Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Sol Duc Falls

    Back to forest

    Prairie Falcon 2016

    Starry night

    It was snowing !

    Northern Flicker (Intergrade)

    Northern Pintail descent

    It's as Easy as 1-2-3

    Dolls clinic.

    Superstition Mountains

    More Photos
  • Lưu trữ

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Nguyễn Đình Toàn

Posted by phanxuansinh on Tháng Năm 30, 2009

Đọc Bơi Trên Dòng Nước Ngược

Nguyễn Đình Tòan

“Bơi Trên Dòng Nước Ngược” do nhà xuất bản Sông Thu ấn hành là tác phẩm thứ hai của Phan Xuân Sinh, sau tập thơ “Ðứng Dưới Trời Ðổ Nát”.
Sách dày trên hai trăm trang, gồm 14 truyện ngắn, được tác giả ghi chú là “tạp văn”. Dùng hai chữ “tạp văn” có lẽ Phan Xuân Sinh muốn xác định, những gì ông viết trong cuốn sách không hoàn toàn là nhưng truyện ngắn, hiểu theo nghĩa thông thường, xen lẫn vào các câu chuyện có thể là những dòng tâm sự, bình luận, tùy bút, nghĩa là muốn viết gì thì viết, kể cả những điều “lặt vặt”, mục đích là để biện hộ cho sự luộm thuộm nếu có, chắc vậy.
Riêng cái tựa “Bơi Trên Dòng Nước Ngược” được tác giả giải thích trong “lời nói đầu”:

“Chúng ta sinh ra giữa một thời loạn ly, đất nước chìm dưới biển lửa của chiến tranh. Cuộc đời của chúng ta cứ bơi mãi trên những dòng cuồng lưu nghiệt ngã của lịch sử, cứ thế chúng ta bị xô đẩy, bị cuốn hút, nhận chìm và cuối cùng trôi giạt vào những vùng đất nước mới. Lần này chúng ta lại phải chiến đấu để giành một chỗ đứng, để thoi thóp thở trong những ngày cuối đời. Mặc dù không có chiến trường, không cầm súng, chúng ta vẫn chiến đấu với cuộc sống mới để tồn tại. Cuộc chiến đấu này cũng vô cùng khó khăn không thua gì chúng ta đã từng tham dự cuộc chiến trên quê hương. Như vậy, dù quá mệt mỏi, dù đuối sức, chúng ta vẫn cứ bơi trên dòng nước không thuận lợi này”.
Thiết tưởng tất cả những lời rào đón, giải thích, thực ra, đều không cần thiết.
Phan Xuân Sinh có lối viết giản dị.
Các truyện ông viết cũng chỉ là những gì vừa xẩy ra đây thôi: Chiến tranh, hòa bình, cải tạo, vượt biên, tình yêu…
Nhưng đọc các truyện của Phan Xuân Sinh, người ta có cảm tưởng như kẻ ngồi gỡ bỏ những cuốn băng, nhìn lại các vết thương. Các vết thương có thể đã lên da non, đã lành, [như cách nói của chính Phan Xuân Sinh ] nhưng nhỏ vẫn để lại những cái sẹo, lớn là dấu tích mất đi một phần thân thể.
Cũng lâu lắm người ta mới được dọc những cái truyện “có truyện” để kể lại, nếu muốn, như thế.
Ðời sống nhiều bất trắc đến độ hình như người ta không còn muốn viết một truyện gì đó có đầu có đuôi nữa. Cá tính của các nhân vật có vẻ như cũng không còn gì quan trọng nữa. Chỉ có những con người giản lược: Trước cái chết lượn như mưa trên đầu phản ứng sợ hãi cũng giống hệt như nhau thôi. Ðối với cái chết của một người lính hai mươi tuổi chẳng hạn, cá tính đáng kể gì so với số phận người vơ trẻ còn lại?
“Con Tàu Chỉ Có Một Người “, truyện ngắn đầu tiên,cũng có thể coi như điển hình cho tuyển tập của Pban Xuân Sinh, kể lại trường hợp một sĩ quan không chết trong chiến tranh, sống tiếp những ngày sau 30 tháng 4/75 trong trại cải tạo như sau:
“Những tháng đầu anh được vợ gửi cho hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ. Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi. Có được thăm nuôi hay không người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đỡ đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng sục sạo tìm kiếm, đào bới như nhau. Ai tìm nấy ăn.
Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem”.
Nói tới các trai cải tạo, các trại tập trung, mới đây độc giả khắp thế giới có được đọc một cuốn sách của bà Anne Applebaum viết về những Goulag ở Liên Xô, và nhận ra có rất nhiều cái giống nhau, một sự giống nhau khiến những ai từng có lần phải trải qua những nơi đó, rùng mình khiếp sợ vì nhớ lại. Ở đâu trong những nơi ấy, các tù nhân cũng được nói thẳng cho biết là họ không còn bất cứ một thứ quyền gì. Cuộc sống ở trong trai là một chuỗi những ngày đói, rét, và lao động với những điều kiện không dành cho con người. Theo bà Anne, mục đích của chế độ là hủy hoại mọi cơ thể sống đến mức – những người lính, những tù nhân đã hợp sức biến cái nơi mà người ta đã ném họ vào thành một địa ngục: Những người lính trở thành những kẻ ác ôn, tù nhân trở thành ăng-ten chỉ điểm, trở thành dã thú trước đồng loại.
Nhưng cũng chính ở trong cái chốn khốn cùng ấy đôi khi người ta vẫn tìm thấy, vẫn nhận được những chút tình người, tội ác không hủy diệt hết đi được, nó từa tựa như ngọn đèn thắp sáng lại lương tri mà sự khổ ải quá đáng, đã khiến người ta có những lúc tưởng như không còn tồn tại nữa trong cả lòng mình lẫn người khác, những gì được coi là tốt đẹp dường như đã mất hết, nên nhìn đời chỉ cón thấy một màu đen tối, tuyệt vọng.
Như trường hợp người tù trong “Con Tàu Chỉ Có Một Người” của Phan Xuân Sinh. Ðang lúc đói khổ cùng cực không còn biết xoay trở ra làm sao nữa, một hôm anh bỗng nhận được một gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện tới trại. Nhận rồi, mở ra coi, mới biết không phải của vợ mình. Ðọc lá thư gửi kèm anh biết đó cũng là đồ thăm nuôi của một người vợ gửi cho chồng. Người chồng trùng tên với anh, ở cùng đơn vị với anh, chỉ có một điều khác, ông ta mất tích trong chiến tranh còn anh trình diện cải tạo. Người vợ, người đàn bà xa lạ đó tên là Lê Thị Hồng. Người tù đắn đo mãi, rồi cuối cùng, vì cái đói thúc bách anh cũng mang các thứ đã nhận được ra ăn, dù luôn ở trong tâm trạng cảm thấy mình như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Vài tháng sau, anh được trại cho viết thư về cho gia đình.
Anh đã cố gắng viết một cái thư để cho người đàn bà hiểu rằng, anh không phải là chồng bà. Anh không thể nói trong thư anh đã nhận ẩu gói quà bà gửi, vì thư chắc chắn sẽ bị can bộ trại kiểm duyệt trước khi gửi đi, và chuyện sẽ vỡ lở. Anh chỉ xin bà đừng gửi nữa. Anh cố tìm cách lặp đi lặp lại hai từ “lầm lẫn” trong thư, hy vọng [cả tin nữa] bà ta sẽ nhận ra tuồng chữ không phải của chồng mình, từ đó rồi sẽ suy đoán và hiểu ra mọi chuyện.
Ngày này qua tháng khác, rồi một hôm nhận quà thăm nuôi bằng đường bưu điện lại có tên anh.
Phan Xuân Sinh viết:
“Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải của mình. Lần này thì ngược lại. Về đến chỗ nằm anh thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đả động gì sự lầm lẫn mà anh nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn”.
Người tù đổ ra cáu kính, lì lợm. Dường như anh tự tạo ra tình huống này để dễ bề nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm muôi.
Ðến một bữa không phải anh được gọi ra lãnh đồ thăm nuôi nữa mà để gặp vợ là Lê Thị Hồng. Lần này thì anh bối rối thật sự. Anh có thể hình dung trước sự bẽ bàng và ngượng ngập. Dầu sao đây cũng là cơ hội, anh định bụng sẽ tìm cách nào đó nói để cho chị hiểu rằng, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn.
Phan Xuân Sinh viết về buổi gặp gỡ ấy như sau:
“Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh đã nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì hai vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: “Xin lỗi… Xin lỗi chị”.
Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói thêm gì”.
Cái cử chỉ ấy của người đàn bà đủ để nói rằng, bà đã hiểu tất cả. Khi nhận thư hồi âm của anh, chị biết không phải là thư của chồng rồi.
“Chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Nên chị quyết định tiếp tục liên hệ với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Ðể xác định rõ ràng, khi gặp anh thức là chồng chị đã chết”.
Như thế nước mắt của chị cùng một lúc khóc cho cả ba người.
Phan Xuân Sinh viết tiếp ở cuối truyện:
“Ðêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nôĩ buồn sâu lắng. Ðất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đầy đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị còn nhớ nah không? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?… Dù sau này thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn này với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều. Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được”.
Mười ba đoản văn còn lại trong tập “Bơi Trên Dòng Nước Ngược” của Phan Xuân Sinh là những truyện khác nhau, các nhân vật khác nhau. Nhưng đọc người ta vẫn có thể nhận ra chúng đều được viết bởi một người, tâm hồn thương tổn, rạn vỡ. Và viết là một hình thức tìm cách tự chữa, tự hàn gắn thương tích của mình vậy.
Nguyễn Ðình Toàn
(trên Người Việt & VOA)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: