Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • It's a Family Affair...

    Trains (over the bridge)

    Burrowing Owl

    Morning sunlight2

    Entrapment

    Ceannabeinne

    Mammatus over Kansas

    Cuckoo, Cuckoo

    Aliens - dormant...

    b r û l é e | marin county, california

    More Photos
  • Lưu trữ

Phiếm Luận: Đụng Vào Cõi Văn Chương

Posted by phanxuansinh on Tháng Năm 30, 2009

Đụng vào cõi văn chương

Tác giả:  Phan Xuân Sinh
Lời Mở Đầu: ” Đây là một câu chuyện tưởng tượng, nếu có sự trùng hợp đó chỉ la ngẫu nhiên chứ không phải cố tình của tác giả. Kính mong quý vị lượng tình tha thứ. PXS”

Trên chiếc chiếu văn chương hải ngoại (tôi không biết trong nước có như vậy không?) thì lắm trò, lắm kiểu, có nhiều khuôn mặt kỳ lạ, họ luôn luôn làm những điều nỗi cộm để thiên hạ chú ý. Chẳng hạn như hội ộhọp, tham dự những buổi sinh hoạt văn nghệ, bao giờ họ cũng tới trễ. Khi vào thì đi đứng nghênh ngang, mặt thì hầm hầm, không thèm ngó ai chứ đừng nói gì đến chuyện chào hỏi. Khi được mời lên phát biểu thì họ ăn nói linh tinh, lập dị, cố tình lạc đề, thể hiện cho mọi người biết họ xem thường tất cả. Khi ngồi trước đám đông anh em, họ sợ người ta không biết họ là ai thì họ ăn nói khoác lác, coi thường mọi người, họ giành nói hết chuyện nầy tới chuyện khác, không cho ai nói. Có một lần ngồi nhậu, cũng cái kiểu ăn nói trên trời như vậy, từ đầu tới cuối không cho ai nói. Một ông nhà thơ thấy gai mắt, đang trong tình trạng ngà ngà, mượn rượu ông nói thẳng vào nhà văn ấy: “Thưa ông nhà văn kia, tôi đến đây chơi với anh em. Tôi cũng có miệng ăn miệng nói, ông để cho tôi ăn mà không cho tôi nói, ông giành nói hết. Tại sao vậy?” Cả bàn nhậu chưng hửng, rồi ôm bụng cười. Thế là gây ra một mối thù không đội trời chung.

Ở hải ngoại làm báo dễ dàng, người làm báo chỉ cần có khả năng đi lấy quảng cáo, chìu lụy thân chủ quảng cáo, tờ báo sẽ sống được. Quảng cáo nhiều, người chủ báo sẽ giàu. Bài vở cỡ nào cũng có, đáp ứng mọi thị hiếu của người đọc. Vào internet chúng ta sẽ có ngay những tin tức văn chương, chính trị, kinh tế v.v… nóng hổi nhất, cập nhật hóa được mọi tin tức mà không sợ bị lỗi thời. Có những người say mê với nghề làm báo, tôn trọng độc giả và sợ đụng chạm vì như vậy sẽ mất uy tín, nên tờ báo của họ được chăm sóc kỹ lưỡng. Còn có một thành phần xem tờ báo của mình là một phương tiện để thể hiện cá tính riêng của mình, đăng hình vợ con cháu chắc, để cho độc giả biết cái hạnh phúc của mình. Một ông chủ báo kể cho tôi nghe trường hợp của ông. Trong một tờ báo xuân cuối năm, ông đem hình con gái ông để làm bìa, phía dưới có hàng chữ: “Ái nữ của bổn báo Chủ nhiệm”. Một độc giả thấy gai mắt gọi tới ông và chỉ nói vổn vẹn một câu rồi cúp máy: “Ông còn hình nào của vợ lớn, vợ bé mang ra đăng luôn, xem như quảng cáo cho gia đình ông, để thiên hạ biết.”

Có tờ báo muốn làm chức năng ‘cảnh sát” sẽ thổi còi những tờ báo nào mà không đúng quy luật, đi chệch đường, họ sẵn sàng đụng chạm, gây hấn, tranh cải (Chẳng biết căn cứ vào đâu để có cái quy luật bất thành văn kỳ lạ nầy). Họ xem như họ là đấng quyền năng tối cao, ban phát hay trừng phạt, đề cao hay hạ nhục. Họ có quyền làm điều đó một cách tự nhiên mà không sợ ai cả. Một cảnh sát công minh, vô tư hướng dẫn những cổ xe dư luận đi vào bên phải hay bên trái. Thế nhưng cái quan trọng là làm thế nào để thể hiện cái “vô tư” khi mà chính bản thân của mình đã thiếu vô tư. Tờ báo của mình cũng tranh giành quảng cáo với những tờ báo khác, kèn cựa giá biểu quảng cáo và còn vô vàn cái tranh giành khác để sống còn. Cho nên người đọc tại hải ngoại không lạ gì với cuộc chiến tranh báo chí. Báo nầy chụp nón cối cho báo bên kia, báo bên kia lượm lên chụp lại bên nầy, như vậy bên nào cũng cộng sản cả. Người đọc đứng giữa không biết tin bên nào, vì lý lẽ bên nào cũng đúng. Đích thực không bên nào là cộng sản nhưng hai bên đều ngụy tạo để vu cáo nhau. Còn văn chương được viết để đánh đấm nhau thì vô cùng hạ cấp, cốt để hạ nhục đối phương, phủ đầu đối phương.

Căn bệnh thứ hai của báo chí là dạy cho người khác một bài học. Tâm trạng họ mang trong người là đứng phía trên nhìn xuống phía dưới, dạy cho bọn lóc nhóc một bài học. Giống như Trung Cộng năm 79 dạy cho đàn em Việt Nam một bài học vậy. Muốn làm giáo sư luân lý mà quả thật trong lời lẽ chẳng có chút luân lý nào. Ghét ai là họ châm chọc, soi mói, hạ nhân cách. hạ nhục đối phương. Người bị họ đụng tới thường là những người nổi tiếng, có nhân cách, được nhiều người nể trọng. Họ đụng tới thành phần nầy để người khác biết là cở nầy mà họ còn dám đụng, thì người khác phải coi chừng. Đó là đòn dằn mặt kẻ khác đừng lén phén sẽ mang họa. Quan niệm của họ là làm như vậy mới được nổi tiếng, các tờ báo khác khiếp sợ, họ xứng đáng lãnh tụ báo chí. Những người tranh đấu ở tù mục gông dưới chế độ công sản như Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện mà họ cũng không tha, riết rồi các ông nầy không dám có mặt giữa đám đông. Phải sống ẩn dật. Có tờ báo trong tay là họ muốn ai ai cũng phải tùng phục. Nghe tên họ ai cũng sợ phải lo tránh xa. Ở Boston trước đây có một tờ báo chuyên chửi bới người khác. Họ moi những thâm cung bí sử, tam cổ tứ đợi của người ta ra chửi bới. Người viết mục chửi nầy một hôm ngồi nhậu với anh em. Tôi hỏi ông làm sao ông biết đời tư của họ mà ông moi móc chửi rủa như vậy. Ông ấy trả lời tỉnh bơ: “Làm gì biết được đời tư của nó, mình phịa ra đấy chứ để có cớ chửi nó. Nó không loạn luân thì mình viết nó có loạn luân, ai biết điều nầy? Nó thì không có báo, làm sao phân bua được.” Thú thật tôi chưng hửng với cái lý lẽ như vậy. Còn thơ mà ông gọi là thơ chua thì tục tằn không chịu được, ông dùng những từ ngữ dâm ô, hạ cấp, mắng mỏ, lăn nhục người ta. Ông từng hăm dọa người khác là phải chìu chuộng ông, nếu không thì “tớ” sẽ cho một bài thơ chua thì xem như tàn đời. Ghê chưa. Từ đó, tôi bắt đầu lánh xa con người nầy.

Có một ông chủ một tờ báo nổi tiếng về đánh đấm, gây sự. Các tờ báo cùng địa phương không dám hó hé, ông viện dẫn những lý do thật vô lý để có cớ hạch sách người khác. Một hôm, gặp ông trong một bữa tiệc của người bạn. Ông khẳng định với mọi người là Trịnh Công Sơn là Cộng sản. Một người nào đó hỏi ông cho biết cái gì để ông quả quyết chuyện đó là có thật. Ông chứng minh ngay trong bản nhạc của Trịnh Công Sơn có câu: “..Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, thổi suốt trăm năm một cõi đi về…” đủ nói lên Trịnh Công Sơn là tên Cộng Sản. Rồi ông giảng giải, “nhật nguyệt” tức là “minh”, mà “minh” tức là Hồ Chí Minh. Trời đất, tôi tưởng rằng ông chứng minh hành động, tư tưởng gì mà Trịnh Công Sơn đã thể hiện đi theo phe bên kia, chứ còn vì chữ “nhật nguyệt” để rồi khẳng định người ta là cộng sản thì tội nghiệp cho người ta quá. Ngồi trong bàn ai cũng lắc đầu, nhưng không ai dám cải vì trong tay họ không có gì cả, còn ông kia có tờ báo trong tay. Đụng tới, ông phang trên báo thì mình lấy gì đỡ. Thôi thì làm thinh cho qua chuyện, dây dưa làm gì cho thêm rắc rối. Ông nhà báo nầy không biết điều đó mà cứ nghĩ cái lý luận của ông đúng, nên mọi người im re, không ai lên tiếng.

Những người mang căn bệnh gây sự, trước hết làm cho người đọc chú ý bằng cách hạ địch thủ một cách thậm tệ, dù người đó thuộc bậc thầy của minh. Khi chê bai như vậy, cho người đọc biết văn chương cở đó mà còn bị hạ đo ván thì người viết phải cao siêu hơn. Đó là sách lược chung chung cho những người viết bài đánh đấm người khác. Họ trông cho người bị họ đánh viết bài trả lời, vì như vậy sẽ trúng vào điều mong ước của họ, gây cho độc giả chú ý đến cuộc bút chiến nẩy lửa nầy. Từ nhân vật vô danh tiểu tốt, họ được bút chiến với nhân vật thành danh, tên tuổi của họ tự nhiên được người kia quảng cáo không công, nổi lên như cồn. Họ đau khổ nhất là họ thức đêm thức hôm, nặn đầu óc cho ra để viết bài chửi rủa, mà người kia chẳng thèm trả lời, không thèm để ý tới, cứ yên lặng, khinh bỉ. Đó là thái độ khôn ngoan nhất của những người bề trên. Mà trả lời làm gì, hơn thua làm gì với những kẻ lấy sự chửi bới, đả kích làm phương tiện dấn thân vào chốn văn chương.

Đúng ra giới văn chương là giới thấm nhuần những đức tính tự trọng, khiêm nhường nhất. Họ là những người đọc sách, viết sách, là những người đụng với chữ nghĩa, chơi với chữ nghĩa, biến chữ nghĩa trở thành những món ăn tinh thần bổ ích. Thế nhưng trong giới nầy có nhiều thành phần mang căn bệnh nầy nhiều nhất. Căn bệnh Tự Cao, Tự Đại. Cái hống hách, hợm hĩnh, coi trời bằng vung. Coi ai cũng không bằng mình, mình là nhứt thiên hạ, là minh chủ văn chương v.v… Hiện tượng nầy không nâng họ lên cao, mà đẩy họ xuống vực sâu. Thế mà họ đâu biết điều đó, họ cứ vênh váo tỏ vẻ cho mọi người biết sự hiện diện của họ. Thường thường những thành phần nầy không mấy tiếng tăm, tiếng tốt thì ít, mà tiếng xấu lại nhiều.
Cách đây mấy năm, có một cuộc sinh hoạt văn nghệ. Các văn nghệ sĩ tham dự bữa đó được giới thiệu. Vì số văn nghệ sĩ quá đông nên có một người bị xướng ngôn viên quên giới thiệu ông đứng dậy để chào mọi người. Thế là ông căm thù người xướng ngôn viên nầy. Thời gian đầu ông để bụng không nói cho ai biết sự căm thù của ông. Nhưng dần về sau ông không thể chịu được nữa nên ông nói ra cho mọi người biết là người xướng ngôn viên đó ganh tài nên không giới thiệu ông. Chuyện nầy nó trở thành một mối thâm thù với ông và ông thề với mọi người là ông không thể nào quên mối hận nầy, đến khi nào ông chết ông cũng mang nó theo với ông dưới suối vàng. Ông có một căn bệnh khoác lác, ông nói với một người bạn là nếu ông viết văn thì phải tầm cở quốc tế chứ không thể xềnh xoàng như Việt Nam được. Chính vì vậy nên ông không viết văn. Còn thơ của ông thì ở trong “Cụm Phong Tình …” gì đó thuộc tầm cở quốc tế, đã bay đi khắp thế giới. Nghe nói nhóm của ông ra mắt sách tận Paris, ông vội vàng mua vé đi ngay để được giới thiệu, đứng dậy, gật đầu chào. Thật đơn giản, ai đi dự bữa đó có nhớ ông là thi sĩ không? Hay đã chìm vào quên lảng, chỉ có như vậy ông phải tốn cả ngàn đồng phí tổn cho chuyến đi Pháp. Họ quan niệm một cách dễ dãi, nổi tiếng không cần qua tác phẩm, chỉ có mặt trong các cuộc sinh hoạt văn nghệ đâu đó, được người ta xướng tên giới thiệu, đứng lên gật đầu chào là hãnh diện với chức thi sĩ, văn sĩ của mình, như vậy là tiếng tăm rồi.
Tôi không hiểu tại sao tên tôi lại lọt vào cái mail list của một ông thi sĩ tại xứ Canada. Lần đầu tiên tôi mới biết tên ông. Ông tự giới thiệu ông là thi sĩ Tản Vân. Tên lạ hoắc, nhưng trong email thi sĩ gửi đi cho mọi người biết là tên của thi sĩ đã đi vào văn học sử. Chỉ có một bài thơ đã làm cho thi sĩ nổi tiếng, từ trong nước ra tới hải ngoại ai ai cũng biết thi sĩ Tản Vân. Một điều lạ là ông dùng ngôi thứ nhất trong xưng hô (tôi) thì ông thay vào chữ “thi sĩ”. Nghe thật chướng tai không chịu được. Thơ của ông cũ rích và sáo mòn vậy mà ông đâu biết điều đó. Cứ mỗi lần làm được một bài thơ mới, ông gửi cho tất cả những người trong mailing list hãy vào xem bài thơ mới sáng tác của “thi sĩ”. Ông giảng giải cho mọi người biết là bài thơ đó ông làm trong trường hợp nào, vì sao ông cảm xúc, giá trị của nó ở chỗ nào. Tôi nghĩ thi sĩ nầy mang bệnh hoang tưởng hay thần kinh có vấn đề. Nhưng không phải vậy, ông đang có văn phòng kế toán, khai thuế gì đó. Nghề nghiệp nầy đòi hỏi chi li chính xác, nếu đầu óc lơ mơ không thể làm được. Đã nhiều lần tôi yêu cầu ông rút tên tôi ra khỏi mailing list (tôi viết rất lịch sự), nhưng hình như ông không cần để ý tới yêu cầu của tôi, hoặc ông không thèm đọc tới. Bực quá, tôi gửi cho ông một lá thư có đượm một chút cay đắng để ông nhìn lại công trình sáng tác của mình. Thi sĩ nó không có “lisence” như bác sĩ, kỷ sư. Danh từ nầy người khác gắn cho mình, chứ không phải tự mình làm được vài câu thơ vớ vẩn rồi tự xưng là thi sĩ một cách hợm hĩnh như vậy. Nguyễn Du có sống dậy cũng không vỗ ngực tự xưng mình là thi sĩ, dù ông ấy đủ tư cách để làm chuyện đó. Tôi khuyên ông hãy khiêm nhường một chút. Ông rút tên tôi ra khỏi mail list của ông ngay lập tức.
Một nhà phê bình văn học (thật ra chẳng thấy ông phê bình ai, chỉ thấy ông đả kích người ta thì nhiều, nhất là những người nổi tiếng). Ông chê hết người nầy tới người khác không chừa một ai. Ông chưa bao giờ khen văn thơ của ai cả. Khi anh em ngồi nói chuyện về một nhà thơ lớn của miền Nam trước đây, thì ông nhảy vào kê ngay: “Bài thơ có mấy chục câu mà đám độc giả làm rùm beng. Tôi làm vài trăm câu còn chưa nói gì.” Theo ông thì cái lượng giết cái phẩm. Trong đầu ông luôn luôn không bằng lòng thơ người khác, chỉ có thơ mình là nhất thiên hạ. Một lần trong một bữa nhậu, ai cũng đứng lên đọc một bài thơ của mình, đến phiên ông ngồi yên không thèm để ý, ăn uống tự nhiên. Người ngồi bên cạnh nhắc cho ông biết tới phiên mình đọc thơ. Ông đứng dậy, nói tỉnh bơ: “Thơ của tôi không thể đọc chỗ nầy, đây là chỗ ăn nhậu chứ không phải chỗ đọc thơ”. Buổi tiệc tan hàng ngay. Làm sao người khác chịu được cái tính khinh người như vậy. Cái tính hống hách và phát biểu linh tinh của ông, có một người nhận định là: “Thằng cha nầy múa tay không qua khỏi đầu.” Không biết câu nầy ai học lại với ông, ông lồng lộn điên lên như gà mắc đẻ. Ông thù không đội trời chung với người nầy. Hể có ai nhắc đến tên người nầy là ông lấn át không cho họ nói thêm: “Ồ, thằng đó mà biết gì văn học mà đề cập tới nó. Hiểu biết của nó chưa sạch nước cản.”
Một người bạn kể cho tôi nghe về trường hợp của anh. Anh là người viết tại hải ngoại, một hôm có một người bạn đề nghị nhờ anh viết lời giới thiệu cho quyển sách mà anh kia sắp xuất bản. Anh hì hục viết lời ca tụng hết mình vì nghĩ rằng đây là cơ hội để làm vui lòng bạn. Khi tham dự ra mắt sách của nhà văn kia, anh đọc lại quyển sách có lời giới thiệu của anh, anh bật ngữa vì lời ca tụng của anh không đủ làm vừa lòng nhà văn kia, nên họ tự ý viết lại mà chẳng thèm hỏi ý kiến của anh. Nghĩa là bài viết mang tên anh, nhưng lời văn không phải của anh, họ viết lời ca tụng không còn chữ nghĩa nào mà hơn vậy, nghĩa là họ tự ca tụng mình, tung hô mình một cách lố bịch mà bắt người khác đứng tên chịu trận. Anh không ngờ một nhà văn có tên tuổi mà còn hám danh như vậy. Hình như đây không phải là trường hợp hãn hữu, rất nhiều người viết bài ca tụng mình mà để tên người khác rồi đăng báo. Đó là một trò chơi không đẹp mà nó còn chà đạp trên nhân phẩm của chính mình. Căn bệnh nầy cũng khá phổ biến trên sân chơi văn chương tuy không rầm rộ, nhưng cũng để một vài ung thối mà người đọc khi biết được thì rất khinh khi.
Lại có một số nhà văn, nhà thơ cần người khác viết lời giới thiệu khen tặng mình. Vì họ quan niệm có được nhiều lời giới thiệu như vậy, sẽ được người đọc chú ý. Họ quên đi rằng tự thân tác phẩm nói lên giá trị hay không, chứ không thể nhờ vả ai được. Một nhà văn nọ gửi cho tôi một tập truyện, đính kèm một tờ giấy bảo tôi sau khi đọc xong, viết cho họ một bài nhận định về tác phẩm đó. Thật tình truyện của người bạn nầy viết cũng được, nhưng cái yêu cầu của họ làm tôi cụt hứng. Viết nhận định tác phẩm là tự ý của người đọc, sau khi đọc xong cảm thấy hứng thú thì viết, chứ ai lại yêu cầu bao giờ. Mỗi lần gặp tác giả tôi phải lo tìm đường rút lui, sợ họ đề cập lại chuyện nầy thì quê lắm.
Có một nhà thơ ở trên Virginia gửi cho người bạn tôi một bản thảo tập thơ, nhờ viết lời giới thiệu. Anh bạn tôi từ chối mãi, ông nhà thơ bảo với anh là viết thế nào cũng được, chơi thôi mà, không sao cả. Anh bạn tôi yên tâm viết khen tặng đủ điều. Sau vài tháng anh không thấy tăm hơi gì về tập thơ. Có dịp anh lên Washington DC chơi thăm một người bạn. Sáng anh dậy sớm, anh vào thư phòng tìm một quyển sách đọc chơi cho đở buồn, vô tình anh thấy tập thơ của nhà thơ nhờ anh viết lời giới thiệu, anh lật ra không thấy lời giới thiệu của anh viết mà do một người khác viết. Anh đọc ngấu nghiến xem thử họ viết những gì. Từ đầu tới cuối toàn những lời khen tặng nức nở, đưa tác giả lên tận mây xanh, không còn chữ nghĩa nào diễn tả hơn được. Xem như trên đời thiếu tác phẩm nầy thì nền thi ca hải ngoại nói riêng, thi ca Việt Nam nói chung thiếu đi một đại tác phẩm. Anh bạn tôi gấp sách lại thộn người ra ngẫm nghĩ một hồi mới rút ra được một bài học. Đừng bao giờ viết lời giới thiệu cho ai nếu mình không đủ chữ nghĩa khen tặng, mà khen tặng không hết lời cũng gây ra một mối thâm thù.
Tôi gặp anh Dương Trung Từ, người đã tố cáo một nhà thơ trên Văn vào thập niên năm 60. Nhà thơ nầy bợ nguyên một bài thơ của một thi sĩ nổi tiếng lúc ấy, mỗi câu sửa lại ít chữ. Chẳng hạn như câu đầu của bài thơ là “Paris có gì lạ không em?”, thì nhà thơ nầy sửa lại là “Huế có gì lạ không em?”. Mỗi câu sửa vài chữ. Anh Dương Trung Từ nói với tôi là anh thấy chướng quá nên viết bài tố cáo trên Văn. Anh biết làm như vậy là sự nghiệp nhà thơ đó tiêu tán đường, nhưng không thể nào để như vậy được. Gặp tôi trên đất Mỹ với cái tuổi 65, anh có vẻ hối hận về chuyện nầy, tuổi trẻ mình hơi nóng nảy đã làm cho một nhà thơ lúc ấy đang lên đành phải để tên tuổi trôi vào quên lảng. Thế nhưng ai cũng tội nghiệp như vậy, người nầy lấy nhầm của người kia, không chỉ trích thì diễn đàn văn học trở thành một mớ bùi nhùi, chẳng ra thể thống gì cả.
Có một nhà văn “tầm cở” đi đâu cũng huênh hoang là ông đã xuất bản vài chục tác phẩm đủ loại: Văn, thơ, kịch, phê bình, nhận định v.v… nghĩa là địa hạt văn chương nào cũng có mặt ông tham gia. Nhưng chẳng có một tác phẩm nào ra hồn để người ta chú ý hoặc người đọc nhớ tên. Ông viết một bài giới thiệu tác phẩm của một người quen, một người khác hỏi ông: “Nhận thấy thế nào về quyển sách nầy mà ông đã viết bài?”. Ông trả lời một cách trịch thượng: “Vì quen biết nể nang mình viết chơi cho vui theo yêu cầu của họ, chứ thật tình chưa được.” Người nầy lại đến hỏi tác giả: “Ông có nhờ người kia viết bài cho ông không?” Tác giả cười lắc đầu trả lời: “Đây là một cuộc chơi, nếu chơi hay thì người ta biết tới, nếu chơi dở thì nó bị hất ra ngoài. Nhờ vả làm gì mất tư cách, mà họ có viết khen mình hết lời mà tác phẩm dỡ ẹt chỉ tố làm cho người khác chửi cho. Bài viết khen của họ cũng không thể làm cho tác phẩm hay lên được hoặc tác giả nổi tiếng được. Và quan niệm của tôi cám ơn tất cả những người viết cho tôi, nhưng tôi không vịn vào đó để tiến thân. Phải tự mình chứ không thể nhờ ai được.” Như vậy chính ông tự nguyện viết chứ không có ai yêu cầu ông làm chuyện nầy. Tác giả họ cũng chẳng quan tâm đến chuyện người viết giới thiệu cái cở như ông. Có người hỏi, ông làm ra vẻ như viết để bố thí, để giúp người ta nổi tiếng, trong lúc sự nghiệp văn chương của ông chẳng tới đâu. Người ta coi ông chẳng ra gì mà ông không biết điều đó, trong đầu ông cứ nghĩ ông là người thuộc cở tiếng tăm. Ông chỉ sống trong ảo tưởng, chứ ông đâu biết cái khen hay chê của ông cũng chẳng có ai thèm để ý. Đến đâu ông cũng vênh váo, không coi ai ra gì. Cái tính tự cao càng ngày mọi người càng lánh xa. Gặp ông một lần viếng thăm California, tôi thấy ông ăn nói huyên thuyên trong các bữa nhậu, chẳng cho ai nói giành nói một mình, nên tôi lẳng lặng rút êm.

Vừa rồi tôi về Việt Nam, tiếp xúc được một số anh em văn nghệ. À, thì ra cũng có nhiều vấn đề lôm côm trong chiếc chiếu nầy. Tôi được nhiều người cho biết ở trong nước thành phần nầy cũng nổi đình nổi đám dử lắm. Họ bỏ tiền túi chạy chọt in một hai tác phẩm vớ vẩn, rồi lại chạy chọt thêm một lần nữa với các quan chức văn nghệ có quyền hành để vào Hội Nhà Văn. Cái sân chơi nầy cũng nhiêu khê: tiệc lớn tiệc nhỏ, cà phê cà pháo, ăn sáng ăn chiều, quà cáp v.v.. nó không còn thanh tao nơi văn hóa, nó giống như khu chợ trời. Người làm văn nghệ đứng đắn lắc đầu ngao ngán khi nhìn cái cảnh chen lấn, bát nháo nầy. Đây là nơi tập trung vàng, bạc, đồng, nhưng không có thứ cao cấp nầy thì kẽm, chì, thiết cũng không sao. Cần gì người đọc, miễn sao có tên trong hội là oai phong rồi. Thì té ra người Việt ở đâu cũng có vài phần tử không bỏ được cái tật làm nổi, dù họ biết đó là một việc làm thiếu nhân cách.
Căn bệnh văn chương, đúng là không có thuốc nào chữa được.
Dallas, hè 2008

Hit Countersôô

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: