưng khi nhìn khuôn mặt đau khổ của nó, tôi lại thấy thương hại cho nó. Nó nói xong rồi ôm mặt khóc. Tôi không có cách nào giúp được nó. Tôi bảo nó ra nhà sau rửa mặt, rồi đi uống ca phê. Tôi hỏi nó có cần rủ thắng Linh với con Hạnh đi không, nó lắc đầu.Tôi với nó đi xuống Cà phê Ngọc Lan, ngồi vào bàn nó im lặng không nói gì cả. Tôi thấy không khí nặng nề quá và hơn nữa chỉ còn vài ngày nữa nó vào trại Nhập Ngũ Số 1, nên tôi đề nghị với nó là nên gọi Linh và Hạnh ra quán để cho nó nhìn Hạnh những ngày cuối cùng. Nó không ý kiến, tôi ra lấy xe đạp đến nhà Linh và bảo Linh rủ Hạnh cùng đi. Tôi đạp xe trước về lại quán Cà Phê với Hưng, chừng mười lăm phút sau hai người chở nhau tới.

 

Nhìn thấy Hưng mặt mày ủ rủ, Hạnh lên tiếng trước, anh Hưng sao hôm nay buồn bả quá vậy? Tôi chống chế, để che đi sự thật của Hưng, tôi bảo rằng sở dĩ nó buồn vì nó sắp trình diện nhập ngủ, rồi tôi, Linh và Hạnh nói chuyện vu vơ, để cho Hung chìm trong suy nghĩ của mình. Suốt trong buổi cà phê đó, Hưng không mở miệng một lời. Khi tan chầu cà phê, tôi với Hưng tách ra ngả bờ sông ngồi trên ghế đá trước sông Hàn để nói chuyện, còn Linh chở Hạnh về nhà.

 

Tôi có hỏi Hưng là chuyện của mầy với Hạnh có ai biết không? Nó lắc đầu. Tôi nói là mầy nên giữ kín, nói ra sẽ gây khó khăn thêm chứ không giải quyết được gì, sẽ làm cho Linh và Hạnh khó xử.

 

Chừng ba ngày sau, tôi qua nhà Hưng chở nó đi trình diện, nhìn theo nó bước vào cổng Trại Nhập Ngũ, tôi thấy nó thật tội nghiệp, mang trong lòng cả một sự tan nát mà không biết nói cùng ai. Vào Thủ Đức nó viết cho tôi vài lá thư thăm hỏi, tán dóc với nhau nhưng tuyệt đối không nhắc nhở gì về Hanh. Tôi nghĩ thôi như vậy cũng yên, xa cách sẽ làm cho nó quên mọi chuyện rắc rối vế Hạnh. Từ khi nó đi, tôi cũng ít đi cà phê với Linh và đứa nào cũng lo cho chuyện sinh sống của mình. Lúc nầy tôi xin đi làm sở Mỹ, chức vụ storekeeper (thủ kho) để chờ đợi lên đường theo gót chân của Hưng. Linh đi học ở Đại Học Huế, tôi thấy tương lai của nó thật sáng lạng.

 

Một đêm nọ, vào khỏang 11 giờ đêm. Hạnh chạy qua nhà tôi gõ cửa, bước vào nhà, kéo tôi vào buồng nói nhỏ là Linh bị bắt. Nghe tin tôi sửng sốt, một thắng hiền lành, không bao giờ chú ý tới chính trị lại đi rải truyền đơn cho Mặt Trận Giải Phóng, không biết có cái gì xui khiến nó làm công việc nầy. Tôi hỏi Hạnh bây giờ phải làm sao? Hạnh lắc đầu. Thôi thì việc làm của nó, nó phải chịu thôi không ai giúp được. Tôi hoàn toàn không biết chuyện nầy có bàn tay của Hạnh, hay đúng hơn là của gia đình Hạnh. Thỉnh thoảng tôi có qua thăm Hạnh, để hỏi thăm tin tức của Linh, tôi không còn thấy mấy người anh trai của Hạnh, chỉ có bà già và Hạnh thôi. Một lần từ nhà Hạnh ra về, tôi gặp thằng Điềm học cùng lớp với tụi tôi, nhà ở cạnh nhà Hạnh, Điềm cho tôi biết là nhà của Hạnh theo quân Giải Phóng, hai người anh đã lên núi nên mấy hôm nay cảnh sát chìm rình rập, trong xóm ai cũng biết. Mầy không nên tới lui nhà đó. Điềm hoàn toàn không biết thằng Linh bị bắt ở Huế.

 

Từ đó tôi không dám qua nhà Hạnh vì sợ liên lụy, chừng vài tháng sau Hạnh qua cho tôi biết có ra Huế đến Lao Thừa Phủ thăm Linh. Tôi hỏi qua loa về sức khỏe, chuyện tôi quan tâm bấy lâu nay là tôi nghi Hạnh và gia đình ép Linh vào việc rải truyền đơn nầy, vì gia đình Hạnh có ông bố tập kết, các ông anh của Hạnh đều theo cộng sản. Tôi gặn hỏi nhiều lần, nên Hạnh phải thú thật với tôi là người anh của Hạnh ra Huế ở chung phòng trọ với Linh, anh ấy nhờ Linh đi rải truyền đơn với anh. Linh không thể từ chối nên mới rải lần đầu thì bị bắt. Thiệt ra Linh không ở trong các tổ chức của Mặt Trận. Khi mọi chuyện đổ bể, hai người anh của Hanh bỏ lên núi. Hạnh nói là Hạnh không biết chuyện nầy, nhưng sau vài tháng không biết sao Hạnh lại nói với tôi là Hạnh có nói với Linh đi rải giùm truyền đơn cho hai anh của Hanh ở Huế.

 

Mọi chuyện đã rồi, có nói thì cũng không mang lại cho Linh một cuộc sống bình thường được, tiếc là bỏ lỡ cơ hội học hành của Linh. Gia đình của Linh sau nầy ra Huế biết được hai người anh của Hạnh cù rủ Linh, nên bà Cụ rất hận Hạnh. Mỗi lần tôi qua thăm bà cụ bà đều khóc và mắng nhiếc Hạnh thậm tệ. Đến năm 1968 khi quân đội Giải Phóng tấn công tết Mậu Thân ở Huế, giải thoát lao Thừa Phủ. Linh đi theo họ lên núi và sau đó được đưa ra Bắc.

 

Hưng về phục vụ tại Tiểu Khu Quảng Nam, thỉnh thoảng về Đà Nẵng có đến thăm Hạnh. Có nhiều lần ra phố tôi bắt gặp Hưng chở Hanh phía sau xe honda. Tự nhiên tôi nghĩ lại chuyện cũ, khi Hưng có lần thú thật với tôi là đã yêu Hanh. Lợi dụng không có mặt Linh, có thể Hưng tiến tới để thay chỗ của Linh. Nghĩ cho cùng Linh ở xa tít, miệt mài quá không biết lúc nào trở về, bắt Hạnh phải mỏi mòn trông đợi thì cũng thật bất công.Tôi hoàn toàn không có ý kiến chuyện nầy, hơn nữa Hưng sau nầy hay tránh mặt tôi, ít gặp nhau, mỗi đứa ở đơn vị khác nhau.

 

Năm 1971, tôi đi phép về nhà thì thấy một phong bì mời đám cưới để trên bàn, tuần sau đám cưới  của Hưng với Hạnh. Tôi lấy xe honda chạy qua nhà Hạnh, xem thử họ cần gì tôi giúp không? Hạnh gặp tôi rất ngỡ ngàng, tụi tôi ra ngồi ngoài hàng hiên nói chuyện. Hạnh xin lỗi, vì không thể nào chờ đợi Linh vì không biết ngày nào mới hòa bình. Gia đình chỉ có hai người đàn bà, cần một người đàn ông trong gia đình. Tôi hoàn toàn thông cảm cho mọi lý do của Hạnh đưa ra. Nếu không có Hưng thì cũng phải có một người khác.Thế nhưng sao tôi thấy trong cuộc tình tay ba nầy nó mang một ấn tượng sâu trong đầu tôi, nó vừa đẹp nhưng cũng vừa tàn nhẫn.

 

Đến năm 1974 tôi đi Sài Gòn để chuẩn bị đi học trở lại, thì mùa xuân năm đó mất Ban Mê Thuột, rồi dần dần mất các tỉnh Miền Trung. Sài Gòn tấp nập những người Miền Trung chạy vào. Vợ chồng Hưng cũng chạy được vào Sài Gòn, mua một cái nhà nhỏ ở Gò Vấp của một người đi Mỹ bán lại, cũng may là gia đình Hạnh cách mạng, hai người anh của Hạnh sau 30/4 về Sài Gòn nên mới giữ được căn nhà đó cho Hạnh. Những ngày trước khi đi cải tạo Hưng đạp xe lên chỗ tôi bán chợ trời ngồi nói chuyện. Cái điều của Hưng lo âu là sau nầy sẽ gặp lại Linh, thì không biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Linh có tha thứ cho vợ chồng Hưng không? Tôi nói với Hưng mọi chuyện đã xong, không thể nào đổi khác. Chuyện gì tới nó sẽ tới, đừng lo âu làm gì cho thêm mệt.

 

Trước khi Hưng đi học tập, nó lên nhờ tôi là thỉnh thoảng lên thăm Hạnh và hai cháu. Tôi gật đầu và đã làm hơn những gì nó mong ước cho vợ con nó. Lúc đó đất nước kiệt quệ, khánh tận chỉ ăn toàn bo bo. Chừng hai tuần tôi mang lên cho Hạnh một hai chục ký gạo, ít ký thịt và một ít tiền để Hạnh sống nuôi hai con. Vì lúc đó tôi chưa có vợ và làm ăn cũng khấm khá. Sau nầy có mẹ của Hạnh vào, nên tôi cho Hạnh mượn một ít tiền ra ngoài buôn bán, tính ra thì cũng đủ sống.(Nói là cho mượn, sau nầy Hạnh trả lại mà tôi không lấy, hình như trị giá chừng một cây vàng). Mẹ của Hạnh rất quý tôi vì bà nghĩ  một tình bạn giữa chúng tôi với nhau quá đẹp.

 

Vào năm 1977, khi tôi làm trong hãng bột giặt ở Bình Thạnh, thì thằng bé làm cho tụi tôi vào gọi, nó bảo là có một ông bộ đội tìm tôi. Tôi ra, trông thấy một người đội nón cối, mặc bộ đồ xanh màu olive, tôi chưa kịp nhận ra thì người đó lên tiếng “Linh đây, chưa nhận ra à?”, tôi bước ra bắt tay nó, hai đứa đều nghẹn ngào. Linh cho tôi biết hiện giờ nó làm việc cho cơ quan thương nghiệp, vừa mới đổi vô Sài Gòn. Nó hỏi tôi vợ chồng Hưng bây giờ đang ở đâu. Tôi hỏi lại nó, mầy hỏi để làm gì, trả thù tụi nó à. Linh mặt đanh lại, đôi lông mày nhíu lại: “Sao mầy đánh giá tao thấp vậy, chuyện cũ đã đi vào quên lãng, tao muốn thăm vợ chồng nó được hạnh phúc không, vậy thôi.”

 

Tôi bảo thằng bé làm cho tụi tôi, mang xe đạp của Linh ra sau. Tôi chở Linh bằng Honda đến thăm Hạnh, tôi cũng báo cho Linh biết là thằng Hưng đi học tập, chỉ có một mình con Hạnh. Xe tôi chạy lên Gò Vấp, lúc đó vẫn còn thưa thớt người, khi chúng tôi vào nhà thì Hạnh đang cho hai đứa bé ăn cơm. Hạnh dừng tay đút cơm cho con, nhìn Linh rồi thốt lên: “Anh Linh”. Rồi khóc nức nở, tay run lên. Linh cũng chạy tới ôm Hạnh, mắt cũng đỏ hoe. Một cuộc gặp gỡ đầy nước mắt và thật cảm động. Hạnh hỏi Linh đã có vợ con gì chưa? Linh lắc đầu. Linh và tôi ra ngoài bàn ăn ngồi, để cho Hanh cho các con ăn cơm xong, rồi mới bắt đầu nói chuyện.

 

Linh hỏi Hạnh một câu thật bất ngờ:

“Sống với Hưng, Hạnh có được hạnh phúc không?”.

 

Hạnh gật đầu.

 

Linh nói tiếp với Hạnh:

“Như vậy, Hạnh đã có một quyết định sáng suốt nhất, chọn lựa cho mình một cuộc sống thích hợp với mình. Anh ủng hộ sự chọn lựa của Hạnh”.

 

Chúng tôi xoay qua đề tài khác, để tránh những trường hợp khó xử. Trong thâm tâm tôi lúc đó tôi rất kính trọng lối hành xử của Linh, dù biết rằng không còn cách chọn lựa nào khác. Linh không có chút hằn học hay mỉa mai. Tôi nghĩ Hạnh cũng đang chờ đợi câu trách móc, để Hanh nói lên hoàn cảnh của mình lúc bấy giờ. Tôi nói với Linh là cái quan trọng hiện nay là làm thế nào để Hạnh có điều kiện nuôi con, chồng không biết đi học tập đến khi nào mới về. Linh nói với tôi là chuyện nầy để tao với mầy tính sau.

 

Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau chừng hơn nửa tiếng đồng hồ, cũng chỉ hỏi thăm người nầy người khác, vì mới gặp lại nhau nên cũng không tránh khỏi sự ngỡ ngàng, dù hai bên cố tình tránh để câu chuyện trở thành tự nhiên. Chúng tôi chào Hạnh rồi ra về. Tôi đưa Linh vào một tiệm ăn để vừa ăn cơm trưa vừa nói chuyện. Linh nói với tôi là ở ngoài Bắc, nó không biết Hưng với Hạnh lấy nhau, nhưng trước khi bị bắt, khi còn đi chơi chung với nhau nó biết là Hưng yêu Hạnh, vì khi tiếp xúc Hưng để lộ những cử chỉ lúng túng, mất tự nhiên nên Linh đoán ra được. Khi về Đà Nẵng được biết Hưng lấy Hạnh thì Linh cũng không ngạc nhiên.

 

Khi ăn cơm xong, Linh hỏi nhỏ tôi sao mầy không đi, ở đây sống không được với chúng nó đâu. Tôi cho nó biết là đã đi mấy lần mà không xong, thôi bây giờ chờ gia đình bảo lãnh. Khi ngồi trên xe tôi hỏi nó là mầy có vào Đảng không? Nó trả lời là không, vì lý lịch của nó có nhiều nghi vấn. Rãi truyền đơn mà không biết tổ chức của mình. Khi bị bắt, cảnh sát Huế đánh gần chết vì bảo rằng nó không khai rõ tổ chức mà nó làm việc.Thằng anh của Hạnh nhờ nó rải giùm, chỉ đặt ở lề đường khi xe chạy qua truyền đơn tung tóe lên, đơn giản như vậy thôi, nó thấy cũng không nguy hiểm nên nhận lời. Đường phố giới nghiêm, nó vừa đạp xe ra khỏi nhà thì bị cảnh sát đi tuần chận lại, xét trong người thì thấy mấy xấp truyền đơn. Thằng anh của Hạnh thấy nó không về, biết là nó bị bắt thế nào cũng liên lụy đến mình nên thằng nầy bỏ lên núi theo quân Giải Phóng luôn.

 

Tôi hỏi Linh:

“Sau nầy mầy có gặp thằng anh của Hạnh không?”

 

“Không. Nghe nói nó làm gì lớn ở Nha Trang. Mà gặp tụi nó để làm gì. Mình ngu thì mình rán chịu. Bây giờ tao chỉ biết cúi mặt qua trôn. Chỉ có mầy là thằng hiểu tao, đừng bao giờ nói cho ai biết chuyện của tao. Sống để bụng chết mang theo.”

 

Từ đó chúng tôi thường xuyên đến với nhau, tôi không biết Linh làm đến chức gì bên Thương Nghiệp, thỉnh thoảng nó mang đến cho tôi những cái phiếu mua nhu yếu phẩm. Lúc đó tình trang dân chúng kiệt quệ, thoi thóp sống bằng bột mì và bo bo. Hạnh và hai đứa nhỏ cũng nhờ Linh trong thời gian nầy rất nhiều. Linh đã dành cho gia đình Hạnh một ưu đãi đặc biệt.

 

Một lần tôi nghe nói Hạnh có thằng bồ khác, hằng ngày tới chở Hạnh đi đây đi đó. Tôi gọi điện thoại và nói chuyện nầy cho Linh biết, Linh bảo tôi là chiều nay hai đứa đến gặp Hanh để hỏi cho ra lẻ chuyện nầy, rồi tính sau. Linh hẹn tôi ở nhà Hạnh lúc năm giờ chiều, Tôi bận một chút công việc nên tới trễ. Khi tôi tới nơi thì mọi chuyện đã rồi. Tôi thấy Hạnh đang ôm mặt khóc, còn Linh thì mặt mày hầm hầm một đống. Linh nói với tôi là nó đã gặp thằng bồ của Hạnh ở đây và nó đã cho thằng kia một bài học, cấm thằng kia từ nay không được đến cửa nhà nầy, nếu còn lén phén nó sẽ bắn nếu bắt gặp. Tôi bảo nó chuyện gì còn có đó, sao mầy giải quyết hồ đồ như vậy, biết chuyện nầy có đúng vậy không? Hạnh bảo với tôi là Hạnh chỉ nhờ anh đó chở đi công chuyện vì Hạnh không có xe. Chứ thật tình không có chuyện nầy. Tôi cũng có nói với Hạnh là mình là gái có chồng, mà chồng lại đi học tập nên không thể đi như vậy, gây ra nhiều dị nghị.

 

Khi tụi tôi đứng dậy ra về, Linh móc bốp lấy giấy tờ xe honda và chìa khóa đặt trên bàn, rồi bảo với Hạnh: “Đây là xe honda của em, em tự đi lấy không cần ai phải chở.” Hành động của Linh đã làm cho tôi rất thán phục, hồi đó có một chiếc xe honda không phải là chuyện dễ. Cũng bắt đầu từ đó khi có xe honda Hạnh đi đây đi đó dễ dàng và chuyện buôn bán thuốc tây có mòi thành công. Chở Linh về, tôi hỏi từ nay bạn đi xe đạp à. Linh bảo là tại sao phải như vậy, ngày mai sẽ mua xe khác. Linh mới mua căn nhà bằng hóa giá tại đường Nguyễn Trải thật khang trang, tôi bảo sao bạn mới đây mà có được cơ ngơi vững vàng quá vậy. Linh cười cười bảo với tôi tất cả là tiền của chúng nó, phải xài chứ. Linh cho tôi biết là cái mùa kiểm kê nó kiếm được vài trăm cây bằng cách tráo kim loại bằng đồng, để lấy kim loại bằng vàng, nộp cho nhà nước toàn bằng đồng, dĩ nhiên phải chia đều cho các xếp lớn. Một đất nước đã rách tan hoang, kiệt lực đều do những bàn tay nầy tạo nên.

 

Chừng vài năm sau thì Hưng được thả về, nhìn thấy vợ con có một cuộc sống đầy đủ, nó mừng lắm. Mẹ của Hạnh cho nó biết sở dĩ cuộc sống như hôm nay cũng nhờ bạn bè nó giúp đỡ. Hưng chở Hạnh tới nhà tôi để nói lời cám ơn, gặp tôi nó ôm tôi rồi khóc. Nó bảo rằng trên con đường từ Tây Ninh về nhà, nó không biết chuyện gì sẽ xẩy ra cho nó. Về tới nhà nhìn thấy vợ con nó mới biết mình vẫn còn được diễm phúc. Tôi bảo nó cố gắng đến thăm thằng Linh. Ngồi nói chuyện với nhau một lúc thì vợ tôi đi làm về, tôi nói hay tụi mình đi thăm Linh rồi rủ nó ra ngoài ăn cơm chiều. Tôi điện thoại cho Linh trước để tụi tôi đến thăm, vì cán bộ thường thường buổi chiều người ta hay mời, ít có ở nhà. Linh mừng lắm, chúng tôi đi ăn và nói đủ thứ chuyện như hồi còn đi học.

 

Vài năm sau Linh cưới vợ, tóc đã bắt đầu muối tiêu. Vợ Linh lai Tàu có một cửa hàng bán vải ở Chợ Lớn. Đám cưới được tổ chức ở một nhà hàng Quận 5. Vợ chồng tôi và Hưng có tham dự. Cảm động nhất là lúc Linh mời tôi và Hưng lên giới thiệu với mọi người. Đại ý là sở dĩ Linh còn sống được, đời sống có ý nghĩa cũng bởi vì bạn bè là cái phao níu với nhau để sống. Ba đứa tôi ôm lấy nhau và đứa nào cũng ràn rụa nước măt. Tôi có vài câu thưa với quan khách tham dự là chúng tôi quen nhau lúc còn học mẫu giáo trải qua bậc tiểu học và trung học. Bây giờ lại cùng sống chung tại một thành phó xa thành phố quê hương của chúng tôi. Trong thời chinh chiến mỗi thằng mỗi ngả, nhưng bao giờ cũng nhớ về nhau. Hòa bình gặp lại nhau ở đây, cám ơn cuộc đời, cám ơn quê hương.

 

Rồi lần lượt đến cuối đời, tôi và Hưng cũng bỏ Linh ra đi. Chỉ còn một mình Linh ở lại đất nước.

 

Houston, 6 tháng 4 năm 2011

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

TRỊNH CÔNG SƠN, MƯỜI NĂM QUÁ VÃNG

Posted by phanxuansinh trên Tháng Tư 2, 2011

TRỊNH CÔNG SƠN

MƯỜI NĂM QUÁ VÃNG

 

Sau cái chết của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn* người ta viết nhiều về ông dưới mọi lý lẽ.Viết từ mười năm nay;có những nhạc sĩ nổi tiếng như Văn Cao,Phạm Duy cũng như những nhà văn,nhà thơ,họa sĩ…các tạp chí diễn đàn đều có những nhận định về ông.Họ viết như tiếc nuối cho chính mình,cho tiếc thương một thời danh,cho một thần tượng đã nằm xuống.

Viết như góp mặt,dự phần,nhân chứng cho một trào lưu “trend” mà giờ đây đi vào cõi không.Tuy nhiên sự xuất hiện kỳ diệu nầy từ bước khởi đầu cho tới ngày nằm xuống của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là một hiện tượng,một hiện tượng lạ cho nền tân nhạc cận đại của Việt Nam vào cuối XX và đầu thế kỷ XXI.

Gần đây có một số người quá ngưởng mộ tài danh đó,dẫu chưa một lần biết đến nhạc sĩ(chỉ nghe thôi)hay chưa được quen biết với nhạc sĩ,nhưng họ muốn viết,muốn nói để dựa lưng hay đạp đuôi vào cái sáng giá thời thượng đó,họ rút tiả những kinh nghiệm vụn vặt về đời ông cũng như những ca khúc tuyệt tác để lại, vẽ lên cái hình ảnh đó như một hiện diện cùng thời,kiểu thức nầy đã làm sai lệch, ít nhiều điều hay, điều dở của một nhạc sĩ tài danh.Ca ngợi được,tỏ bày được nhưng những thứ đó chưa nói cạn cùng cái chiều sâu tâm hồn của nhạc sĩ mà ngược lại họ viết; đọc riết như chuyện kể,tự sự,như thiết tha,như”triết lý”nhân sinh,họ muốn đứng cùng với đám đông cổ võ cho một huyền thoại “legend” mà thực chất đánh mất huyền thoại có thực của nhạc sĩ tiếng tăm nầy.

Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đi theo vận nước,tất cả những dữ kiện xẩy ra giữa bản thân,gia đình,bè bạn và xã hội được gắn liền trong âm nhạc của ông,mỗi bài ca là một nỗi lòng chan chứa và thầm kín;từ những năm đầu dấn thân vào đời cho tới những ngày “cúi xuống” để rồi nhạc đi theo đời, đời đi theo nhạc, âu đó là nét đặc thù trong âm nhạc Trịnh Công Sơn mà ít ai làm nên lịch sử như vậy.Chúng ta cần phải khám phá cái đặc trưng đó!

 

Thực như thế;bởi ông đã vận dụng tài tình một thứ ngôn ngữ trong âm nhạc, vừa thơ vừa nhạc đưa tiếng nhạc đó vào cõi mộng của con người,mộng ở đây là động lực cho ý-thức-tỉnh mạnh để sáng tạo nghệ thuật tức nghệ thuật âm nhạc ,trong đó ý thức,thức tỉnh để mơ-về(rêver/dreaming)quê nhà,nơi ấp ủ bao mộng lành giữa gia đình và xã hội;nhưng rồi cõi mơ-về của nhạc sĩ Trinh Công Sơn trở thành hư vô, cuối cùng an nghĩ một nơi xa quê mình,nhưng ông để lại tình người trong mọi lứa tuổi,trong mọi hoàn cảnh mà nhạc sĩ đã một lần dấn thân.Từ đó trở nên bất hủ qua mọi thế hệ cũng như sẽ vượt-thời-gian qua mọi thời đại nối tiếp;rất hiếm có một nhạc sĩ nào được đề cập qua mấy thập niên và lưu danh như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.Nhạc ông luôn luôn có mặt trong những buổi trình diễn và bây giờ ông đã nằm xuống nhưng vẫn còn dàn dựng “live show”cho một Trịnh Công Sơn ở một vài nơi trong và ngoài nước để tưởng nhớ sự hối tiếc nhạc Trịnh đã vang-bóng-một-thời trong tâm tưởng.

Âm nhạc và tên tuổi Trịnh Công Sơn đã đi vào văn học sử Việt Nam;có những con đường được mang tên như đại diện bộ môn âm nhạc nước nhà.Một thần-thánh-âm-nhạc;khó mà làm nên,cái đó là thời được mệnh danh “icon”.Rất xứng đáng được lên ngôi vị nầy.Thật kiêu hảnh thay!

Cho dù viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dưới dạng thức nào: phê bình,ngợi ca hay chụp mủ,khai trừ…nhưng giờ đây thì lại khác,có lẽ;trong cái im lặng hố thẳm đó đã làm cho người ta thức tỉnh,những kẻ chống hay khen nay qui về một mối để cảm thông ,hợp giao qua tiếng nhạc mà tiếng nhạc đó tợ như có mình trong đó chứ không còn riêng cho nhạc sĩ.Tại sao thế?Vì ca từ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn đã trả lời hết những gì xốc xới,hung hản ,những gì trước đây thắc mắc,ngờ vực, nhờ vào lý do tâm lý nội tại,khai mở mà vượt qua mọi lằn biên của ý thức hệ; giữa cũ và mới,giữa bảo thủ và cấp tiến.Từ đó âm nhạc Trịnh Công Sơn trong suốt hẳn ra, không còn nghi ngại như một độc dược tố làm mê ngủ hay biệt kích văn nghệ như đã một thời tung hô,sát phạt.Nhưng trong quá khứ cũng như những ngày cuối đời Trịnh Công Sơn, ông chỉ biết im lặng và nhìn xuống cái tàn cơn đó.Ngày nay thế sự đã đổi thay,giới văn nghệ cũng như giới hâm mộ ông đã rầm rộ tổ chức truy điệu,hò hát nhạc họ Trịnh và  dựng nên một trường-phái-đặc-tên cho nhạc của ông cũng như cho chính ông. Điều đó có thật sự suy tôn thần tượng  mình yêu hay là suy tôn “cơ-hội-chủ-nghĩa” để trục lợi mưu sinh.Vô hình chung làm lạc đề một huyền thoại có thực.

 

Ngôn ngữ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn lôi cuốn mọi tầng lớp trong xã hội;mặc dù ca từ của Trịnh Công Sơn mang nặng tính chất trừu tượng,hiện sinh,

hoặc đôi khi đầy tính xúc cảm ,tất cả được tác giả diễn tả qua ca từ.Với giới văn chương họ tìm thấy trong nhạc của Trịnh Công Sơn đượm nét thi ca,nếu được dàn trải một ca khúc nào đó ta vẫn tìm thấy toàn thể bài thơ;bởi ông cũng là một nhà thơ,một hoạ sĩ cho nên khi soạn một ca khúc thì mạch thơ trong người ông tuôn trào. Đại để ca khúc “Cát Bụi” và “Diễm Xưa” ta bắt gặp những từ ông dùng:” Ôi cát bụi mệt nhoài” và “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ” đó là thể thơ siêu thực đầy ấn tượng.Chính nhờ những nhạc từ đó làm cho người nghe cũng như người hát không còn xa lạ với chữ nghĩa,mà biến thành dịu êm, quen thuộc,nghe riết cho ta cảm giác của ca dao và rồi mọi giới ngâm nga như chớp được một bài ca vừa ý.Trịnh Công Sơn rất ít nhạc phổ thơ, ông vốn giàu ngôn ngữ cho nên không thiếu chất liệu đó; ngoại trừ một tình cảm nào đó hoặc phải lòng ray rứt mới phổ thành nhạc.Nhạc từ ông thường dùng là thi tứ:quạnh hiu,lênh đênh,hoang phế,sỏi đá,ngậm ngùi,tiền kiếp,kiếp nào…Trở lại một vài ca khúc Trịnh Công Sơn.Trải ra thành một bài thơ hay.Tuyệt hay!cho thể loại thơ mới,thơ không vần hay tân hình thức.Thử xem; Diễm Xưa:

“Mưa vẫn mưa bay

Trên tầng tháp cổ

Dài tay

Em

Mấy thuở

Mắt

Xanh xao”…

Chỉ lấy một câu nào đó trong nhạc Trịnh Công Sơn,thả ra thành thơ thất ngôn một cách tuyệt đối:

“Em đi biền biệt muôn trùng quá”

Trịnh Công Sơn sắp xếp lời nhạc thành câu thơ lục bát dể dàng, nghe không có chi là chật hẹp cả mà tợ như lời đối thoại, nhưng trình diễn thì nó biến thể thành một ca từ rất kiêu sa và lãng mạn.Cái đó mới tài tình cách dùng ngôn ngữ trong nhạc Trịnh Công Sơn. Đọc thử 2 câu thơ nầy, để rồi cảm nhận sự sâu sắc đó:

“Tôi nay ở trọ trần gian

Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời”

Một số nhà thơ chuyên nghề xử dụng thể thơ lục bát,thiết tưởng cũng khó mà nặn cho ra một câu thơ bình dị,giản đơn và trung thực như thế.Rồi trải ca khúc “Nguyệt ca” ra để thấy trọn vẹn một bài thơ tân-hình-thức hay bài thơ không-vần với 30 câu dài đằng đẳng được chia ra làm ba khổ.Thử lấy một vài câu tượng trưng để thấy được cái vũ trụ nhạc thơ của Trịnh Công Sơn:

Từ khi trăng là nguyệt đèn thắp sáng trong tôi

Từ khi trăng là nguyệt em mang tim bối rố

Từ khi trăng là nguyệt tôi như từng cánh diều vui

Từ khi em là nguyệt trong tôi có những mặt trời

Đàn chim non lần hạt cho câu kinh bước tới

Buồn vui kia là một như quên trong nỗi nhớ

Rằng em thôi là nguyệt tôi như đứa bé dại khờ

Vườn năm xưa em đã đến nay trăng quá vô vi

Không biết những nhà thơ THTcó thừa nhận đó là THT đúng cách hay không ?

Thì việc làm thơ,soạn nhạc đối vớ Trịnh Công Sơn đâu phải là điều khó khăn. Ông vốn là thiên tài về nhạc,thi,họa.Quả không ngoa!

Ở trên; ta chỉ nói nhạc và thơ quyện vào nhau,chớ chưa lý giải,vì ý nhạc là ý tình nó muôn màu và bao la diệu vợi cho một tâm hồn của người nghệ sĩ.Trịnh Công Sơn nằm trong mọi lãnh vực nghệ thuật nếu được phân tích…

Nói chung nhạc Trịnh Công Sơn tưởng là siêu hình,trừu tượng nhưng hoà vào nhau thì nhạc từ nghe giản đơn,không rườm rà,hay yểu điệu thục nữ như hầu hết các nhạc sĩ khác đã dùng.Vì vậy trở nên định kiến giữa nhạc thành thị và nhạc nông thôn-cũng có nhiều loại nhạc “sến vườn”làm đảo lộn tính nhạc-.Nhạc Trịnh Công Sơn được mọi giới yêu chuộng và phổ thông hoá mà đến khi nghe trình diễn nó trở nên“qúi phái”và thời trang hơn những thời trang khác. Đó là cái siêu lý trong nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn.Sở dĩ như vậy vì ông xử dụng hầu hết nhạc điệu buồn,chậm rãi và trầm ngâm của cung bậc 2/4 hoặc 3/4;tất cả được thiết kế trong những “gam” của La thứ và La trưởng cho nên làm cho người nghe cũng như người chơi nhạc(nhạc công) đều cảm thấy dể dàng cuốn hút. Đó là những thể “gam” dể không làm cho bài ca trở nên khó.

 

Trịnh Công Sơn lớn lên giữa giao tranh xã hội,từ cuộc nội chiến phân ly,từ những đảo lộn của bè phái,từ những quặn đau ruột thịt đồng bào. Điều ấy không thể vô tư trước thời cuộc,ngoảnh cổ làm ngơ hay a tòng trục lợi.Trịnh Công Sơn không thể xa lánh trần tục để trốn trách nhiệm của kẻ sĩ,có hai hình thức để góp phần;nghĩa là không cầm súng thì cầm bút.Cái việc cầm bút hay cầm cọ còn nguy hiểm bội phần.Nhưng đời có hay chăng?Cứ một mặt lên án vì không làm thỏa mãn nhu cầu.Trịnh Công Sơn hứng chịu và đối đầu giữa tình huống hỗn mang đầy chất vị kỷ, đứng trước những biến động đổi thay,biến những giới văn nghệ sĩ cũng như Trịnh Công Sơn thành những con dê tế thần chờ đợi,những con dê vô tội hiền lành chỉ một lòng dâng hiến nghệ thuật,dâng hiến cho đời.Mà đời đâu có hay!Thấy mà đau thương cho họ;không những Trịnh Công Sơn mà cho tất cả bằng hữu của ông,ở cùng một hoàn cảnh và cùng một kỷ nguyên(era). Đó là lý do Trịnh Công Sơn làm thành nhạc,như che phận mình dưới ánh mặt trời,che để ươm mật cho những nhạc khúc đầy tình người-đâu cần phải có Thiền ca,Tục ca, Đạo ca…-Trịnh Công Sơn đã gom hết vào nhạc qua từng thời kỳ,từng thời đại.Tất cả là bài ca chung(tổng thể)”canto general/general song/general de chanson”.Vì vậy nhạc Trịnh Công Sơn đi vào lòng người dể dàng hơn bao giờ;mười năm,hai muơi năm hoặc xa hơn nữa tiếng nhạc đó “sound of music” vẫn còn vang vọng bên tai hay bên đời quạnh hiu…

 

Hầu hết những người phê bình hay nhận định về nhạc Trịnh Công Sơn đều cho rằng nhạc của ông đượm tình yêu nhiều hơn cả và hình như tình yêu ám ảnh  đời ông(?)cho nên tình yêu vây quanh trong nhạc của ông.Không tìm thấy trong nhạc Trịnh Công Sơn có âm hưởng của bung phá,bức tức của hờn ghen hay than thở của oán hận, dưới bất cứ hình thức nào ,tất cả được tập trung trong chủ đề của tình yêu.Chữ tình trong nhạc ông là sự cảm thông,trìu mến và đầy tình người mà đôi khi ông nhìn ông như thân phận,thân phận chung mà mỗi chúng ta phải gánh chịu với bao thử thách.Ta thường nghe những tình khúc ông viết với từ ngữ Em nhiều hơn từ ngữ Anh.Gọi Anh; ông dùng ngôi thứ nhất TA đề thay thế cái tôi của mình,không phải Trịnh Công Sơn tránh né, ông không tỏ cái tôi(le moi/self)một cách trực diện,dù rằng cái tôi là chủ thể;bởi chữ Tôi như sự có mặt,như một nhu cầu đòi hỏi giữ lúc đường tình của Trịnh Công Sơn chưa tới nơi,do đó chữ TA như hình dung từ cuả TÔI,mặc dù giữa ta và tôi là một nhưng nó nằm trong dạng “ẩn sĩ”nhu mì.Cái tình đó Trịnh Công Sơn soạn thành lời ca từ thuở bắt đầu 1950 cho tới thập niên 90, ông hát lên cho người tình nghe, ông ru cho người tình ngủ, ông trải lá cho người tình nằm, ông vỗ về cho người tình tựa vai,những cuộc tình hò hẹn trăng sao,sóng nước…tình yêu trở thành hiện hữu của con tim,trở thành bi đát cho thân phận,một thân phận ruồng rẫy bỏ đi để Trịnh Công Sơn cô độc và mơ-về cái tiền kiếp của mình,Trịnh Công Sơn là một người đa tình, ông đến đâu hay giao lưu với ai chữ tình hiện ra trong tâm não ông; đó là nỗi chết không rời.Cuối cùng ông chôn kín để về với tư duy.Trịnh Công Sơn nặng gánh gia đình cũng như nặng với đời.song le những điều đó không làm cho Trịnh Công Sơn buông xuôi,quên lãng.Trịnh Công Sơn nhìn đời là cả một sự phản đề giữa triết thuyết nhân sinh.Những tháng năm sau nầy Trịnh Công Sơn không ẩn mình trong nhạc của mình, ông kêu gào sự thống khổ, ông kêu ông “đừng tuyệt vọng tôi ơi xin đừng tuyệt vọng…”đó là tiếng nói ta thán cho tự tại.Trịnh Công Sơn biết phận mình.Những ngày trên giường bịnh chính là những ngày ông tha thiết sống,là những ngày ông cần có EM,cần có “tình yêu” để ông được phục sinh trước cõi đi về.Trịnh Công Sơn ngất trong hơi thở như “ngàn năm,ngàn năm ru em muộn phiền”bởi vì EM trong cái tình của Trịnh Công Sơn là thương mong hơn là thương nhớ”vai em gầy guộc nhỏ,trên vai gầy” hay còn phải giao du với đời “tóc em trôi dài trôi mãi…ngàn năm” đó là điều cho ta thấy tình yêu trong ông,luôn luôn là cần thiết:

“Từng nỗi nhớ,trùng trùng nỗi nhớ”

“Mong em qua bao nhiêu chiều,vòng tay đã xanh xao nhiều”

Trịnh Công Sơn đã công khai bộc bạch cái chân tình đó bằng sự cảm thông giữa hai người:”Em là tôi và tôi cũng là em” Tha thiết vô cùng!

Không phải nhất thiết nhạc của Trịnh Công Sơn xoáy quanh với tình yêu mà quên về thân phận làm người, ông nhìn thấu suốt cõi nhân sinh;Trịnh Công Sơn tin vào “thiên điạ nhân” đó là yếu tố chính đưa đến một tư tưởng duy tâm của ba giáo phái có mặt từ lâu trên đất nước Việt Nam(Phật,KhổngLão và Ky Tô)Trịnh Công Sơn tìm thấy họ nhưng rồi rơi vào tuyệt vọng dưới sự vô biên ,vô tư của thượng đế đã quên loài người:”Chuá đã bỏ loài người,Phật đã bỏ loài người”cái lòng tin đó đã làm cho Trịnh Công Sơn”mỏi dần” để rồi quay về với “hư vô” của vô vi huyền nhiệm!

 

Nói tóm lại ;nhạc Trịnh Công Sơn là thơ để biến thành “nhạc-thơ”.Rõ ràng như thế;bởi mỗi giòng nhạc là mỗi giòng thơ đan kết vào nhau dù dưới chủ đề nào, nhạc thơ của ông luôn luôn hiện diện trực tiếp để biến thành ca-dao-ca cho mọi tầng lớp trong quần chúng,và trở nên thân quen,nhạc ông nó nằm trong nhiều góc độ khác nhau giữa một thính đường hay những nơi công cọng đều hoà vào nhau giữa nhạc và người,giữa người và nhạc. Đó là lý giải cho một triết lý âm nhạc có mặt cho hôm nay,xuyên thủng những tị hiềm mà giờ đây nó tự hủy để cất lên lời ca của tình yêu”người nằm xuống”nhưng dư âm đó vẫn còn đây.Một hoài niệm muôn đời đến với thiên tài nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.Vô vàn xót xa!

 

VÕ CÔNG LIÊM ( viết xong 30/3/2011)

*Trịnh Công Sơn. Sanh: 1939.Mất :2001.Tại Tp HCM /VN.

(Kỷ niệm ngày giỗ thứ 10 của nhạc sĩ TCS ( 1/4/2001-1/4/2011)

 

Posted in Văn thơ bầu bạn | Leave a Comment »