Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for Tháng Bảy, 2009

MỘT GIAI ĐOẠN NGẬM NGÙI (PHẦN I)

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 28, 2009

MỘI GIAI ĐOẠN NGẬM NGÙI

Hồi ký của Phan Xuân Sinh

Phần I

Cũng như phần đông các sĩ quan miền Nam, sau 75, tôi cũng phải đi trình diện, mặc dù tôi đã bị thương (mất một bàn chân phải trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 tại Quảng Nam). Bởi vì tôi cứ kéo dài tình trạng tại ngũ để được ăn lương, không chịu ra hội đồng giải ngũ sớm. Mỗi khi chuẩn bị đưa tôi ra hội đồng, tôi lại khai còn đau chỗ nầy, đau chỗ nọ nên nằm mãi tại Trung tâm I Hồi lực, được 29 ngày tái khám. Tính trạng kéo dài năm nầy qua năm khác… Đến khi tôi vào Sài Gòn mới chuyển qua Trung tâm III Quản trị, chờ ngày ra Hội đồng để lượng định mức độ tàn phế thì quá muộn. Quân Giải phóng đã cận kề Sài Gòn. Như vậy sau 30 tháng 4, trên danh nghĩa tôi vẫn còn tại ngũ, nhưng trên thực tế tôi là một phế binh.

Khi trình diện tại trường trung học kỹ thuật Don Bosco (Gò Vấp), tôi bỏ chân giả ở nhà, đi bằng nạng gỗ đến trình diện Ủy ban Quân quản. Cuối ngày họ gọi tôi lên cấp cho một cái giấy chứng nhận có trình diện, cho về lại địa phương quản lý (vì phế binh), khi nào có lệnh gọi đích danh tôi mới đi cải tạo. Như vậy, họ thấy tôi trở ngại quá cho việc tập trung cải tạo, nên đựơc cho về là vì vậy.

Yên tâm về chuyện không đi cải tạo, lúc bấy giờ tôi mới lo đến chuyện kiếm cơm sống qua ngày. Tôi và hai thằng bạn khác ra ngoài chợ trời Trương Minh Ký (Trương Minh Giảng nối dài), thuê một chỗ kê một cái bàn nhỏ, mua bán các các đồ vật dụng cũ mà khách hàng chính lúc đó là các lính bộ đội miền Bắc mới vào Sài Gòn còn rất ngu ngơ, chưa biết đường đi nước bước. Một cái đồng hồ không người lái, một cửa sổ trị giá 30 đồng bán ra gấp ba, bốn lần (lâu quá không còn nhớ giá cả lúc ấy), hàng bán như tôm tươi: Radio, quạt máy, bàn ủi điện, đồng hồ, máy may, v.v… không có món gì mà ế ẩm hết. Tốt, xấu, cũ, mới, mang ra là bán được ngay lập tức. Tiền lúc ấy vô dễ quá mà đầu ra cũng dễ như vậy.

Bạn bè của ba đứa tôi, từ miền Trung chạy vào thất tha thất thểu, đói lên đói xuống, tứ cố vô thân, gặp nhau giữa cái đất Sài Gòn phải giúp nhau thôi. Chết thì chết chùm chứ không thể bỏ được. Ban ngày tản mác đi khắp nơi, đến 12 giờ trưa tập trung lại chừng hai chục thằng khố rách áo ôm. Mỗi thằng đến tiệm cơm bình dân gần đó lãnh một dĩa cơm sườn, một điếu thuốc, một ly trà đá, (thật tình tụi tôi thấy bạn bè đói rách quá tự nguyện làm chuyện nầy). Đến chiều tối trước khi dọn dẹp ra về, tôi mang tiền qua trả cho chủ tiệm cơm bình dân ấy. Cầm cự được vài tháng như vậy thì hết vốn, tiền lời không đủ nuôi chừng đó miệng ăn, hơn nữa lúc sau không còn bán đắt hàng như lúc trước. Thêm vào đó, công an áo vàng đuổi không cho tập trung buôn bán bên lề  đường nữa (lần đầu chúng tôi mới thấy bộ đồ vàng của công an), đành dẹp tiệm. Bạn bè tản mác, mỗi thằng phải tự lo thân, không dựa vào nhau được.

Sáng nào ba thằng bán chợ trời chung, cũng gặp nhau ở tiệm cà phê, bàn tính chuyện làm ăn khác. Nhưng bí, không tìm ra phương cách sống, tiền thì không còn. May cho tôi, ba tôi từ Đà Nẵng vào tìm vì không biết tin tức của tôi sống chết ra sao. Ba tôi bảo phải về Đà Nẵng sống với gia đình. Vì hơn ai hết, ba tôi biết tôi là một phế nhân, không thể đi cày, đạp xích lô, đi lao động được. Về với gia đình đùm bọc lẫn nhau, có mắm ăn mắm, có muối ăn muối, nhưng tôi không chịu, với lý do đơn giản là ngoài đó khó sống, những người thắng trận quá sắt máu, dìm những thành phần thuộc diện sĩ quan như tụi tôi đến chết, bắt tụi tôi tay không đi gỡ mìn đủ toi mạng rồi (bao nhiêu đứa bạn không chết trong chiến tranh, nhưng đã chết vì đi gỡ mìn trong lúc hòa bình).  Dù sao thì ở Sài Gòn cũng dễ thở hơn. Những đêm nằm ngủ với tôi, ba tôi nhận thấy điều tôi trình bày chí lý.

Một buổi sáng ông dậy sớm, pha trà rồi gọi tôi dậy để cha con nói chuyện, trước khi ông về lại quê nhà. Ông trao cho tôi một cái đãy nhỏ trong đó chứa ba lượng vàng, đây là số vàng dành dụm suốt một đời đi dạy học của ông. Tôi đưa ba tôi ra xe đò, lòng tôi trĩu nặng. Lúc đó tôi mới thấy thương ông, với số tuổi đã cao mà không còn nghĩ tới bản thân vẫn lo lắng cho con dù con đã lớn rồi. Xe đò rời khỏi bến, nhìn theo ba, tôi rưng rưng nuớc mắt, đến khi xe chạy khuất, tôi mới đạp xe trở về.

Hồi đó hàng tiêu dùng đã bắt đầu khan hiếm, bao nhiêu hàng hóa trong Nam đều chở ra Bắc, tạo nên một lỗ hổng to lớn. Không biết ai gợi ý, tụi tôi bắt đầu làm xà bông bột. Ba thằng đều thuộc loại có vấn đề với chế độ mới, là cựu sĩ quan “ngụy quân”, giấy tờ tùy thân không có, hộ khẩu không có, phải tìm một thằng có lý lịch “cách mạng” để đứng mũi chịu sào. Người đó là bạn của một người bạn tôi, trước năm 75 cũng làm xà bông nhưng sạt nghiệp, có một lý lịch tuyệt vời là trốn quân dịch, cha tập kết. Đúng với mong ước của tụi tôi. Mỗi đưa hùn vốn ba cây vàng. Anh Hùng (người bạn mới)  không có tiền, nhưng có bộ khuôn in bản hiệu trên bao nylon đựng bột giặt hiệu Bạch Long, xem như góp vốn. Anh Hùng đứng ra xin giấy phép sản xuất tại số 212 Bạch Đằng, Phường 24, quận Bình Thạnh (Căn nhà nầy lúc đầu thuê, sau tụi tôi mua luôn).

Chúng tôi xem như làm một canh bạc lớn trong đời. Tôi có biết sơ qua cách làm bột giặt vì có học của một người bạn, nhưng chỉ có ý niệm sơ sơ thôi. Thế nhưng khi bốn thằng họp nhau lần cuối để quyết định, để các bạn tin tưởng, tôi quả quyết là tôi làm được bột giặt. Chính lời hứa ngu xuẩn nầy làm cho tôi mất ăn mất ngủ mấy tháng trời. Tôi cũng đi mua hóa chất về làm y như người bạn chỉ dạy trước đây, thế nhưng bột giặt của tôi làm ra như một thứ cháo đặc, không phóng thích nước ra được. Tôi mò mẫm đêm nầy qua đêm khác, đi hỏi những người chuyên môn về hóa chất, lượm lặt ý kiến mỗi người mỗi ít.

Tôi không dám làm thí nghiệm ban ngày vì sợ mấy thằng hùn vốn thấy tôi quờ quạng, nên chờ khi chúng nó về nhà, tối tối tôi mới mang đồ ra làm. Sáng nào tôi cũng thấy tụi nó mặt mày méo xẹo, tuyệt vọng, xem như chín cây vàng đi đời, mong gì gỡ gạc lại cho nổi. Thế nhưng trời thương hại kẻ khù khờ,  tôi đã thành công cách phóng thích được nước, bột giặt khô ráo, nở phồng (cám ơn Trời Phật, cám ơn ý kiến mỗi người một ít giúp tôi). Đêm đó một mình tôi bỏ hóa chất vào máy trộn đến sáng, một tấn bột giặt. Sáng ngày mấy thằng bạn tới, mở cửa thấy bột giặt chất cao tràn ngập, thằng nào cũng mừng chảy nước mắt. Tụi nó dẫn tôi ra tiệm hủ tiếu thưởng cho một tô, bù lại mấy tháng chỉ ăn cơm với nước mắm. Nên nhớ lúc đó giá thành một đồng, bán ra mười đồng (Lâu quá không nhớ chính xác giá cả, nhưng khoảng chừng vốn một, lời mười).

Nguồn vốn khởi đầu 9 cây vàng, vừa hóa chất vừa máy móc. Sau 4 tháng nguồn vốn lên 400 cây vàng. Chỉ có anh Hùng có vợ con, còn ba đứa còn lại độc thân, mới 26 tuổi, sống trên đống bạc, bấy giờ là lúc tiêu tiền cho biết mặt. Chẳng có thằng nào biết dành dụm, cất giấu. Tiền dư đi mua thêm đồ về tiếp tục làm, càng nhiều càng tốt, thuê một kho hàng chất đồ. Lúc đó cả nước đói khổ, đi toàn xe đạp. Tụi tôi mỗi thằng chơi một chiếc xe hơi. Chính cái cách chơi trội nầy, đã giết tụi tôi trong tức tửi sau nầy.

Tụi tôi thường mang sản phẩm đi kiểm nghiệm. Phòng Kiểm nghiệm của thành phố lúc đó có một người kỹ sư hóa học ở Cộng hòa Dân chủ Đức về, người đó trạc tuổi cỡ chúng tôi nhưng phách lối và hợm hĩnh, coi trời bằng vung. Ông mặc áo blue trắng, bên ngoài đeo súng như một tay cao bồi. Dưới quyền của ông nầy là vài giáo sư đại học Sài Gòn, các kỹ sư của miền Nam, thuộc diện khoa học kỹ thuật.  Buổi sáng mọi người xếp hàng để cho ông ấy điểm danh (ở hải ngoại chắc cũng còn một vài vị làm việc tại Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Thành phố HCM lúc 75-76, còn nhớ chuyện nầy). Thân phận của kẻ bại trận thật nhục nhã, thật tồi tệ.

Nhớ có lần tôi có hỏi ông kỹ sư nầy, trong phòng toàn những người trí thức, chân yếu, tay mềm, ông mang súng làm gì? Ông trả lời một cách xấc xược: “Nếu chúng nó không nghe lời, thì nỏ vào đầu chúng nó”. Thế đó, tư cách của một người trí thức thắng trận rất phách lối, chà đạp nhân phẩm, hiu hiu tự đắc, không chịu được. Những người cô thế như các vị khoa bảng miền Nam bị thất trận, đành cúi đầu nhẫn nhục.

Mỗi buổi sáng, người đứng xếp hàng mua bột giặt dài thườn thượt ngoài đường. Mỗi người được năm ký lô, đem ra chợ bán lại có được một ngày đi chợ mua thức ăn đơn giản, đạm bạc cho gia đình. Còn các bạn bè của chúng tôi thì được 50 ký lô giao ở cửa sau, trong số đó có gia đình anh Tường Linh (nhà thơ), và ông Vũ Hạnh (nhà văn) còn sống ở Việt Nam. Không biết các ông còn nhớ giai đoạn khó khăn nầy không? Tôi nhớ anh Tường Linh mang bà Vũ Hạnh tới chỗ sản xuất bột giặt Bạch Long gặp tôi. Đây là cơ hội giúp đỡ bạn bè và người thân. Lấy hàng đi bán, chiều thu tiền mang lại trả. Có khi bị công an hốt sạch thì xí xóa, lấy cái khác đi bỏ mối. Giai đoạn nầy cả nước khốn khổ. Thú thật, người ta để yên cho tụi tôi sản xuất thì phải chi từ trên xuống dưới, ăn nhậu, đút lót, quà cáp,… người đứng ra làm chuyện nầy là anh Hùng, vì có cái mác gia đình cách mạng.  Chi cho công việc cũng nhiều, mà chi cho riêng ảnh cũng nhiều. Thế nhưng tiền kiếm được cũng khá nên lờ đi mấy cái chuyện lẻ tẻ nầy.

Sau đó thì đến giai đoạn đổi tiền, anh em tôi phải vác hai “bao tạ” tiền đi đổi (loại bao bố tời đựng 100 kg gạo hồi ấy); hai nhân viên đếm tiền riêng cho tụi tôi mất một ngày, rồi tụi tôi lãnh 500 đồng tiền mới (lúc ấy mỗi gia đình được 200 đồng. Cơ sở sản xuất được 500 đồng). Tụi tôi mất vố nầy khá đậm. (Anh bạn thân hay đến chỗ chúng tôi chơi, hiện đang sống tại Canada là TCN, biết rất rõ về tụi tôi trong giai đoạn tranh tối, tranh sang nầy nhất. Anh là độc giả của talawas, chắc anh sẽ đọc hồi ký nầy.)

Tôi cũng xin nói qua về khung cảnh xã hội Sài Gòn lúc đó. Tất cả đều tê liệt, cán bộ đến từng nhà kêu gọi đi kinh tế mới bằng mọi thủ đoạn như dọa nạt cũng có mà năn nỉ cũng có, nhất là đối với các gia đình quân nhân, công chức của chế độ cũ. Rồi bắt ép mọi người mua công khố phiếu, gửi tiền tiết kiệm, đi thanh niên xung phong, làm thủy lợi.  Một ông cụ bên nhà tôi, hưởng ứng gửi tiền tiết kiệm, nghe những cám dỗ đường mật lọt tai. Trong nhà có gì vơ vét hết, bán đồ trong nhà để có tiền gửi lấy lời sống qua ngày. Sau hai năm số tiền lớn ông gửi vào ngân hàng, lời đâu không thấy, khi lấy ra cả vốn lẫn lời không đủ tiền mua một bao gạo, gia đình ông khóc hết nước mắt.

Cái dễ sợ nhất và tàn nhẫn nhất là “Đánh tư sản mại bản”. Toàn dân miền Nam từ giàu tới nghèo như ngồi trên đống lửa, không biết nhà nước giở trò gì đây, mà trò gì cũng từ chết tới bị thương. Không biết lúc nào người ta đóng chốt nhà mình để kiểm tra. Khi kiểm tra nhà nào là nội bất xuất, ngoại bất nhập. Họ đào xới không chừa một chỗ nào, không thể giấu đâu được với họ. Rồi tống những gia đình nầy đi kinh tế mới, lấy nhà giao cho cán bộ. Nhà lớn thì giao cho cấp lớn, nhà nhỏ thì giao cho cấp nhỏ. Một cuộc cướp bóc trắng trợn và bất nhân. Người dân nuốt hận ê chề và cũng chính lúc nầy phong trào vượt biên bắt đầu lớn mạnh, họ bất kể sống chết, bất kể tới đích hay không. Phải trốn thoát khỏi một chế độ kinh người. Rất nhiều gia đình treo cổ tự tử lúc đó vì uất hận.

Ông Bảy Quân (phó chủ tịch quận Bình Thạnh), trong một buổi họp công thương nghiệp, nói về chuyện tự tử của dân chúng. “So với sự hy sinh của cách mạng quá to lớn trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, thì cái chết lẻ tẻ của những gia đình tư sản nầy chỉ là giọt nước trong biển cả. Họ chết thì cứ chết, ta cứ tiến lên.” Dễ sợ và khát máu chưa?  Người dân không có gạo, ăn bo bo. Con nít tối nào cũng tập trung hát hò ca tụng Bác Hồ, người lớn đi họp để nghe rao giảng sự đẹp đẽ của chế độ, do những cán bộ từ trong rừng ra chủ trì, ba hoa lớn lối, trình độ học vấn chẳng có bao nhiêu, người dân cứ ngủ gà ngủ gật.

Tôi nhớ một lần ở cư xá Thanh Đa, trong đêm  trao trả quyền công dân cho những “ngụy quân, ngụy quyền” trong đó có tôi. Khi gọi tôi ra trình diện trước dân chúng, một người hàng xóm không quen biết có ý kiến về tôi: “Anh nầy là người tốt, hay giúp đỡ bà con chòm xóm. Tôi đề nghị trả quyền công dân cho ảnh để đi bầu cử”. Đồng bào bên dưới vỗ tay rần rần. Khi ra về, tôi tìm tới ông nầy để nói lời cảm ơn. Ông nầy nói nhỏ vào tai tôi: “Khi anh lên, không có ai biết anh là ai, nên không có ý kiến. Thấy vậy tôi đứng lên nói cho xong chuyện để về nhà ngủ sớm còn mai phải đi làm. Chứ để cù cưa cú cứa biết khi nào xong”. Đúng, dân Sài Gòn phần đông họ rộng lượng với những người thuộc chế độ cũ. Quả thật dân chúng quá ngán ngẩm những buổi họp như thế nầy, cắn răng chịu đựng. Sống trong sự giả dối, ăn nói giả dối, làm việc giả dối v.v… từ cán bộ cho tới dân chúng ai cũng biết như vậy, nhưng răm rắp tuân theo như thật.

(Còn tiếp)

© 2009 Phan Xuân Sinh
© 2009 talawas blog

Advertisements

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

MỘT GIAI ĐOẠN NGẬM NGÙI (PHẦN II)

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 28, 2009

MỘI GIAI ĐOẠN NGẬM NGÙI

Hồi ký của Phan Xuân Sinh

Phần II

Sau khi cơ sở làm bột giặt của tụi tôi thành công, chúng tôi đi mua một cơ sở lớn hơn tại số 9  đường Đinh Bộ Lĩnh, Phường 24, Bình Thạnh. Đây là một building lớn của ông chủ hãng tôn lợp nhà bằng nhựa, vì sa cơ thất thế và cũng sắp sửa đi Pháp nên ông bà đó bán lại cho tụi tôi. Chúng tôi dọn cơ sở làm bột giặt về đây, còn căn nhà trên đường Bạch Đằng chúng tôi thành lập tổ hợp làm bột trẻ em hiệu Đông Phương. Chúng tôi gọi bạn bè góp vốn, ai có tiền thì trả, ai không có tiền thì chúng tôi cho mượn vốn trả sau (đây là một quyết định sáng suốt, tránh khỏi một tai họa giáng xuống đầu chúng tôi sau nầy). Building nầy nằm giữa hai building của hai người đều nổi tiếng. Nhà số 7 của ông Nguyễn Quang Minh (hiện nay ở Pháp), tiến sĩ kinh tế, Tổng Giám đốc Việt Nam Thương tín của ông Nguyễn Tấn Đời. Căn nhà số 11 của ông Mười Thơ, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố.

Nhà ông tiến sĩ Minh mở cái quán cà phê trước cổng vào nhà, ông đứng pha cà phê cho khách. Thật chạnh lòng cho một trí thức bị thất sủng, ai vào gọi cà phê, ông “dạ” rất lớn và khúm núm bưng cà phê ra cho khách. (Ngoài tụi tôi ra, không ai biết đây là một trí thức danh tiếng của miền Nam trước 75. Sau nầy ông vượt biển qua Mã Lai, được chính phủ Pháp tiếp nhận ngay.) Thế nhưng ông có một hành động rất dũng cảm. Một lần ông Mười Thơ cho người qua mời ông qua nhà, nhờ ông giảng giải về kinh tế của tư bản mỗi đêm. Ông thẳng thừng từ chối nêu lý do vì sức khỏe ông phải ngủ sớm, con mắt ban đêm lem nhem và sách vở bị tịch thu, không còn tài liệu. Người em cột chèo với ông, anh Nguyễn Tiến Khải (em của bác sĩ Nguyễn Tiến Hỷ, nhà chính trị tên tuổi của miền Nam trước 75, anh Khải bây giờ cũng đang sống tại Pháp) nói với tôi rằng, làm sao ông giảng giải kinh tế cho một người mà trình độ chưa qua tiểu học. Từ chối cho nó khỏi lôi thôi.

Ông Phó Chủ tịch Phường 24, Bình Thạnh tên Minh, vào cơ sở tụi tôi mượn chiếc xe Renault 10 (chiếc xe nầy tụi tôi mua lại của ông Giám đốc hãng Renault Sài Gòn, trước khi ông về Pháp bán lại), để đám cưới cho đứa con. Có một người bạn mượn xe nầy đi Đà Lạt chưa về. Anh Hùng nói với ông là xe đã cho mượn không có ở đây. Ông Minh nghĩ rằng tụi tôi làm khó không cho ông mượn, ông ghim chuyện nầy trong lòng, rồi lợi dụng lúc Chủ tịch Phường đi vắng ông mang một đoàn kiểm kê đến đóng chốt cơ sở bột giặt Bạch Long, lúc đó phong trào cải tạo thương nghiệp đang ở cao điểm, không ai có thể cản trở được, mặc dù chúng tôi thuộc diện công nghiệp (tức là nơi sản xuất của cải vật chất), không ở trong diện cải tạo. Đoàn kiểm kê này làm việc cả tuần lễ, người trưởng đoàn nói chuyện với tôi là ông Minh ra lịnh đóng chốt ở đây, vì nghi ngờ đây là cơ sở mua gian bán lận. Khi vào mới biết đây là cơ sở sản xuất, trưởng đoàn có trình lên cấp trên nhưng vì đã đóng chốt rồi không thể rút lui. Thi hành trước, khiếu nại sau. Như vậy vì thù vặt cá nhân, biến công cuộc cải tạo thương nghiệp thành một cuộc trả thù. Tụi tôi tưởng rằng một Phó Chủ tịch Phường mà làm được gì, thế nhưng khi nằm trong danh sách đã bị cải tạo mới biết tất cả đều do phường báo cáo lên trên, phát sinh những nhà buôn bán mới mà chưa kịp báo cáo, ngay tức khắc dẫn dắt các toán kiểm kê đóng chốt (cơ sở của tụi tôi ở trong trường hợp nầy).

Dĩ nhiên phường không xơ múi gì được những đồ tịch thu, xe của thành phố tới chở đi. Tất cả cái gì có trong cơ sở đều bị vơ vét, tụi tôi bước ra mình không với vài bộ áo quần cũ và chuẩn bị đi vùng kinh tế mới. Từ những người có nhà lầu, xe hơi, tiền bạc vào ra như nước, sau một đêm trở thành những kẻ bần cùng, thân tàn ma dại. Những người thân, bạn bè cũ một phần sợ liên lụy, một phần sợ nhờ vả, không ai dám gặp tụi tôi. Đứng ngoài đường nhìn đoàn xe chở đồ đạc của mình đi nơi khác, anh em ôm nhau rơi nước mắt. Chị vợ của anh Hùng có mấy lượng vàng của hồi môn cha mẹ để lại, khi làm biên bản tịch thu để câu: “kim khí màu vàng”, chứ không xác định đó là vàng. Anh Hùng thắc mắc chuyện nầy thì ông trưởng đoàn giải thích, không có đồ phân loại cho nên không thể xác nhận là vàng được, ghi như vậy cho cấp trên giải quyết. Tôi nghĩ trong bụng khi mà tới kho nhà nước toàn là đồ đồng, vàng thật đã vào tay cán bộ.

Ngày xưa bước đến Ủy ban Nhân dân Phường, mọi người chào hỏi nhau như người thân. Còn bây giờ ra phường chờ đợi giấy tờ, ngồi trong góc chẳng ai thèm hỏi han, ai cũng muốn tránh né. Những bộ mặt thân thiện ngày nào, bây giờ thay đổi một cách nhanh chóng, lạ lẫm. Chúng tôi là loại tội phạm của chế độ, không có thuốc “ba con năm” để mời nhân viên, nên họ nhìn mình bằng cặp mắt xa lạ. Cũng may chiếc xe Renault 10 cho một người bạn mượn  đi Hà Nội nên không bị tịch thu. Chỉ tịch thu bốn chiếc xe đang đậu trong hãng. Tụi tôi chờ đợi đi kinh tế mới, nơi tụi tôi chọn là Phương Lâm  (Định Quán).

Trong khi chờ đợi, một người bạn rủ tụi tôi đi Cai Lậy chơi, luôn tiện mua một “thùng” gạo (khoảng chừng 10 ký lô) để dành về ăn, đến trạm Tân Hương kiểm soát thấy tụi tôi chở gạo, nên xe bị giữ lại. Hai ngày sau tụi tôi xuống Mỹ Tho nhận lại xe thì được biết chiếc xe Renault 10 bị tịch thu. Chở chỉ 10 kí gạo mà tịch thu một chiếc xe, đó là hành động ăn cướp. Tụi tôi làm đơn khiếu  nại nhưng không có nơi nào giải quyết. Số phận của chiếc xe không mất trong kiểm kê thì mất trong trường hợp cướp cạn nầy. Vừa rồi về Việt Nam nhìn cảnh dân oan của mấy tỉnh phía Nam lên Sài Gòn kiện tụng đất đai, tôi nghĩ lại chuyện thưa kiện của mình mà thương cho họ, có ngồi mòn đít quần, tốn tiền tốn của, chỉ thiệt thân cho mình thôi. Làm sao con kiến mà kiện củ khoai cho được. Các cấp chính quyền không có ai thương xót, mặt họ lạnh như băng. Chỉ có dân chúng qua lại thông cảm nỗi đau của họ, nhưng chẳng giúp được gì.

Sống trong nước giữa thời điểm đó có quá nhiều bất trắc cho dân chúng, các ông Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Trường Chinh, ráng gân cổ gào thét: “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”. Nhưng dân chúng đều thờ ơ, ngơ ngác, đói rát ruột, áo quần te tua, làm sao tiến nhanh, tiến mạnh được. Cỗ xe cứ ì ạch chạy không nổi. Sao con đường bước đến xã hội chủ nghĩa dài và nhiêu khê quá vậy, biết bao giờ mới tới được nơi đó. Đời cha tới đời con đều còng lưng kéo lê cuộc đời vô sản vẫn chưa thấy được một chút ánh sáng le lói nơi chân trời, chỉ đi mãi trong tăm tối. Thật quá ngao ngán và mệt mỏi. Đường phố Sài Gòn các xe chạy bằng xăng sửa lại, gắn một cái thùng phía sau chạy bằng than như hồi đầu thế kỷ 20. Muốn bước qua thiên đường, phải bước qua ngưỡng cửa địa ngục trước, đúng vậy.

Tụi tôi sửa soạn lên đường đi kinh tế mới thì bố của anh Hùng ngoài Bắc vào. Ông thuộc loại cách mang năm 30 còn lại (tức là những đảng viên kỳ cựu của thời mới thành lập Đảng). Ông thấy con cháu ông sắp sửa rời thành phố, cũng đau lòng nên ông mang đơn gặp thẳng ông Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) kêu cứu cũng mất mấy ngày. Một buổi chiều nọ, ông hớn hở mang giấy về, tạm hoãn cho tụi tôi đi kinh tế mới, vì đây thuộc diện công nghiệp, được ở lại thành phố tiếp tục sản xuất.

Anh em tụi tôi bám vào Bột trẻ em Đông Phương đã thành lập trước đây. Chở vợ con trên chiếc xe đạp đi làm (lúc nầy tôi đã có cháu đầu lòng), bây giờ mới thấy sáng mắt cho cái chuyện phùng xòe của tuổi trẻ, khi bị tống ra khỏi hãng Bạch Long không có đứa nào còn tiền. Không có nơi ở, chạy đôn chạy đáo mượn tiền mua một cái nhà nhỏ trong con hẻm chợ Cây Thị , Phường 11, Quận Bình Thạnh. Thề trong bụng, sau nầy làm ăn khấm khá cũng không bao giờ mua nhà to cửa rộng, chỉ mua vừa đủ chỗ cho vợ con chui rúc ra vào.

Vợ chồng cùng làm trong hãng bột nuôi trẻ Đông Phương, đây là một tổ hợp đúng nghĩa. Tình trạng sữa cho trẻ em khan hiếm, Bột Đông Phương đáp ứng kịp thời, mỗi ngày sản xuất hàng tấn bột. Những gia đình đi thăm nuôi các anh em trong trại cải tạo đến đặt hàng cũng nhiều. Tinh thần mấy đứa tụi tôi bắt đầu khôi phục, chia lời cho mỗi thành viên trong tổ hợp cũng khá, nên cuộc sống cũng bắt đầu khởi sắc. (Tổ hợp Đông Phương sau nầy có 40 thành viên.)

Lúc nầy quân đội Khmer Đỏ khuấy nhiễu biên giới tây nam. Bộ đội chuẩn bị tấn công Campuchia. Một buổi sáng, một chiếc xe bộ đội đổ trước cửa Bột Đông Phương, một số sĩ quan bước vào muốn gặp Ban Chủ nhiệm. Anh Tường Linh (nhà thơ) lúc đó là tổ trưởng Bột Đông Phương tiếp chuyện. Sau một hồi anh Linh gọi tôi ra cho biết là Quân khu 7 muốn đặt một số bánh lương khô phát cho binh sĩ (kèm theo mẫu lương khô của Tàu). Tôi trả lời có thể làm được, chỉ tương tự chứ không giống hẳn như bánh của Tàu (lúc đó tôi giữ phần kỹ thuật sản xuất). Tất cả đều đồng ý. Tuần sau họ tới lấy mẫu để về trình lên cấp trên. Thật tình thì lương khô nầy cũng bao gồm hàm lượng dinh dưỡng đại khái, không có gì đặc biệt lắm, nên cũng không đòi hỏi kỹ thuật và chất lương cao.

Quận Bình Thạnh cấp cho tụi tôi một cơ sở rộng rãi ở đường Đinh Bộ Lĩnh (cơ sở nầy trước đây là Viện bào chế thuốc Tây của dược sĩ Phạm Doãn Điềm) để sản xuất lương khô. Chúng tôi phải trang bị thêm máy ép bánh, máy sấy, máy rang ngũ cốc, máy xay v.v… trong thời gian ngắn nhất, để đáp ứng với nhu cầu cần cho bộ đội tiến đánh Campuchia. Việc sản xuất cũng trôi chảy không trở ngại. Chừng một tháng thì phòng sấy bị cháy, lửa bốc lên ngùn ngụt thiêu rụi một khu nhà sản xuất. Đến lúc nầy mới thấy mệt. Những người có mặt tại hiện trường lúc cháy phải trình diện công an điều tra vì bị nghi ngờ phá hoại, cản trở sự tiến quân của bộ đội vào Campuchia (dưới con mắt của người cộng sản, cái gì cũng có thể nghi ngờ và cái gì cũng nhuộm màu sắc chính trị). Nghe tin nầy đứa nào cũng sợ té  đái, vì lòi ra toàn là thứ “ngụy quân, ngụy quyền” của chế độ cũ. Đoàn kiểm tra của Quân khu 7 tới xác nhận đây là “sự cố” kỹ thuật, phải dọn dẹp ngay và trang bị kịp thời để tái sản xuất (bên công an phải ngưng điều tra). Trong lúc sửa chửa cơ sở thì bộ đội đã tiến vào Nam Vang, Quân khu 7 thông báo cho biết là chấm dứt hợp đồng. Tụi tôi mừng hết lớn, thoát ra được cái vòng kim cô siết mình vào toàn những chuyện không đâu, mất ăn mất ngủ mấy tháng trời.

Trong giai đoạn nầy cả nước lâm vào tình trạng bi đát. Hàng hóa của thân nhân từ hải ngoại gửi về bị hải quan lục xét một cách tận tình và thô bạo; để tìm dollar cất giấu, các típ kem đánh răng được tháo ra, quậy nát. Không có đồng dollar nào chui lọt được. Mức thuế trên những thùng hàng hóa gửi về thật nặng nề và tùy tiện. Sau khi đến tay người nhận chỉ còn vào khoản 20% – 30%. Tình trạng cấm vận gây cho người dân nghèo mạt rệp. Giữa lúc nầy ở phía Bắc, lính Trung Quốc tràn qua biên giới “dạy cho cộng sản Việt Nam” một bài học vì đã tráo trở, quên công ơn họ giúp trước đây. Không biết Đảng Cộng sản có nhận bài học nầy không, chứ còn nhân dân thì lãnh đủ. Vừa đói, vừa giặc giã hết biên giới phía Nam, đến biên giới phía Bắc, người dân khốn đốn trăm bề.

Vài năm sau tôi thấy tình hình có vẻ ổn định, tôi muốn về nhà mở một cơ sở làm kem đánh răng (còn vợ tôi vẫn làm ở Đông Phương). Tôi lấy hiệu là kem đánh răng Mimosa. Trước khi mở cơ sở tôi phải làm mẫu để đi kiểm nghiệm. Không biết tại sao công an phường cứ vài ngày đi xét nhà tôi một lần, liên tục như vậy cả tháng. Lần cuối họ hỏi thẳng tôi vì thấy những mẫu kem để trên bàn không có nhãn hiệu. Tôi bảo với họ là tôi chuẩn bị sản xuất kem đánh răng, nên phải làm mẫu kiểm nghiệm. Khi tôi ra phường xin phép thì bà Thùy Trâm (dân Quảng Nam,) bí thư, cho tôi biết là phường đã nghe dân chúng báo cáo là tôi làm kem giả. Hèn gì công an xét nhà tôi bao nhiêu lần mà không thấy gì cả là vì vậy. Bắt đầu tôi mới thấy sợ sự kiểm soát khắt khe trong dân chúng, tai mắt của họ khắp nơi, nhứt cử nhứt động không qua được họ.

Lúc đó kem đánh răng khan hiếm trên thị trường, nhất là các tỉnh phía Bắc. Tôi ký hợp đồng với thương nghiệp cung cấp kem cho các tỉnh. Giá thành trong hợp đồng quá thấp, vì vậy kem đánh răng chất lượng rất tồi, để một thời gian lâu sẽ bị khô. Với giá cả quá thấp như vậy không thể nào tốt được. Nhưng thương nghiệp quốc doanh cần như vậy, có còn hơn không. Thế nhưng vẫn bán được và sản xuất đều đặn. Không có cái gì tốt hơn và cũng không có loại nào khác hơn để mua, buộc lòng dân chúng phải mua đồ “dỏm” nầy để dùng.

Một điều khó và giết chết những nhà sản xuất lúc đó là ngân hàng. Các công ty thương nghiệp trả bằng check, cầm cái check nộp vào ngân hàng thì không được lãnh tiền ra ngay vì nhiều lý do. Ngân hàng không có tiền, chế độ quan liêu bè phái, hối lộ cửa sau v.v… người sản xuất trăm bề khó khăn. Đồng bạc càng ngày càng mất giá, tất cả tính toán bằng giá vàng trên thị trường. Mua hàng hóa sản xuất trị giá bằng vàng, nhưng khi bán hàng của mình cho nhà nước thì trị giá bằng tiền. Sự khác biệt nầy gây cho nhiều cơ sở sản xuất phải khánh tận (giá vàng lên nhanh quá, theo không kịp). Tôi đã khốn đốn khổ sở rất nhiều trong thời gian nầy. Làm ăn quần quật nhưng rốt cuộc chẳng còn gì, bao nhiêu tiền vợ chồng dành dụm đều mất sạch (khoản thời gian nầy chắc anh Đào Hiếu hiểu rõ, vì lúc đó ảnh có tham gia làm kem đánh răng ở một chỗ khác.)

Lúc bấy giờ mới nghĩ tới chuyện vượt biển, chạy ra Phước Tỉnh (Bà Rịa – Vũng Tàu) mua ghe, vài anh em hùn vốn. Đến ngày lên đường thì mới biết mình bị lường gạt. Tàu đã chở nhóm người khác ra khơi trước một đêm, đúng giờ ra chỗ hẹn, chờ dài cổ vẫn biệt tăm. Bị công an phát hiện chạy trối chết, một số bị bắt. Chưa có lúc nào ngao ngán lòng người như vậy. Lấy tiền xong chỉ điểm cho công an đến bắt, không tin vào ai được. Tiền của không còn, về lại Sài Gòn làm lại cuộc đời, chờ đợi ông già vợ bảo lãnh cho chắc ăn.

Hồ sơ bảo lãnh cho gia đình, tôi nộp vào năm 1979, thế nhưng không biết lạc nơi đâu. Những người nộp hồ sơ sau tôi đều lần lượt ra đi. Tôi làm đơn khiếu nại tại văn phòng Bộ Nội vụ ở đường Nguyễn Trãi, Sài Gòn, nhiều lần, nhưng không thấy trả lời. Đến khi có chương trình HO, tôi mang hồ sơ đến trung tâm dịch vụ của Bộ Nội vụ (đây là nơi làm tiền một cách trắng trợn, nhưng rất được việc), vài tháng sau họ báo cho biết là tôi sẽ được cấp visa và chuẩn bị phỏng vấn. Còn hai cái ải quan trọng mà tôi phải bước qua là thuế và nhà đất.

Tôi là người có đứng tên trên vài cơ sở làm ăn sau nầy,  nên phải thanh toán tất cả nợ nần thiếu thuế trước khi rời khỏi đất nước. Một nhân viên ra cho tôi biết là tôi còn thiếu thuế nhiều quá nên chưa thể cấp giấy cho tôi được (một cú đánh phủ đầu trước, cho tôi choáng váng mặt mày). Ngày hôm sau, có người làm trong phòng thuế quen với tôi tới nhà cho biết là tôi phải chi một ít tiền, vài ngày sau tới nhận giấy chứng nhận không thiếu thuế. Giờ phút nầy họ đòi bao nhiêu cũng phải bóp bụng đưa, chứ không còn con đường nào khác hơn. Rồi đến nhà đất cũng vậy. Qua xong hai cái ải nầy, rồi đến cái ải phi trường. Không biết mình có bị giữ lại không? Đến khi máy bay cất cánh mới biết mình không việc gì, mới thở phào. (Tôi ra đi cùng một lúc với các anh chị cải tạo HO 4 – tháng 6 năm 1990.)

Từ năm 1975 đến 1990, tôi đã sống đúng 15 năm trong xã hội chủ nghĩa. Tôi đã chứng kiến những chiếc xe tăng T54 phá sập cổng chính Dinh Độc Lập (xem như thành trì cuối cùng Việt Nam Cộng hòa bị xô ngã). Tôi đã sống trong một đất nước hòa bình, người dân không còn lo sợ súng đạn, nhưng sợ sự đố kỵ, sự phân biệt, sự kỳ thị. Tôi đã ngụp lặn trong một cuộc sống đầy rủi ro, chấp nhận những miệt thị lớn lối của kẻ thắng trận. Họ được quyền chà đạp nhân phẩm của người khác, rêu rao vẽ vời một chủ nghĩa xa lạ và bắt dân chúng thuần phục như những tín đồ.

Tôi đã chứng kiến cảnh “ngăn sông cấm chợ”, chứng kiến những anh em, bạn bè  của mình đi học tập cải tạo, đi kinh tế mới, đi vượt biên. Chứng kiến một xã hội băng hoại, tham nhũng có tổ chức, chèn ép dân chúng để hối lộ, bao che cho nhau những việc làm vô đạo đức. Những cảnh “sửa sai, sai sửa”, hy sinh hết lớp nầy đến lớp khác v.v…, còn nhiều thứ không kể hết. Nhưng bao giờ tôi cũng mong, vẫn tin tưởng một ngày nào đó những tệ nạn ấy không còn bao trùm trên đầu dân chúng. Một giai đoạn “không đẹp” mà tôi đã bước qua, sẽ trôi vào quên lãng, chôn kín, và xem đây như một lầm lỗi, lịch sử không lặp lại.

Houston, 23/7/2009

© 2009 Phan Xuân Sinh
© 2009 talawas blog

Posted in Truyện ngắn | Leave a Comment »

LÒNG VÒNG XÓM NHÀ LÁ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Bảy 23, 2009

LÒNG VÒNG XÓM NHÀ LÁ

Phiếm của Phan Xuân Sinh

Lời nói đầu: Đây là một chuyện vui trong đời sống. Mọi hoàn cảnh xẩy ra, tên tuổi nhân vật không có trong thực tế. Nếu có sự trùng hợp chỉ là vô tình và ngẫu nhiên chứ tác giả không chủ ý. Kính mong quý vị độc giả lượng tình tha thứ.

__________
Một lần tôi đi bác sĩ, ông tên là David Nguyễn. Tôi nghĩ trong đầu, chắc ông bác sĩ nầy còn trẻ lắm. Những người trẻ thường lấy tên Mỹ để dễ dàng trong chuyện học tập, tiếp xúc giao thiệp với người bản xứ. Còn ông bác sĩ nầy tuổi đã cao, sắp sửa hưu trí, khách hàng chính của ông là người Việt, cái bằng bác sĩ của ông do Đại học Y khoa Sài Gòn cấp. Vì nhu cầu khẩn cấp cần bác sĩ người Việt để đáp ứng với số lượng nhập cư của dân Việt đông đảo, chính phủ Mỹ đặc ân cho một số bác sĩ cũ ở Việt Nam, qua một cuộc thi sơ sài, qua một đợt thực tập ngắn ngủi, rồi cấp cho một giấy chứng nhận tương đương để phục vụ đồng hương. Thế mà có ông muốn chối bỏ cái gốc gác của mình. Cái tên “Đạm” của cha mẹ đặt cho ông, ông bắt những khách hàng Việt Nam phải gọi ông là David, tôi nghe có cái gì không ổn, tôi cảm thấy ngường ngượng khi phải gọi tên ông.

Môt bà khách hàng của ông dân miền Nam Lục tỉnh, chân chất, ít học, nói tiếng Mỹ với giọng miền Nam đặc sệt. Khi tiếp xúc với ông, bà rất kính trọng và lễ phép: “Dạ thưa bác sĩ Đê-dịt”, tôi trố mắt ngạc nhiên, tưởng rằng bà chế nhạo ông, nhưng thấy mặt bà tỉnh bơ có vẻ thành thật trong giọng nói, mà hình như bác sĩ đã quen tai với cái tên tiếng Mỹ đọc giọng miền Nam nầy nhiều lần nên ông cũng tỉnh bơ như bà đó vậy. Tôi thắc mắc, tại sao ông không lấy cái tên Đạm để tiếp xúc với khách hàng, đồng hương của mình, sao ông lại đày đọa dân của mình như vậy chứ? Còn cái tên David kia dùng cho giấy tờ hay tiếp xúc với người bản xứ thì hay biết mấy. Người bạn của tôi là Luật sư Nguyễn Xuân Phước, trên giấy tờ ông tên là Phillip Nguyen, nhưng chưa bao giờ tôi nghe ông dùng tên nầy tiếp xúc với đồng hương, mặc dù ông theo học luật ở Mỹ.

Chuyện lấy tên Mỹ, tôi hoàn toàn không đả phá. Sống trên đất nước Hoa Kỳ mình phải thay đổi để dễ dàng hội nhập. Tuy nhiên cũng phải tùy trường hợp. Khi đi làm sở Mỹ hoặc tiếp xúc với Mỹ, ta dùng tên đó để giao tiếp. Đằng nầy có những người suốt đời từ trong nước ra tới hải ngoại chỉ tiếp xúc với người Việt, lận lưng được vài câu tiếng Anh ba rọi, thế nhưng khi hỏi tên thì James, Michael, Robert v.v… như một thằng Mỹ chính thống, thấy ngượng không chịu được, thế nhưng người ta cho đó là một cái “mốt” thời thượng. Ai không như vậy tức là bị lỗi thời, không theo kịp cái đà tiến hóa của loài người.

Một hôm vợ chồng tôi được mời tham dự bữa tiệc mà chúng tôi không biết là tiệc gì. Khi đến nơi thì tôi mới biết đó là tiệc sinh nhật của một người mang tên là Julie, tôi thấy trên chiếc bánh sinh nhật và những bong bóng mang hàng chữ “Happy Birthday Julie”. Tôi nói với đứa con gái duy nhất của ông bà chủ nhà ra mở cửa cho chúng tôi, là hôm nay sinh nhật của cháu lớn quá, chúc mừng cháu. Cô bé chưng hửng lắc đầu cải chính ngay là sinh nhật của mẹ cháu. Bây giờ đến lượt tôi chưng hửng, tôi không thể nào ngờ được một người bán cá ở Việt Nam, lam lũ, chỉ mới biết đọc, biết viết sơ sài, thế mà vượt biên qua tới đây, lột hết, rửa sạch, trở thành giới trí thức, một người Mỹ chính hiệu. Làm sao biết ngày sinh nhật của mình. Chỉ biết mình mang tuổi Tí, Sửu, Dần, Mẹo… gì đó đã may lắm rồi. Đằng nầy tưởng tượng ra ngày sinh của mình, rồi ầm ĩ tổ chức nọ kia, cho hợp với đà văn minh. Suốt trong bữa tiệc tôi nghẹn ngào ngồi nhìn “cô Tư bán cá” chợ Hàn Đà Nẵng thuở nào, bây giờ mang tên Julie chủ tiệm Nails ở Mỹ. Mọi người trong bàn tiệc gọi chị Julie một cách tỉnh bơ, chứ không ai còn gọi chị Tư như ngày nào.

Thay da đổi thịt trong cuộc sống là lẽ thường tình và mừng cho họ có một cuộc sống khấm khá. Thế nhưng một thứ trưởng giả học làm sang, chạy theo những phù phiếm, che đậy cuộc sống chân chất của quá vãng. Thật tội nghiệp cho cô “Julie” bây giờ, không còn một chút hiện thân của cô “Tư” bán hàng dễ thương ở chợ Hàn ngày xưa.

Chúng ta thỉnh thoảng ra đường bắt gặp những người Việt Nam gọi nhau… bằng những cái tên Mỹ. Những người trẻ tuổi thì chúng ta không nói làm gì, đằng nầy mấy ông bà đã trưởng thành tại Việt Nam, con cháu lủ khủ thế mà bỏ đi cái tên cúng cơm lâu đời của mình để khoác lên cái tên ngoại lai thật khó chịu. Họ rất hãnh diện mang cái tên “Mỹ” nầy, đôi khi tiếng Anh lắp bắp cắn chưa bể một chữ.

Tôi xin kể một trường hợp mà tôi đã chứng kiến, cười ra nước mắt. Có một gia đình đồng hương mời tôi dự đám giỗ cụ thân sinh của chủ nhà. Vợ chồng chủ nhà cũng trên bảy mươi tuổi, qua đây theo diện HO. Ngày xưa trước 1975, ông cụ làm chủ tịch xã ngoài Quảng Nam, tên của ông là Trần Từ Giã. Nghe nói có hai người con, một  trai, một gái, tuổi cũng xấp xỉ năm mươi, lúc đó qua đây theo diện ăn theo với vợ chồng ông. Khi tất cả mọi người ngồi vào bàn tiệc, ông chủ nhà xin lỗi quý khách đợi thêm vài phút vì phải chờ “May-cồ” tới. Mọi người đều nghĩ trong bụng, chắc ông Mỹ nầy là thượng khách của gia đình, hoặc là người rể quý Mỹ của ông chủ nhà. Mười phút sau có vợ chồng và mấy đứa con mở cửa chính bước vào. Ông chủ nhà thốt lên: “Vợ chồng thằng May-cồ tới rồi”. Ai cũng nhìn ra cửa, thấy gia đình một người Việt Nam, người chồng chừng năm mươi tuổi có tên là “May-cồ” là con trai của ông chủ nhà, mà khách khứa cứ tưởng là một ông Mỹ. Ông chủ nhà giới thiệu với mọi người Micheal là con trai trưởng của ông. Gia chủ tuyên bố lý do bữa tiệc, rồi trong bàn có một người lớn tuổi thay mặt cho khách nói lời cảm tạ. Ông khách nầy là người Quảng Nam, bạn với chủ nhà, hay ăn nói móc họng. Ông trịnh trọng đứng dậy:

“Thưa ông Trần Từ Giã, thưa ông May-cồ Dách-sơn là cháu đích tôn của cụ đã khuất,”

Người con trai của chủ nhà đứng dậy chặn ngang:

“Thưa bác, cháu tên là Michael Từ Trần, chứ không có chữ Jackson phía sau giống như người ca sĩ nổi tiếng của Mỹ.”

Ông cụ cười ha hả, trả lời một cách châm biếm:

“Sao ông không lấy hết tên của người ta làm của mình, lấy chi… nửa vời nghe chướng quá. Nên tôi thêm vào cho nó đỡ ngượng.”

Rồi ông chậm rãi:

“Ngày giỗ của ông nội, ông là cháu đích tôn mà không tới sớm để thắp cho ông nội một cây hương. Ông tới trễ như một người khách, thì tôi không lạ gì ông từ bỏ cái tên cúng cơm mà cha mẹ đã đặt cho ông. Ông bắt cha mẹ, gia đình và khách khứa dự bữa tiệc hôm nay gọi ông bằng một cái tên lạ hoắc, mà gia phả của người Việt mình không chấp nhận được. Ông làm khó mọi người để làm gì vậy? Tất cả bà con mình qua đây ai cũng đổi bằng xương máu, nước mắt. Không có ai qua đây để chơi, để phùng xòe, để đoi đòi. Ông nên mang cái tên nầy dùng trong xã hội Mỹ, trong công sở ông làm việc. Ra khỏi sở xin ông gửi nó lại đó, về với gia đình, với đồng hương, với cái tên thật của mình. Người ta chê cười tư cách của mình sống, chứ có mười cái tên Mỹ đẹp đẽ mà sống chẳng ra gì, người ta lại càng chê cười chế giễu nhiều hơn.”

Tất cả những người có mặt trên bàn tiệc im phăng phắc. Chưa vào tiệc đã nếm qua cái món khai vị nóng sốt, đậm đà “bản sắc dân tộc”. Dù có đói rát ruột, sau khi nếm qua món khai vị nầy, mọi người trong bàn tiệc cảm thấy bụng đã no đầy ắp. Ông May-cồ ngồi cúi mặt. Một bài học thấy thấm đau, mà tôi biết, không bao giờ ông quên được trong đời của ông sau nầy.

Tôi thấy nhan nhản trên đường phố Bolsa, San Jose, Houston, Dorchester, Washington DC, Chamblee v.v… những nơi kinh doanh của người Việt mà tôi đã đi qua trên đất Mỹ, những cái tên  nửa nạc nửa mỡ: Andrew Nguyễn, Susan Phạm, Dustin Ngô, Thomas Lê… trương trên bảng hiệu, trong các tờ báo quảng cáo, thấy rất nhức đầu. Họ là người Việt thuộc thế hệ thứ nhất, làm ăn với người Việt chứ không có thằng cha Tây, con mẹ đầm nào dính vào đây. Khách hàng của họ là 100% dân Việt Nam, thế mà họ sợ để cái tên thuần chất Việt Nam sẽ giảm uy tín của bổn hiệu, mất đi tín nhiệm với khách hàng. Phải tỏ mình là công dân Hoa Kỳ, mang cái first name Mỹ mới đúng cách, đúng phẩm chất cao. Bao nhiêu năm tôi khắc khoải về chuyện nầy, nếu đúng như vậy thì tại sao có nhiều người vẫn dùng tên họ Việt, khách đến đông đúc? Nếu họ làm ăn với người bản xứ, thì mang tên Mỹ không ai nói làm gì, vì đó là một cách giúp giao tiếp thuận lợi. Đằng nầy ngay trong gia đình họ vẫn gọi nhau: John, Lisa, Liz, Peter… nghe sao chướng tai quá.

Thế hệ thứ hai, thứ ba, sinh ra ở đây. Họ mang tên Mỹ từ nhỏ, nên bắt buộc họ phải dùng tên Mỹ. Còn có những ông bà qua đây trễ tràng, không có thời giờ bước vào trường học, phải lao động cật lực để nuôi gia đình. Khi đời sống ổn định, có bằng công dân Hoa Kỳ, họ bắt đầu nghĩ ngay đến thay đổi sao cho phù hợp. Đó cũng là một bước tiến tốt. Tuy nhiên chúng ta không thể nhắm mắt quơ càn, tốt xấu hầm bà lằn, mà phải thận trọng chắt lọc cái gì tốt ta dùng, cái gì xấu ta bỏ. Đó là con người khôn ngoan thực dụng.

Một bà mang tên Tám, sau khi cầm cái bằng công dân trong tay, mọi người phải gọi bà là Tammy. Nhiều người quen miệng gọi bà Tám, bà làm bộ không nghe, không biết cái tên nầy. Phải gọi là Tammy thì bà mới quay qua trả lời. Xem trên TV nhân ngày lễ gì đó, phóng viên đến phỏng vấn một bà cụ trên 65 tuổi: “Thưa bà xin cho biết quý danh?” Cụ bà nhanh nhẹn trả lời ngay: “Tôi tên là Tracy Nguyễn”. Nghe bà xưng tên, tôi muốn té xuống ghế. Một bà ngồi coi truyền hình với gia đình tôi, nhận ra được bà Tracy là người có quen biết với bà, bà kia la lên: “Con mẹ nầy tên Trác làm workcenter với tôi ở Dorchester, mèn đéc ơi mang tên Mỹ”, rồi bà cười ha hả: “Đồ quỷ không hà”. Cái tên Mỹ chỉ để dùng trong giấy tờ khi hữu sự, chứ áp dụng với người đồng hương với nhau thấy kỳ quá.

Một số ít người Việt ở Mỹ quan niệm rằng khi vào công dân Mỹ phải dùng tên Mỹ nầy bất cứ nơi đâu, ngay cả trong gia đình. Thằng Tí, con Mén, bà Út, ông Lượm, mới gọi nhau ra rả ngày hôm qua. Sáng nay đi tuyên thệ nhận bằng công dân về, thì áp dụng tên ấy ngay lập tức: Thằng John, con Cecile, bà Jolie, ông Jim, không một chút ngượng mồm ngượng miệng. Trong gia đình được Mỹ hóa một cách nhanh chóng. Để cho đồng hương biết rằng gia đình đã được lột xác không còn dính dấp gì cái xứ Việt Nam nghèo khổ bên kia xa lắc xa lơ. Không còn nghĩ tới tổ tiên ông bà, xa lánh đồng hương. Tìm mua một cái nhà ở vùng Mỹ trắng thật xa vì cho rằng ở gần người Việt có nhiều rối rắm. Bây giờ mình thuộc loại “high class” rồi, phải dứt phăng cái “đuôi Vietnamese” cho nó bớt hổ thẹn. Khách ngoài đường ai hỏi mình từ đâu tới, không ngại ngần trả lời: “I’m Japanese”.

Lại cũng vì “tôi là người Nhật”. Tôi nghe một bà quen biết kể cho một chuyện thật buồn cười. Khi mới qua đây bà đi làm một hãng điện tử, người supervisor hỏi lai lịch. Bà trả lời là dân Nhật Bổn. Bà nghĩ rằng mình nói là dân Nhật tụi Mỹ nó kính nể hơn, còn tự nhận rằng dân Việt tụi Mỹ nó khinh lắm, hơn nữa đây là thành phố nhỏ của tiểu bang Pennsylvania, nơi khỉ ho cò gáy nầy làm gì có người Á Đông, nói gì mà không được. Không ngờ người đó vui mừng gọi ngay một bà Nhật Bổn thứ thiệt, đang làm trong hãng ra giới thiệu, vì có một đồng hương Nhật mới vào làm để cho hai người quen biết nhau. Bà người Nhật mừng quá chạy tới nói môt tràng tiếng Nhật. Bà Nhật “dỏm” ú ớ, đành phải thú thật rằng bà là người Việt. Bà người Nhật giận lên, mắng cho một trận rồi ngoay ngoảy bỏ đi. Bà nầy thấy mắc cỡ quá, cũng trốn ra khỏi sở, không bao giờ dám bén mảng tới đây, dù cái “job” tương đối thơm, đành phải bỏ đi xin làm nơi khác.

Một anh bạn kể cho nghe một chuyện mà anh đã gặp trong sở làm. Đều là người Việt Nam cả, hai người cũng khá lớn tuổi gặp nhau nói chuyện vui vẻ, nhưng đến khi hỏi tên, ông kia thưa: “Dạ, tôi tên là Thompson”. Ông kia giật mình tưởng mình nghe lộn nên hỏi lại cho chắc. Ông kia vẫn thưa y như vậy. Ông nầy thấy gai mắt quá, hỏi vặn ông kia: “Chứ anh có biết tên tôi là gì không?” Ông kia lắc đầu, ông nầy nói một cách đanh đá: “Tôi tên là Colt 45″. Rồi ông quay mặt bỏ đi ngay. Đến giờ giải lao, ông đến gặp tôi kể lại chuyện nầy với lời giận giữ: “Chạy trối chết qua đây lo kiếm cơm đủ hết hơi, còn bày đặt học đòi lấy tên Mỹ mà không biết nhục. Thompson với Carbine nghe muốn ói. Cho nên tôi chơi lại liền, Colt 45 là loại súng nhỏ dành cho chỉ huy. Còn tiểu liên Thompson với Carbine chỉ dành cho lính. Ý của tôi chưởi xéo cho hắn biết, đây thứ thiệt mà còn dẹp tiệm, đừng có hợm hĩnh như vậy”. Tôi ôm bụng cười bò càng.

Đi lòng vòng lắng nghe những chuyện xẩy ra cho cộng đồng người Việt, giống như ngày xưa báo chí Sài Gòn lượm lặt những cái chuyện tréo ngoe xẩy ra trong dân chúng, đúc kết thành “Chuyện dài nhân dân tự vệ”, “Chó cắn xe, xe cán chó”, nó dai dẳng trong đời sống không hết được. Những chuyện như thế nầy chưa chắc đã xẩy ra, người viết chỉ tưởng tượng cho người đọc mua vui và tránh bớt đi cái khó coi, cái hợm hĩnh vướng mắc mà ta có thể gỡ nó bằng tấm lòng, chứ không mang tính chỉ trích hay hạch tội. Tôi mong rằng người đọc xuề xòa bỏ qua, nếu tôi không mang lại một nụ cười thoải mái.

Houston, những ngày nóng bức tháng 7/09

© 2009 Phan Xuân Sinh

© 2009 talawas blog
Create PDF

ShareThis

Posted in Phiếm Luận | Leave a Comment »