Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for Tháng Mười Hai 30th, 2009

NGƯỜI ĐÀN EM CŨ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Hai 30, 2009

NGƯỜI ĐÀN EM CŨ
Phan Xuân Sinh

Xe đò từ Mỹ Tho vào xa cảng Miền Tây vừa ngừng lại, thì những chiếc xe honda ôm vâyquanh mời mọc. Tôi từ trên xe đò bước xuông, thì người đi xe ôm đứng phía sau đưa tay lên vẫy và gọi tên tôi. Trông thấy anh khuôn mặt quen lắm nhưng không thể nào nhớ tên được. Tôi đang lúng túng tìm trong trí nhớ để xem anh ta là ai mà tôi đã quen. Anh cũng biết là tôi chưa nhận ra, anh nói tên khi tôi đến gần:

“Em là Lộc, ở Trinh Sát Trung Đoàn 51, với anh đầy”.

Tôi “à” một tiếng rồi đến ôm Lộc. Gần hai mươi năm không gặp lại, kể từ năm 1972, cái năm mà tôi bị thương rời bỏ đơn vị. Tôi bảo với Lộc tìm một quán bia hơi đâu đó để uống vài ly, nói chuyện với nhau chơi. Lộc chở tôi đến một quán bia hơi bên lề đường Nguyễn Tri Phương, gọi một dĩa mồi và một “can” bia năm lít, hai đứa ngồi nhâm nhi. Bây giờ tôi mới nhìn rỏ Lộc, khuôn mặt cằn cỗi, nước da đen mốc, thân hình ốm tong. Có lẻ Lộc vất vả trong đời sống nên chưa bao nhiêu tuổi mà trông thấy già. Tôi nói với Lộc cần gọi gì ăn cho no cứ gọi, Lộc gọi một
dĩa cơm sườn và cho tôi biết là từ sáng đến nay chưa ăn gì cả, uống bia vào bụng đói mau say lắm. Tội nghiệp, bản chất hiền hậu, thành thật mà chạy xe ôm thì không biết phải làm sao tranh giành được khách.

Ngồi uống được vài ly, tôi mới dần dần nhớ ra những ngày Lộc sống với tôi tại đại đội Trinh Sát của Trung Đoàn 51. Hồi đó Lộc còn trẻ vào khoảng chừng 18 tuổi, trong Sài Gòn đổi ra ngoài đó. Lính mà ở trong Nam đổi ra Trung thì cũng có nhiều vấn đề, bất phục tùng hay đào ngũ nhiều lần thì mới đi xa như vậy. Khi sống trong đơn vị Lộc rất dễ thương, lãnh lương xong nhờ bưu tín viên của đại đội mua một cái “manda” gửi tiền về cho mẹ. tháng nào cũng vậy. Đó là một hành động ít thấy ai giống như thế, lương lính không bao nhiêu, nhịn ăn tiêu để gửi về cho mẹ. Nên tôi rất thương Lộc.

Tôi nhớ tối ba mươi Tết, anh em tổ chức ngồi nhậu từng nhóm. Lộc chạy lên mời tôi xuống nhậu với anh em. Tôi không biết uống rượu nên ngần ngừ, Lộc nói với tôi rằng nếu không uống được cũng xuống ngồi với anh em chơi. Tôi miễn cưởng bước xuống phòng của anh em. Lộc ngồi bên tôi nói nhỏ vào tai là anh bưng rượu chỉ nhắp môi rồi đưa qua cho em uống thay. Tôi gật đầu và nghĩ trong bụng, hôm nay uống
thử một lần cho biết mùi say như thế nào. Tôi liều mạng bưng ly tu hết, cả nhóm vỗ tay hoan hô rầm trời, mấy nhóm bên kia thấy vậy cho người bưng rượu qua mời tôi. Cùng một trung đội, uống bên nầy mà không uống bên kia thì không công bình. Sau bốn ly rượu mời, tôi thấy máu trong người chạy rần rần, mặt mày đỏ phừng, đôi mắt tôi muốn hoa lên, nếu tiếp tục ngồi lại thì phải ói ra tại chỗ. Vì vậy
tôi xin mọi người cho tôi về nằm. Nửa đêm thức dậy khát nước, tôi lấy chai nước trên đầu giường tu một hôi, nghe bên kia phòng anh em to tiếng cười giởn, tôi biết cuộc nhậu còn tiếp tục. Tôi nhấc điện thoại gọi xuống Câu Lạc Bộ, cho tôi bốn lít rượu mang xuống cho trung đội viễn thám bảo là của chuẩn úy Sinh mời anh em. Mười lăm phút sau, tôi nghe tiếng gõ cửa phòng tôi, tôi hỏi ra thì Lộc trả lời: “Họ không chịu uống rượu vì không có mặt của chuẩn úy”. Tôi tung mền đi xuống, lần nầy thì mấy nhóm kia tụ tập lại thành một nhóm, trong đó có trung
úy đại đội phó, và bốn sĩ quan trưởng toán. Tôi nhìn xuống thì thấy rượu thịt ê hề, tôi biết là mấy ông sĩ quan nầy cung cấp. Tôi cùng với tất cả uống cho tới sáng và tôi mới biết được tửu lượng của tôi cũng khấm khá.

“Anh nhớ không, đêm ba mươi Tết năm đó uống rượu vui quá, làm cho các anh em ở xa không còn nhớ nhà. Lần đầu tiên thấy anh uống rượu cũng rất cừ”.

Tôi ngạc nhiên, sao Lộc đọc được cái suy nghĩ của tôi về cuộc rượu năm đó? Tôi nói cho Lộc biết đó là lần đầu tiên tôi uống rượu, và cũng từ đó mới khám phá ra là tôi cũng uống được rượu. Vì quá vui tôi uống được nhiều mà không thấy say. Có lẽ chỉ có bữa rượu đó cơ thể của tôi thu nạp được rượu nhiều như vậy. Những lần sau có nhiều cuộc rượu, sau vài ly tôi đã say túy lúy. Lộc cho tôi biết là đã có vợ và hai cháu trai. Vợ buổi sáng phải đi bán xôi trong xóm, chứ chạy xe ôm của Lộc không đủ tiền nuôi con. Lộc mời tôi lúc nào rảnh ghé lại nhà chơi.
Chính vì gặp được Lộc lần đó mà tôi và Nguyễn Xuân Âu (Đại đội trưởng Trinh Sát 51 sau nầy) mới gặp lại một số anh em thuộc đơn vị cũ đang sinh sống tại Sài Gòn.

Một lần đơn vị đi hành quân về, Lộc nhận được điện tín của người bà con báo cho biết là mẹ của Lộc đau nặng. Lộc đến gặp tôi trình cho tôi xem tờ điện tín và thút thít khóc, nhờ tôi giúp đỡ. Tôi, một thằng sĩ quan “tép riu”, thân còn lo chưa nổi, làm sao giúp đỡ được cho ai. Những quân nhân từ Sài Gòn chuyển ra mặc dù không chính thức “cúp phép”, nhưng phải phục vụ hai năm mới được giải quyết cho đi phép, vì các ông “thần” nầy cho đi xem như mất tiêu, đừng hòng họ trở về đơn vị cũ. Đây là trường hợp ngoại lệ của Lộc, tôi lai không chịu được tiếng khóc
thảm thiết nầy, nên tôi cầm lá đơn xin đi phép của Lộc với ý kiến tha thiết của tôi, người chỉ huy trực tiếp theo hệ thống quân giai. Tôi đề nghị 10 ngày phép, trực tiếp mang lên cho đại đội trưởng. Ông đại đội trưởng của tôi, gọi tôi lên xài xể một trận là tôi không biết mẹ gì hết, thứ nầy mà cho đi phép xem như mất một tay súng. Đại đội không có quyền cho đi phép quá 3 ngày, nếu ở ngoài quân khu  phải là cấp Trung đoàn. Tôi bảo đảm với đại đội trưởng là thằng nầy sẽ trở về đơn vị sau khi đi phép. Ông hỏi lại tôi là lấy gì đảm bảo chuyện nầy. Tôi ú ớ. Ông bảo thôi được, ông chuyển lên trung đoàn cho họ quyết định, với ý kiến tha thiết giống như tôi đề nghị.

Hai ngày sau, đại đội đi hành quân về. Tôi được trung đoàn phó gọi lên trình diện. Tôi đến văn phòng của Trung Tá trung đoàn Phó vào trình diện ông, sau khi chào và đọc cấp bậc, số quân, chức vụ, chờ lệnh. Ông mời tôi ngồi, trước mặt ông là tờ đơn của thằng Lộc. Ông chưa đá động gì về chuyện đi phép của Lộc, chỉ nói với tôi là mấy lúc gần đây trung đội viễn thám của tôi làm ăn được lắm, đi hành quân diều hâu lúc nào cũng thâu hoạch chiến lợi phẩm. Ông khen tôi là sĩ quan xuất sắc, có tương lai. Rồi ông mới hỏi tôi có còn giữ ý định cho Trần Văn Lộc
đi phép không? Tôi thưa với ông là còn. Ông nhìn thẳng vào mặt tôi rồi nói: “Qua tin lời đề nghị xác đáng của em”. Ông viết chữ “thuận” trên đơn xin đi phép của Lộc, rồi đưa cho tôi mang xuống phòng Tổng Quản Trị để làm giấy đi phép trở lên cho ông ký.

Tôi mang giấy phép về trình cho Đại đội trưởng, rồi mang xuống gọi Lộc lên phòng tôi nhận để ngày mai đi phép. Tôi nói với Lộc là đừng đào ngũ, sau khi hết phép nên đến quân vận xin máy bay để trở về đơn vị. Tôi đã hết lòng xin xỏ, đừng làm cho tôi phải thất vọng. Rồi còn những anh em sau nầy gặp trường hợp khẩn cấp, làm sao tôi giúp họ, ai tin tôi. Lộc có vẻ xúc động, đứng yên lặng nghe tôi nói, và sau cùng Lộc hứa với tôi là sẽ trở lại. Thế nhưng sau khi Lộc đi rồi, tôi nghĩ rằng Lộc sẽ không trở lại vì xa xôi cách trở quá. Sống giữa Sài Gòn đô hội, nhiều thụ hưởng, làm sao trở ra Miền Trung nơi địa đầu giới tuyến. Nếu Lộc không trở ra, tôi làm sao ăn nói với Đại đội trưởng và từ nay về sau tôi sẽ
không bao giờ đề nghị cho ai đi phép được, chuyện nầy sẽ do đại đội trưởng quyết định. Những ngày Lộc đi phép là những ngày tôi hoang mang lo nghĩ, tôi thấy mình quá cả tin trong chuyện nầy, thấy mình sai lầm đề nghị một chuyện mà ai cũng biết rằng sự việc sẽ ngược lại sự mong muốn của mình.

Mười lăm ngày sau vẫn chưa thấy Lộc xuất hiện. Tôi nghĩ rằng, Lộc đã đào ngũ. Mỗi buổi chiều các sĩ quan trong đại đội ngồi ăn cơm, ông đại đội trưởng nhìn tôi như dò xét, như hạch tôi. Tôi tảng lờ mặc dù trong lòng tôi thấy xấu hổ vì quyết định non nớt của mình. Rồi ngày nầy qua ngày khác, tôi xem như binh nhì Trần Văn Lộc đào ngũ, tôi không cần quan tâm tới chuyện nầy vì quá thất vọng. Nên nhớ rằng ngày đó trong luật lệ quân đội, sau phép 21 ngày xem như đào ngũ và đơn vị sẽ lập báo thị tầm nã. Còn một hai ngày gì đó là đủ 21 ngày, đang thiu thiu ngủ trưa tôi nghe tiếng vui mừng của mấy thằng lính dưới trung đội viễn thám la lên: “Thằng Lộc về rồi, thằng Lộc về rồi”. Tôi chạy ra cửa nhìn xuống trung đội thấy anh em bu quanh Lộc vui mừng. Lòng tôi lúc đó như mở hội, không ngờ thằng nầy lại trở về với anh em. Tôi lên giường ngủ tiếp, nhưng không làm sao chợp mắt được. Lòng tôi cứ nghĩ vơ vẫn, tôi nghiệm ra một điều là mình có tấm lòng thì không có ai
phụ bạc mình cả. Tôi biết Lộc phải bị giằn vặt ghê lắm khi dứt khoát trở lại đơn vị cũ. Giữa Sài Gòn và đơn vị, hai thái cực khác xa. Một bên ấm áp trong mái gia đình, một bên xa xôi đối diện với cái chết. Nếu đặt trường hợp của tôi, thì chưa chắc tôi chọn đơn vị.

Xế chiều Lộc thập thò trước cửa phòng tôi, rụt rè gõ tay vào cửa phòng. Tôi nằm đọc sách trên võng nói vói ra: “Vào đi”. Lộc trên tay ôm mấy trái xoài tượng: “Chào chuẩn úy, em mới về”. Tôi ngồi dậy: “Mang gì nhiều thế, để đây chừng một hai trái, còn mang xuống cho anh em”. Lộc nói là anh em đều có phần cả rôi, Phần nầy dành cho tôi và các sĩ quan trưởng toán. Tôi hỏi thăm về gia đình, về sức khỏe
của mẹ Lộc, tất cả đều tốt. Lộc cho tôi biết là sau 10 ngày phép, Lộc đến Quân vận xin máy bay, nhưng phải chờ đợi. Lộc sợ đơn vị báo cáo đào ngũ nên có đến trình diện tại Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn và nơi đây có đánh điện ra Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn. Đại đội trưởng của tôi có biết chuyện nầy, nhưng ông không nói cho tôi hay, chỉ nhìn tôi cười cười, để cho tôi lo lắng chơi. Thú thật, nhìn thấy Lộc lòng tôi thanh thản hết sức. Dù sao đi nữa tôi cũng có một phần trách nhiệm nếu như Lộc đào ngũ. Không có ai làm gì tôi, nhưng tôi cảm thấy mình đề nghị sai đối
tượng. Bây giờ Lộc trở lại, tôi thấy việc làm của tôi rất hợp tình hợp lý.

Chúng tôi uống hết nửa “can” bia, mà thấy trong người vẫn còn tỉnh táo. Lộc cho tôi biết là lúc về phép mẹ đau nặng, thật tình bà không đau nhưng quá nhớ con bà không chịu được, nên nhờ người bà con đánh điện giùm, bà không hy vọng Lộc sẽ được về. Thế nhưng khi trông thấy Lộc bà cứ nghĩ rằng mình đang nằm mơ, bà đến sờ con, nén bóp chân tay xem thử có thật không, lúc đó bà mới tin. Một mẹ một con,
nhưng vì Lộc thuộc diện bất phục tùng nên không được hưởng quy chế “không tác chiến”, bị bắt và đưa ra tận miền Trung, sau khi ra khỏi quân trường. Phục vụ tại Trung Đoàn 51 mất mấy năm, Lộc được trở về Biệt Khu Thủ Đô. Lộc nói với tôi: “Trở về Sài Gòn, em mới thấy nhớ đơn vị cũ. Anh em thương nhau. Sống với nhau hết mình, bằng cả một chân tình”.

Tôi hỏi Lộc: “Khi đi phép, sao Lộc không trốn luôn ở Sài Gòn? Lý do gì em lại trở ra đơn vị?”. Lộc cười và khai báo thành thật với tôi: “Em cũng dự trù đào ngũ vì em không đành lòng xa mẹ em. Thế nhưng nghĩ lại, anh đã hết lòng xin cho em đi. Cấp trên tin
lời anh. Trung tá Nhàn hỏi đi hỏi lại anh có bảo đảm là em sẽ trở về không. Anh tin chắc như vậy. Sau nhiều ngày suy nghĩ, em không thể phụ lòng anh được. Em phải trở lại đơn vị để cho anh khỏi mang tiếng với cấp trên. Lúc đầu mẹ em không chịu cho em ra đi, nhưng sau khi nghe em nói là anh bảo đảm với cấp trên, nên bà hối em sau khi hết phép phải ra lại miền trung ngay”. Rồi Lộc nói với tôi: “ Lúc nào rảnh, mời anh ghé lại nhà em cho mẹ em gặp mặt. Chắc bà vui lắm. Mẹ em thỉnh thoảng lại nhắc tới anh. Không ngờ hôm nay anh em mình lại gặp nhau”. Tôi hứa, thế nào tôi cũng phải đến thăm gia đình Lộc.

Chúng tôi ngồi cưa hết “can” bia, rồi Lộc lấy xe đưa tôi về. Tôi bảo Lộc vào nhà chơi, uống ly nước rôi hãy về, luôn tiện tôi giới thiệu vợ tôi với Lộc. Tôi nói với vợ tôi là đứa em thuộc đơn vị cũ. Khi Lộc ra về, tôi không quên giúi vào túi quần cho Lộc một ít tiền. Lộc không chịu nhận, tôi nài nỉ mãi và bảo đây là số tiền cho các cháu, sắp vào trường sắm cho các cháu một ít đồ đi học. Lộc nhìn tôi cảm động muốn khóc: “Lúc nào lòng anh cũng rộng lượng với em út. Hằng gì khi anh bị thương cả trung đội đều rơi nước mắt”. Lộc đi rồi, tôi vào ngồi trên ghế lòng tôi thấy vui. Chúng tôi là những thằng còn sót lại sau cuộc chiến, gặp lại nhau quý lắm.

Bẳng đi một thời gian sau tôi gặp Nguyễn Xuân Âu, Âu trước đây học cùng lớp với tôi, sau khi đơn vị chuyển ra Huế sáp nhập vào Sư Đoàn I, còn địa phận Quảng Nam giao lai cho Sư Đoàn 3 chịu trách nhiệm. Lúc đó Âu làm đại đội trưởng một thời gian trước khi đi học kỹ sư công binh. Hai đứa tôi thỉnh thoảng tập trung một số anh em cũ trong đơn vị, nhậu chơi hoặc đến thăm nhau vào những dịp Tết, hoặc trong gia đình của anh em có chuyện vui hay buồn đều có mặt tụi tôi. Anh em đó bây giờ xem tụi tôi như bạn với nhau, tuy nhiên trong khi nói chuyện, anh em vẫn giữ sự kính nễ Âu, cũng như tôi. Đó là một điều rất quý của những người lính cũ.

Thỉnh thoảng Lộc chở vợ con đến thăm tôi và thỉnh thoảng tôi cũng hay ghé thăm thân mẫu của Lộc. Anh em dẫn ra quán làm một hai xị đế. Mỗi lần uống rượu Lộc đều nhắc lại cuộc nhậu của Tết năm đó trong đơn vị. Một cuộc nhậu lần đầu tiên trong đời tôi, từ đó tôi mới bắt đầu tham gia vào làng nhậu với anh em một cách năng động, xả láng. Đời lính dạy cho tôi nhiều thứ, đối với nhau bằng tấm lòng, thì anh em
sẽ không bao giờ bỏ mình được. Người chỉ huy trong tác chiến lại càng phải sống gần gũi với anh em, hòa đồng với anh em bất cứ hoàn cảnh nào. Mội lần nhậu với anh em, ai cũng đều nhớ lại những tháng năm cùng khổ, cận kề với chết chóc nhưng cái tình đãi với nhau chân thật và hết lòng./

Houston, Ngày tết Dương lịch 2010.
Phan Xuân Sinh

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

LỤC LẠI MỘT CHÚT HỒI ỨC

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Hai 30, 2009

LỤC LẠI MỘT CHÚT HỒI ỨC
Phan Xuân Sinh

Sáng 30-4-75, tôi dựng xe honda ở bờ sông Sài Gòn, đứng nhìn một chiếc tàu hải quân cuối cùng rời bến. Người ta bỏ lại xe hơi, xe honda chạy xuống tàu vội vã như một chuyến đi du lịch. Trong đầu tôi không có một chút xíu nào nghĩ rằng đó là lần đi vĩnh viễn của họ rời đất nước. Thế nhưng không hiểu sao tôi lại đứng như trời trồng, không làm theo như họ. Làm một cuộc viễn du cũng thích thú lắm chứ. Nếu như đất nước sau nầy tốt, đối xử tử tế thì mình lại trở về, có sao đâu. Cái ân
hận nầy làm cho tôi ray rứt mãi, nhất là những ngày đói khát, thất tha thất thểu
ở Sài gòn…

Những đêm tập trung nhân dân ra phường hội họp, ngồi dưới đất nghe những người thắng trận trong rừng mới ra, mang dép râu, đội nón tai bèo,  xối xả chửi vào mặt những người ngồi nghe là thứ bán nước, theo chân đế quốc, “ngụy” tặc. Thấm đau cho cái ngu si không biết chọn lựa của mình, để bây giờ phải lỡ khóc lỡ cười.  Tôi lên xe chạy qua Khánh Hội, người ta đang mở kho vơ vét. Tôi dừng xe ngồi nhìn. Một tay thuộc loại “anh chị” khiêng bao gạo 50 kí-lô trên vai hỏi tôi có cần mua gạo không? Tôi gật đầu. Anh ta ném bao gạo trên yên sau xe honda của tôi, không cần biết tôi đưa bao nhiêu tiền, anh trở vào kho vác bao khác ra ngoài, đứng dáo dác không có ai mua, anh cho tôi thêm một bao nữa để phía trước xe của tôi mà không lấy tiền thêm. Cửa kho mở rộng ai muốn vào lấy cũng được, tội gì phải bỏ tiền ra mua. Tôi chạy xe về nhà người bạn mà tôi đang ở nhờ. Yên tâm trong bụng không sợ đói. Tôi chạy qua lại tìm mua một thùng nước mắm, hàng “hôi của” nên trả bao nhiêu tiền cũng được. Như vậy tôi vững bụng không còn sợ thiếu ăn trong những ngày sắp tới, trong những ngày tranh tối tranh sáng, vô chính phủ. Về nhà mua một lít đế, mấy miếng khô cá, tôi và thằng bạn nhâm nhi vừa mở radio nghe ông Dương Văn Minh đọc diễn văn bàn giao đất nước lại cho người thắng trận. Xem như hạ màn một cách nhanh chóng, chế độ Miền Nam cáo chung, nhường sân khấu cho Cộng Sản điều hành đất nước. Hòa bình mà toàn dân khao khát đang thực sự “hiện thực”.

Thế nhưng lòng người tan hoang, những chính sách sắt máu ụp trên đầu dân chúng. Đốt sách, cải tạo, đánh tư sản mại bản, đổi tiền v.v.. những món ăn mà dân Miền Nam không thể nuốt trôi, ói ra máu. Đường phố áo quần lính chất đống, người người đi trên phố khuôn mặt ngơ ngác, không có ai biết được mình sẽ đi về đâu. Mấy người trai trẻ hàng xóm mà tôi biết đó là những người lính Miền Nam, đi ngang qua nhà nhập vào uống rượu với tụi tôi, hết lít nầy họ chạy đi mua lít khác, tụi tôi ngồi nhậu tới chiều. Một bữa nhậu mà không có một tiếng nói to, âm thầm uống, hồn ai nấy giữ. Xong cuộc nhậu tự động ra về, chỉ chào nhau bằng cái gật đầu nhè nhẹ. Tôi thấy mọi người đều “xanh mặt”, mệt mỏi, lo sợ, như chờ đợi một cái gì không may ụp trên đầu mình.

Ngày hôm sau có những người mang băng đỏ trên tay xuất hiện trong xóm và điều khiển xe cộ trên đường phố. Trong xóm tôi ở đường Minh Mạng, Phú Nhuận, có một ông ca sĩ nổi tiếng Sài Gòn, lái chiếc xe jeep của người anh trước đây là trung tá của Miền Nam đi Mỹ để lại, trên xe ông và  những người mang băng đỏ chạy khắp Phú Nhuận, hò hét như các tay “cách mạng” thứ thiệt. Có lẽ thời điểm nầy tôi đã chứng kiến được biết bao khuôn mặt tráo trở, họ không có một chút xíu ngượng ngùng, tiếp tay chỉ điểm, đắc lực làm tay sai. Quả thật tụi tôi hồi đó không sợ những người Cộng Sản mà sợ những thành phần nầy, họ làm bất cứ việc gì để lấy điểm. Nên tụi tôi thấy họ phải lo tránh xa. Không loại trừ thành phần nào trong xã hội Miền Nam, đâu cũng có thứ nầy. Qua Mỹ lại thấy ông ca sĩ nầy mặc đồ lính rằn ri hát những bài ca của lính, họ thay đổi còn hơn tắc kè. Đúng là cuộc sống đầy những nhiễu nhương.

Còn giới cầm bút thì sao? Một anh bạn kể lại cho tôi nghe những ngày sinh hoạt của giới cầm bút, nó cũng bát nháo như xã hội bên ngoài, chỉ điểm, hại nhau, đưa ra những “quan điểm” như một tay cộng sản thứ thiệt, những thành phần nầy còn “đỏ” hơn những thành phần trong bưng biền ra “tiếp thu”. Anh em thiêm thiếp nhận “khuyết điểm” rồi làm “kiểm điểm” như một cái máy, không dám hở môi hay ý kiến. Bây giờ các ông đã từng sinh hoạt ở Sài Gòn có cơ hội qua được đây, những người từng hầm hét, la ó, chắc rằng nghe những chuyện nầy thẹn mặt phải không?  Trong cái giới mà thiên hạ quý trọng về cái “thiên chức nhà văn” mà còn hành xử với nhau tráo trở, coi nhau như kẻ thù, tìm cách dìm người khác xuống bùn đen, thì đừng trách chi những thành phần khác trong xã hội. Hồi đó anh em gặp nhau rỉ tai “Coi chừng thằng cha đó, mang băng đỏ đó”, vừa khinh tởm nhưng cũng vừa sợ sệt, là thứ “cách mạng ba mươi” mà anh em ai cũng đều lánh mặt.

Bây giờ kể lại những chuyện nầy như kể chuyện đời xưa, nghe lại thấy tức cười. Tội nghiệp cho những con người yếu đuối, vì tìm một chỗ yên thân mà họ phải tán tận lương tâm, làm những chuyện ruồi bu. Mấy ông có người thân đi tập kết về thì dựa hơi, bắt nạt người khác, hoặc to tiếng khẳng định lập trường của mình. Trong lúc chưa có người thì người ta để yên, mượn tay các ông để răn đe người khác. Khi có đầy đủ nhân sự thì cho các ông “chầu rìa”. Lúc đó các ông mới biết cái “lố bịch” của mình đối xử với anh em thì đã muộn. Có người phải tránh mặt anh em vì khi gặp nhau ngượng ngùng mắc cở. Có người bắt đầu ngồi quán café chửi đổng vì bị thất sủng.

Có lẽ trong buổi giao thời, tranh tối tranh sáng,mình mới thấy được những bộ mặt “ghê tởm” nầy xuất hiện. Họ như những tên hề đứng trên sân khấu múa may mà không biết trơ trẽn, cũng may những cây bút nầy “cách mạng” không cho viết thoải mái trên báo chí, chứ họ được cầm bút thì họ sẽ “phơ” không biết bao nhiêu đầu rụng vì họ. Không biết họ phải ăn nói thế nào với anh em bây giờ? Những người đàng hoàng họ tránh xa những loại nầy.

Vụ án “Hồ Con Rùa”, những tay “biệt kích” cầm bút, đều có thành phần nầy đứng bên trong chỉ điểm, chứ một mình Huỳnh Bá Thành không thể lập hồ sơ thanh toán các văn nghệ sĩ có máu mặt của Sài Gòn trước đây được. Nói thế để biết rằng anh em nạn nhân đều đoán biết ai hại mình, nhưng vì không có bằng chứng xác đáng nên họ lờ đi. Bây giờ có đem chuyện nầy ra tranh cãi cũng chẳng đi tới đâu, gây thêm sứt mẻ, thù oán nhau. Cái bối cảnh lúc ấy thật nhố nhăng, thật sắt máu, nghi kỵ lẫn nhau, chà đạp nhau để kiếm điểm, để vươn lên. Những người lập công cho “cách mạng” kiểu nầy dần dần bị đào thải, anh em thì xa lánh. Họ thui thủi như một bóng ma. Cho đến bây giờ thời gian quá lâu, mọi chuyện đã phôi pha, trong lòng mọi người không có ai muốn nhớ lại. Một bài học cho con người về xử thế.

Những năm đầu “giải phóng” người Miền Nam không có ai ra được Miền Bắc để trông thấy ngoài ấy ra sao? Tôi có một thằng bạn thuộc “gia đình cách mạng”, muốn đi một chuyến ra Bắc thế nhưng phải năm lần bảy lượt mới đi được, phải cái cỡ thứ trưởng bảo lãnh mới được cấp giấy cho đi. Sau khi trở về hỏi gì nó cũng không nói chỉ lắc đầu. Một bữa tôi với nó đi uống café, nó nói nhỏ vào tai tôi là trước khi nhận giấy được đi ra Bắc, người ta dặn không được nói với ai về cuộc sống ngoài đó, nên nó không dám nói chuyện nầy với ai. Sau mấy đêm suy nghĩ, nó tự thấy như vậy là không đúng, tại sao không nói cho thiên hạ biết “chiếc nôi” của Chủ Nghĩa Xã Hội, cái thiên đường nầy đã đánh đổ Miền Nam để cả nước cùng tiến lên. Nó không thể nào tưởng tượng Miền Bắc nghèo đói và lạc hậu đến thế. Phố xá cũ kỷ dơ bẩn, ngoài đường áo quần chỉ mỗi một màu ô-liu, thỉnh thoảng mới thấy màu xanh đậm hình như cho công nhân, họa hoằn lắm mới thấy chiếc áo trắng,  còn xe đạp bạt ngàn, không thấy có một chiếc xe gắn máy nào, nếu có thì chắc từ Miền Nam mang ra. Hà Nội dưới mắt nó sao thấy thảm thương quá chừng. Sau đó nó nói với tôi bằng giọng mỉa mai; “Tiến lên xã hội chủ nghĩa như vậy đủ rồi, còn tiến mạnh tiến nhanh thì chắc chết quá mầy ơi”.

Mười năm sau (1985), tôi có một việc phải ra Miền Bắc vì mấy cái hợp đồng với thương nghiệp ngoài đó. Tôi đứng giữa Hà Nôi mà lòng thấy se thắt. Mấy chục năm người dân “văn vật” chịu đựng một cách dai dẳng mà không nổi loạn nghĩ cũng lạ thật. Áo quần nghèo nàn nhưng con gái Hà Nội mặt mày sáng trưng, phần đông người con gái đẹp hơn các thành phố trong Nam. Dưới con mắt của tôi, cái nét thanh lịch chỉ còn lại trên nét mặt của người con gái Hà Nội, còn bao nhiêu cái khác sau hai mươi năm Xã Hội Chủ Nghĩa đã tẩy sạch hết, tiêu tan hết.

Mấy năm trước đây có nhiều văn nghệ sĩ Hà Nội qua Boston theo chương trình của William Joiner mà tôi đã gặp. Trong lúc trà dư tửu hậu tôi có nói với họ về chuyện ra Miền Bắc của tôi năm 1985, họ đều cười và nói với tôi rằng có dip bây giờ nên ra Miền Bắc một chuyến, mọi thứ đều thay đổi một cách chóng mặt. Thế thì cái chính sách Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ còn trên lý thuyết, mọi người dân bây giờ giàu có và không còn tiến nhanh tiến mạnh như khi xưa, mà họ chạy đua theo kịp đà tiến hóa của tư bản. Đó là một bước tiến đáng mừng cho dân chúng, để họ
được hưởng những tiện nghi, những phúc lợi mà thế giới đã giành được trong những phát minh phụng sự cho con người.  Đứng trên phương diện nhân bản thật đáng mừng cho những mảnh đời tưởng rằng sẽ sống trong tăm tối mãi mãi. Bây giờ ấm no hơn, thoải mái hơn tuy nhiên vẫn còn bị những rào cản về tự do, dân chủ còn siết chặt.

Tôi có dịp lên Thái Nguyên nhìn những cánh đồng chè bạt ngàn, những người hái chè buổi sáng sớm trong sương mù thật tội nghiệp, đồng lương công nhân của công ty chè quốc doanh không bao nhiêu, mà phải chịu cực khổ một cách nặng nề. Tôi cũng có dịp đi Quảng Ninh trông thấy công nhân mỏ than lam lũ trong hầm mỏ. Không biết những nhà lãnh đạo của giai cấp nầy trước đây có giống như anh chị em công nhân, mặt mày lấm lem, sống trong điều kiện kham khổ như vậy không. Chứ bây giờ nhìn họ thấy không khá nổi. Còn nhiều cảnh thật tang thương cho một chế độ xã hội chủ nghĩa mà họ ca tụng như là thiên đường. Thú thật tôi vỡ mộng.

Trước đây tôi không tin những gì mà bộ máy tuyên truyền của Miền Nam khi nói về Miền Bắc. Tôi không tin những tác phẩm của Xuân Vũ nói về chế độ Miền Bắc. Tôi cho đây chỉ là những tuyên truyền rẻ tiền để hạ nhau, chứ thực tế không đến nỗi như vậy. Sau khi ra Hà Nôi, tận mắt nhìn thấy đời sống dân chúng, chứng kiến cảnh làm việc, nhìn thấy sinh hoạt của người dân từ nông thôn đến thành thị, trật tự xã hội bị đổ nhào, đạo đức văn hóa không ai cần phải giữ gìn, những cảnh trắng trợn liệm người không cảm thấy xấu hổ. Tàu hỏa và xe buýt là nơi bọn đầu trộm đuôi cướp hoành hành trắng trợn mà cơ quan công lực không làm gì được. Dân chúng bị hà hiếp không biết kêu than nơi đâu. Phải công nhận là người dân Miền Bắc chịu đựng cái cảnh tai trời ách nước một cách cay nghiệt, mà họ không hề phản kháng, chỉ cắn răng chịu đựng. Mà phản ứng làm gì được khi mà bao tử đói meo, chỉ lo mỗi cái ăn chưa xong, hơi đâu phải ôm đồm chuyện khác.

Xe chạy đến huyện Kỳ Anh (tôi không nhớ thuộc tỉnh nào vì lâu quá, ( hình như là Hà Tĩnh). Chúng tôi vào một quán cơm bên đường, người con gái bán cơm rất đẹp, nói giọng Hà Nội. Tôi nghĩ giữa một một nơi đồng không mông quạnh, lại có người nho nhã, ăn nói lễ phép và đồ ăn rất ngon. Trong lúc đó ngay tại Hà Nội chưa có quán ăn nào vừa ý. Tôi cũng xin nói thêm chỗ nầy, Hà Nội lúc đó tìm một quán café cũng rất khó. Đi ăn phở phải xếp hàng và trả tiền trước. Đặc biệt khi chúng tôi cũng xếp hàng thì người giữ trật tự mời vào ngồi bàn trước, ăn xong mới
trả tiền (ưu tiên cho dân Miền Nam). Tôi hỏi người thu tiền tại sao chúng tôi được đặc ân như vậy. Thì họ trả lời là phải thu tiền trước để biết họ muốn ăn bát phở giá bao nhiêu, thì làm đúng với giá tiền, nếu không họ chỉ trả ít hơn thì mình không biết phải làm sao, hoặc ăn xong không trả tiền rồi bỏ chạy. Còn các anh ở Miền Nam đã quen với cái lối trả tiền sau, các anh nhắm mình có đủ tiền mới vào quán và nếu có bỏ chạy thì các anh không biết đường nào mà chạy thoát được. Vì vậy chúng em phải tiếp các anh như ở Sài Gòn vậy. Chính quyền cách mạng xem tụi tôi như một thứ ghẻ lở, nhưng bà con Miền Bắc thì lại xem tụi tôi rất thân tình. Sau khi ăn xong, tôi hỏi về gia đình và giọng nói của cô gái khác với những người chung quanh đây. Cô ấy cho biết là cha mẹ cô là dân Hà Nôi chính gốc, sau 54 bị tịch thu nhà cửa và đi kinh tế mới nên phải trôi giạt vào đây. Cô hiện thời là sinh viên, cuối tuần phải về để giúp đở cha mẹ bán cơm. Nhìn hình ảnh của cô tôi liên tưởng đến những bà con ở Sài Gòn đi kinh tế mới. Chắc chắn họ không được may mắn như gia đình cô hiện thời, cái gốc Sài Gòn của họ rồi cũng sẽ mất. Nhà to cửa lớn của họ đã được các “quan cách mạng tiếp thu”, đổi chủ một cách hà khắc.

Chưa có một cuộc sống nào cay nhiệt người dân phải chịu đựng oan ức như trong cái thời “giải phóng”. Tôi nhìn ra cánh đồng xa xa những chiếc áo tơi (chầm bằng lá buông mà vào khoảng thập niên 60 không còn thấy xuất hiện tại Miền Nam), nhấp nhô trên đồng ruộng. Tôi hỏi cô gái trời nắng như vậy mà tại sao phải mặc áo tơi. Cô ta cho biết, làm gì có áo mặc để làm ruộng, họ mặc áo tơi để thay cho áo
vải. Nhìn qua cánh đồng khác tôi thấy người kéo cày thay cho trâu bò. Một cái cảnh lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy, thân hình thiếu ăn ốm o, choàng sợi dây trên vai kéo cái cày có một đứa bé đứng phía trên, thật tội nghiệp. Những năm của Miền Bắc đi trước Xã Hội Chủ Nghĩa đã gặt hái những gì tốt hơn cho người dân? Cái cảnh trông thấy trước mắt mà tôi có dịp ra Miền Bắc, cho tôi một bài học là phải bằng mọi cách tìm đường ra nước ngoài, nếu không thì quá trễ và viễn ảnh cho thấy cuộc đời sẽ khốn nạn, thê thảm, bần cùng như bà con ruột thịt Miền Bắc
đang gánh chịu.

Một chuyện buồn cười, xe của chúng tôi tới phà Bến Thủy chờ lên phà để về lại trong Nam. Đoàn xe nối đuôi nhau dài cả cây số, tôi nghĩ trong bụng ở đây chờ ít nhất phải hai ngày trời mới tới phiên mình, vì lúc ấy chiếc “phà” chỉ chở được bốn chiếc xe vừa qua lai mất cả tiếng đồng hồ. Nói là “phà” cho nó oai vậy chứ quả thật là mấy cái phao cột dính lại với nhau, một chiếc tàu nhỏ như ca-nô kéo đi. Tôi nghe các tài xế chạy trên đường xuyên Việt kể lại rằng trong mùa nước lũ, phà bị đứt dây trôi mất là chuyện thường. Tôi hỏi thế thì xe và người trên phà phải làm sao? May mắn thì được vớt, còn không thì chết thôi. Chuyện quan trọng như vậy mà người kể chuyện xem như thường và những cơ quan có trách nhiệm điều hành về phà qua lại trên sông, tỉnh bơ xem đó không quan trọng, không phải trách nhiệm của mình. Chiếc phà bao năm vẫn không thay đổi. Cho nên mấy chiếc phà bắt qua bắc Cần Thơ hay bắc Vàm Cống thấy rất an toàn. Đang ngồi trên xe tán chuyện với nhau, thì người phu cầm cờ đỏ chạy đến xe chúng tôi hỏi có cần phải qua phà nhanh không? Người tài xế hỏi ông giá bao nhiêu. Ông trả lời muốn đi ngay thì cho nhiều một chút, muốn qua phà chậm thì ít hơn. Người phu cầm cờ đỏ đưa hai ngón tay (có ý là hai  trăm đồng) chạy ngay.  Hai trăm đồng lương công nhân thuở đó là năm mươi đồng một tháng. Ông ta cầm cờ đỏ giơ cao chạy trước, miệng la lớn: “Anh em Miền Nam giúp đở anh em Miền Bắc”. Họ xem cái chuyện đút lót nầy là bình thường, là công khai cho những chiếc xe khác noi theo. Chiếc xe của tụi tôi ưu tiên xuống trước. Đứng trên phà qua sông, thật tình tôi ngao ngán cho một xã hội mà tôi đã chứng kiến trên Miền Bắc. Rồi đây Miền Nam của chúng tôi sẽ lăn trên vết xe của đồng bào ngoài kia đã trải qua. Bây giờ chúng tôi đã thấy ngột ngạt khó thở, người ta đã bắt đầu áp dụng đường lối cứng rắn để uốn nén
dân Miền Nam rập khuôn Miền Bắc.

Xe chạy đến Quảng Bình, thành phố xem như bình địa vì bị bom của Mỹ rải nát, mười năm sau vẫn còn nguyên si, không sửa chữa. Thành phố lợp tranh trên những nền nhà cũ. Nhà thờ chính Quảng Bình chỉ còn trơ lại gác chuông. Dấu tích chiến tranh vẫn chưa xóa, nhìn thành phố chúng ta đủ biết nơi đây đã nhận biết bao nhiêu bom đạn. Chúng tôi vào uống nước tại một căn nhà tranh trên quốc lộ, người chủ quán là một anh thương binh trạc tuổi tôi. Lúc đầu mới vào anh nói chuyện với chúng tôi sặc mùi Cộng Sản. Chẳng hạn như về những năm tháng chiến tranh mà Quảng Bình nhận lãnh hậu quả nặng nề nhất. Anh nói rất tự hào: “Quảng Bình quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Người dân Quảng Bình kiên cường đứng đầu cả nước chống giặc xâm lăng Mỹ”. Tụi tôi chỉ lắng nghe anh thao thao bất tuyệt về chiến tranh, về chính sách, về con người sống thế nào cho phù hợp chế độ. Luận điệu nầy tôi đã từng nghe những người thắng trận lớn lối nói ra rả vào tai tụi tôi. Anh hỏi tôi trước khi hòa bình tôi làm gì ở Miền Nam. Tôi không trả lời ngay câu hỏi của anh, tôi vén ống quần cho anh thấy cẳng chân giả làm bằng plastic của tôi. Tôi chỉ trả lời vổn vẹn: “Tôi là người lính của Miền Nam”. Sau khi nhìn thấy sự mất mát thân thể của tôi, sau khi nghe tôi xác định một cách chắc nịch về con người thật của tôi. Con người mà đứng trên chiến tuyến là đối nghịch với anh. Tôi nói không có một chút thù hận, không tranh cãi với anh, tôi chấp nhận danh phận không may mắn của tôi. Thái độ nầy tôi làm cho anh bất ngờ lúng túng. Tôi thấy anh ngồi suy tư, nhìn tôi có chút ngậm ngùi. Anh thấy những gì anh nói với tôi đều là những câu tuyên truyền không cần thiết, mười năm “giải phóng” tôi đã hiểu rõ chân tướng của chế độ, có đánh bóng nó cách mấy cũng không thể che đậy cách trả thù hèn hạ trên đầu anh em chúng tôi. Tôi trả tiền nước rồi ra xe, anh chạy theo bắt tay tôi thật chặt, anh nói là anh cảm thấy mắc cở ăn nói quá nhiều hàm ý tuyên truyền, khi nhìn thân thể tôi, anh biết không dễ gì lay chuyển được tôi. Dù là người bại trận, đang sống dưới chế độ thù nghịch, tôi vẫn không tránh
né về thân phận của mình.

Từ Quảng Bình về Quảng Trị con đường gập ghềnh, lởm chởm. Xe qua cầu Hiền Lương, chiếc cầu lịch sử ngăn chia Nam Bắc. Chiếc cầu nhỏ nhắn, dễ thương, nó đứng giữa ranh giới chứng kiến biết bao nhiêu tai ương đổ xuống trên đầu nhân dân hai miền Nam-Bắc. Nó ngăn cách không những chế độ bên nầy, bên kia, mà nó còn ngăn cách cả lòng người, xé tan tình tự của dân tộc. Bao nhiêu năm hòa bình mà ấn tượng, đố kỵ còn nặng nế quá vẫn chưa biết làm sao nối lại được. Chiến tranh chỉ trong vòng 20 năm, mà đến 35 năm sau sống trong hòa bình vẫn chưa có cách nào chung sống trong tình anh em ruột thịt. Tuy không còn cầm súng giết hại nhau, không còn ranh giới phân chia chiến tuyến, thế nhưng bức tường chắn giữa lòng người (nói theo kiểu Tưởng Năng Tiến) vẫn còn kiên cố ngăn cách đôi bên, không ai chịu phá bỏ và quên đi cái thời xa xưa nhục nhã của dân tộc.

Chút hồi ức nầy không dụng ý khơi dậy đống tro tàn, nhưng để nói lên cho chúng ta biết “có một thời như thế”, một thời mà không muốn nhớ lại, và rồi, cũng không thể nào quên được !!!

Houston, ngày 01 tháng 01 năm 2010.

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

35 NĂM, NHÌN LẠI

Posted by phanxuansinh trên Tháng Mười Hai 30, 2009

35 NĂM, NHÌN LẠI
*Phan Xuân Sinh

Mới đó đã ba mươi lăm năm rồi (1975 – 2010). Một chặng đường trải qua bao nhiêu biến đổi, một khúc quanh của lịch sử, một bức tường lòng dựng lên ngăn chia giữa người và người đã kéo dài từ đó tới nay. Hàng triệu người rạng rở và ngược lại cũng có hàng triệu người đau khổ (như ông Võ văn Kiệt từng nói). Như vậy thực sự hòa bình có đến không? Đó là một câu hỏi tự đáy lòng của những ai còn quan tâm tới đất nước. Chiến tranh không có chiến trường thực sự trên đất nước, nhưng đôi bên vẫn lập nên những chiến tuyến kiên cố, nả “đại pháo” điên cuồng vào niềm tin của dân tộc, hủy diệt ước mơ của toàn dân khao khát. Công tội do ai? Vì ai? Cho đến bây giờ vẫn còn quá sớm để toàn dân luận bàn chuyện nầy, lịch sử lại càng câm lặng không dám hở môi. Người thắng trận thì hiu hiu tự đắc, dùng những đòn thù phủ lên đầu người thua trận, dành lấy quyền xây dựng đất nước mà thực sự phải trên tay của toàn dân, thì ưu tiên xây dựng chổ ngồi vững chắc cho bè phái. Trừng trị thẳng tay những ai còn léng phéng đụng vào “dân chủ”.  Dân chủ phải do nhà cầm quyền ban bố, phân phát, được chừng nào hay chừng đó chứ dân chúng không có quyền đòi hỏi, ai mà lên tiếng thì cho đó là những “thế lực thù nghịch” đánh phá, phải trừng trị ngay. Những tiếng nói lương tâm tức tưởi tắt nghẻn.

Còn phe thua trận thì sao? Gầm gừ uất ức, chưởi bới, mắng mỏ.  Ba mươi lăm năm nay vẫn sao y bổn cũ, kêu gọi biểu tình hò hét liên miêng. Có nhiều người cho chuyện nầy chỉ “gải ngứa” không thấm vào đâu. Thế nhưng nghĩ cho cùng, không có chuyện nầy thì chắc những thành phần như ông Luật Sư Nguyễn Hữu Liêm không cần phải về dự “Đại Hội Việt Kiều” để được hát “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng…” , mà ông sẽ dõng dạt hát to trên đường phố Bolsa, trung tâm điểm của người tỵ nạn một cách nghênh ngang. Không có những người chống cộng kiểu nầy thì vợ chồng Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Vân cần gì phải về trong nước mới nhận lãnh bằng khen, bằng thưởng. Lập ngay một khán đài giữa Paris, giữa mắt những người tỵ nạn để vợ chồng ông lên lãnh các thứ nầy hiên ngang, do tòa đại sứ Việt Nam tại Pháp trao cho, không phải sợ ai cả. Như vậy, người thua trận cũng biết vận dụng “có gì dùng gì, có nấy dùng nấy” để ngăn chận những thành phần điên rồ, thích làm nổi. Biết đâu cái lợi thế nhỏ nhoi của người thua trận, đã tạo nên chướng ngại cho các nhà lãnh đạo trong nước khi viếng thăm nước Mỹ phải dè chừng, phải tránh né, phải tự coi lại việc làm của mình. Thì cần gì phải có súng đạn, có công an, vẫn tạo nên được một sức mạnh, không làm lộn nhào chế độ trong nước, nhưng cũng góp phần gây rắc rối nhà cầm quyền trong nước không ít,và cũng xoa dịu được tự ái thua thiệt.
Trước đây có một cán bộ trong nước qua Mỹ du lịch, gặp tôi họ hỏi ngay: “Sao những người biểu tình có vẻ hung dữ quá?”. Đó là người lớn lên từ miền Bắc, ông ấy chưa bao giờ nhìn thấy cảnh biểu tình tự phát của dân chúng, mà chỉ thấy biểu tình do nhà nước huy động. Tôi hỏi lại ông ấy : “Ông thấy có hung dữ bằng biểu tình tố cáo địa chủ của cải cách ruộng đất trước đây không?”.  Ông ta ú ớ. Tôi giải thích cho ông ấy biết rằng, những người biểu tình như vậy vẫn còn hiền hòa, không gây hại cho ai, không đụng chạm đến người khác. Họ là những người phần đông bị tù tôi, bị đối xử tồi tệ, bị gia đình tan nát bởi chế độ trong nước gây ra. Thể hiện lòng căm thù bằng biểu tình như vậy thì cũng không có gì quá lắm. Gây rối loạn, mất trật tự công cộng là cảnh sát Mỹ can thiệp ngay, chứ đừng nói gì đến chuyện đụng chạm người khác. Ở trên đất nước tự do ai cũng có quyền thể hiện chính kiến của mình, những chính kiến có vẻ ngược ngạo như trường hợp ông luật sư Nguyễn Hữu Liêm thì cũng chẳng có ai dám đụng vào sợi lông chân của ông, chỉ hơi bị búa rìu dư luận phang tới tấp cho vui vậy thôi. Ông ấy vẫn ung dung rung đùi và cũng có thể cười nhạo báng “làm gì được tau”.

Trong lúc đó ở trong nước, những người cũng bày tỏ chính kiến của mình thì họ được lao tù đón tiếp nồng hậu, chăm sóc kỷ càng. Tiếng nói của họ liệm tắt ngay bởi những tội danh trốn thuế, lường gạt, ấu đả v.v..không ăn nhập gì đến hoạt động cao quý của họ. Không có tội danh chính trị, chỉ có tội về hình sự. Hải ngoại biểu tình, các nước trên thế giới lên án, can thiệp. Tất cả dưới mắt nhà cầm quyền trong nước đó chỉ là các “thế lực thù nghịch” không cần đếm xỉa tới, cứ kêu gào, cứ đòi hỏi, không ăn nhập gì tới họ.  Có nước nào gay gắt mà buộc lòng phải trả lời thì họ lên tiếng “xen vào nội bộ của Việt Nam” hoặc “nhân quyền của Việt Nam khác với nhân quyền của các nước khác” , đại loại như vậy. Chúng ta đã nghe luận điệu nầy lặp đi lặp lại, không tỏ thái độ đáp ứng. Đường ta ta cứ đi, ai cản lại phải lập tức nghiền nát chúng. Phải công nhận rằng các nhà tranh đấu dân chủ tại Việt Nam rất dũng cảm, chống chọi với một chính quyền chẳng coi ai ra gì, chẳng cần tới ai, bất chấp dư luận. Chỉ cần đạt được mục đích bằng bất cứ giá nào. Tiếng kêu than của toàn dân   xem như đồ bỏ. Tranh đấu như vậy chỉ thiệt thân, chỉ còn héo hon trong nhà tù. Họ đúng là những con người bất khuất.

Hòa bình thực sự đã được 35 năm, nhưng hai phe lâm chiến vẫn còn kình chống nhau quyết liệt. Có thể nói một mất một còn. Ai thiệt thân? Chỉ có đồng bào trong nước lãnh đủ. Chỉ cần một lời xin lỗi của ông Nguyễn Minh Triết (như trong bài viết của anh Tiêu Dao Bảo Cự trên Talawas “Thư gửi Nguyễn Hữu Liêm”) thì ông Triết có thể sẽ nắm được dân Việt ở Bolsa. (Thực tế chuyện nầy cũng chưa chắc), thế nhưng dù sao cũng thể hiện sự hiểu biết, sự bao dung. Thế nhưng làm sao có được chuyện nầy khi mà kẻ chiến thắng luôn luôn đứng phía trện không thể cúi xuống được. Một đường lối “kẻ cả” qua bao nhiêu đời vẫn không thay đổi, cho đến bây giờ vẫn tự hào Mac- Le vô địch, không thua ai. Miệng thì nói vậy nhưng toàn bộ đất nước chạy theo tư bản, ì à ì ạch kéo theo cái rờ-mót  Chủ Nghĩa Xã Hội một cách nặng nề, không đành lòng vứt bỏ được. Ông Chủ tịch nước mới đây đến Cuba trong bài nói chuyện, ông ví von đất nước mình là tên công an (hay lính gì đó) canh gác hòa binh thế giới, nghe qua đủ khiếp. Trong lúc đó cái hòa bình nhỏ nhoi của dân tộc chưa giải quyết xong, vẫn còn dây dưa 35 năm rồi không có tiến triển đoàn kết dân tộc. Thế mà vương cánh tay dài ra ôm đồm cả thế giới. Nghĩ cũng lạ thật.

Người dân hải ngoại cũng như trong nước cầu mong đất nước thay đổi theo đường lối dân chủ, để đôi bên sáp lại gần nhau, không còn nói tới chuyện hận thù, chia rẻ. Nhưng chờ dài cổ, tan nát cả cuộc đời vẫn chưa thấy một chút ánh sáng về chuyện nầy le lói. Biết tới bao giờ nó mới trở thành sự thật? Không ai biết được. Các nhà lãnh đạo Việt Nam họ hiểu một cách tường tận về lòng mong muốn của toàn dân. Nhưng nếu họ thay đổi thì sụp đổ tất cả, kéo theo biết bao nhiêu hệ lụy và ngay cả chính họ cũng chưa chắc được an toàn. Cho nên người nầy níu chân người kia tạo thành một bức tường kiên cố, quyết tâm bảo vệ. Họ coi nhẹ cái chuyện dân tộc hay đất bước. Nếu các thứ nầy phải hy sinh để cho họ tồn tại thì họ sẵn sàng chấp nhận.

Đất nước ta rơi vào cái bất hạnh nầy mà không cách nào dứt phăng ra được. Phải có một đấng cứu thế như Mikhail Gorbachev, như một tổ chức công đoàn Đoàn Kết thì họa may mới cứu vãng được. Chỉ còn biết trông chờ và cầu nguyện. Hết lớp nầy tới lớp khác bước lên cầm quyền cũng lăn trên vết xe cũ. Hết đại hội đảng nầy, đến đại hội đảng khác cũng chẳng thấy thay đổi. Đến khi hết cầm quyền thì mới bày đặt chỉ trích nọ kia, để cho người dân biết rằng mình có tâm huyết gióng lên tiếng nói của dân. Lúc đó dù có mang phèn la đến đánh vào tai những ông có chức quyền thì họ cũng giạt pheng ông ra, chằng thèm nghe đâu. Trước đây ông Phan văn Khải có thèm nghe ông Võ văn Kiệt? Và bây giờ ông đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết bao nhiêu kiến nghị ngăn cản khai thác bau-xit, họ vẫn cứ làm. Xem như những tiếng nói của quý ông như một lủ già điên rồ, không cần phải để ý. Ông Nguyễn Hữu Liêm lấy tư cách gì khẳng định sau kỳ đại hội đảng sẽ thấy thay đổi? Ông đâu có phải Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng? Hay ông chỉ tưởng tượng cũng như những người dân trong nước mỗi lần có một sự cố thay đổi, họ ngóng cổ trông chờ. Nhưng mọi chuyện không hề thay đổi. Sống ở nước ngoài quá lâu, ông Liêm không mang tâm trạng “trông chờ” như những người trong nước. 35 năm rồi con người đã hóa đá, thế nhưng mọi thứ vẫn y sì.

Người dân Việt Nam đi suốt quảng đường một cách nhọc nhằng, nhiều rủi ro. Không có một cuộc chọn lựa trong cuộc sống, răm rắp tuân theo như một trại lính. Ba hồi Trung Quốc là anh em “môi hở răng lạnh”, thì người dân cũng nói theo “răng lạnh môi hở”. Ba hồi Trung Quốc là bọn “bành trướng Bắc kinh”, thì người dân cũng riu ríu “Bắc Kinh bành trướng”. Nhiều trò, nhiều kiểu, người dân ngao ngán quá. Họ tập cho con người ăn nói như vẹt, ai nói ngược lại thì búa rìu bổ lên đầu ngay. Ông Nguyễn Hữu Liêm có ăn nói ngược ngạo với những người tỵ nạn, thì cũng chẳng có ai làm gì được ông, cho nên ông tha hồ chọc giận. Ông không bị hình phạt, nhưng ông bị người đời chê cười cho cái ngớ ngẫn của ông. Người trí thức mà lãnh những gáo nước lạnh nầy nghĩ cũng buồn thật. Dù là người bình tỉnh nhất còn thấy chướng tai với những lập luận triết học ngô nghê như vậy, thì người không bình tỉnh phẩn nộ tới chừng nào.

Nhìn lại từ 1975 tới nay, ta chỉ thấy đường phố đông hơn, nhà cửa xây dựng nhiều hơn, đời sống dân chúng có đổi khác, có tiến bộ. Phải biết bây giờ đã 35 năm rồi, những gặt hái nho nhoi như vậy không đáng kể, so với tiến hóa chóng mặt của thế giới. Mức độ chênh lệch giữa thôn quê và thành thị quá xa, thu nhập của cán bộ và người dân quá khác biệt. Tham nhũng hoành hành lộng trời. Đất cát của người dân bị chiếm đoạt oan ức. Tôn giáo thì Tam Tòa, Bát Nhã thẳng tay trừng trị. Nhà nước dùng những phương tiện hạ cấp, côn đồ đối với những thành phần chống đối như nếm phân vào nhà, du đảng đành đập, đụng xe đến chết. Nghĩa là trên thế giới chưa có một chính phủ nào dùng những thủ đoạn đê hèn như vậy. Thế thì chúng ta trông chờ những gì? Khi mà nhà cầm quyền thanh toán nhân dân như là băng đảng, tồi tệ đến mức như vậy, thì chúng ta không thể trông chờ họ có thể đưa đất nước đến chỗ cực thịnh được.

Con đường bế tắc thế nhưng vẫn cứ đi. Chỉ có người dân kham khổ, những quyền lợi bị tước đoạt. Hé môi than vãn là mang tội chống đối nhà nước, sẽ lãnh những hình phạt nặng nề. Phần đông dân chúng phải cúi đầu. Bánh xe cứ lăn trên đường, sẳn sàng nghiền nát những chướng ngại. Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Tiến Trung và thêm ai nữa thì cũng sẽ bị dạt qua hai bên đường để nhà cầm quyền thênh thang cất bước. Trong giới lãnh đạo ai cũng giàu sụ, nhà cao cửa rông, cho nên không ai dám thay đổi. Ai cũng bảo vệ chế độ một cách nghiêm ngặt, bảo vệ chiếc ghế vững chắc dù họ biết việc họ làm trái với ý dân. Nếu thuận với lòng dân  thì họ sẽ mất trắng, không vinh thân phì da được. Từ trên xuống dưới quyết bảo vệ cái thành trì nầy cho đến chết. Như vậy 35 năm nay đứng về mặt nhận thức chẳng có gì thay đổi cả./
Houston, Ngày 01 tháng 01 năm 2010

Posted in Thời Cuộc | Leave a Comment »