Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Sol Duc Falls

    Back to forest

    Prairie Falcon 2016

    Starry night

    It was snowing !

    Northern Flicker (Intergrade)

    Northern Pintail descent

    It's as Easy as 1-2-3

    Dolls clinic.

    Superstition Mountains

    More Photos
  • Lưu trữ

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Lương Thư Trung

Posted by phanxuansinh on Tháng Năm 30, 2009

Thử đọc lại thi phẩm Đứng dưới trời đổ nát của Phan Xuân Sinh

Lương Thư Trung

Nói đến thơ là nói đến tiếng nói tận trong đáy lòng của con người được đan dệt qua những vần điệu. Dù thơ được làm theo thể loại nào, người làm thơ đều muốn gởi những cảm xúc của mình qua từng câu chữ. Và người đọc thơ có cảm nhận được những rung cảm của người nghệ sĩ hay không là tuỳ vào sự đồng cảm của chính người thưởng ngoạn. Khi người đọc đồng cảm, rung động và có cùng cảnh ngộ thì họ sẽ cảm nhận được dễ dàng; bằng không, dù những vần thơ sâu sắc thế nào đi nữa, người đọc cũng sẽ không hiểu nổi và không cảm nhận nổi những điều mà thi nhân gởi gắm.

Vì vậy, đọc thơ khó hơn đọc văn và có lẽ, cũng vì đó mà ngày nay nhiều người làm thơ nhưng số người thưởng ngoạn lại không nhiều bằng. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, thi nhân làm thơ là làm cho chính mình, và những vần thơ hay nào cũng thường phủ đầy cái chất lãng mạn cùng nỗi bi thiết của cuộc đời mà người làm thơ đã trải qua và gánh chịu. Đôi lúc cái bi thiết ấy là những chất liệu ẩn giấu tận trong tâm can người nghệ sĩ rồi bật lên thành những tiếng thở dài, những tâm sự bời bời bất tận… Và chính vì muốn gởi những tâm sự ấy, nên thi nhân mới cầm bút đề thơ. Những vần thơ được sáng tác như vậy bao giờ cũng thành thực và dễ cảm người đọc. Nhìn trở lại nền thi ca Việt Nam qua bao thời kỳ, chúng ta có lẽ dễ nhận ra những bài thơ hay và nổi tiếng của các thi nhân tên tuổi đều bao hàm những điều vừa kể.

Nhắc điều này, chúng tôi cũng muốn nhìn lại thi phẩm Đứng dưới trời đổ nát của nhà thơ Phan Xuân Sinh, do tạp chí Văn phát hành vào tháng 7 năm 2000, cùng nói đến nguyên do vì sao thi phẩm này đã được nhiều người nhắc nhở sau khi phát hành. Chẳng hạn, những bài viết về thi phẩm Đứng dưới trời đổ nát của nhà văn Vương Trùng Dương nói về chữ “Ta” của Phan Xuân Sinh, của nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh về cảm nhận của người làm thơ được đọc thơ của bạn hay của Bùi Công Nguyên, một bạn đọc, nói về cái đặc sắc của những dấu chấm trong những câu thơ lục bát qua bài viết “Giai thoại văn nghệ ở làng tôi”, của nhà thơ Tuệ Chương nói về cái “hào khí Quảng Nam” của Phan Xuân Sinh. Ngoài ra, còn một loạt bài phỏng vấn tác giả của đài phát thanh, của tạp chí Hồn Quê trên liên mạng do Trường Đinh thực hiện và của một tờ báo Mỹ lớn nhất Boston, Boston Globe, cũng đã phỏng vấn tác giả. Và để tìm kiếm những nguyên do của sự quan tâm vừa rồi, cũng như sự đón nhận nồng nhiệt của người đọc khắp nơi, kể cả trong nước, chúng tôi nghĩ cách thiết thực nhất là thử đọc lại thi phẩm này của Phan Xuân Sinh.

Trước nhất, phải chăng Phan Xuân Sinh đã tạo được cho mình một phong cách, đề tài, cách dùng chữ nghĩa cùng với âm vận riêng, không trùng lặp với những người làm thơ đi trước hoặc đồng thời, nên thơ Phan Xuân Sinh là điều mới mẻ và mời gọi người đọc? Đặc biệt về cách chọn đề tài, Phan Xuân Sinh đã chọn những đề tài không mới nhưng lạ. Những nhân vật như Ngũ Tử Tư, Nguyễn Trãi, Tào Tháo là những nhân vật ai cũng đã hơn một lần nghe tên tuổi, nhưng nhờ tạo được cho mình cách diễn đạt ý tưởng rất đặc biệt qua những vần thơ như vừa tâm sự, vừa phân trần và vừa giải bày nỗi bất hạnh của chính mình với các bậc tiền nhân trong lịch sử mấy trăm năm trước mà thơ của Phan Xuân Sinh đã gây được một ấn tượng lạ. Những bài thơ tiêu biểu trong loại này là “Hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư” (trang 19), “Đêm nằm nhớ Ức Trai” (trang 69), “Giải oan cho Tào Tháo” (trang 97) là những bài thơ được nhiều bạn đọc quan tâm. Chính những điều tưởng chừng đã quá cũ kỹ này, nhưng với bút pháp riêng, Phan Xuân Sinh đã làm cho những câu chuyện cũ trở thành tân thời, hiện đại, vừa nghiêm nghị vừa dí dỏm, vừa chua chát, vừa như để nói chơi cho vui mà giải toả được bao nhiêu tâm tư u uất của mình.

Với người xưa thì vậy, còn với người đương thời và những người trẻ bây giờ, thì sao? Dĩ nhiên, nói chuyện với người đồng thời có cái thú riêng của nó. Phan Xuân Sinh cũng muốn thân thiết chia sẻ, giải bày tâm sự với những người trẻ hôm nay trong những bài thơ như “Nói chuyện với những người sinh vào thiên niên kỷ mới” hay “Người lữ hành lỡ chuyến tàu năm Hai ngàn”. Với nỗi lòng man mác buồn về sự mạt vận của chữ nghĩa thánh hiền, về đà mai một dần của bao điều được gọi là “văn hoá” của dân Việt mình nơi xứ người, với tâm tư luôn muốn được mọi người chia sẻ và chia sẻ với mọi người, nhất là với các bạn trẻ, Phan Xuân Sinh lúc nào cũng mang mang trong lòng một nỗi ray rứt, khắc khoải về mọi giá trị của ông cha rồi sẽ chẳng còn gì với sự lấn áp của đời sống văn minh nơi xứ lạ:

“còm lưng. Đẩy cổ xe thấm mệt
từ phương Đông ì ạch đến đây
mấy ngàn năm văn vật chất đầy
cũng đành bỏ bên lề quý quốc.”
(Người lữ hành lỡ chuyến tàu năm hai ngàn, trang 107)

Chúng ta thử nghe Phan Xuân Sinh giải bày tâm sự của kẻ đứng giữa dòng sống của xã hội mới, rồi nghĩ lại thân phận mình như những kẻ lạc loài ngơ ngác nhìn dòng đời trôi nhanh đến chóng mặt :

“bước qua đây. Mặt mày xanh ngắt
thịt da còn bám chặt phèn nâu
lên con tàu chẳng biết về đâu
với những đường thênh thang xa thẳm.

mắt nhắm. Mà thấy còn chóng mặt
chữ nghĩa xứ người vật vã từng cơn
có vội vàng, cũng thành đứa chậm chân
giữa phố lạ bơ vơ ngờ nghệch .”
(Người lữ hành lỡ chuyến tàu năm hai ngàn, trang 107)

Cái nét “bơ vơ ngờ nghệch” ấy không riêng Phan Xuân Sinh vấp phải, nó là nét chung của những người phải đặt chân lên xứ sở này vào những năm tháng hoàng hôn của cuộc đời. Khi đề cập đến một đời sống mới với người di cư, “hội nhập” luôn là từ được nhiều người nhắc đến, nhưng nó có lẽ chỉ đúng với trường hợp các bạn trẻ, những thanh niên sanh trước hoặc sau năm 1975 không xa, còn với những người ở tuổi trung niên hoặc lớn hơn thì khó mà “hội nhập” vào đời sống mới nơi xứ người. Chính vì vậy, giữa dòng đời tất bật, nhà thơ của chúng ta lại “thèm” bắt gặp một chiếc xe trâu đi qua con đường làng dịu nắng, hay một chút rượu đế ngồi đối ẩm với những người bạn nghèo dưới gốc mận, gốc xoài để nghe sao lòng mình ấm lại:

“ta thèm chiếc xe trâu, thủng thẳng
trên đường làng ngất ngưởng chiều về
nghèo triền miên đâu thiếu bạn bè
ly rượu đế buổi chiều đủ ấm.”
(Người lữ hành lỡ chuyến tàu năm hai ngàn, trang 107)

Sự thiếu vắng một vài cảnh cũ đến phát “thèm” ấy, chợt nhận lại mình, với thân phận nghiệt ngã của những người sanh ra vào thế kỷ trước, Phan Xuân Sinh tâm sự với người trẻ sau này của thiên niên kỷ mới:

“thời của bọn ta chẳng biết về đâu
chạy lung tung, mặt hãi hùng thất tán
nhìn về núi sông ruột đau như cắt
bài học này xin gửi lại các người”

Và để nói rõ hơn về nỗi lòng muốn nhắn gởi của mình, Phan Xuân Sinh tha thiết kêu gọi thế hệ mai sau hãy đến với nhau bằng tấm lòng bao dung hơn để cuộc đời này bớt đi những oán hờn, đau khổ một cách vô ích:

“ta muốn các người sống phải thực lòng
đem sở học để bình thiên hạ
mang tâm huyết dựng nên nghiệp cả
cớ sao phải động đến đao binh?”

Và rồi tình thương đồng loại như tràn dâng, qua nỗi đau của chính mình, Phan Xuân Sinh đã phân trần, mời gọi những lớp đàn em mai sau:

“Chúa hay Phật cũng lấy điều nhân ái
đãi với nhau bằng độ lượng từ tâm…”

hoặc:

“thật bình yên sống vơi non sông
bữa cháo bữa rau, của rớt ngoài đàng không lượm
cần chi phải màu mè cách sống
mà gây nên tội lỗi ngập đầu.”
(Nói chuyện với những người sinh vào thiên niên kỷ mới, trang 87)

Nhưng có lẽ, với Phan Xuân Sinh, cách hay nhất để vơi bao nỗi buồn là nói chuyện với bạn. Ngoài các bài thơ vừa dẫn ở trên, Phan Xuân Sinh còn nhiều bài thơ “nói chuyện” hoặc mời bạn uống rượu. Những bài thơ thuộc loại này khá nhiều như “Gặp lại bạn ta” (trang 64), “Chén rượu tạ lòng bạn hiền” (trang 77), “Nói chuyện với bạn hiền” (trang 102), “Uống rượu với bạn cũ bên bờ vịnh Half Moon Bay” (trang 122)…

Tóm lại, với Phan Xuân Sinh, làm thơ là để giải bày nỗi u – uẩn trong lòng của mình với một người nào đó theo cách riêng của tác giả. Và rồi, ngoài đời cũng như trong thơ, tác giả chơi thân và đem hết tấm chân tình đối đãi tận tình với bạn mình, không bao giờ so đo hơn thiệt. Chúng tôi xin ghi lại vài đoạn thơ tiêu biểu, nói lên cái tình bạn thân thiết ấy của Phan Xuân Sinh đối với bằng hữu:

“bạn kể đời bao năm lưu lạc
ta kể đời ngày tháng tù đày
tha phương hồ dễ người tri kỷ
gặp lại nhau chừ ta phải say”
(Uống rượu với bạn cũ bên bờ vịnh Half Moon Bay, trang 122 )

Hai cảnh đời tuy có hai phần số khác nhau, người thì “lưu lạc”, kẻ thì “tù đày” nhưng giờ đây, họ có chung cảnh “tha phương”, và gặp nhau nơi chốn này nếu không thương yêu nhau thì còn gì đáng sống ở cõi đời này: “gặp lại nhau chừ ta phải say”. Chẳng những thi nhân mừng quá muốn say với bạn mình đêm gặp gỡ này, mà qua đó Phan Xuân Sinh còn ngầm nhắn nhủ cùng mọi người rằng khi chúng ta vì hoàn cảnh lìa quê bỏ xứ ra đi, và được gặp lại nhau nơi xứ người này, chúng ta đều là bè bạn với nhau, nên hãy “say” với nhau đi; không chỉ say rượu mà còn say tình bạn bè thân thiết, say tình đồng hương, say tình giống nòi máu đỏ da vàng với thân phận phải lưu lạc khắp cùng. Còn gì đâu để chúng ta tranh hơn thiệt cho thêm buồn lòng. Giờ đây, ai cũng đã già hết rồi, hãy mở lòng ra mà đến với nhau, rồi chúng ta sẽ thấy ấm lòng biết dường nào:

“Chén rượu đượm chút tình thân cũ
ta thấy đời đang dậy mùi hương
nhìn nhau hai đứa đâu còn trẻ
mái đầu điểm bạc tóc pha sương.”
(Uống rượu với bạn cũ bên bờ vịnh Half Moon Bay, trang 122)

Qua những dòng thơ trên, Phan Xuân Sinh đã làm chúng tôi nhớ lại mấy câu thơ lục bát “Mời rượu” của Giản Chi Nguyển Hữu Văn, người cùng viết với Nguyễn Hiến Lê nhiều tác phẩm triết học Trung Hoa, đặc biệt cùng dịch tác phẩm bất hủ Sử ký của Tư Mã Thiên. Xin ghi lại một trích đoạn sau đây, để thấy thơ của Giản Chi có mang cái chất lãng mạn của thời đó, nhưng cũng để thấy cái chân tình, tha thiết với bằng hữu của Phan Xuân Sinh hôm nay nữa:

“… Uống đi, nào bạn uống đi,
Lênh đênh ngày tháng, mấy khi xum vầy !
Uống cho lòng ấm đêm nay,
Tình suông suốt kiếp thả say một giờ .
Có đôi trong cõi mơ hồ
Hoạ khuây dĩ vãng, bớt ngờ tương lai .
Thời gian hoạ có bớt dài,
Không gian hoạ rút trong vài tấc li …”
(“Mời rượu” của Giản Chi, trích trong Đời viết văn của tôi của Nguyễn Hiến Lê, trang 281))

Về chữ dùng, phải nhìn nhận rằng, những từ ngữ bình dân khi đem vào thơ thật khó vô cùng để khoác cho chúng những âm điệu có hồn. Thế nhưng, Phan Xuân Sinh lại sở trường trong cách biến những từ ngữ này thành những âm điệu có hồn trong các câu thơ của mình. Ví dụ như câu thơ sau đây:

“ta với em, một thứ như nhau
tìm miếng ăn, tủi hờn ngập mặt
ruột gan bời bời như dao cắt
ôm cái đau của kẻ cùng đường”
(Chào New Orleans, trang 45)

Có lẽ không chữ nào bình dị hơn chữ “một thứ như nhau” để chỉ hai người cùng cảnh ngộ khốn cùng, cùng thân kiếp bèo trôi giạt… nghe đơn sơ, rõ nghĩa nhưng khó gieo thành vần trong một đoạn thơ… Hoặc nhóm chữ “tủi hờn ngập mặt” để chỉ cái tủi nhục đến cùng tận, trên gương mặt dường như chỗ nào cũng chai lì, không còn chút ngượng ngùng của người mới thất bại lần đầu. Và tự nhóm chữ này cũng không có chút chất thơ nào. Thế nhưng, qua đoạn thơ vừa chép lại, chúng ta phải nhìn nhận rằng, chính những từ ngữ quá bình dân vừa rồi đã lột tả hết cảnh đời lưu lạc giang hồ của những người bi đời hất hủi, bi xã hội coi khinh, ruồng rẫy và đang kiếm tìm một đời sống nơi xứ người mà lúc nào cũng chua chát, đoạn trường…

Hoặc như đoạn thơ sau đây:

“ôi, cái thuở của mấy thằng phiêu bạt,
nhớ làm chi ba cái chuyện tử sinh
nó nhỏ nhoi như đầu tăm ngọn cỏ
của một thời trai. Sông núi đao binh.”
(Gặp lại bạn ta, trang 64)

Những từ ngữ “của mấy thằng”, “ba cái chuyện”, “đầu tăm ngọn cỏ” là những chữ thường dùng ngoài đời, nơi cửa miệng mọi người khi người ta nói với nhau về một điều gì quá bé nhỏ, tầm thường, không đáng phải quan tâm. Và dưới ngòi bút của Phan Xuân Sinh, tác giả đã mang cho những từ ngữ ấy sự nhịp nhàng, ăn khớp với vần điệu của mạch thơ và với cảnh đời chẳng đáng giá gì, dù rằng đó là chuyện sống chết của một đời người. Chỉ là “của mấy thằng”, chỉ là “ba cái chuyện”, chỉ là “đầu tăm ngọn cỏ” mà thôi… để nói lên việc coi nhẹ cái chết, như “nhẹ tựa lông hồng” của người xưa. Thực ra, chúng ta đâu biết “lông hồng” là gì, và chỉ biết mang máng trong sử sách có giống “chim hồng”, “chim hộc”; nó có vẻ mơ hồ, mường tượng, và không thể gần gũi bằng “đầu tăm ngọn cỏ” là những vật bé nhỏ, có thật; chúng ta không cần hình dung cũng đã nhận ra cái khinh bạt trong tứ thơ rồi…

Còn nhiều lắm những từ ngữ được dùng như vậy trong tập thơ. Đây chính là nét rất đặc sắc của Phan Xuân Sinh trong việc đưa những từ ngữ mộc mạc, bình dị vào thơ. Và nhờ vậy, so với nhiều tác giả khác, thơ anh có được nét riêng. Dĩ nhiên, muốn có được cái nét riêng đó không phải là điều dễ làm. Sở dĩ chúng tôi nói như vậy vì càng dùng từ ngữ bình dị trong thơ bao nhiêu thì để có những vần thơ hay lại càng khó bấy nhiêu. Đó chẳng khác nào việc người có tâm hồn nghệ sĩ có thể biến những cây tre, cây trúc với lá tranh, vách đất thành một mái chòi hay một căn nhà khang trang thơ mộng … Biết đâu, chính những cái bình dị như vậy lại bền chắc?

Nhắc về các chữ dùng trong thơ của Phan Xuân Sinh chẳng khác nào nhắc đến tấm áo ngoài của người con gái. Có những người ăn mặc lộng lẫy, sang trọng nhưng tâm hồn thì khô khan, vô tâm, hời hợt, chai sạn nên không hấp dẫn cho lắm. Ngược lại, có những người nét mặt chỉ xoàng xoàng, không đẹp, nhà lại nghèo với chiếc áo bà ba loại vải xoàng, đơn giản nhưng sao lại quá dễ thương… Như những bài thơ bóng bẩy cầu kỳ mà không thực nên khó gợi cảm được. Ngược lại, có những bài thơ rất bình dị, đơn sơ mà chứa đầy cảm xúc chân thực nên dễ làm rung động tâm hồn người đọc. Thơ Phan Xuân Sinh đạt được cái bình dị, đơn sơ mà chan chứa ấy!

Nhưng khi đọc lại thi phẩm Đứng dưới trời đổ nát xong, rồi xếp tập thơ lại, ngồi ngẫm nghĩ về mọi ý tưởng của người thơ mà tôi nghe lòng mình cũng mang mang đâu đây một tiếng thở dài đến não lòng. Qua những bài tâm bút và qua các bài trả lời phỏng vấn, chúng tôi được biết Phan Xuân Sinh vốn là một đứa bé mồ côi mẹ từ lúc ấu thơ, sống côi cút bên thân phụ với cảnh gà trống nuôi con, thiếu thốn tình thương yêu ấp ủ của mẹ hiền quả là một nỗi bất hạnh lớn lao của anh. Đến khi vào đời, lúc thời chiến chinh, Phan Xuân Sinh đâu có con đường nào để chọn ngoài đời lính đầy hiểm nguy. Khi vừa tròn hai mươi bốn tuổi, tuổi lính chưa được bao năm, một tai hoạ khác lại vội ập lên đứa bé bất hạnh ngày nào thêm một lần. Năm ấy, chiến trường Vùng I Chiến thuật sục sôi bom đạn. Từ gốc cây, vách núi cho đến cái giếng nước, con đường mòn, cọng rau, ngọn cỏ đâu đâu cũng bao trùm nỗi hiểm nguy chết chóc… Trên bước đường hành quân dưới làn đạn rền trời, tiếng mìn nổ xé đất giữa buổi trưa im vắng của rừng già; một miểng mìn vô tình đã bay lạc vào thân thể người thiếu uý trẻ Phan Xuân Sinh ấy như một định mệnh khắc khe, cay nghiệt cứ theo bám riết đời anh… Thế nhưng, anh vẫn bình tĩnh và hy vọng đời mình sẽ không đến nỗi nào khi chiếc phi cơ trực thăng chở anh về Tổng Y viện Duy Tân ở Đà Nẵng để cấp cứu vào một chiều tắt nắng… Tiếc thay, vết thương máu ra nhiều quá và anh ngất xỉu sau vài phút ngắn ngủi khi mới vừa nhập viện. Thời gian trôi qua, chẳng biết là anh đã mê man như vậy bao lâu, nhưng chắc khá dài vì sau đó phải trải qua một ca giải phẫu vết thương đầy máu nữa. Khi tỉnh lại, anh bàng hoàng, hốt hoảng khi biết rằng bàn chân mặt của mình từ nay vĩnh viễn không còn nữa:

“cúi xuống nhìn lại mình băng hoại
xót thương thay mầm sống ra rời.”
(Sớm chiều lặn lội, trang 51)

Chính vì cận kề với cái chết như vậy, mang trên mình vết thương suốt đời và trong lòng luôn tê tái buốt đau nên Phan Xuân Sinh mới dám mạnh dạn, tự hào mà sánh cái nguy của mình với cái nguy của Ngũ Tử Tư trong một lần “hầu chuyện”:

“Ngài vượt qua cửa ải thoát thân
ta cũng trốn chạy năm lần bảy lượt
cái nguy của ta Ngài đâu sánh được
rừng thẳm bể sâu tan xác như chơi …”
(Hầu chuyện với Ngủ Tử Tư, trang 19)

Nỗi đau thương kinh hoàng đã ùa chụp lên thân phận một người thanh niên còn quá trẻ với nhiều ước vọng như Phan Xuân Sinh, bảo sao trong thơ anh không bàng bạc những tiếng thở dài… Thở dài cho thân phận mình, thở dài cho những cuộc tình bỏ đi, thở dài cho những ước mơ không thực hiện được, thở dài cho kiếp đời ba chìm bảy nổi, lưu lạc ngàn trùng…

Chúng tôi xin mượn vài đoạn thơ tiêu biểu để nói lên tâm tư của Phan Xuân Sinh, như tiếng vọng lại từ bao nhiêu tầng bậc rung cảm ẩn giấu trong lòng của thi nhân này suốt những năm tháng dài vương mang một nỗi bất hạnh và đặc biệt, có lần, Phan Xuân Sinh đã than như vậy khi mỗi lần đêm vắng về:

“Cũng quẩn quanh mấy thằng lưu lạc
Sớm chiều nghề ngỏng chẳng hơn ai
Trong lòng lịm tắt bao chí lớn
Đêm về se sắt tiếng thở dài.”
(Gặp lại bạn ta, trang 64)

“Tiếng thở dài” trong thơ Phan Xuân Sinh nó “se sắt” là phải. Nó se sắt vì thi nhân đã cảm nhận bao nhiêu đớn đau, mất mát ngay trong tâm hồn mình và trên thân thể mình. Đó là những vết thương hằn lại suốt đời, không phai được khi mỗi lần nghĩ lại vào những lúc “đêm về”. Nhưng đâu phải Phan Xuân Sinh chỉ thở dài cho riêng mình, anh dường như lúc nào cũng nhớ đến những người bạn, kẻ mất, người còn, mà nay đang siêu tán thất lạc khắp mọi phương trời, nên với một tâm hồn dạt dào tình thân ái thương yêu dành cho bè bạn, anh không sao khỏi ngậm ngùi mỗi lần nhắc nhở. Dù rằng nhiều lúc thi nhân coi việc tử sinh chỉ là “đầu tăm ngọn cỏ”, nhưng Phan Xuân Sinh đã phải nén lại tiếng khóc, “cầm lòng” khi nhắc lại từng tên bạn cũ với đôi mắt lúc nào cũng “cay xé”:

“vẫn biết thế . Sao mắt ta cay xé
cố cầm lòng nhắc nhở từng tên
bạn ta . Kẻ đầu non cuối chợ
đứa mất, đứa còn đâu dễ gì quên .”
(Gặp lại bạn ta, trang 64)

Và rồi nhìn ra chung quanh, hướng về mọi nẻo, Phan Xuân Sinh chợt nhận lại mình, anh đa cảm nhận ra thân phận của kẻ “sa cơ”, lỡ vận:

“Nốc cạn ly bỗng nhiên buồn lạ
Ngẫm mình thân phận buổi sa cơ
Đẩy đưa với chút tình mờ nhạt
Ta sợ ta thành kẻ bơ vơ.”
(Ly rượu đầu xuân, trang 82)

Với một tâm hồn tràn đầy lãng mạn, Phan Xuân Sinh cũng làm cho ta xao xuyến bồi hồi:

“Có một chút gì xôn xao rất lạ
Để hồn ta bay theo lá vu vơ …”
(Lời tỏ bày cùng quê nhà, trang 92)

“Một chút gì xôn xao” đó để hồn thi nhân “bay theo lá vu vơ” là nỗi lòng nhớ cố hương vào một giây phút chạnh lòng, trong đó, có những cuộc tình cũng đành bỏ ta đi theo những chiếc bóng chập chờn. Nhưng với một người vốn đa nặng tình với đất, với người như Phan Xuân Sinh, những buồn vương không giữ nổi một sự trở về tìm kiếm lại những bóng hình, một lần nữa, như một tiếng thở dài trong dòng sông đời nơi bến bờ xa lạ này :

“giờ ở đây. Lòng se sắt lạnh
nhớ phố, nhớ người . Đôi mắt long lanh
bên trời xa, bên đời hiu quạnh
chim lạc bầy, chim moi cánh tim quanh .”
(Lời tỏ bày cùng quê nhà, trang 94)

Chất lãng mạn cùng với thân phận ấy đã mang đến cho thơ anh một tiếng ngân vọng đến nao lòng. Với nhiều nhà phê bình văn học, thơ Phan Xuân Sinh rực rỡ những hào khí của một kẻ sĩ xứ Quảng không gặp thời. Nhưng xét về phương diện mộng mị cuộc đời, cái chất lãng mạn ấy đã tô điểm cho thơ Phan Xuân Sinh thêm chút khắc khoải, chua xót của một lần phụ bạc đến dễ thương. Ta thử nghe lại mấy dòng lục bát cho một cuộc tình dù nay đã “mờ phai” nhưng còn chút gì gờn gợn trong lòng mỗi khi nhớ lại và còn đó cái buồn man mác của một lần lỡ hẹn:

“ta bâng khuâng đứng bên đường
xa em còn chút vấn vương bên lòng
qua rồi bao nỗi bão dông
chuyện xưa trầm tích dưới dòng quạnh hiu
là đời vây phủ rong rêu
là em vàng vỏ bên chiều nắng phai
nhìn nhau chi để thờ dài
gặp nhau chi để một mai ngậm ngùi
thì thôi em cố gượng vui
chút tình ngày cũ cố vùi lắng sâu”
(Mờ phai, trang 81).

Thi nhân thì vỗ về, khuyên nhủ người thương rằng “thì thôi em cố gượng vui, chút tình ngày cũ cố vùi lắng sâu” nhưng chính trong lòng mình lại khắc khoải những tiếng “thở dài” đứt ruột… Đâu phải chỉ một lần, Phan Xuân Sinh còn gợi nhớ cho chúng ta một nỗi đau nữa khi ngồi trên đồi nghe tiếng chim hót, tiếng súng rền mà ở bên kia con phố, cuộc tình đã đi sang bến khác tự lúc nào:

“trên đồi trọc, cỏ không kịp mọc
sống chết một đời có nghĩa chi
khi tỉnh giấc, ngó bên đồi chim hót
lòng ta đau, nhìn mãi cuộc tình đi

như thỏi son môi. Không còn thắm
nên em quên một thứ chẳng cần
ta bấn loạn, cơn đau cùng cực
chào thua. Em trong cõi trầm luân.”
(Nghe chim hót trên đồi 55, trang 32)

Có một lần thi nhân trở lại bến sông xưa, lòng vương vấn một bầu trời thương nhớ cũ:

“ta nhớ đò, người qua thuở ấy
nước mắt còn ướt đẫm bến sông
oan khiên ụp xuống đời con gái
tiễn người đi. Ta nát cả lòng …

bao năm ta trở về chốn cũ
ngồi bên sông chờ chuyến đò qua
cây với ta một màu ủ rủ
người có hay ta lệ nhạt nhoà …”
(Qua sông nhớ người, trang 143-145)

Những vần thơ với bao tâm sự dạt dào được trải ra như thế đã cảm hoá hồn tôi biết dường nào! Đến một hôm tình cờ gặp lại người cũ giữa thành phố lạ, nhà thơ của chúng ta cũng không khỏi bàng hoàng chua xót cho một lần lỡ hẹn với hai câu thơ lục bát làm mềm lòng người đọc :

“em về chia nửa vầng trăng
khóc giùm ta giữa gối chăn bạc tình.”
(Gặp lại người xưa giữa phố Boston, trang 44)

Đọc hai câu thơ này của Phan Xuân Sinh, có lẽ sẽ có người chợt nhớ lại những dấu chân trên cát, tiếng sóng vỗ vào bờ đá nơi vùng biển xanh nào đó, những màn sương lạnh phủ ngập rừng thông nơi một thành phố núi, hay dưới gốc phượng vĩ đỏ bông vào mùa bãi trường của một thời xa lắm mấy mươi năm và nhớ những cuộc tình thơ dại tuổi học trò đã qua đi và không bao giờ chúng ta trở lại để nói cùng “người xưa”: “em về chia nửa vầng trăng, khóc giùm ta giữa gối chăn bạc tình” như Phan Xuân Sinh đã có được. Tôi rất mê hai câu thơ này vì cái ý thơ không chỉ vừa thật, lãng mạn, chua chát, bẽ bàng mà còn đẹp nữa…

Vốn đa tình, đa cảm, nhưng Phan Xuân Sinh vẫn nhận ra người đã cứu độ mình ra khỏi cơn đau buốt đến tê tái một kiếp đời côi cút bi thảm của mình. Và người ấy chính là hiền thê của anh bây giờ. Lúc còn thơ ấu, anh đã có một tuổi thơ bất hạnh. Đi vào đời, anh lại gặp nhiều điều bất hạnh khác khi tuổi đời còn quá trẻ, giữa lúc bao mơ ước đang tran trề. Một bàn chân của người lính trẻ đã để lại trên rừng rậm giữa tiếng bom đạn rền vang nóng bỏng là một chuỗi ngày kinh hoàng mãi ám ảnh một kiếp người. Chúng ta thử nghe Phan Xuân Sinh kể về chị Thiên Nga, hiền thê của anh trong thơ:

“em vất vả đắng cay chồng chất
gió sớm mưa chiều phủ lên đầu
lặn lội đơn thân ngoài cõi vắng
âm thầm quay quắt suốt đêm thâu …”
(Tạ lỗi với vợ hiền, trang 119)

Như một người cứu rỗi giữa dòng đời, tình yêu của chị đã thấm vào hồn thơ của chồng:

“ta mệt lả mắt mờ chân mỏi
những lằn roi hằn nỗi đoạ đày
em chia sớt cơn đau cùng khó
lời em như mật rót bên tai

cúi xuống nhìn lại mình băng hoại
xót thương thay mầm sống rã rời
em vì ta lao mình cứu rỗi
trải lòng ra, phơi giữa đất trời .”
(Sớm chiều lặn lội, trang 53)

Có lẽ không lời nào ca ngợi tình chồng vợ thuỷ chung, cao quý hơn những dòng thơ này nữa. Và cũng để đáp lại cái tình yêu thiêng liêng ấy, Phan Xuân Sinh còn muốn gởi gắm một tấm chân tình như một lời “cám ơn em, cám ơn đời” còn cho anh có được một người vợ hiền bao dung, đã đến với đời anh giữa buổi khốn cùng, cay nghiệt và nhờ vậy mà anh đã gượng dậy nổi sau biết bao lần muốn ngã quỵ :

“cám ơn em, cám ơn đời
tình sau, nghĩa trước. Một trời bao dung
giữa bấy nhiêu cái khốn cùng
còn cho nhau chút thuỷ chung giữ mình.”
(Bài thơ cho vợ hiền, trang 9)

Đọc lại thơ Phan Xuân Sinh, chúng tôi cảm nhận được những tâm sự của nhà thơ, man mác buồn nhiều hơn vui với những trăn trở, những chia cách, những bất hạnh, những phủ phàng trong cuộc đời mà tác giả đã từng hứng chịu, trải qua. Những tâm sự được gói ghém trong hơn 145 trang thơ đã là tiếng thở dài não nuột làm cay xé lòng tác giả và làm rưng rức con tim những người đọc cùng cảnh ngộ. Đọc lại thi phẩm Đứng dưới trời đổ nát của Phan Xuân Sinh là dịp để chia sẻ những tâm sự ấy với tác giả và cũng là dịp để nghe lại tiếng nhịp đập của trái tim mình, đôi lúc nó cũng não nuột tương tự. Thơ chứa nhiều tâm sự và thành thực như vậy bao giờ cũng gần gũi và dễ cảm lòng người. Người nghệ sĩ làm thơ vốn dĩ là viết cho mình bằng những cảm xúc, những tâm sự riêng nhưng thi nhân làm thơ cũng muốn viết cho người là vậy!

LƯƠNG THƯ TRUNG
(Talawas 31/5/2007)

© 2007 talawas

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: