Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • It's a Family Affair...

    Trains (over the bridge)

    Burrowing Owl

    Morning sunlight2

    Entrapment

    Ceannabeinne

    Mammatus over Kansas

    Cuckoo, Cuckoo

    Aliens - dormant...

    b r û l é e | marin county, california

    More Photos
  • Lưu trữ

LỜI GIỚI THIỆU CỦA TRẦN DOÃN NHO

Posted by phanxuansinh on Tháng Sáu 27, 2009

Vài suy nghĩ về
“Sống với thời quá vãng” của Phan Xuân Sinh.

Đây là tác phẩm thứ năm của Phan Xuan Sinh và là tác phẩm văn xuôi thứ hai của anh. Ba tập kia là ba tập thơ. Anh vốn là một người làm thơ và nhiều bài thơ của anh đã đi vào lòng độc giả với cái “chất” hiện thực chan hòa trong lối lý sự rất riêng của Phan Xuân Sinh.

Thời gian sau này, người ta ít thấy anh làm thơ mà viết truyện, viết ký. Bốn năm sau tập văn xuôi Bơi trên dòng nước ngược, anh cho in tác phẩm văn xuôi thứ hai: Sống với thời quá vãng. Cũng như tác phẩm trước, đây là một tạp bút, vừa truyện ngắn, vừa ký và có lúc vừa ký vừa tùy bút và bài cuối cùng lại là một bài vừa như tùy bút lại vừa mang tính cách chính luận.
Ngoài Những con người hiển thánh, truyện ngắn lịch sử, đề cập đến một trong những khuôn mặt chống Pháp kiên cường của đất Quảng Nam là ông Nguyễn Duy Hiệu, có thế nói tác phẩm mới này của Phan Xuân Sinh gói gọn trong một chữ: về. Về, đối với những việt kiều, bây giờ là chuyện “thường ngày ở huyện” nếu không muốn nói chỉ còn là chuyện trời nắng trời mưa, không mấy ai thắc mắc. Nhưng với Phan Xuân Sinh, về vẫn là chuyện “bất thường”, vẫn là nỗi trăn trở, vẫn là những dấu hỏi đôi khi dường như chẳng có lời giải đáp. Có những trắc trở, những dấu hỏi hoàn toàn có tính cách cá nhân, nhưng cũng có những dấu hỏi mà tác giả đặt ra cho  xã hội, và cho cả lịch sử.
Hai truyện  Ánh sáng cuối đường hầm và Khi con đường không lối thoát mô tả hai cuộc trở về của hai nhân vật nữ, một là của người vợ về thăm lại chồng con và một là của người con về tìm lại mẹ. Tuy người về khác nhau nhưng chủ đề lại giống nhau là cảnh gia đình ly tán hậu-1975 của những gia đình miền Nam: vợ bỏ chồng bỏ con trong lúc người chồng đang chịu cảnh tù-không-án trong các trại cải tạo. Trong Ánh sáng cuối đường hầm, người vợ bỏ gia đình là vì tai nạn (bị hải tặc hiếp trên đường vượt biển) còn trong Khi con đường không lối thoát, thì người vợ cố tình bỏ chồng con để lấy người khác. Do cái khác nhau trong ý định, một người vợ thì được có “ánh sáng cuối đường hầm” gặp lại được chồng con, được chồng con thông cảm và tha thứ, còn người vợ kia kia thì “không lối thoát” chỉ vì quyết định sai lầm của mình trong quá khứ là không thể sửa chữa được. Nhưng dù là kết thúc kiểu nào, những vết thương dường như không thể nào thành sẹo, nói gì đến chỗ lành lặn như xưa. Chả thế mà sau khi kết thúc truyện rồi, dù nhân vật đã tìm thấy chút ánh sáng cuối đường hầm, tác giả còn viết thêm: “Tôi không đủ chữ nghĩa để mô tả lại cái đau khổ tột cùng của chị, cái chờ đợi mỏi mòn của chồng con chị. Tôi là người ghi nhận vô cùng thiếu sót, mong chị lượng tình tha thứ. Song tôi nghĩ dù sao đi nữa câu chuyện nầy cũng làm cho nhiều người cùng hoàn cảnh thấy được chính mình, cho người khác thông cảm những mảnh đời oan ức của những người đàn bà bị làm nhục, bị dày xéo, đọa đày.” (Ánh sáng cuối đường hầm)
Đó là hai câu chuyện đầy xúc cảm. Nó hư cấu mà vẫn thật. Thật mà như hư cấu. Những câu chuyện như thế không phải Phan Xuân Sinh là người viết đầu tiên. Ta có thể đã đọc hàng chục lần qua nhiều câu chuyện kể khác nhau về cùng một đề tài. Thế mà đọc lại, những cảm xúc vẫn mới mẻ tựa như lần đầu. Có lẽ vì chúng phổ biến, chúng gần gũi và rõ nét quá đến nỗi ai cũng cảm thấy như các sự kiện bi thảm diễn ra đâu đó chung quanh đời sống chúng ta.
Qua  những số phận rất riêng, thực ra, Phan Xuân Sinh muốn nói lên một cái rất chung: vết thương chia cắt dân tộc qua những năm dài chiến tranh và hơn ba thập niên không-chiến-tranh mà chưa có dấu hiệu gì đã được chữa lành. Bằng những ghi nhận sắc nét và cụ thể từ hiện thực, qua một chuyến trở về với vô vàn cảm xúc, Phan Xuân Sinh đã cung cấp cho người đọc những hình ảnh và những sự kiện rất thấm thía. Đây là một tác phẩm văn chương, cố nhiên. Nhưng mọi cái toát ra từ đây không chỉ là văn chương. Mà là một tấm lòng. Một bày tỏ. Một mối quan hoài. Và cuối cùng, một niềm hy vọng. Khác với lúc làm thơ đôi khi anh dùng ẩn dụ, ví von, lúc viết văn, Phan Xuân Sinh thành thật, bộc trực, không quanh co, úp mở và không triết lý suông. Tình cảm của anh tỏ lộ trên từng câu văn, giòng chữ. Trong Gió bụi một thời, anh mô tả về chính anh, một Phan Xuân Sinh trẻ tuổi bị lọt ngay giữa giòng xoáy của chiến tranh, với những kinh nghiệm vừa bi vừa hài khi lần đầu tiên chạm mặt với cuộc tử sinh qua tư thế của một sĩ quan tác chiến. Cuối bài, anh viết:
Tuổi trẻ của tụi tôi thế đó, được trui rèn và trưởng thành trong chiến tranh. Ngụp lặn giữa một biển lửa ngùn ngụt thiêu hủy tất cả. Sống sót được đó là một phép lạ. (…) Cái hồn nhiên không có trong tuổi trẻ của chúng tôi, mà hạt mầm nầy nó đã chai cằn và lụi tàn trong bệnh hoạn. Những gì nhớ lại đã trải qua trong thời chinh chiến, nó giống như một cơn lốc cuốn phăng tất cả chỉ còn để lại hoang tàn đổ nát cho một đất nước điêu linh, lòng người tan vỡ. (Gió bụi một thời)
Hết chiến tranh, cái “hoang tàn đổ nát cho một đất nước điêu linh, lòng người tan vỡ” không hề hết theo, mà còn được tiếp nối và dường như có phần sâu đậm thêm. Như hàng triệu người việt Nam khác, anh đành phải rời bỏ quê hương; rời bỏ quê hương lại khát khao được trở về; nhưng khi trở về rồi thì hoàn toàn bị hụt hẫng: quê hương không nhìn nhận đứa con xa xứ. Cảm giác bị xem như một người lạ ngay chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình là một kinh nghiệm mới mẻ đầy chua xót. Phan Xuân Sinh viết: Cái nhìn và cách đối đãi của họ với tôi như một người khách. Cách hành xử nầy làm cho tôi thấm đau như có ai đó nhổ toẹt vào mặt mình. Chúng tôi không có tội gì hết, khi xa quê hương chúng tôi đau lắm vì nơi đây chôn nhau cắt rún, cha mẹ anh em đang hiện diện ở đây và rất nhiều, rất nhiều cái lý do khác không dễ gì dứt bỏ ra được. Thế nhưng trong hoàn cảnh bắt buộc phải rời xa đất nước. Đó là điều đau lòng cho tất cả những người đang xa xứ. Trong những ngày trở về, tôi ít đi đâu vì tôi mang một mặc cảm xa lạ, nên suốt ngày quanh quẩn trong nhà. Để tìm lại những thân thiện, những tình cảm mà tôi tưởng chừng như bị đánh mất ngay cả những người ruột thịt với mình. Tôi không muốn làm một người khách lạ. (Người khách trên quê mình)
Vì không muốn làm người khách lạ, cho nên dù có bị từ rãy, kẻ ly hương vẫn cứ trở về. Chuyến trở về lần thứ hai được ghi lại một cách tỉ mỉ trong bút ký Chuyến về quê nhà. Đây là bài viết dài nhất và có lẽ là bài viết “nặng ký” và nhiều cảm xúc nhất trong tác phẩm. Bài viết chứa đựng một lượng thông tin dồi dào về người về cảnh về tình, nhất là những gì dính dáng đến anh chị em cầm bút ở miền Nam từ sau tháng 4/1975. Tôi là người chưa có dịp trở về  từ ngày ra đi (9/1993), nên những gì Phan Xuân Sinh ghi lại lại càng lý thú. Bài bút ký chia làm bốn phần: đến Sài Gòn, đến Đà Nẳng, đến Huế rồi trở lại Sài Gòn. Tuy chỉ dừng chân ở một vài nơi, nhưng cảnh, người và tình đuợc mô tả đan xen lẫn nhau khiến cho những ai chưa từng trở về có thể theo bước chân Phan Xuân Sinh để được cảm nhận một số nét khá ấn tượng của một miền đất 33 năm sau biến cố tháng 4/1975. Thay vì quanh co dài dòng, tôi xin ghi lại một vài trích đoạn từ bút ký đặc biệt này để giới thiệu cùng bạn đọc.
Lúc vừa đến Sài Gòn:
Đoạn đường từ phi trường về chợ Bà Chiểu, hai bên phố xá liền khít nhau, cái cao cái thấp, kiểu cọ, cầu kỳ tạo nên Sài Gòn có một bộ mặt vừa khang trang và cũng vừa lủng củng, trông thật buồn cười.
Thỉnh thoảng tôi đọc được vài tấm biểu ngữ bằng vải treo ngang đường, đại khái “Mừng Chiến Thắng Tết Mậu Thân”. Mới đó đã 40 năm rồi! Một cái Tết đau thương, khổ nạn của dân tộc mà không một ai còn muốn nhớ lại nó, muốn nó chìm mãi vào quên lãng. Thế mà người ta vẫn muốn nhắc lại một hành động không mấy tốt đẹp, chà đạp lên lời hứa ngưng bắn để tấn công vào dịp Tết, làm cho người dân sửng sốt, ụp lên đầu tai họa biết bao nhiêu gia đình. Cho đến bây giờ mà vẫn hô hào cho đó là một chiến thắng, nghĩ cũng lạ thật.
Về những cây bút miền Nam cũ:
Đây là những con người một thời có chỗ đứng trên văn đàn Miền Nam. Sau cơn lốc 75, họ không được quyền cầm bút, mà có viết lại cũng không có nơi nào đăng hoặc xuất bản các sáng tác của họ. Ba mươi ba năm sau, ai còn nhớ tới họ?  Chỉ có những người sống trong Miền Nam trước đây, tha thiết với văn chương chữ nghĩa họa hoằn lắm mới nhớ đến tên của họ, nhưng số người nầy nay đã già, đã cằn cỗi. Rồi tên tuổi của họ cũng rơi vào quên lãng. Những năm gần đây tại hải ngoại, nhà văn Trần Hoài Thư đã nhìn thấy được viễn ảnh nầy, nên anh vào các thư viện Quốc Hội Mỹ, thư viện Đại Học Cornell lục soạn lại những tạp chí Miền Nam cũ, những tác giả cũ, rồi photocopy, về nhà đánh máy lại, in lại bằng phương tiện bán thủ công, đóng thành tập đồ sộ như “Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến – 2 tập”, “Một  Thời Lục Bát  Miền Nam”. Và vài tác phẩm khác anh in lại.  Những tác giả Miền Nam được anh nhắc lại thật trang trọng, để những người yêu văn chương gìn giữ, để những tác giả còn thấy mình được anh em nhắc tới, an ủi được một phần nào. Họ là những người oan ức bị những người thắng trận vùi dập. Tác phẩm của họ bị bức tử theo chính kiến của những người làm chính trị, mặc dù họ thuần chất văn chương.
(…) Những người viết cũ phần đông họ mai danh ẩn tích không ai biết, hoặc có người còn viết nhưng chỉ cầm chừng cho mấy tờ báo hải ngoại như Phạm Ngọc Lư, Lê Văn Trung, Uyên Hà v.v.. Thành phần nầy thật hiếm hoi, phần đông anh em tự động nghỉ, mà không nghỉ cũng không được, âm thầm rút vào bóng tối, để các người làm văn nghệ thắng trận múa may trên văn đàn. Tâm trạng của họ vừa u uất vừa ê chề, vừa đau đớn vừa lạnh nhạt. Có cơ hội anh em gặp nhau là họ xổ toạc ra những gì trong lòng họ chất chứa. Tôi hoàn toàn đồng cảm với anh em trong tình thế nầy. Họ cũng nhớ lại một thời Bách Khoa, Văn, Văn Học v.v… của Sài Gòn mà họ đã từng cộng tác. Nhìn họ bây giờ thật tội nghiệp, hơn 33 năm trên sân chơi văn chương thiếu vắng họ. Họ phải mưu sinh bằng những nghề nghiệp thật tầm thường, có ai biết một thời họ là những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của Miền Nam trước đây.
(…)Tôi cũng có những buổi café ngồi nói chuyện với một số anh em văn nghệ cũ, họ cũng không còn nghĩ tới chuyện viết lách trở lại. Có lẽ vì ngưng nghỉ lâu quá, vì lý do tuổi tác, vì sợ đụng chạm, vì không có nơi xuất bản v.v…, và hàng trăm lý do khác mà họ không thể cầm bút trở lại. Họ mang trong lòng những u uất, những dằn vặt nên cái nhìn của họ khá bi quan với cuộc sống hiện tại,  Khi ngồi nói chuyện, đụng tới chuyện văn chương là họ có dịp xổ ra tất cả những gì chất chứa từ lâu trong lòng, những phán xét của họ trong mọi lãnh vực đều mang cái ý nghĩ bất như ý, không hài lòng chút nào. Dĩ nhiên có cái đúng có cái sai, chúng ta cũng phải thông cảm cho những con người thấp cổ bé miệng.
Thật chua xót và ngậm ngùi!
Về những kẻ theo đóm ăn tàn:
Ngoài ra, một thành phần khác, thuộc loại cũ, không tiếng tăm lắm, lại muốn ngồi trên ghế văn nghệ “chính thống” nên họ lăm le, quỳ lụy, bon chen để có chân trong Hội Nhà Văn. Họ rất hãnh diện được đứng vào hàng ngũ nầy. Trong tác phẩm của họ bao giờ cũng có đề “Hội Viên Hội Nhà Văn…”, nếu không được đứng trong hàng ngũ nầy , thì ít ra họ cũng đứng trong hàng ngũ “Hội Viên Hội Văn Nghệ…” tỉnh gì đó. Có lẽ tôi ở vào cái tuổi đã già, mệt mỏi trong những chuyện bon chen và hơn nữa, không là người trong nước, nên. nhìn thấy những hình ảnh nầy thật tôi nghiệp cho những văn nghệ sĩ. Cần thiết đến mức độ mà phải hạ nhân cách để tìm một chỗ đứng như vậy sao? Nhìn thấy những vấn đề nầy, ta có thể hình dung ra được văn nghệ sĩ trong nước được phân chia rành rọt: Chiếu trên, chiếu dưới. Chiếu nhỏ, chiếu lớn. Chiếu trung ương, chiếu địa phương v.v… Một người bạn không thuộc giới văn nghệ, cho tôi biết sở dĩ có tình trạng nầy vì chính cái cơ chế nó như vậy, nên buộc lòng những người từ lớn tới nhỏ phải răm rắp tuân theo. Nếu không thì sẽ bị guồng máy nầy nghiền nát. Cũng tôi nghiệp cho họ, cũng vì tha thiết với chữ nghĩa nên họ phải bám theo. Nếu được tự do viết, tự do xuất bản thì mấy cái  “Hội” từ lớn tới nhỏ tự nhiên phải dẹp tiệm. Thật ra, văn học nghệ thuật đích thực là chỗ dành cho những người có tài, có khả năng thi thố tài năng và từ đó mới có các tác phẩm hay, giá trị và họ sẽ được mọi người biết đến và trân trọng, chứ không cần phải có một chổ dựa nào cả.
Về việc in tác phẩm ở trong nước:
Tôi về Việt Nam trong chuyến nầy, nhà xuất bản Văn Nghệ có in cho tôi một tập thơ, theo lời rủ rê của vài người bạn thân, tôi in một tập ở đây để biếu anh em, vì in ở Mỹ mang về khó quá. Theo dự trù, tập thơ sẽ in xong trước Tết, thế nhưng vào giờ chót không kịp. Nhà in hẹn mồng 8 Tết sẽ giao. Tập thơ mang tên: “Khi Tình Đang Ru Đời”. Đúng ra tập thơ 225 trang, tôi layout sẵn. Thế nhưng khi nhận tôi nhìn thấy thay đổi tất cả, kể cả layout. Anh Tần Hoài Dạ Vũ (một nhà thơ trước 75) báo cho tôi biết là tập thơ bị kiểm duyệt 8 bài và 5 bài viết về tôi của Nguyễn Đình Toàn, Luân Hoán, Nguyễn Mạnh Trinh, Vương Trùng Dương và Lương Thư Trung bi cắt. Tập thơ chỉ còn lại 115 trang. Lý do vì sao bị kiểm duyệt? Tôi không được nghe chính thức giới có thẩm quyền nói ra, chỉ nghe qua người khác nói lại là những bài thơ bị kiểm duyệt có chút ít đụng chạm. Những tác giả viết về tôi, không phải là người trong nước viết nên bị loại. Đơn giản như vậy. Khi in tập thơ nầy, chính tôi đã tự kiểm duyệt, chỉ lựa ra những bài thơ vô thưởng vô phạt, thế mà cũng chưa vừa lòng người kiểm duyệt. Tôi là người viết ở hải ngoại, người đọc tác phẩm tôi là người đang sống tại hải ngoại. Có ai trong nước đọc được của tôi đâu để viết về tôi. Một sự đòi hỏi thật vô lý, tréo cẳng ngỗng. Thế nhưng người kiểm duyệt hình như họ không cần phải biết những điều như vậy. Họ chỉ là những bộ máy nghiền nát theo một chính sách chung. Thật khó lòng cho những ai muốn về nước để in ấn, khi bộ máy nghiền nầy chưa được tháo gỡ.
Chỉ qua một vài trích đoạn bút ký Chuyến về quê nhà, ta thấy ngay tính cách thẳng thắng, bộc trực của tác giả. Tác phẩm Sống với thời quá vãng khép lại bằng Nhặt lại những mảnh vụn. Tuy pha trộn nhiều cách viết, nhưng nội dung chính của bài viết mang tính chính luận. Có thể xem đây là suy gẫm về quê hương đất nước của Phan Xuân Sinh sau khi trải qua bao nhiêu cảm khái của một chuyến trở về:
30 năm ngồi nhặt lại những mảnh vỡ, xếp lại cho thật hoàn chỉnh, nhưng cố gắng bao nhiêu vẫn không xóa mờ được những vết nứt. Tuy những tì vết nầy nó không còn đậm nét, không còn tách lìa như trước đây, thế nhưng nó vẫn còn những vạch chia cắt không hết được. (…) Đúng , sai, công, tội của cuộc chiến cho đến bây giờ phán xét vẫn còn thấy sớm. 30 năm mà còn sớm thì quả thật là vô lý, nhưng trường hợp của Việt Nam là như vậy. Gạt Mỹ ra ngoài, những người cầm súng của đôi bên Nam Bắc vẫn còn sống sờ sờ. Nói bên nầy sai, bên kia đúng hay ngược lại đều bị búa rìu bổ lên đầu, những người tham chiến của đôi bên vẫn còn đau nhức. Thôi thì xin dành cho lịch sử sau nầy phán xét. Tôi nói những gì mà nó đã vỡ tan tành, nhặt lên để soi lại với tấm lòng của người trẻ trong cuộc chiến hôm qua và sắp sửa bước vào tuổi già hôm nay còn tha thiết với quê hương dân tộc. (Nhặt lại những mảnh vụn)

Buồn hay vui, hy vọng hay tuyệt vọng, văn chương vẫn là phương tiện chuyên chở cuộc sống của con người. Sống với thời quá vãng phản ảnh phần nào những hiện thực sắc nét của hiện thực qua ngòi bút trung thực của một con người đã trải nghiệm cuộc bể dâu với nhiều biến khúc bi thương của đất nước, của xã hội và của số phận cá nhân.
Với tư cách là người bạn văn của Phan Xuân Sinh đã từng trải qua bao buồn vui của hơn một thập niên sinh hoạt văn nghệ tại thành phố Boston, tôi viết đôi dòng cảm nghĩ về đứa con tinh thần mới nhất của anh: Sống với thời quá vãng.
Xin chào mừng tác phẩm thứ năm của Phan Xuân Sinh và trân trọng giới thiệu Sống với thời quá vãng cùng bạn đọc.

Trần Doãn Nho
Boston, tháng 12/2008

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: