Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Sol Duc Falls

    Back to forest

    Prairie Falcon 2016

    Starry night

    It was snowing !

    Northern Flicker (Intergrade)

    Northern Pintail descent

    It's as Easy as 1-2-3

    Dolls clinic.

    Superstition Mountains

    More Photos
  • Lưu trữ

NHẶT LẠI NHỮNG MẢNH VỤN

Posted by phanxuansinh on Tháng Sáu 27, 2009

NHẶT LẠI
NHỮNG MẢNH VỤN

Phan Xuân Sinh

30 năm ngồi nhặt lại những mảnh vỡ, xếp lại cho thật hoàn chỉnh, nhưng cố gắng bao nhiêu vẫn không xóa mờ được những vết nứt. Tuy những tì vết nầy nó không còn đậm nét, không còn tách lìa như trước đây, thế nhưng nó vẫn còn những vạch chia cắt không hết được. Tôi tự hỏi với chính mình, tại sao cũng còn có một số người vẫn muốn  thu tay đấm vào những mãnh vỡ đó, cho nó tan nát thêm ra. ..

30 năm chưa đủ thời gian để chúng ta rộng lượng phán xét những sai trật của đôi bên trong tinh thần dân tộc. Hỏi thì hỏi vậy, nhưng không trả lời được, chỉ biết ngậm ngùi. Có những người vẫn còn hăng tiết trong lập trường, nên  không ai dám đưa tay ra cản lại, họ chưa chịu ngơi nghỉ, chưa chịu lắng nghe những tiếng thở dài của dân chúng. Trong nước ai cất tiếng lên đòi bắt tay với anh em hải ngoại thì bị vồ chụp là “lấy tiền của đế quốc Mỹ, tay sai của bọn phản động”. Còn tại hải ngoại ai làm điều đó thì: “ăn bã của Việt Cộng, Cộng sản nằm vùng”. Không ai dại gì rước họa vào thân. Cho nên tình trạng bế tắc vẫn còn dài dài, không sao giải quyết được.

Hôm nay ngày 30-4, tôi dạo một vòng trên net, dừng lại ở Talawas đọc được những bài tâm huyết của những người có lòng với đất nước. Tự nhiên tôi muốn viết một cái gì đó trung thực với lòng tôi, tôi không hoan hô, đá đảo ai, không chịu ảnh hưởng bất cứ đường lối chính trị nào. Tôi cần phải có một giây phút bày tỏ chân thật mà nó đã âm ỉ trong lòng bấy lâu nay. Đúng , sai, công, tội của cuộc chiến cho đến bây giờ phán xét vẫn còn thấy sớm. 30 năm mà còn sớm thì quả thật là vô lý, nhưng trường hợp của Việt Nam là như vậy. Gạt Mỹ ra ngoài, những người cầm súng của đôi bên Nam Bắc vẫn còn sống sờ sờ. Nói bên nầy sai, bên kia đúng hay ngược lại đều bị búa rìu bổ lên đầu, những người tham chiến của đôi bên vẫn còn đau nhức. Thôi thì xin dành cho lịch sử sau nầy phán xét. Tôi nói những gì mà nó đã vỡ tan tành, nhặt lên để soi lại với tấm lòng của người trẻ trong cuộc chiến hôm qua và sắp sửa bước vào tuổi già hôm nay còn tha thiết với quê hương dân tộc.

Trước khi viết, tôi xin trích mỗi người một đoạn văn trên Talawas. Trần Trung Đạo, Nam Dao, Lê Đăng Hoàng. Mỗi người có một cách nhìn riêng về Việt Nam 30 năm đã qua. Đối với Trần Trung Đạo và Nam Dao sống ở Miền Nam nhưng lúc ấy không bị cuộc chiến trực tiếp đè trên vai. Còn Lê Đăng Hoàng là một chiến binh Miền Bắc, anh trực tiếp tham gia cuộc chiến. Hãy nghe họ gửi gấm những gì:

– Trần Trung Đạo sinh trưởng tại Miền Nam, 30-4-75 anh còn ngồi trên ghế đại học ở Sài Gòn:

“Tôi muốn nói với anh, cũng như anh, tôi mong đất nước mình được thật sự dân chủ, tự do, no ấm, và cũng như anh, tôi mơ một ngày trở về không phải rụt rè bước qua cổng hải quan, không phải đối diện với những cặp mắt soi mói, không phải nghe lương tâm mình cắn rứt khi nghĩ đến những người còn đang ở trong tù, những người đang chờ thanh lọc ở trại tỵ nạn, những đứa em đang bán mình ở Thái, ở Miên. Tuy nhiên, thành thật để nói, cuộc chiến như các chú bác, anh chị đã tham dự trước 1975, cuộc chiến bằng súng đạn và đồng Đô-la của Mỹ, đã chấm dứt rồi.”

– Nam Dao sinh trưởng ở Miền Bắc, nhưng di cư vào Miền Nam. 30-4-75 anh đang ở Canada và có khuynh hướng “thân cộng” lúc ấy:

“Ðúng thế, cuộc biển dâu len vào mọi mặt của đời sống. Ði học tập, bao giờ về? Ðược về, là đối mặt với tan vỡ, gia đình tứ tán, kẻ đi kinh tế mới, người lỡ bước sang ngang thêm một lần. Và về, thì vẫn cứ phải trình diện, sống trong cảnh phân biệt đối xử, công ăn việc làm không có, cái án thành phần “ngụy’’sẽ truyền đời cho đến con, đến cháu. Thế là về rồi để cố mà đi. Chuyến này ra biển, chết sóng chết gió mai mốt khác gì với chết dần chết mòn trên cạn với mảnh đất không còn cưu mang mình. Dân vẫn đùa, nói với nhau chua chát, cột điện biết đi thì cũng vượt biên cơ mà!”

– Lê Đăng Hoàng sinh trưởng tại Miền Bắc. 30-4-75 anh là một “bộ đội” của Miền Bắc:

“Chúng tôi, những con em nông dân của đất nước Việt Nam này, thấy rằng đã đến lúc phải lên tiếng, để các nhà lý luận thích xét lại lịch sử hiểu rằng, nếu đất nước này một lần nữa bị ngoại bang xâm lược, chúng tôi lại lên đường vào nam hay ra bắc để chiến đấu. Chúng tôi chiến đấu vì sau lưng chúng tôi có ngọn lửa lịch sử 4000 năm hun đúc. Chẳng có ông Marx hay ông Lenin nào yêu quý nước Việt Nam hơn chúng tôi. Và xin các vị, nếu có phê phán học thuyết này hay chủ thuyết kia, đừng nên lẫn lộn với một chân lý giản dị, đó là lòng yêu nước của mọi con người có lương tri sống ở mọi thời đại trên hành tinh này.”

Những đoạn văn ngắn trên đây không nói lên hết được chủ ý của toàn bài, nhưng nói lên được tấm lòng của họ. Ba khuôn mặt đối với tôi rất dễ thương và can đảm, nhất là anh Nam Dao, đã làm cho tôi sực tỉnh và xúc động . Cái nhìn của họ thật thoáng và đầy nhân bản về cuộc chiến tranh Nam Bắc mà cho đến bây giờ những người cực đoan của phe bên nầy hoặc phe bên kia vẫn còn sùng sục hận thù. Tự nhiên tôi muốn viết một cái gì đó mà chính tôi đã trầm mình 15 năm trong nước và 15 năm tại hải ngoại trong sự ngột ngạt khó thở của chính trị bủa vây. Không ai dám thực lòng bày tỏ nguyện vọng của mình. Ở trong nước hó hé là bị chộp cổ tống vào tù ngay, tại hải ngoại bày tỏ là bị chụp mũ, chưởi bới, hạ nhân phẩm. Tất cả những đòn thù sẵn sàng bóp chặt yết hầu cho nên không ai dám hó hé. Dại gì làm những chuyện điên rồ nầy để mang vạ vào thân, làm khổ gia đình vợ con.

Trước khi đọc tiếp, tôi xin mạn phép giới thiệu về tôi: Khác với ba người kia tôi là một người lính của Miền Nam, trực tiếp cầm súng ngoài chiến trường và mất một bàn chân trong cuộc chiến năm 1972. (lúc ấy vừa mới 24 tuổi). Không có ai thù hận, đay nghiến, nguyền rủa chiến tranh bằng tôi. Tôi có được may mắn hơn 3 người trên là tôi có 15 năm sống trong nước và 15 năm sống tại hải ngoại. Một khoảng thời gian dài sinh sống ở hai nơi đủ để tôi nhìn lại vấn đề một cách chín chắn hơn, tuy nhiên làm sao tránh khỏi những sơ suất, những thành kiến tuy dù đã cố gắng gạt ra ngoài. Thôi thì cũng xin lỗi cùng  bạn đọc, nếu có gì không đồng ý cũng lượng tình tha thứ.

Những chiếc T.54 của quân Giải Phóng tiến vào dinh Độc Lập, ủi sập cổng chính, vào lúc gần trưa ngày 30-4-75, cũng bắt đầu giờ phút nầy xem như chế độ VNCH của Miền Nam cáo chung. Những khuôn mặt thất thần, sợ hãi, lo âu, tất ta tất tửi chạy ngược xuôi trên đường phố, những bộ treillis của quân đội Miền Nam cởi bỏ chất thành từng đống lớn, những người lính nầy hòa nhập vào với dân chúng hoan hô những đoàn xe chở bộ đội tiến chiếm Sài Gòn. (Chỉ trước đó vài tiếng đồng hồ họ vẫn còn cầm súng, vẫn còn chiến đấu và cũng gây một ít khó khăn cho quân Giải Phóng). Chúng tôi biết từ giờ phút nầy đất nước thực sự hòa bình, mạng sống của anh em chúng tôi nói riêng và của toàn dân nói chung được an toàn. Quê hương không còn tiếng súng. Chúng tôi chờ đợi những người chiến thắng sẽ hành xử chúng tôi trong tình anh em ruột thịt, trong khoan hồng độ lượng và nghĩ cho cùng chúng tôi cũng chỉ là những nạn nhân của chế độ.

Sau ngày 30-4-75, mệnh lệnh kêu gọi tất cả sĩ quan và cán bộ dân chính của chế độ Sài Gòn trình diện để đi học tập cải tạo. Anh em chúng tôi vui vẻ chấp hành, rủ nhau đi trình diện và trong thâm tâm của mỗi người đều tin tưởng rằng sau năm, mười ngày học tập sẽ trở về với gia đình, sẽ xây dựng lại quê hương, sẽ vá lại những vết thương, những hận thù mà bao nhiêu năm chia cách. Thế nhưng tháng nầy qua tháng khác, năm nầy qua năm khác, anh em chúng tôi học tập mút mùa, không thấy ngày về. Trong trại cải tạo chúng tôi bị những người chiến thắng hành hạ, đọa đày, nhân cách bị chà đạp, xỉ nhục. Tàn nhẫn hơn là lấy miếng ăn để sai khiến, anh em cùng cảnh ngộ dành dựt nhau, hại lẫn nhau, tố cáo nhau. Vì một miếng ăn để bảo tồn mạng sống nên tất cả răm rắp tuân hành và cán bộ sai khiến dễ dàng. Khi bước chân vào trong cổng trại Cải Tạo thì anh em chúng tôi mới bật ngữa, mới biết rằng một sự trả thù ghê gớm sẽ giáng trên đầu chúng tôi một cách nghiệt ngã. Thế nhưng phải cúi đầu chấp nhận, không trốn vào đâu được, họ sẵn sàng bắn chết bất cứ ai tỏ ra phản kháng.

Trong trại cải tạo như thế, còn ngoài đời thì sao?  Ở Đà Nẵng quê hương của tôi, tất cả nhà cửa của những người học tập đều bị tịch thu giao cho cán bộ,  gia đình của họ phải đi Kinh Tế Mới. Con cái của họ không được vào đại học dù học giỏi. Lý lịch cá nhân được chia thành  năm, mười loại. Ưu tiên vẫn dành cho gia đình cách mạng, còn những gia đình “ngụy quân, ngụy quyền” của chúng tôi thì vất va vất vưởng, sống chết mặc bây. Vài năm sau trên đài phát thanh Sài Gòn, trong kỳ Đại Hội Đảng. Ông Trường Chinh tuyên Bố: “Đám Ngụy Quân, Ngụy Quyền phải cần học tập thêm nhiều năm nữa. Và nếu cần thì ta giữ luôn chúng nó trong trại cải tạo để an toàn cho nhân dân”. Những gia đình có người đi Cải Tạo thất vọng. Làn sóng vượt biên lên cao độ bất kể việc bỏ thây trên biển đông. “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ Nghiõa Xã Hội” hay “Yêu nước tức là yêu Chủ Nghĩa Xã Hội”, của các ông Lê Duẫn, Tôn Đức Thắng, Phạm văn Đồng  kêu gào bao nhiêu, lớn tiếng bao nhiêu thì người dân Miền Nam cũng như một số dân Miền Bắc đều gạt phăng tất cả ra đi, bất kể bị bắt tù đày, bỏ xác tại rừng thiêng nước độc hay biển đông.  Mười người ra đi thì có đến tám người không đến được đích.

Trí thức Miền Nam  còn tha thiết với đất nước, họ quyết tâm ở lại mặc dù lúc đó họ được ưu tiên ra đi an toàn. Các giáo sư Trần Ngọc Ninh, Lê văn Thới, Chu Phạm Ngọc Sơn, Trần Anh Nhàn, Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Xuân Oánh .v.v.. những người đem tất cả tâm huyết đào tạo những môn sinh  cực kỳ lỗi lạc, thay đổi diện mạo kinh tế của Miền Nam trong cái di sản cổ lỗ, lạc hậu của Pháp để lại. Họ xây dựng một nền kinh tế Miền Nam trong thời chiến một cách phồn vinh. Họ tha thiết bao nhiêu thì họ lại bị ngược đãi bấy nhiêu. Những người chỉ huy họ là những cán bộ trung cấp xuất thân từ các nước xã hội chủ nghĩa, và nói cho cùng những người nầy chỉ đáng là học trò của họ. Thế nhưng không đối xử nhau bằng sự hiểu biết của trí thức, lạiï đối với nhau vì ganh tị mang những mặc cảm thua thiệt về hiểu biết, về tài năng, ngược lại các cán bộ nầy có thực quyền, thực lợi trong tay, mang một thái độ khinh rẻ, miệt thị, mạnh tay với những nhân vật trí thức của Miền Nam dưới quyền chỉ huy của mìnhï. Cách đối xử tàn tệ làm cho những giáo sư nầy xấu hổ. Người thì bỏ việc, kẻ thì vượt biên, còn lại vài người họ chỉ làm việc cho lấy lệ. Tôi nhớ trong cuối thập niên 80, Giáo sư Nguyễn Xuân Oánh viết một bài về ngân hàng khá tâm huyết. Ông nhắc nhở “Đừng biến ngân hàng thành kho bạc, tiền trong ngân hàng phải dược luân lưu”, đại ý là như vậy. Đó là kinh điển bất di bất dịch của thể chế ngân hàng. Vài ngày sau trên tờ báo lớn  ngoài Hà Nội một nhân vật phản bác lại những điều ông Oánh đưa ra, bằng một lối văn trịch thượng, chỉ dạy. Từ đó ông Nguyễn Xuân Oánh không viết gì nữa. Làm sao tranh luận với một người thắng trận, mọi lý lẽ của họ đều đúng. Thế là giáo sư  Nguyễn Xuân Oánh xuất thân tiến sĩ từ trường Harvard Mỹ,  đành phải ngậm miệng.

Những cán bộ đảng và chính quyền sống cận kề với chúng tôi, hòa đồng với chúng tôi nhưng trong lòng họ mang một sự kỳ thị khủng khiếp, hình như nó đã thấm sâu trong máu của họ, mở miệng là thằng ngụy nầy, con ngụy kia bất kể có chúng tôi trước mặt họ hay không. Họ quên rằng chúng tôi là một con người chứ không phải là một con vật. Chúng tôi đau đớn khi nghe người ta nhổ vào mặt mình bằng những ngôn từ phỉ báng như vậy. Đừng nói gì ngoài xã hội, trong gia đình vẫn thường xẩy ra những chuyện đau lòng nầy. Tôi đến thăm một người chị bà con, chị ấy chưa có một ngày nào sống ở Miền Bắc hoặc vào rừng theo quân Giải Phóng cả. Chỉ có chồng chị ấy là người tập kết ở Miền Bắc. Tôi ngồi nói chuyện thì gặp anh ấy về, chị giới thiệu tôi là em bà con. Anh ấy hỏi: “Cậu nầy thuộc anh em mình hay Ngụy?” Chị trả lời một cách gọn ghẻ:”Ngụy”. Tôi bật dậy ra về, không thèm chào ai cả.  Trong lòng tôi lúc ấy đau nhức khó tả, anh ấy phỉ báng tôi đã đành, còn chị người ruột thịt với tôi mà cũng gọi tôi như vậy. Tức là chị ấy muốn khẳng định chị thuộc thành phần cách mạng, còn tôi thuộc thành phần bán nước. Có ai sống tại Quảng Ngãi thì biết chuyện nầy, năm nào ông Phạm văn Đồng về quê hương ăn tết, anh em thuộc “ngụy quân, ngụy quyền” của chúng tôi được công an Quảng Ngãi lùa hết lên núi cho đến khi ông Đồng trở ra Hà Nội. Nam Phi xưa nay được  mệnh danh là đất nước apartheid, thế mà vẫn còn thua xa đầu óc kỳ thị của những người Việt Nam đang cầm quyền.

Tất cả những điều tôi nói trên đây đều là sự thật, chỉ có giai cấp “ngụy” của chúng tôi mới hiểu nhau, thông cảm cho nhau. Trong nước lúc ấy tôi chỉ thấy có hai giai cấp chính: Giai cấp thống trị của những người thắng trận và giai cấp bị trị của những người bại trận. Ngày nào cũng ra rả nghe cách đối xử khoan hồng, nhân đạo của cách mạng đối với anh em chúng tôi, trong trại cải tạo đã đành khi ra ngoài cũng vậy. Thế mà sự thật thì ngược lại, thà rằng họ đem chúng tôi ra bắn hàng loạt chứ còn đối xử như vậy thì thật bất nhân quá. Cái chết ai cũng sợ cả, nhưng đày đọa chúng tôi theo kiểu nầy thì có lẽ chọn lấy cái chết thanh thản hơn. Họ có biết rằng hơn 50% gia đình của chúng tôi tan nát, trong số nầy những người trên dưới 30 tuổi lúc ấy bị thiệt thòi nặng nhất. Anh em chúng tôi còn rất trẻ, sống với vợ con chưa được bao nhiêu ngày thì bị lùa vào trại cải tạo không biết ngày về. Vợ mới hai mươi mấy tuổi đầu sống trong cơ cực thì làm sao chống lại sự cám dỗ của đời sống. Vì thế khi ra trại trở về thì gia đình tan hoang. Trong đầu họ làm sao tránh được hằn học hận thù. Một người bạn từ Việt Nam qua Mỹ du lịch, họ hỏi tôi tại sao thái độ chính trị của người Việt ở Mỹ dữ dằn quá. Tôi giải thích rằng phần đông gia đình họ ở Việt Nam bị đọa đày, bị tan vỡ nên trong lòng họ đầy uất ức.

Trong nước thì như vậy, còn ngoài hải ngoại thì sao? Thực lòng mà nói đời sống ở hải ngoại về vật chất tương đối ổn định, có của ăn của để, mỗi năm gửi chút đỉnh về quê nhà giúp đỡ gia đình. Còn về tinh thần thì cũng được thoải mái, nhưng nếu có ai có tấm lòng với quê hương, tha thiết với dân tộc và tận tâm với những sinh hoạt cộng đồng thì ngao ngán, ê chề. Trước sau gì cũng được lãnh những chiếc nón không mấy tốt đẹp.

Người ta qua đây mang nhiều căn bệnh: Thích làm lãnh tụ, thích lập đảng phái, thích chửi bới, thích hô hào, thích chống cộng v.v.. cho nên suốt ngày bận rộn. Họ không phạm pháp thì không ai được quyền đụng tới họ. Chửi bới, luật pháp không ghép vào hành vi phạm pháp cho nên họ thả giàn lăng nhục người khác. Ta không thể tưởng tượng nổi, chửi nhau trên báo chí, trên diễn đàn, trên các website, nghĩa là không chừa một nơi nào cả. Họ không kể chi liêm sỉ, miễn sao đạt được mục đích. Ghét ai là họ chụp cho chiếc nón Cộng Sản là xong ngay. Đến nổi một anh bạn từ Việt Nam qua du lịch, anh đến thăm tôi. Câu đầu tiên tôi hỏi anh về quê nhà, anh cười cười trả lời với tôi: “Bên quê nhà không còn cộng sản nữa, họ qua đây hết rồi. Bên nầy nón cộng sản đội nhiều quá, bên kia không sản xuất kịp”. Câu nói làm tôi giật mình, đau thật mà cũng đúng thật.

Sau khi đọc bài viết của Trần Trung Đạo, anh Trương Tử Anh một người ở trong nước hỏi:  “Tại sao ở thế giới tự do, nơi không có sự cấm đoán nào về chính kiến, nơi có hàng triệu người Việt tỵ nạn, tài lực đều có, mà không có nổi một tổ chức chính trị nào xứng đáng, không có nổi một lãnh tụ chính trị đủ uy tín tập hợp lực lượng? Nhìn sang Myanma mà thấy lòng hổ thẹn, họ có một lãnh tụ được giải thưởng Nobel hoà bình, được thế giới ủng hộ, mà số người Myanma tỵ nạn chắc cũng không mạnh hơn người Việt?”. Tôi không biết Trần Trung Đạo đã trả lời với anh Trần Tử Anh chưa. Nếu trường hợp tôi, thì tôi xin thưa với anh rằng: “Ở trong nước chỉ có một Đảng Cộng Sản mà anh đã sợ mất hồn, còn ở đây chúng tôi có cả mấy chục đảng, chịu không thấu anh ạ.” Hải ngoại nầy  làm lãnh tụ dễ quá, vài ba người lập ra một đảng để được làm lảnh tụ, để khi nào có lễ lộc của cộng đồng được giới thiệu đứng lên. Cũng oai phong lẫm liệt như ai, mà thực tế thì chẳng có gì. Đừng nói chi dân tộc Myanma, dân tộc H’mong người Việt mình gọi là người Mèo, dân thiểu số sinh sống nhiều ở miền thượng du Bắc Việt và dọc theo rừng núi Thái Lào.  Họ có một cộng đồng vững mạnh và tiếng nói của họ được người Mỹ chú ý, họ đang có ý định thành lập một quốc gia và làm điên đầu  chính phủ Thái Lan.

Chúng ta có nguồn gốc phân hóa từ trong máu, không ai phục ai. Hễ ai nổi lên một chút là họ kéo xuống ngay bằng tất cả những phương tiện bỉ ổi nhất. Giáo sư  Đoàn Viết Hoạt người tranh đấu cho tự do Việt Nam, người đã bị mấy chục năm tù ở Việt Nam. Đồng ý với ông hay không là quyền của mỗi người, nhưng ta phải công nhận một điều ông là một trí thức biết dấn thân, nói với ông, đối xử với ông bằng lễ độ của một con người. Thế mà qua tới đây họ xúm lại đốt ông ngay, cho ông có những giải pháp thân cộng, ông không dám cựa quậy và thận trọng ra mặt trước đám đông, mặc dù ông được quốc tế trao những giải thưởng cao quý về hành động  anh hùng trong việc tranh đấu cho tự do dân chủ. Nếu Bác sĩ Nguyễn Đăng Quế ra hải ngoại thì cũng chung số phận với  giáo sư Hoạt thôi. Sự chọn lựa ở lại Việt Nam của Bác sĩ Quế thấy thế mà lại hay. Nói vậy để thấy rằng làm sao có đoàn kết khi mà những người cùng cảnh ngộ không tương nhượng nhau, không biết thương yêu nhau, không chịu lắng nghe. Ai cũng khăng khăng bảo vệ  thành trì lỗi thời của mình, chia năm xẻ bảy, lòng người tan nát. Nếu ở đây biết đoàn kết, đi đúng con đường gọi là “chính nghĩa” thì chính quyền trong nước cũng phải sợ và người Mỹ ở đây cũng nể nang. Đằng nầy nó rệu rã, tan thương mà ai có chút tâm huyết cũng phải đau lòng.

Tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba. Đầu óc trong vắt, không biết gì về cuộc chiến, không hận thù, không tranh đấu. Hãy để cho chúng sống trong hồn nhiên thư thả, đừng cột chúng lại để nghe những điều huyễn hoặc, bắt chúng phải thù hằn. Quả thật mà nói, tuổi trẻ tại hải ngoại được hấp thụ một sự giáo dục tuyệt vời, được sống trong tự do và thụ hưởng những quyền lợi về tinh thần cũng như vật chất. Một ngày nào đó về trong nước, nó bị tước đoạt những quyền căn bản đó thì tự nó sẽ nhìn ra và phản kháng. Những người sống tại nước ngoài mang tâm trạng thua trận, bị dằn vặt về quá khứ, đau nhức với những hào nhoáng xưa cũ, qua đây muộn màng, không vốn liếng, trắng tay nên phải đi “cày” để nuôi sống gia đình. Nhưng bù lại họ có một niềm vui, một niềm hãnh diện là con cái họ phần đông thành đạt trên đất nước văn minh, không thua kém người dân bản xứ.

Trong lúc đó thì những người thắng trận trong nước thì say sưa, hả hê, tự hào và hưởng những vật chất do quyền thế tạo ra. Vì quyền lợi quá lớn họ không muốn thay đổi, cố bám trụ mặc dù họ biết rằng đầu óc của họ bị đông cứng, không theo kịp đà tiến hóa bên ngoài. Thế nhưng họ buông tay tức là đồng nghĩa với tự sát. Vì thế họ gạt phăng tất cả ôm giữ cái thành trì mục rả để hưởng thụ. Ai đụng tới là họ nhân danh thế hệ chiến tranh để chứng minh quá khứ, một quá khứ hào hùng thần thánh. Khi tới tuổi lủ khủ không làm gì được nữa thì phê phán, chỉ trích, chống đối để nhân dân biết rằng họ có tâm huyết vì dân vì nuước.

Nhân dân tôi từ trong nước ra tới hải ngoại đều chịu số phận giống nhau, việc làm của những người có chức có quyền ï không bao giờ trúng với suy nghĩ của họ nhất là về chính trị, họ biết sai nhưng vẫn cứ làm. Vì thế xẩy ra nhiều nghi kỵ, người dân dững dưng với chính quyền (trong nước), với cộng đồng (hải ngoại) đó là lẽ thường tình.  30 năm rồi, tất cả đều thay đổi, tất cả đều vượt lên, thế mà đầu óc của chúng ta 30 năm sau vẫn y sì như cũ, không thay đổi chút nào, lạ thật.

30-4-2005

-Trần Trung Đạo: “30 năm, nỗi đau chưa thấm”, talawas ngày 25-4-2005
-Nam Dao: “Việt Nam, con người từ những bóng ma”, talawas ngày 28-4-2005
-Lê Đăng Hoàng: “Một vài suy nghĩ chung quanh bài viết của Trần Trung Đạo”, talawas ngày 18-4-2005

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: