Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • It's a Family Affair...

    Trains (over the bridge)

    Burrowing Owl

    Morning sunlight2

    Entrapment

    Ceannabeinne

    Mammatus over Kansas

    Cuckoo, Cuckoo

    Aliens - dormant...

    b r û l é e | marin county, california

    More Photos
  • Lưu trữ

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Luân Hoán

Posted by phanxuansinh on Tháng Năm 30, 2009

Phan Xuân Sinh

hết đứng lại bơi, đời đổ trên dòng nước

*LUÂN HOÁN

Không rõ đoàn quân Grippe rời tuyến xuất phát từ lúc nào mà rạng sáng ngày mùng một năm Đinh Hợi (2007) đã khai hỏa, tiến công thật mạnh mẽ vào cơ thể tôi. Cuộc tổng nổi dậy của địch quân vào mùa xuân này quả thật có tạo cho tôi chút bất ngờ. Bởi trước đây vài tuần lễ tôi đã tảo trừ vài trận đánh lẻ tẻ của chúng. Thiếu đề phòng, mất cảnh giác, hơi chủ quan xem thường thế lực của địch, nên tôi nhận hậu quả tương đối nặng nề. Một số yếu điểm mau chóng bị địch quân khống chế như cổ họng, hai cánh mũi…

Ảnh hưởng từ những đợt pháo-hắt-hơi, bộ tổng tham mưu cứ hâm hâp nóng từ hai chân mày trở lên. Tôn trọng tục lệ kiêng cử của ba ngày Tết, không đi đạp đất phòng mạch trong ngày mùng Một, tôi tạm thời điều động chủ lực quân Tylenol Extra Fort chống đỡ, và không quên tăng cường Jus d’orange 100% Pur yểm trợ. Theo kế hoạch của Ban Ba, đội binh Tổng trừ bị Zithromax sẽ được  tung vào mặt trận nếu sau ba ngày cuộc tổng nổi dậy của địch quân chưa được hóa giải. Trong lúc thế trận còn nghiêng về phe địch, đúng vào thời khắc bàn giao giữa hai anh mùng Một, mùng Hai, cơ thể tôi nhận thêm một cuộc tấn công mới của một kẻ thù truyền kiếp, từ 38 năm nay. Kẻ thù này không có tên gọi chính xác, tạm dùng trạng thái để gọi nó là douleur. Bọn tiểu yêu này đã lợi dụng sự thay đổi thời tiết, từ ba độ âm xuống hai mươi một độ âm mà đánh phá. Rất may lần này, phát hiện kịp thời nên những khinh binh Advil tôi điều động, nhanh chóng loại địch quân ra khỏi vòng chiến. Trong những giờ giao tranh còn xảy ra, dở khóc, dở cười, hận đời, giận trời, tôi thường nhớ đến những người huynh đệ chi binh một thời đã cùng một cảnh ngộ và có sự quen biết với mình. Đàn anh Tôn Thất Chân Tu và cậu em Phan Xuân Sinh, do đó cứ chờn vờn trong đầu.

Tôn Thất Chân Tu là tên thật của nhà thơ Chu Tân. Anh đã nói lái tên cha mẹ chọn cho mình làm bút hiệu. Song thân nhà thơ đã lỗi hẹn với đức Thích Ca, nên đành mang tâm nguyện của mình uỷ thác cho người con trai ? Ông Bà muốn con mình trở thành một đấng chân tu ? Từ “tu” hình như còn có nghĩa là cắt bỏ. Nếu đúng, đây có phải điềm báo trước tương lai cho ông nhà thơ, khóa 23 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Chu Tân hiện còn ở quê nhà, tại An Hải Đà Nẵng, và dù còn một chân, anh cũng trở thành một tài xế xe thồ chuyên nghiệp từ mấy mươi năm nay, quên hẳn cái nghề “bán cháo phổi” có văn bằng.

Phan Xuân Sinh, so sánh vốn sống,  quả đúng là cậu em của Chu Tân và tôi. Anh nhỏ hơn tôi bảy tuổi, ra đời ngày 02 tháng giêng năm 1948 tại xóm Nại Hiên Tây, thành phố Đà Nẵng. Vì anh là một sĩ quan Ngụy, nên lý lịch, dù không khai đủ ba đời theo chính quyền địa phương sau ngày 29 tháng 3 năm 1975, tưởng cũng nên rõ ràng thêm chút nữa:

Phan Xuân Sinh con ông Phan Xuân Tân và bà Ngô Thị Hường. Cuối năm 1948, thân mẫu Phan Xuân Sinh qua đời lúc anh vừa được mười một tháng tuổi. Ngay vào thời điểm đáng buồn đó, cha anh phải vào tù vì hoạt động chống Pháp. Thiếu mẹ lẫn cha, anh được bên ngoại dưỡng dục một thời gian rồi giao về bên nội tiếp tục chăm sóc. Phan Xuân Sinh lớn lên từ cái xóm có cái Giếng Bộng, từng nổi tiếng một thời của thành phố Đà Nẵng. Anh kể về vạt đất ấu thơ của mình:

“Tôi không biết cái làng Nại Hiên Tây có tự bao giờ. Hồi tôi còn nhỏ làng này còn thưa thớt dân chúng, phía trong có lũy tre, bờ ruộng. Trong ngõ vào nhà tôi hàng tre mát rượi, rắn rít thỉnh thoảng bò qua lại trên đường (người ngoài tôi thường gọi là đường kiệt). Nhà trong hẻm cũng chẳng có bao nhiêu cái. Phần đông nhà tranh vách đất, tối thắp những ngọn đèn dầu lù mù. Riêng nhà tôi là một trong những ngôi nhà ngói hiếm hoi trong con hẻm. Nhà này của ông nội tôi xây dựng từ lâu lắm mà nay trở thành nhà thờ của dòng họ tôi ở Đà Nẵng”

Như vậy, Phan Xuân Sinh thuộc gia tộc khá giả, không biết đã đủ để ghép vào thành phần ác ôn địa chủ chưa ? Năm Phan Xuân Sinh lên 5, bố anh ra tù, mở trường tư thục, đón anh về dựa hơi nhau. Ở vào cái tuổi 30, bố anh đành phải quên cô vợ chỉ hưởng dương 22 mùa xuân, để bước đi thêm một bước nữa. Người đàn bà tên Thanh đã đem đến cho Phan Xuân Sinh sự yêu thương chăm sóc của người mẹ. Từ nguồn tình cảm gia đình, Phan Xuân Sinh theo thời gian đi qua các bậc tiểu học, trung học tại Đà Nẵng một cách bình thường. Mái trường Sao Mai là nơi cho Phan Xuân Sinh những kiến thức căn bản của học vấn cũng như những tình cảm kỳ diệu, tinh khiết giữa nam nữ. Cũng tại ngôi trường này, Phan Xuân Sinh làm thơ siêng tay hơn trong những năm đệ tam, đệ nhị. Dù vậy, kết quả gởi đến báo chí vẫn chưa có gì tiến triển. Nếu thời tiểu học (lớp nhất) anh đã có một bài trên báo Tuổi Xanh, thì thời trung học vẫn chỉ con số một đến với anh, sau rất nhiều lần gởi cho Phổ Thông của thi sĩ Nguyễn Vỹ. Ngán ngẫm cái kết quả mỏng mảnh, Phan Xuân Sinh tự ngừng cuộc chơi. Ấy vậy, anh vẫn không nở bỏ nàng thơ. Buồn tay, anh “thỉnh thoảng cũng táy máy làm vài bài chơi, nhưng cất kỷ trong hộc tủ, không dám cho ai đọc kể cả người yêu của mình. Bạn bè thì Nguyễn Nho Nhượn, Vũ Đức Sao Biển, Lê Văn Trung, Hạ Đình Thao,Uyên Hà vv… người nào cũng có bài đăng trên những tờ báo lớn ở Sài Gòn, vì thế lại càng không dám gửi sợ chúng cười. Trong mục ‘bài nhận được’ thì có, mà bài đăng chờ dài cổ vẫn không thấy”.

Một điều khá ngộ, có thể xem đây là cái duyên của thi ca đã níu kéo Phan Xuân Sinh. Tuy không mát tay với báo chí, Phan Xuân Sinh cũng đã từng được giải nhì cuộc thi thơ do Ty Thông Tin Đà Nẵng tổ chức, năm anh còn ngồi trong lớp đệ ngũ. Giải thưởng năm đó không có giải nhất. Đây không phải là kết quả cho giấc mơ làm thi sĩ của Phan Xuân Sinh. Và rồi anh ôm hoài bảo vào quân trường Bộ Binh Thủ Đức. Vừa học làm chỉ huy vừa làm thơ đăng báo Chiến Sĩ Cộng Hòa. Tôi nghĩ rằng nội dung thơ Phan Xuân Sinh trong giai đoạn này dù lấy bối cảnh chiến tranh với các nguyên liệu súng đạn, lẫn máu thịt, thơ anh vẫn lộng lẫy hình ảnh những người nữ đã có cơ hội ghé qua đời anh. Những người nữ này hình như không ít.

Thừa hưởng cái nhan sắc của người cha, Phan Xuân Sinh thanh xuân khôi ngô ở nét mặt, hùng dũng ở vóc dáng. Hai chữ “đẹp trai” anh dành được thật xứng đáng. Tôi vốn có phần rộng lượng, người nào mình để ý, ao ước, nhớ nhung đã có thể liệt vào đội ngũ người yêu rồi. Mình yêu người là căn bản, người yêu lại mình, càng thêm hoàn hão, nhưng người chẳng yêu mình cũng chả sao. Chính vì thế “người tôi yêu ở tứ tung”. Dùng quan niệm này với Phan Xuân Sinh, thì nhà thơ có người yêu đầu đời từ quê nội. Cuộc tình đến nhân chuyến anh về quê nghỉ hè.

Quê nội anh nằm bên bờ sông Thu Bồn. Con bé Hạnh lên lớp ba, đã nghe lời mẹ thôi học, chấm dứt việc đến trường lo việc làm nông. Tuy không trống nhiều thì giờ, nhưng “… Đi chơi đâu Hạnh cũng lè kè theo tôi. Mỗi buổi chiều, tôi và Hạnh hay ra ngồi ngoài bờ ruộng nhìn mấy đứa chăn trâu thả diều…”. Sự khắng khít của các cô cậu ở nông thôn có đủ thơ mộng, lãng mạn, một đôi khi còn nhanh chóng tiến xa hơn. Gò mã, miếu, đình, cây rơm, mương nước… tuy chưa được gọi là “bãi đáp”, nhưng cũng là những địa điểm có thể nắm tay, đặt đôi chân trần lên nhau… Con Bé Hạnh này đã từng bị mẹ cho ăn đòn roi tre, từng kéo quần phơi mông cho Phan Xuân Sinh xem những lằn roi tím đỏ. Và cũng từng cùng Phan Xuân Sinh tắm trong một dòng sông, trong một máng xối nước mưa với đôi tay bụm hờ, để rồi “… ấp a ấp úng nói không mạch lạc” vào những năm sau khi gặp lại. Kịch tính của cuộc tình còn tiếp tục bởi những chia xa rồi hạnh ngộ trong hoàn cảnh mỗi người một phía của cuộc chiến. Kết quả tất yếu dẫn đến “Hạnh còn lại trong tôi chỉ là một chút kỷ niệm thoáng qua trong đời”

Một cuộc tình khác nhà thơ Phan Xuân Sinh bắt được trên hành trình từ Đà Nẵng vào Sài Gòn. Nàng thơ của chàng là một cô giáo, quê xứ Mộ Đức Quảng Ngãi, đang hành nghề tại Quảng Nam. Phải nhắc nhớ: xe đò thời thập niên 60, 70 trên nhiều tuyến đường tại miền Nam rất hay trở thành những đầu mối cho những tiếng gọi tình yêu, lẫn tình dục. Cái liếc mắt tình cờ, sự va chạm thịt da từ vô tình sinh hữu ý, có thánh thiện, có ma quỉ. Cá nhân tôi, nhờ chặng đường Huế – Đà Nẵng và xe car An Lợi có được những khởi điểm cho vài cuộc tình đôi ngày. Như Trân của Phan Xuân Sinh không như vài cô bạn tôi may mắn được gặp. Cô là người có học, thùy mị. Khổ một điều, cô giống Hạnh, có lý tưởng trái ngược với chàng sĩ quan. Cô chỉ có thể dành cho người bạn tình một ân huệ: vĩnh viễn ôm một hoài vọng: “…Và một điều mong mỏi của tôi , một ngày nào tôi gặp lại Trân, Không phải bên này, không phải một nơi nào bên kia. Mà phải là Mộ Đức, nơi mà đã bao lần tôi đã mỏi mắt trông tìm, dù bây giờ hai mái đầu chúng tôi đã bạc” .

Gia tài nhân tình của Phan Xuân Sinh còn khá nhiều, như Hương như Liên… những nhân vật tưởng chỉ là hư cấu trong các bài anh viết, nhưng thật ra có da có thịt, có hơi thở… có cả những giây phút sống thật bên Phan Xuân Sinh. Điểm danh từng người một những “đầu gối tay ấp” của Phan Xuân Sinh, có thể hại anh bị đánh đòn, nằm phòng khách, nên xin được dừng ở đây, để theo chân anh qua chặng đời binh nghiệp.

Sau khi nhận cặp lon chuẩn úy, Phan Xuân Sinh được chuyền về phục vụ tại đội Trinh Sát thuộc Trung đoàn 51 Biệt Lập, đóng tại Quảng Nam. Trung đoàn 51 thuộc quân chủng Bộ Binh. Bộ Binh được mệnh danh là Nữ Hoàng Chiến Trường, là quân chủ lực trong mọi mặt trận. Không có sự truy tìm, chạm súng, đeo bám, cầm chân… của Bộ Binh các lực lượng thiện chiến trừ, bị khó thực hiện được những trận đánh phủ đầu mang lại thành công. Nhưng Bộ Binh vẫn thường nhận được những ưu đãi không tương xứng trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ngay trong việc trang bị vũ khí, phương tiến. Bộ Binh là một đội quân có quân số đông đảo nhất. Có số tử vong, thương tật đứng đầu. Phan Xuân Sinh về với Bộ Binh, không có số “sống lâu lên lão làng”, chỉ ăn cơm gạo sấy chưa tròn một năm, anh đã ngã ngựa. Không biết anh đã được tham dự bao nhiêu cuộc hành quân ? Đã có cơ hội bóp cò súng một lần nào chưa ? Chắc chắn anh không là một Trinh Sát được nhà văn Bảo Ninh thần tượng hóa méo mó với màu mè chính trị, thù hận. Cái giờ khắc bi hận của Phan Xuân Sinh, hẳn anh chưa quên: Một giờ trưa ngày 01 tháng 6 năm 1972. Cái địa danh biến dạng từ người lành lặn bình thường ra người tàn phế, chắc Phan Xuân Sinh chưa quên: Cẩm Hải, Điện Bàn, Quảng Nam.

Hình như với những người cầm bút, dù chẳng chuyên nghiệp, viết là một công việc lấp bớt phần nào nỗi chán nản, bi quan trước sự bất hạnh của mình. Cũng như tôi, Chu Tân… Phan Xuân Sinh làm thơ rất nhiều trong giai đoạn anh điều trị và dưỡng thương. Nhưng anh vẫn: “…không dám cho ai đọc, cất kỷ. Sau khi Đà Nẵng thất thủ năm 1975, thì tủ sách bị tịch thu, còn cái gì thuộc về bút tích thì ông cụ thiêu hủy”.

Ngày Đà Nẵng thay chủ, Phan Xuân Sinh không có mặt tại Nại Hiên Tây. Anh đã vào Sài Gòn cuối năm 1974 với dự định trở lại ghế nhà trường. Hồ sơ giải ngũ của anh đã được chuyển vào Trung tâm 3, đợi ngày trình diện hội đồng ước tính cấp độ tàn phế để phát sổ lương cấp dưỡng. Ngày đó đã không còn cơ hội đến với anh. Có thể nói: đến hôm nay, anh vẫn còn là một sĩ quan tại ngũ của Việt Nam Cộng Hòa. Chính lý do này, anh đã nghiêm chỉnh chấp hành lệnh gọi trình diện cải tạo của chính phủ mới. Anh cũng có chút malin tháo chân giả, dùng nạng để đi trình diện. Rất may anh bị chê, không được đón nhận.

Phan Xuân Sinh làm công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam  mười lăm năm. Suốt thời gian này, anh cùng với cả nươc bước vào con đường Lao Động Vinh Quang. Thoạt đầu, Phan Xuân Sinh tổ chức làm bột ăn cho trẻ em. Nhà thơ đàn anh Tường Linh cùng làm với anh. Tiếp theo anh sản xuất kem đánh răng.  Địa điểm hành nghề nằm trên đường Mai Xuân Thưởng quận Bình Thạnh. Thực hiện công việc này, một phần nào Phan Xuân Sinh giúp được “công ăn việc làm” cho một số nhà thơ đồng hương: Hà Nguyên Thạch, Phan Nhự Thức,(thỉnh thoảng lấy kem đi bán), Đinh Trầm Ca (cùng làm với anh)… Không khí thơ văn ít nhiều được hâm nóng trong các giờ trống, vui say bên những cốc rượu. Phan Xuân Sinh cho biết: “Nói cho ngay, từ năm 1975 đến 1990 (15năm), có những bất trắc trong cuộc sống. Nhưng rốt cuộc, đời sống cũng khấm khá, không giàu nhưng cũng không túng thiếu”, có lẽ cũng tầm cở như nhà thơ Huy Tưởng (trong nghề bán cà phê), không từ từ đi xuống như nhà văn Cung Tích Biền kinh doanh nghệ thuật sơn mài, bị thu hồi đất sống.

Làm ăn được, nhưng thơ không biết có làm ra không, không thấy Phan Xuân Sinh đề cập. Năm 1976, Phan Xuân Sinh “giã từ cuộc sống độc thân”, anh theo về cùng chị Thiên Nga một cựu nữ sinh trường Tây ở Đà Nẵng. Ngày 15 tháng 6 năm 1990, anh cùng vợ sang Mỹ qua bảo lãnh của nhạc phụ, một cựu sĩ quan cấp tá của VNCH. Thời gian đầu, gia đình Phan Xuân Sinh sống tại thành phố Philadelphia, một năm sau chuyển cà về California. Tưởng vùng nắng ấm này là đất lý tưởng cho Phan Xuân Sinh trở lại mở hảng xưởng. Nhưng chỉ ba năm sau, gia đình anh chuyển đến thành phố Massachusette, bỏ neo tại đây 13 năm, làm Nail, mở chợ, phục hưng kinh tế gia đình một cách hiển hách. Chỉ một cẳng rưởi nhưng nhờ tài năng của nội tướng, Phan Xuân Sinh cứ từ từ phát triển, tạo được uy tín trong cộng đồng, và từng đàng hoàng ngồi vào ghế chủ tịch cộng đồng vùng Massachusette. Không hiểu vì khí hậu hay vì con đường phát triển kinh tế sáng sủa, gia đình Phan Xuân Sinh lại “mu” về Texas mở tiệm rượu.

Bar rượu là một kinh doanh rất dễ hái ra tiền, nếu biết tổ chức, quản lý. Tôi có ông bạn người Quảng Trị, ngâm thơ hết sẫy, Phạm Đình Cường, cũng mở tiệm rượu tại thành phố Toronto. Từ một tiệm sinh nở ra năm, bảy tiệm, lấn sang cả lẫn vực ăn, uống, quần áo… bành trướng về tuốt Việt Nam từ những năm đầu có hơi thở kinh tế thị trường, và chính sách thương mại cởi mở tại quê nhà. Một ông bạn khác của tôi, biết nhau từ hồi lớp nhì, lớp nhất cũng đi bán rượu, nhưng coi vẻ thất bại dù cửa tiệm, cố tình đặt gần đồn cảnh sát cho chắc ăn. Ông này là nhà văn Nguyễn Chí Thiệp, thành danh từ cuốn hồi ký Trại Kiêm Giam. Không biết Phan Xuân Sinh sẽ là một Phạm Đình Cường hay một Nguyễn Chí Thiệp thứ hai. Tôi tin với tài năng của chị Thiên Nga va sự chịu khó của anh Sinh, tiệm rượu mới của một người Á Đông nữa tại Texas chắc sẽ rất phát đạt.

Đời sống kinh tế gia đình Phan Xuân Sinh vững chắc, giúp làng viết cộng đồng Việt Nam hải ngoại có thêm một nhà thơ. Giúp tôi có thêm một người bạn văn. Thơ Phan Xuân Sinh đi từ Thời Báo ở Philadelphia, đến dần Làng Văn, Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21… Rồi từ thơ qua văn xuôi, một bước gần, nên Phan Xuân Sinh chơi luôn.

Tôi biết và quen Phan Xuân Sinh do cội nguồn Quảng Nam. Như tuồng dân Quảng Nam có máu ưa thích làm báo trong người. Ở đâu, nơi đâu, có một cụm mấy anh chị có giọng nói, cần người thông dịch nhất nước, tề tựa với nhau, trước sau gì ở đó cũng có ít nhất một đặc san. Nhiều, nhưng không phải làm lấy rồi, lấy có cho vui, Cũng bề thế, hoành tráng lắm như Đặc san Quảng Đà – Los Angeles của vợ chồng nhà thơ, dịch giả Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Đất Quảng – Washington của Trần Thế Phong, Quàng Nam Đà Nẵng – Dallas-Fort Worth của Nguyễn Rô, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Lý…, Sông Thu – Georgia của Lê Văn Cứ, Xuyên Trà…, Xứ Quảng – Massachusette của Dư Mỹ, Phan Xuân Sinh, Trần Trung Đạo, Hoàng Huy Khánh…Còn nhiều nữa như đất của bác sĩ Phùng Văn Hạnh (Montréal), của Trần Yên Hòa… Tờ nào, năm nào cũng từ 400 trang trở lên với đầy đủ thơ, truyện, biên khảo, nghiên cứu đề huề. Và một lực lượng góp bài gồm đủ mặt những đại danh trong làng biết hải ngoại, không sót một mống nào, từng hiện diện trên những tạp chí văn học uy tín khác.

Phan Xuân Sinh rất năng động trong lãnh vực văn học. Anh góp bài cho các tạp chí Làng Văn, Văn, Phố Văn, Sóng Văn, Chủ Đề, Khởi Hành, Thế Kỷ 21, Văn Học…, tổ chức ra mắt sách, diễn thuyết cho bè bạn, một đôi lúc làm cả layout cho sách báo của cộng đồng. Anh giao thông rộng rãi, cỡi mở và thân tình. Trong một buổi xế trưa mùa hè, anh đã cùng một đội ngũ đông đảo ghé thăm chỗ tôi cư ngụ. Thật xấu hổ phòng khách nhà tôi gần như không đủ ghế cho mọi người ngồi thoải mái. Đã thế bất ngờ quá, nên không trà, không rượu cũng chả có thuốc lá, báo hại những khuôn mặt nhìn nhau cứ phải trao qua trao lại những lời xã giao khách sáo.Dù sao lần đó không những tôi có dịp bắt tay Phan Xuân Sinh, mà còn có dịp nắm trong tay mình hơi ấm của nhà văn Lâm Chương, họa sĩ Vũ Hối, nhà văn Lương Thư Trung, vợ chồng bác sĩ Nguyễn Văn Bình, vợ chồng nhà văn Trần Hoài Thư…Tôi mỗi ngày như trẻ ra vì những lần gặp gỡ lý thú như vậy.

Sau Chén Rượu Mời Người một thi tập in chung với nhà thơ Dư Mỹ (một sĩ quan của VNCH cùng ở Boston) năm 1996, Phan Xuân Sinh gởi đến bạn đọc Việt Nam khắp thế giới, thi phẩm Đứng Dưới Trời Đỗ Nát vào năm 2000. Tập thơ bìa cứng, (rất hiếm được thực hiện cho các nhà thơ gốc Việt khác tại hải ngoại) với bản vẽ và trình bày của họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi. Ngoài việc thực hiện bìa, Nguyễn Trọng Khôi còn góp cho Đứng Dưới Trời Đổ Nát, phụ bản và những dòng nhạc do chính anh phổ. Các họa sĩ Đinh Cường, Nguyễn Đức Thanh và nhạc sĩ Nguyễn Tất Vịnh cũng làm đẹp thêm cho tập thơ bằng những tài nghệ của họ. Tập thơ dày 156 trang, giấy mở gà, chứa giữ 52 sáng tác đủ thể loại của Phan Xuân Sinh.Khách yêu thơ chỉ cần tốn mười hai Mỹ kim để tủ sách gia đình mình giàu thêm. Tạp chí Văn tại Hoa Kỳ đứng tên xuất bản (logo Văn có từ thời chưa chạy loạn). Lời giới thiệu của bạn văn được in ở hai mặt gấp vào của bìa bọc, chữ khá nhỏ nhưng có thể đọc được những phát biểu từ:

Nhà văn Lương Thư Trung, Boston:

“ Thi phẩm ĐDTĐN  chẳng những là nỗi niềm u sầu của riêng mình, nhà thơ Phan Xuân Sinh còn nói giùm anh, giùm tôi, nói giùm những người đồng thời những điều mà chúng ta luôn luôn trăn trở, băn khoăn cho một cuộc lữ hành mệt nhọc, mà đôi lúc mình cũng chẳng biết phải về đâu trên những chuyến xe đời thường lỡ hẹn ở một sân ga !!!”

Nhà thơ Hoàng Lộc, Tennessee:

“Thơ Phan Xuan Sinh mở ra một nơi chốn, cho tôi được tìm về. Nơi chốn ấy như đã mất hẳn trong đời – mà lại miên viễn trong lòng. Cảm ơn Phan Xuân Sinh. Xin cảm ơn nhà thơ”

Nhà văn Lâm Chương, Dorchester:

“Qua một thời tan nát điêu linh, anh như con diều đứt dây lạc xa ngàn dặm. Lòng trăn trở không yên. Nói với người xưa là cái cớ để anh tỏ rõ cái uất của mình”

Nhà thơ Quan Dương, New Orleans:

“Trong “ĐDTĐN” Phan Xuân Sinh đã dùng ngôn ngữ thơ để nhìn ngắm chính bản thân mình đang tận tuyệt trong sự bủa vây của cuộc sống nội tâm đầy trầm uất và hoài vọng”

Nhà văn Trần Doãn Nho, Worcesier:

“Hơi thơ Phan Xuân Sinh lạ. Ngang tàng mà ưu uất. Cuồng ngạo với xót xa. Sâu mà chân chất. Trong cuộc rượu đọc lên, nghe nghè nghẹn, tưng tức, có cảm giác như muối xát vào lòng”

Nhà văn Trần Hoài Thư, New Jersey:

“Thơ của PXS đã chuyên chở nỗi lòng của một thế hệ bị mất mát quá nhiều. Mất mát tuổi trẻ. Mất mát tuổi già. Thơ anh ngậm ngùi như một dòng sông cứ mang theo những nỗi buồn của lịch sử và thân phận. Cứ đọc hai câu này mới thấy nỗi thấm thía, cay đắng này: ‘ta sống giữa trời đất mênh mông/ mà tưởng như đứng trong vòng vây kín’ ”

Nhà thơ Lê Mai Lĩnh, Connecticut:

“Tôi biết tên anh là PXS, tôi biết mặt anh là PXS nhưng qua thơ PXS tôi còn biết anh là Tào Tháo của Tam Quốc Chí là Ngũ Tử Tư của Đông Châu Liệt Quốc. Ai đó nói rằng PXS mượn người xưa để giải bày tâm sự. Điều này đúng quá. Nhưng không phải ai cũng làm được điều đó. Phải bản lãnh ngang tàng như PXS mới đủ tầm. Nói gọn phải đọc thơ PXS mới biết tôi nói đúng hay sai”

Nhà thơ Trần Trung Đạo, Braintree:

“PXS nhà thơ và là người con trai xứ Quảng Nam gương mẫu, cương trực, ngang tàng nhưng cũng rất bao dung, độ lượng. Thơ anh là chiếc bóng của đời anh. Cuộc đời của một thanh niên Việt Nam. Sinh ra và lớn lên trên vùng đất Quảng Nam nghèo khó, bước đi trên một quê hương đổ nát. Thơ PXS qua thi phẩm rất khiêm cung nhưng tuyệt diệu này, đã trỡ thành dấu chứng cho một thời đại Việt Nam tang tóc, điêu linh và cũng là tiếng kêu thống thiết của một thế hệ Việt Nam dở dang, bất hạnh”

Đọc những lời hộ tống thi phẩm của Phan Xuân Sinh, bạn đọc hẳn cho đây là những bốc thơm giữa những người cầm bút, thường quây quần với nhau trong năm bảy cốc rượu. Thật ra không phải vậy. Nhậu thì có nhậu, hết những cử ở Boston, thì đến những cử ở Montréal, những cử ở New Orleans, những cử ở New Jersey…không kể hết. Và cũng không phải chỉ mình Phan Xuân Sinh có sẵn rượu. Khải Minh, Triều Hoa Đại, Phạm Nhã Dự…thậm chí đến các bóng hồng Thu Thuyền, Nhật Nguyễn cũng sẵn lòng có rượu. Tôi từng có nhiều bận ngồi chầu rìa đám lưu linh này, nhưng chưa bao giờ thấy có chuyện rượu vào lời ra với nội dung văn học nghệ thuật, tương tự như trên. Những lời các bạn viết về thơ của Phan Xuân Sinh đúng là những nhận xét thật tình. Mỗi người một cách, cùng diễn đạt sự nhìn nhận: thơ của Phan Xuân Sinh là thứ thơ thật, đọc được từ bài này sang bài khác, không phải bỏ ngang. Riêng tôi vẫn giữ phát biểu, theo thói quen dành cho những bài thơ hay: “Đọc thật thú vị”. Đúng, không thể không thú vị với những ý, những câu:

“… thằng lính nào mà không rét lúc ra quân/ khi xung trận mà không té đái…/ thôi hãy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau/ nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu/ bày làm chi trò chơi xương máu/ để đôi bên nuôi mầm mống hận thù/ ta chán lắm rồi ba chuyện ruồi bu/ chỉ có bạn, có ta là người thua cuộc…”

hoặc:

“nhơ ngày xưa khi còn xung trận/ sống chết cận kề. nên cứ chơi/ địch cũng ớn mấy thằng liều mạng/ đời cũng chê mấy đứa dở hơi…”

Chuyện vịn vào người xưa, vịn vào một nhân vật nổi tiếng bên Tàu, bên Tây hoặc một nhân vật chỉ có trong tác phẩm, để giải bày tâm sự, đại loại như “Giải oan cho Tào Tháo” hay “Hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư” của Phan Xuân Sinh, thật ra không có gì mới lạ trong thi ca Việt Nam. Nhà thơ Hoàng Lộc đã có “Nói Chuyện Đói Với Nguyễn Công Trứ” hoặc đem mình ra so sánh: “Quan Vân Trường mặt đỏ cũng thành danh/ ta đỏ mặt hơn ông, đời lại hỏng/ ông cốt cách quỳnh tương, ta hồ đồ rượu dỏm/ cuộc trăm năm đã đến thế-hoang tàn…”. Nhà thơ Hà Nguyên Dũng (ở trong nước) cùng một liên tưởng hội ngộ như  Hoàng Lộc, cũng viết “…Ông sống xả thân, chết chẳng toàn thây/ do trời cảm tấm lòng ông trung hậu/ linh, làm Thánh có nơi nương náu/ thân, làm ma đi vất vưởng tìm đầu!/ tôi sinh trong thời phố giạt xa châu/ thiên hạ đứng núi này trông núi nọ/ tôi như kẹt giữa hai sườn núi đó/ nào khác chi thân cá chậu chim lồng…” Nhà thơ Hoa Thi,  trong trang (www.geoties.com/hoathi2002/ThoHoathi.html) hết ví mình như Chiêu Quân (ta xưa vốn hương sắc/ hiển hách một Chiêu quân/ giờ đã qua mấy kiếp/ vẫn chỉ là mỹ nhân…) lại nhân danh Tây Thi (vẫn ta là Tây Thi/ một đôi tay giặt lụa/ đâu nở dễ giết tình/ trong hồn trăng biết nói), để rồi thưa chuyện cùng Đạm Tiên: “… đời tài sắc gắn liền cùng bạc phận/ thơ thay hoa nuôi sống mãi hồng nhan/ dù yên vui nơi tiên cảnh, thiên đàng/ vẫn sót lại hương đời trong lục bát/ tôi bất hạnh, buộc lòng đành để lạc/ Kim Vân Kiều từ thuở tuổi mười lăm/ yêu văn chương, đời không nở phụ lòng/ gặp hơi thở Nguyễn Du trong thư viện/ … thưa mỹ nữ, xin thưa cùng thánh nữ/ lời muốn nói bỗng vô ngôn, vô tự” cũng thật lý thú. Tôi có cảm tưởng hồn người xưa có linh hiển, phù trợ cho những người viết liên quan đến họ đều đạt thành công. Phan Xuân Sinh cũng vậy, ngoài chuyện nằm mộng gặp Ức Trai, anh tâm sự Với Ngũ Tử Tư:

“ta cũng bạc đầu sao chẳng ra chi/ ngài bạc đầu làm nên việc lớn/ thay dạng đổi hình như là chuyện giỡn/ mà danh ngài lưu mãi ngàn năm

ngài vượt qua cửu ải thoát thân/ ta cũng trốn chạy năm lần bảy lượt/ cái nguy của ta ngài không sánh được/ rừng thẳm bể sâu tan xác như chơi…”

hoặc Giải Oan Cho Tào Tháo, thật hết sức hào sảng, thông minh:

“…cái chạy của ông, sau lập nên nghiệp cả/ thất thế sa cơ là chuyện nhất thời/ nuôi chí lớn để tóm thâu thiên hạ/ thế cờ Thục, Ngô, như một cuộc chơi

cái chạy của bọn ta, trùng trùng mù mịt/ chuyện áo cơm lo tối mặt phờ râu/ hâm hẩm ruột gan rối bời trăm mối/ quang phục quê hương ? coi như thứ tầm phào…”

Thơ của Phan Xuân Sinh chủ yếu là tình người, từ đó mỗi bài thơ có một trái tim riêng, sống một đời riêng trong cùng một căn nhà Tình. Căn nhà này chính là tâm hồn tác giả. Tủ sách gia đình, tôi hiện có gần 300 tập thơ. Tập nào tôi cũng đọc qua ít nhất một lần và nhận thấy: những người làm thơ gốc Quảng Nam, hầu hết đều có làm thơ tặng vợ mình, cho vợ mình. Tỉ lệ này vượt hẳn so với những người miền khác. Đây là sự thật, vì không muốn ăn gian trang, tôi không tiện trích dẫn, các bạn không tin có thể tìm đọc thơ của Tường Linh, Hoàng Quy, Hoàng Lộc, Nguyễn Đông Giang, Thái Tú Hạp, Đynh Hoàng Sa, Hà Nguyên Thạch, Tạ Ký, Trần Trung Đạo…(trường hợp Luân Hoán là ngoại lệ, vì thằng cha mất nết này, không những nhìn ai cũng thấy ra vợ mình, mà còn vớ vẩn hơn, xem người đẹp nào cũng như vợ mình, đâm ra thơ cho vợ cứ cao mãi như núi). Điều này cho thấy những người làm thơ Quảng Nam rất mực chung tình, biết yêu thương và quí trọng người chung chăn gối với mình một cách tuyệt đối. Dĩ nhiên với bản chất này, các ông nhà thơ xứ Quảng Nam không phải là những con quạ (thấy L lạ như quạ thấy gà con). Họ đều là những người chân chất, cù lần không biết la cà bia ôm, không biết léng phéng liếc ngang nhìn dọc. Nhất cử nhất động đều thực hiện đúng câu danh ngôn: “ L vợ gần hơn mả cha” của tiền nhân. Mấy bạn thơ Quảng Nam nếu muốn xỉ vả, cằn nhằn tôi, xin ngẫm lại trước. Nhà thơ Phan Xuân Sinh của chung ta không thể làm khác các ông anh lẫn bè bạn. Ông còn có vẻ lấn hơn nữa khi trưng ngay đầu sách bài thơ viết tặng vợ của mình:

“cảm ơn em, cảm ơn đời/ tình sau, nghĩa trước, một trời bao dung/ giữa bấy nhiêu cái khốn cùng/ còn cho nhau chút thủy chung giữ mình”.

Cảm động, thấm thía hơn nữa anh còn “Tạ Lỗi Với Vợ Hiền” một cách thành kính:

“ Em tiếc gì không một đời con gái ?/ mười chín tuổi đời quày quảy theo chồng/ ta thằng hư thân, sống đời bạt mạng/ cũng chẳng ra chi cái thứ cuồng ngông.

lỗi của ta thì ngập đầu ngập cổ/ bữa trước bữa sau, dối vợ đợ con/ em cắn răng, chịu đời khổ tận/ bao năm qua u uất trong lòng.

thôi em ạ, đừng buồn lòng ta nữa/ chuyện vợ chồng ta tính chuyện trăm năm/ có đâu nỡ phải tính ngày tính bữa/ để rộng đường ta sám hối ăn năn.

mỗi lần hôn em thấy mình sống lại/ em vẫn thơm, vẫn ngọt như đường/ ta chết lặng, trách mình lầm lỡ/ tạ lỗi em, em thiệt dễ thương”

Ở trên tôi có nêu ra hai câu tục ngữ với hình tượng cụ thể. Xin được nói thêm, để khỏi rầy rà: những nhà thơ Quảng Nam đương nhiên ai cũng biết trân trọng, thương mến cái vưu vật cụ thể của người nữ, nhưng những bài thơ viết cho vợ, hoặc thơ từ vợ mà có, vốn xuất phát từ những tình cảm thương yêu chân tình của đạo nghĩa vợ chồng, không vì một cái quí giá gì khác, đọc đoạn thơ vừa trích của Phan Xuân Sinh là thấy ngay.

Năm 2000, bạn văn của Phan Xuân Sinh tổ chức cho anh buổi ra mắt Đứng Dưới Trời Đổ Nát. Nhà văn Song Thao và phu nhân tạo cho tôi có cơ hội qua thăm trả lễ các bạn văn ở Boston, nói chung, với nhà thơ Phan Xuân Sinh, nói riêng. Anh tài xế Tạ Trung Sơn vốn rất ưa thích tốc độ, bên cạnh chị hướng dẫn viên Diệu Hương giàu kinh nghiệm đường trường, tôi và cái remorque của tôi đến ngay địa điểm ra mắt sách vừa đủ giờ thay y phục, tham dự. Buổi ra mắt sách của Phan Xuân Sinh được tổ chức đơn giản, gói ghém trong vòng thân hữu. Thật ra bạn văn Boston muốn dành cho Phan Xuân Sinh một cuộc ra mắt đứa con tinh thần riêng, đầu tay, tưng bừng hơn  tại nhà hàng lớn, có ăn uống, có phụ diễn văn nghệ. Nhưng anh không thích phô trương, và quí cái dịp anh em văn nghệ gặp nhau là chính.

Chúng tôi rất bất ngờ trước sự thành công của đêm ra mắt sách. Hội trường rộng lớn. Âm thanh ánh sáng hoàn hão. Có phát biểu, có ngâm thơ, có ca hát, tiết mục nào cũng sinh động vô cùng. Nhất là số người tham dự đông đầy hội trường. Tôi được dịp gặp, làm quen với những cây bút chưa bao giờ được hân hạnh giao tiếp. Danh sách bạn văn có mặt trong đêm Phan Xuân Sinh Đứng Dưới Trời Đổ Nát, tôi kể dưới đây, chắc chắn thiếu sót, vì trí nhớ có hạn, mong lượng thứ: Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng và vợ nhà báo Trương Gia Vy, nhà thơ Quan Dương, nhà thơ Triều Hoa Đại và phu nhân, nhà thơ Hoàng Lộc, nhà văn Lâm Chương và phu nhân, nhà thơ Trần Trung Đạo, nhà thơ Sương Biên Thùy (Lê Mai Lĩnh), Nhà văn Nguyễn Vĩnh Long, nhà văn Hồ Đình Nghiêm (bạn từ Montréal), Nhà thơ Đức Phổ, nhà thơ Tóc Dài (về sau ký tên Trịnh Thanh Thủy trên Talawas), nhà thơ Song Vinh và phu nhân, nhà văn Thu Thuyền cùng phu quân, nhà thơ Khải Minh, nhà văn Nhật Nguyễn cùng Hữu Việt, (nhà nhiếp ảnh tài tử), nhà văn Lương Thư Trung, nhà thơ Yên Sơn, nhà thơ Nguyễn Khánh Hòa, nhà văn Song Thao và phu nhân Diệu Hương, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi (người trang trí, dẫn dắt chương trình và hát giúp vui), nhà thơ Dư Mỹ…

Trong mọi diễn tiến của đêm ra mắt sách đều có ghi hình, chụp ảnh. Ngồi bên dưới, tôi cũng được đứng ké anh em qua nhiều người bấm máy. Vui vẻ quên cả mệt, cả đói. Tàn cuộc, anh chị Song Thao, tôi và Lý theo vợ chồng Triều Hoa Đại về tư gia nhà thơ Dư Mỹ ngủ qua đêm. Đêm ngủ tại nhà anh chị Mỹ có cả Hồ Đình Nghiêm, Hoàng Lộc. Tuy vẫn chập chờn chờ sáng nhưng không bơ phờ. Anh chị Triều Hoa Đại quen biết tôi đã lâu, nhưng gần 40 năm mới gặp lại. Cả hai anh chị đều nhiệt tình quí bạn. Căn nhà của anh chị Mỹ tạm thời được trưng dụng, chị Triều Hoa Đại trổ tài làm điểm tâm. Hoàng Lộc bông đùa luôn miệng. Đây cũng là lần đầu tiên tôi biết nhà thơ tình này có khả năng trào lộng và ăn nói rất có duyên. Sau điểm tâm, chúng tôi đi gặp lại các bạn đã chia nhau ngủ tại nhà Phan Xuân Sinh, Trần Trung Đạo. Không còn nhớ tên quán cà phê chúng tôi chọn để bắt tay giã từ. Quán đông, tôi và Song Thao được nhà thơ Lê Mai Lĩnh ký tặng một tác phẩm mới của anh. Cũng tại quán này, tôi mới có dịp chụp chung với ông trang chủ Quán Cây Me Trần Trung Đạo một tấm ảnh. Trước khi trở về Montréal, chúng tôi ghé thăm tệ xá của nhà văn Lâm Chương. Nhà văn giàu vì rượu sang vì sách chỉ có nước lọc đãi bạn. Thân thiết như những câu bông đùa. Nắng tạt vào một ô cửa, nhắc chúng tôi khởi hành. Xe Song Thao trên chuyến về có thêm nhà văn Hồ Đình Nghiêm, chật hơn một chút nhưng vui thêm rất nhiều. Đời nếu cứ có mãi những cuộc rong chơi như thế này, thú biết bao nhiêu. Tôi bấm vào bàn tay vợ tôi một cái rõ đau, không biết để làm gì. Tín hiệu hẹn hò cho đêm sắp đến chăng. Vừa thiếu mất một đêm tôi không có hơi vợ !

Giao tình giữa tôi và Phan Xuân Sinh có phần thân thiết hơn. Thấy bước đi của tôi không được nghiêm chỉnh, anh điện thoại hỏi thăm về cái chân giả. Tôi tình thiệt cho anh biết. Với chỉ một cái chân bằng gỗ, sử dụng ròng rã suốt trên 30 mươi năm không thay đổi, làm sao có thể giữ bước đi vững vàng. Sinh hỏi sao không thay chân mới ? Đây cũng là thắc mắc của nhiều người. Với quan niệm: Mỹ, Canada là những nước giàu có, tân tiến, kỹ thuật chân tay giả hẳn siêu đẳng và thuận tiện. Siêu đẳng thì có thể có nhưng thuận tiện cho người bị nạn thì hình như không. Nhiều người còn lầm tưởng với qui chế y tế tuyệt vời của Canada, người bị tàn phế sẽ được chăm lo đầy đủ miễn phí. Điều này thực hư ra sao không rõ. Trong trường hợp tôi, một anh Điên gốc Mít, muốn làm một cái chân giả từ đầu gối trở xuống phải bỏ ra bảy ngàn Gia kim (thời giá của năm 1999). Mua một chiếc vớ còn phải tính tiền khá cao hơn vớ thường nữa là. Chính vì thế bàn chân gỗ của tôi cho đến nay vẫn mang tên “Vũ Như Cẩn”. Còn nhớ có lần bạn thơ Phạm Nhuận đề nghị chi tiền cho tôi làm chân, nhưng không muốn nợ ơn nghĩa ai, tôi từ chối anh. Lần này Phan Xuân Sinh không đề nghị bảo trợ tài chánh nhưng cả hai anh chị dều tự nguyện, tích cực trong việc tìm tòi các cơ quan miễn phí hay giá nhẹ giúp tôi. Cuối cùng sự thật vẫn là sự thật. Đâu có cơ quan, tổ chức nào có bổn phận  giúp đỡ này. Tuy không có kết quả nhưng dĩ nhiên tôi vô cùng biết ơn và ghi nhận nhiệt tình của vợ chồng người bạn cùng cảnh ngộ: “Hai người cộng đủ hai chân/ trải thơ dán cái phong trần đãi nhau/ còn mưa còn nắng đội đầu/ chân tình còn đỡ gốc sầu trổ thơ” (LH)

Tại Montréal, có một bạn trẻ sính văn chương, làm thơ viết văn, mới hơn cả những bạn Tân Hình Thức. Ngoài tài năng này, anh còn có một tấm lòng quí bạn rất đáng ngưỡng mộ. Đó là Khải Minh, có vợ dân Quảng Nam. Tổ ấm của hai vợ chồng một con của Khải Minh thường là căn cứ cho các bạn văn phương xa, nhất là Boston, khi ghé đến Montréal. Rất nhiều cuộc rượu ở đây, có đủ mặt già trẻ trong giới chữ nghĩa, từ giáo sư Nguyễn Văn Trung, giáo sư Lê Hữu Mục đến các ông bà Nhìn Cây Thấy Rừng, Tác Giả Với Chúng Ta… Dĩ nhiên đám Phan Xuân Sinh, Lân Chương, Lương Thư Trung vẫn ghé đây thường. Va mỗi lần các bạn đến, chúng tôi được mời ngồi vào ghế phái đoàn đón tiếp. Tình bè bạn giữa Montréal, Boston cứ thế tăng dần hương vị.

Phan Xuân Sinh có thêm một tác phẩm mới. Lần này không là thơ mà văn xuôi, Tác phẩm Bơi Trên Dòng Nước Ngược, cũng được tổ chức ra mắt thành công như lần trước, chỉ tiếc, Song Thao không chịu làm bác tài nữa, tôi mất cơ hội tham dự, để kể lể tỉ mỉ hơn. Chúng tôi vẫn thỉnh thoảng liên lạc với nhau qua điện thư. Một đôi lần Phan Xuân Sinh gọi thăm. Tôi tiếp tục cáo lỗi vì sự vắng mặt trong nhiều cuộc sinh hoạt vănhọc nghệ thuật của anh em Boston. Nhưng những người bạn sống trên vùng đất văn hóa này thật có lòng. Trong Luân  Hoán Một Đời Thơ, tôi có đến 4 tay bút xuất sắc ở đây góp bài. Một phần lưu giữ kỷ niệm, một phần tạ ơn, tôi viết tặng nhanh mỗi người ít câu thơ. Chỉ là thơ thù tạc, nhưng không mặc áo thụng. Với Phan Xuân Sinh, nét vẽ của tôi:

“Vừa chạm đời binh nghiệp

đã rụng mất một chân

Đứng Giữa Trời Đổ Nát

lòng thơ có bâng khuâng ?

thôi thì đi bán rượu

cùng em làm hiền nhân

dẫu là chân thi sĩ

yêu em tạm cù lần”

Năm 2005, Nhà thơ Triều Hoa Đại cho phát hành tác phẩm Lên Rừng Đếm Lá,. Đây là một cuốn sách tập họp những bài anh phỏng vấn cùng những bài trả lời của 17 cây bút tại hải ngoại (Hoàng Nga, Hoàng Thị Bích Ti, Hồ Minh Dũng, Lâm Chương, Lê Minh Hà, Luân Hoán, Miêng, Nguyễn Chí Thiệp, Nguyễn Troịng Khôi, Nguyễn Trung Hối, Nguyễn Xuân Thiệp, Phan Ni Tấn, Phan Xuân Sinh, Song Hồ, Trần Doãn Nho, Trần Nghi Hoàng, Trúc Chi), Triều Hoa Đại có mấy chục câu hỏi dành cho Phan Xuân Sinh, tôi xin chọn một:

“Đứng Dưới Trời Đổ Nát là một tập thơ ông đã cho trình làng cách nay có lẽ trên bốn năm rồi, và mới đây ông lại gửi thêm đến người đọc tập truyện Bơi Trên Dòng Nước Ngược. Thế thì giữa Thơ và Văn ông đứng ở chỗ nào ?”

Câu trà lời của Phan Xuân Sinh:

“ Ở ngoài đời tôi cũng hay đứng “chàng hảng”, nên trong thơ văn , tôi cũng đứng như vậy cho vững. Đùa với anh cho vui, chứ tôi cũng chẳng biết tôi thế nào mà trả lời đây. Chuyện thơ văn của tôi nó ẵm ờ quá, viết cho vui vậy. Anh cũng biết rằng tôi rất bận, lúc nào rảnh công việc, tôi phải sống cho riêng mình một chút xíu. Vào computer hứng chí thì làm năm ba câu thơ, hay viết vài đoạn văn chơi thôi ấy mà. Ở Mỹ mà để đầu óc thảnh thơi thì hư ngay. Chuyện làm thơ viết văn theo quan niệm của tôi, nó như một sân chơi, thích thì ta ra sân, mệt thì ta bước vào nghỉ ngơi. Thế nhưng cuộc chơi này suốt đời ta gắn liền với nó, không bỏ được. Đọc của tôi để tìm một ý tưởng cao siêu hay văn chương lưu loát thì không có. Đúng hơn tôi chỉ có khả năng làm một người kể chuyện cho những độc giả dễ tính, thỏ thẻ chuyện trò với nhau nghe chơi. Còn những người thâm trầm đi sâu vào trí tuệ, vào đường hướng văn chương nặng phần triết lý sâu xa, thì tác phẩm của tôi không có khả năng đó. Xin quý độc giả khó tính lượng tình tha thứ”.

Phan Xuân Sinh đã rất thành thật, và chính xác trong câu trả lời của mình. Nhưng để có cái nhìn khái quát về tài viết tạp văn của Phan Xuân Sinh, xin đọc một đoạn trong lời tựa do nhà văn Lương Thư Trung viết:

“…Đọc thơ ông tôi trân quí tấm lòng hào sảng bao nhiêu, đọc văn ông tôi càng quí trọng tâm hồn của ông bấy nhiêu. Cái đức khiêm cung và độ lượng từ những lời văn bình dị mà trong lành, bút pháp không trau chuốt mà hấp dẫn, chữ nghĩa không cầu kỳ mà vẫn làm mới được những trang đời…”

(Lương Thư Trung, Boston ngày 14-5-2004)

Vẫn mẩu bìa của họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, kèm theo chân dung tác giả của Nguyễn Quốc Tuấn, nhà Sông Thu của Thái Tú Hạp đứng tên xuất bản, cuốn sách dày 210 trang này là quà tặng tôi nhận được trong tháng 8 -2004. Cảm ơn người bạn văn  có lòng. Cảm ơn người đồng hương đã biết tôi từ thập niên 60 qua những bài thơ, qua phòng 1A Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng. Cảm ơn người cùng cảnh ngộ, có thể một đôi lúc cùng được nhức nhối thịt da trong một thời điểm đổi thay của thời tiết. Hôm nay, mùng một Tết Đinh Hợi, đội quân Grippe đang lấn phần thắng trên thân thể tôi, cả bọn Douleur cũng về hùa nữa. Nhưng tôi chấp hết, vừa gõ vừa hỉ mũi, vừa gõ vừa xoa chân. Còn bạn, còn Chu Tân… gắng mà bắt chước ngài Lý Bạch nhé:

“Xử thế nhược đại mộng/ hồ vi lao kỳ sinh/ sở dĩ chung nhật tuý/ đồi nhiên ngọa tiền doanh…” (đời vốn là mộng lớn/ làm chi mệt cái thân./ Suốt ngày ngâm ngấm rượu/ chỏng gọng ngủ, hiên, trần..LH tạm dịch.)

Ăn Tết ngon nhé, bạn hiền!

LUÂN HOÁN

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: