Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Thư viện

Archive for Tháng Năm 30th, 2009

Phiếm Luận: Đụng Vào Cõi Văn Chương

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Đụng vào cõi văn chương

Tác giả:  Phan Xuân Sinh
Lời Mở Đầu: ” Đây là một câu chuyện tưởng tượng, nếu có sự trùng hợp đó chỉ la ngẫu nhiên chứ không phải cố tình của tác giả. Kính mong quý vị lượng tình tha thứ. PXS”

Trên chiếc chiếu văn chương hải ngoại (tôi không biết trong nước có như vậy không?) thì lắm trò, lắm kiểu, có nhiều khuôn mặt kỳ lạ, họ luôn luôn làm những điều nỗi cộm để thiên hạ chú ý. Chẳng hạn như hội ộhọp, tham dự những buổi sinh hoạt văn nghệ, bao giờ họ cũng tới trễ. Khi vào thì đi đứng nghênh ngang, mặt thì hầm hầm, không thèm ngó ai chứ đừng nói gì đến chuyện chào hỏi. Khi được mời lên phát biểu thì họ ăn nói linh tinh, lập dị, cố tình lạc đề, thể hiện cho mọi người biết họ xem thường tất cả. Khi ngồi trước đám đông anh em, họ sợ người ta không biết họ là ai thì họ ăn nói khoác lác, coi thường mọi người, họ giành nói hết chuyện nầy tới chuyện khác, không cho ai nói. Có một lần ngồi nhậu, cũng cái kiểu ăn nói trên trời như vậy, từ đầu tới cuối không cho ai nói. Một ông nhà thơ thấy gai mắt, đang trong tình trạng ngà ngà, mượn rượu ông nói thẳng vào nhà văn ấy: “Thưa ông nhà văn kia, tôi đến đây chơi với anh em. Tôi cũng có miệng ăn miệng nói, ông để cho tôi ăn mà không cho tôi nói, ông giành nói hết. Tại sao vậy?” Cả bàn nhậu chưng hửng, rồi ôm bụng cười. Thế là gây ra một mối thù không đội trời chung.

Ở hải ngoại làm báo dễ dàng, người làm báo chỉ cần có khả năng đi lấy quảng cáo, chìu lụy thân chủ quảng cáo, tờ báo sẽ sống được. Quảng cáo nhiều, người chủ báo sẽ giàu. Bài vở cỡ nào cũng có, đáp ứng mọi thị hiếu của người đọc. Vào internet chúng ta sẽ có ngay những tin tức văn chương, chính trị, kinh tế v.v… nóng hổi nhất, cập nhật hóa được mọi tin tức mà không sợ bị lỗi thời. Có những người say mê với nghề làm báo, tôn trọng độc giả và sợ đụng chạm vì như vậy sẽ mất uy tín, nên tờ báo của họ được chăm sóc kỹ lưỡng. Còn có một thành phần xem tờ báo của mình là một phương tiện để thể hiện cá tính riêng của mình, đăng hình vợ con cháu chắc, để cho độc giả biết cái hạnh phúc của mình. Một ông chủ báo kể cho tôi nghe trường hợp của ông. Trong một tờ báo xuân cuối năm, ông đem hình con gái ông để làm bìa, phía dưới có hàng chữ: “Ái nữ của bổn báo Chủ nhiệm”. Một độc giả thấy gai mắt gọi tới ông và chỉ nói vổn vẹn một câu rồi cúp máy: “Ông còn hình nào của vợ lớn, vợ bé mang ra đăng luôn, xem như quảng cáo cho gia đình ông, để thiên hạ biết.”

Có tờ báo muốn làm chức năng ‘cảnh sát” sẽ thổi còi những tờ báo nào mà không đúng quy luật, đi chệch đường, họ sẵn sàng đụng chạm, gây hấn, tranh cải (Chẳng biết căn cứ vào đâu để có cái quy luật bất thành văn kỳ lạ nầy). Họ xem như họ là đấng quyền năng tối cao, ban phát hay trừng phạt, đề cao hay hạ nhục. Họ có quyền làm điều đó một cách tự nhiên mà không sợ ai cả. Một cảnh sát công minh, vô tư hướng dẫn những cổ xe dư luận đi vào bên phải hay bên trái. Thế nhưng cái quan trọng là làm thế nào để thể hiện cái “vô tư” khi mà chính bản thân của mình đã thiếu vô tư. Tờ báo của mình cũng tranh giành quảng cáo với những tờ báo khác, kèn cựa giá biểu quảng cáo và còn vô vàn cái tranh giành khác để sống còn. Cho nên người đọc tại hải ngoại không lạ gì với cuộc chiến tranh báo chí. Báo nầy chụp nón cối cho báo bên kia, báo bên kia lượm lên chụp lại bên nầy, như vậy bên nào cũng cộng sản cả. Người đọc đứng giữa không biết tin bên nào, vì lý lẽ bên nào cũng đúng. Đích thực không bên nào là cộng sản nhưng hai bên đều ngụy tạo để vu cáo nhau. Còn văn chương được viết để đánh đấm nhau thì vô cùng hạ cấp, cốt để hạ nhục đối phương, phủ đầu đối phương.

Căn bệnh thứ hai của báo chí là dạy cho người khác một bài học. Tâm trạng họ mang trong người là đứng phía trên nhìn xuống phía dưới, dạy cho bọn lóc nhóc một bài học. Giống như Trung Cộng năm 79 dạy cho đàn em Việt Nam một bài học vậy. Muốn làm giáo sư luân lý mà quả thật trong lời lẽ chẳng có chút luân lý nào. Ghét ai là họ châm chọc, soi mói, hạ nhân cách. hạ nhục đối phương. Người bị họ đụng tới thường là những người nổi tiếng, có nhân cách, được nhiều người nể trọng. Họ đụng tới thành phần nầy để người khác biết là cở nầy mà họ còn dám đụng, thì người khác phải coi chừng. Đó là đòn dằn mặt kẻ khác đừng lén phén sẽ mang họa. Quan niệm của họ là làm như vậy mới được nổi tiếng, các tờ báo khác khiếp sợ, họ xứng đáng lãnh tụ báo chí. Những người tranh đấu ở tù mục gông dưới chế độ công sản như Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện mà họ cũng không tha, riết rồi các ông nầy không dám có mặt giữa đám đông. Phải sống ẩn dật. Có tờ báo trong tay là họ muốn ai ai cũng phải tùng phục. Nghe tên họ ai cũng sợ phải lo tránh xa. Ở Boston trước đây có một tờ báo chuyên chửi bới người khác. Họ moi những thâm cung bí sử, tam cổ tứ đợi của người ta ra chửi bới. Người viết mục chửi nầy một hôm ngồi nhậu với anh em. Tôi hỏi ông làm sao ông biết đời tư của họ mà ông moi móc chửi rủa như vậy. Ông ấy trả lời tỉnh bơ: “Làm gì biết được đời tư của nó, mình phịa ra đấy chứ để có cớ chửi nó. Nó không loạn luân thì mình viết nó có loạn luân, ai biết điều nầy? Nó thì không có báo, làm sao phân bua được.” Thú thật tôi chưng hửng với cái lý lẽ như vậy. Còn thơ mà ông gọi là thơ chua thì tục tằn không chịu được, ông dùng những từ ngữ dâm ô, hạ cấp, mắng mỏ, lăn nhục người ta. Ông từng hăm dọa người khác là phải chìu chuộng ông, nếu không thì “tớ” sẽ cho một bài thơ chua thì xem như tàn đời. Ghê chưa. Từ đó, tôi bắt đầu lánh xa con người nầy.

Có một ông chủ một tờ báo nổi tiếng về đánh đấm, gây sự. Các tờ báo cùng địa phương không dám hó hé, ông viện dẫn những lý do thật vô lý để có cớ hạch sách người khác. Một hôm, gặp ông trong một bữa tiệc của người bạn. Ông khẳng định với mọi người là Trịnh Công Sơn là Cộng sản. Một người nào đó hỏi ông cho biết cái gì để ông quả quyết chuyện đó là có thật. Ông chứng minh ngay trong bản nhạc của Trịnh Công Sơn có câu: “..Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, thổi suốt trăm năm một cõi đi về…” đủ nói lên Trịnh Công Sơn là tên Cộng Sản. Rồi ông giảng giải, “nhật nguyệt” tức là “minh”, mà “minh” tức là Hồ Chí Minh. Trời đất, tôi tưởng rằng ông chứng minh hành động, tư tưởng gì mà Trịnh Công Sơn đã thể hiện đi theo phe bên kia, chứ còn vì chữ “nhật nguyệt” để rồi khẳng định người ta là cộng sản thì tội nghiệp cho người ta quá. Ngồi trong bàn ai cũng lắc đầu, nhưng không ai dám cải vì trong tay họ không có gì cả, còn ông kia có tờ báo trong tay. Đụng tới, ông phang trên báo thì mình lấy gì đỡ. Thôi thì làm thinh cho qua chuyện, dây dưa làm gì cho thêm rắc rối. Ông nhà báo nầy không biết điều đó mà cứ nghĩ cái lý luận của ông đúng, nên mọi người im re, không ai lên tiếng.

Những người mang căn bệnh gây sự, trước hết làm cho người đọc chú ý bằng cách hạ địch thủ một cách thậm tệ, dù người đó thuộc bậc thầy của minh. Khi chê bai như vậy, cho người đọc biết văn chương cở đó mà còn bị hạ đo ván thì người viết phải cao siêu hơn. Đó là sách lược chung chung cho những người viết bài đánh đấm người khác. Họ trông cho người bị họ đánh viết bài trả lời, vì như vậy sẽ trúng vào điều mong ước của họ, gây cho độc giả chú ý đến cuộc bút chiến nẩy lửa nầy. Từ nhân vật vô danh tiểu tốt, họ được bút chiến với nhân vật thành danh, tên tuổi của họ tự nhiên được người kia quảng cáo không công, nổi lên như cồn. Họ đau khổ nhất là họ thức đêm thức hôm, nặn đầu óc cho ra để viết bài chửi rủa, mà người kia chẳng thèm trả lời, không thèm để ý tới, cứ yên lặng, khinh bỉ. Đó là thái độ khôn ngoan nhất của những người bề trên. Mà trả lời làm gì, hơn thua làm gì với những kẻ lấy sự chửi bới, đả kích làm phương tiện dấn thân vào chốn văn chương.

Đúng ra giới văn chương là giới thấm nhuần những đức tính tự trọng, khiêm nhường nhất. Họ là những người đọc sách, viết sách, là những người đụng với chữ nghĩa, chơi với chữ nghĩa, biến chữ nghĩa trở thành những món ăn tinh thần bổ ích. Thế nhưng trong giới nầy có nhiều thành phần mang căn bệnh nầy nhiều nhất. Căn bệnh Tự Cao, Tự Đại. Cái hống hách, hợm hĩnh, coi trời bằng vung. Coi ai cũng không bằng mình, mình là nhứt thiên hạ, là minh chủ văn chương v.v… Hiện tượng nầy không nâng họ lên cao, mà đẩy họ xuống vực sâu. Thế mà họ đâu biết điều đó, họ cứ vênh váo tỏ vẻ cho mọi người biết sự hiện diện của họ. Thường thường những thành phần nầy không mấy tiếng tăm, tiếng tốt thì ít, mà tiếng xấu lại nhiều.
Cách đây mấy năm, có một cuộc sinh hoạt văn nghệ. Các văn nghệ sĩ tham dự bữa đó được giới thiệu. Vì số văn nghệ sĩ quá đông nên có một người bị xướng ngôn viên quên giới thiệu ông đứng dậy để chào mọi người. Thế là ông căm thù người xướng ngôn viên nầy. Thời gian đầu ông để bụng không nói cho ai biết sự căm thù của ông. Nhưng dần về sau ông không thể chịu được nữa nên ông nói ra cho mọi người biết là người xướng ngôn viên đó ganh tài nên không giới thiệu ông. Chuyện nầy nó trở thành một mối thâm thù với ông và ông thề với mọi người là ông không thể nào quên mối hận nầy, đến khi nào ông chết ông cũng mang nó theo với ông dưới suối vàng. Ông có một căn bệnh khoác lác, ông nói với một người bạn là nếu ông viết văn thì phải tầm cở quốc tế chứ không thể xềnh xoàng như Việt Nam được. Chính vì vậy nên ông không viết văn. Còn thơ của ông thì ở trong “Cụm Phong Tình …” gì đó thuộc tầm cở quốc tế, đã bay đi khắp thế giới. Nghe nói nhóm của ông ra mắt sách tận Paris, ông vội vàng mua vé đi ngay để được giới thiệu, đứng dậy, gật đầu chào. Thật đơn giản, ai đi dự bữa đó có nhớ ông là thi sĩ không? Hay đã chìm vào quên lảng, chỉ có như vậy ông phải tốn cả ngàn đồng phí tổn cho chuyến đi Pháp. Họ quan niệm một cách dễ dãi, nổi tiếng không cần qua tác phẩm, chỉ có mặt trong các cuộc sinh hoạt văn nghệ đâu đó, được người ta xướng tên giới thiệu, đứng lên gật đầu chào là hãnh diện với chức thi sĩ, văn sĩ của mình, như vậy là tiếng tăm rồi.
Tôi không hiểu tại sao tên tôi lại lọt vào cái mail list của một ông thi sĩ tại xứ Canada. Lần đầu tiên tôi mới biết tên ông. Ông tự giới thiệu ông là thi sĩ Tản Vân. Tên lạ hoắc, nhưng trong email thi sĩ gửi đi cho mọi người biết là tên của thi sĩ đã đi vào văn học sử. Chỉ có một bài thơ đã làm cho thi sĩ nổi tiếng, từ trong nước ra tới hải ngoại ai ai cũng biết thi sĩ Tản Vân. Một điều lạ là ông dùng ngôi thứ nhất trong xưng hô (tôi) thì ông thay vào chữ “thi sĩ”. Nghe thật chướng tai không chịu được. Thơ của ông cũ rích và sáo mòn vậy mà ông đâu biết điều đó. Cứ mỗi lần làm được một bài thơ mới, ông gửi cho tất cả những người trong mailing list hãy vào xem bài thơ mới sáng tác của “thi sĩ”. Ông giảng giải cho mọi người biết là bài thơ đó ông làm trong trường hợp nào, vì sao ông cảm xúc, giá trị của nó ở chỗ nào. Tôi nghĩ thi sĩ nầy mang bệnh hoang tưởng hay thần kinh có vấn đề. Nhưng không phải vậy, ông đang có văn phòng kế toán, khai thuế gì đó. Nghề nghiệp nầy đòi hỏi chi li chính xác, nếu đầu óc lơ mơ không thể làm được. Đã nhiều lần tôi yêu cầu ông rút tên tôi ra khỏi mailing list (tôi viết rất lịch sự), nhưng hình như ông không cần để ý tới yêu cầu của tôi, hoặc ông không thèm đọc tới. Bực quá, tôi gửi cho ông một lá thư có đượm một chút cay đắng để ông nhìn lại công trình sáng tác của mình. Thi sĩ nó không có “lisence” như bác sĩ, kỷ sư. Danh từ nầy người khác gắn cho mình, chứ không phải tự mình làm được vài câu thơ vớ vẩn rồi tự xưng là thi sĩ một cách hợm hĩnh như vậy. Nguyễn Du có sống dậy cũng không vỗ ngực tự xưng mình là thi sĩ, dù ông ấy đủ tư cách để làm chuyện đó. Tôi khuyên ông hãy khiêm nhường một chút. Ông rút tên tôi ra khỏi mail list của ông ngay lập tức.
Một nhà phê bình văn học (thật ra chẳng thấy ông phê bình ai, chỉ thấy ông đả kích người ta thì nhiều, nhất là những người nổi tiếng). Ông chê hết người nầy tới người khác không chừa một ai. Ông chưa bao giờ khen văn thơ của ai cả. Khi anh em ngồi nói chuyện về một nhà thơ lớn của miền Nam trước đây, thì ông nhảy vào kê ngay: “Bài thơ có mấy chục câu mà đám độc giả làm rùm beng. Tôi làm vài trăm câu còn chưa nói gì.” Theo ông thì cái lượng giết cái phẩm. Trong đầu ông luôn luôn không bằng lòng thơ người khác, chỉ có thơ mình là nhất thiên hạ. Một lần trong một bữa nhậu, ai cũng đứng lên đọc một bài thơ của mình, đến phiên ông ngồi yên không thèm để ý, ăn uống tự nhiên. Người ngồi bên cạnh nhắc cho ông biết tới phiên mình đọc thơ. Ông đứng dậy, nói tỉnh bơ: “Thơ của tôi không thể đọc chỗ nầy, đây là chỗ ăn nhậu chứ không phải chỗ đọc thơ”. Buổi tiệc tan hàng ngay. Làm sao người khác chịu được cái tính khinh người như vậy. Cái tính hống hách và phát biểu linh tinh của ông, có một người nhận định là: “Thằng cha nầy múa tay không qua khỏi đầu.” Không biết câu nầy ai học lại với ông, ông lồng lộn điên lên như gà mắc đẻ. Ông thù không đội trời chung với người nầy. Hể có ai nhắc đến tên người nầy là ông lấn át không cho họ nói thêm: “Ồ, thằng đó mà biết gì văn học mà đề cập tới nó. Hiểu biết của nó chưa sạch nước cản.”
Một người bạn kể cho tôi nghe về trường hợp của anh. Anh là người viết tại hải ngoại, một hôm có một người bạn đề nghị nhờ anh viết lời giới thiệu cho quyển sách mà anh kia sắp xuất bản. Anh hì hục viết lời ca tụng hết mình vì nghĩ rằng đây là cơ hội để làm vui lòng bạn. Khi tham dự ra mắt sách của nhà văn kia, anh đọc lại quyển sách có lời giới thiệu của anh, anh bật ngữa vì lời ca tụng của anh không đủ làm vừa lòng nhà văn kia, nên họ tự ý viết lại mà chẳng thèm hỏi ý kiến của anh. Nghĩa là bài viết mang tên anh, nhưng lời văn không phải của anh, họ viết lời ca tụng không còn chữ nghĩa nào mà hơn vậy, nghĩa là họ tự ca tụng mình, tung hô mình một cách lố bịch mà bắt người khác đứng tên chịu trận. Anh không ngờ một nhà văn có tên tuổi mà còn hám danh như vậy. Hình như đây không phải là trường hợp hãn hữu, rất nhiều người viết bài ca tụng mình mà để tên người khác rồi đăng báo. Đó là một trò chơi không đẹp mà nó còn chà đạp trên nhân phẩm của chính mình. Căn bệnh nầy cũng khá phổ biến trên sân chơi văn chương tuy không rầm rộ, nhưng cũng để một vài ung thối mà người đọc khi biết được thì rất khinh khi.
Lại có một số nhà văn, nhà thơ cần người khác viết lời giới thiệu khen tặng mình. Vì họ quan niệm có được nhiều lời giới thiệu như vậy, sẽ được người đọc chú ý. Họ quên đi rằng tự thân tác phẩm nói lên giá trị hay không, chứ không thể nhờ vả ai được. Một nhà văn nọ gửi cho tôi một tập truyện, đính kèm một tờ giấy bảo tôi sau khi đọc xong, viết cho họ một bài nhận định về tác phẩm đó. Thật tình truyện của người bạn nầy viết cũng được, nhưng cái yêu cầu của họ làm tôi cụt hứng. Viết nhận định tác phẩm là tự ý của người đọc, sau khi đọc xong cảm thấy hứng thú thì viết, chứ ai lại yêu cầu bao giờ. Mỗi lần gặp tác giả tôi phải lo tìm đường rút lui, sợ họ đề cập lại chuyện nầy thì quê lắm.
Có một nhà thơ ở trên Virginia gửi cho người bạn tôi một bản thảo tập thơ, nhờ viết lời giới thiệu. Anh bạn tôi từ chối mãi, ông nhà thơ bảo với anh là viết thế nào cũng được, chơi thôi mà, không sao cả. Anh bạn tôi yên tâm viết khen tặng đủ điều. Sau vài tháng anh không thấy tăm hơi gì về tập thơ. Có dịp anh lên Washington DC chơi thăm một người bạn. Sáng anh dậy sớm, anh vào thư phòng tìm một quyển sách đọc chơi cho đở buồn, vô tình anh thấy tập thơ của nhà thơ nhờ anh viết lời giới thiệu, anh lật ra không thấy lời giới thiệu của anh viết mà do một người khác viết. Anh đọc ngấu nghiến xem thử họ viết những gì. Từ đầu tới cuối toàn những lời khen tặng nức nở, đưa tác giả lên tận mây xanh, không còn chữ nghĩa nào diễn tả hơn được. Xem như trên đời thiếu tác phẩm nầy thì nền thi ca hải ngoại nói riêng, thi ca Việt Nam nói chung thiếu đi một đại tác phẩm. Anh bạn tôi gấp sách lại thộn người ra ngẫm nghĩ một hồi mới rút ra được một bài học. Đừng bao giờ viết lời giới thiệu cho ai nếu mình không đủ chữ nghĩa khen tặng, mà khen tặng không hết lời cũng gây ra một mối thâm thù.
Tôi gặp anh Dương Trung Từ, người đã tố cáo một nhà thơ trên Văn vào thập niên năm 60. Nhà thơ nầy bợ nguyên một bài thơ của một thi sĩ nổi tiếng lúc ấy, mỗi câu sửa lại ít chữ. Chẳng hạn như câu đầu của bài thơ là “Paris có gì lạ không em?”, thì nhà thơ nầy sửa lại là “Huế có gì lạ không em?”. Mỗi câu sửa vài chữ. Anh Dương Trung Từ nói với tôi là anh thấy chướng quá nên viết bài tố cáo trên Văn. Anh biết làm như vậy là sự nghiệp nhà thơ đó tiêu tán đường, nhưng không thể nào để như vậy được. Gặp tôi trên đất Mỹ với cái tuổi 65, anh có vẻ hối hận về chuyện nầy, tuổi trẻ mình hơi nóng nảy đã làm cho một nhà thơ lúc ấy đang lên đành phải để tên tuổi trôi vào quên lảng. Thế nhưng ai cũng tội nghiệp như vậy, người nầy lấy nhầm của người kia, không chỉ trích thì diễn đàn văn học trở thành một mớ bùi nhùi, chẳng ra thể thống gì cả.
Có một nhà văn “tầm cở” đi đâu cũng huênh hoang là ông đã xuất bản vài chục tác phẩm đủ loại: Văn, thơ, kịch, phê bình, nhận định v.v… nghĩa là địa hạt văn chương nào cũng có mặt ông tham gia. Nhưng chẳng có một tác phẩm nào ra hồn để người ta chú ý hoặc người đọc nhớ tên. Ông viết một bài giới thiệu tác phẩm của một người quen, một người khác hỏi ông: “Nhận thấy thế nào về quyển sách nầy mà ông đã viết bài?”. Ông trả lời một cách trịch thượng: “Vì quen biết nể nang mình viết chơi cho vui theo yêu cầu của họ, chứ thật tình chưa được.” Người nầy lại đến hỏi tác giả: “Ông có nhờ người kia viết bài cho ông không?” Tác giả cười lắc đầu trả lời: “Đây là một cuộc chơi, nếu chơi hay thì người ta biết tới, nếu chơi dở thì nó bị hất ra ngoài. Nhờ vả làm gì mất tư cách, mà họ có viết khen mình hết lời mà tác phẩm dỡ ẹt chỉ tố làm cho người khác chửi cho. Bài viết khen của họ cũng không thể làm cho tác phẩm hay lên được hoặc tác giả nổi tiếng được. Và quan niệm của tôi cám ơn tất cả những người viết cho tôi, nhưng tôi không vịn vào đó để tiến thân. Phải tự mình chứ không thể nhờ ai được.” Như vậy chính ông tự nguyện viết chứ không có ai yêu cầu ông làm chuyện nầy. Tác giả họ cũng chẳng quan tâm đến chuyện người viết giới thiệu cái cở như ông. Có người hỏi, ông làm ra vẻ như viết để bố thí, để giúp người ta nổi tiếng, trong lúc sự nghiệp văn chương của ông chẳng tới đâu. Người ta coi ông chẳng ra gì mà ông không biết điều đó, trong đầu ông cứ nghĩ ông là người thuộc cở tiếng tăm. Ông chỉ sống trong ảo tưởng, chứ ông đâu biết cái khen hay chê của ông cũng chẳng có ai thèm để ý. Đến đâu ông cũng vênh váo, không coi ai ra gì. Cái tính tự cao càng ngày mọi người càng lánh xa. Gặp ông một lần viếng thăm California, tôi thấy ông ăn nói huyên thuyên trong các bữa nhậu, chẳng cho ai nói giành nói một mình, nên tôi lẳng lặng rút êm.

Vừa rồi tôi về Việt Nam, tiếp xúc được một số anh em văn nghệ. À, thì ra cũng có nhiều vấn đề lôm côm trong chiếc chiếu nầy. Tôi được nhiều người cho biết ở trong nước thành phần nầy cũng nổi đình nổi đám dử lắm. Họ bỏ tiền túi chạy chọt in một hai tác phẩm vớ vẩn, rồi lại chạy chọt thêm một lần nữa với các quan chức văn nghệ có quyền hành để vào Hội Nhà Văn. Cái sân chơi nầy cũng nhiêu khê: tiệc lớn tiệc nhỏ, cà phê cà pháo, ăn sáng ăn chiều, quà cáp v.v.. nó không còn thanh tao nơi văn hóa, nó giống như khu chợ trời. Người làm văn nghệ đứng đắn lắc đầu ngao ngán khi nhìn cái cảnh chen lấn, bát nháo nầy. Đây là nơi tập trung vàng, bạc, đồng, nhưng không có thứ cao cấp nầy thì kẽm, chì, thiết cũng không sao. Cần gì người đọc, miễn sao có tên trong hội là oai phong rồi. Thì té ra người Việt ở đâu cũng có vài phần tử không bỏ được cái tật làm nổi, dù họ biết đó là một việc làm thiếu nhân cách.
Căn bệnh văn chương, đúng là không có thuốc nào chữa được.
Dallas, hè 2008

Hit Countersôô

Posted in Phiếm Luận | Leave a Comment »

Đụng Vào Cõi Thơ

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Phan Xuân Sinh

Lời Tác Giả: bài “Đây là một bài Phiếm tác giả tưởng tượng ra mọi tình huống, mọi dữ kiện để người đọc mua vui trong chốc lát. Không hề có chủ ý châm chích ai. Nếu các hư cấu nầy có trùng hợp với vài trường hợp cá nhân thì đó là  ngoài ý muốn của tác giả. Kính xin quý vị lượng tình tha thứ.”  PXS.

Thơ, một cõi đứng riêng biệt cho những người múa may chữ nghĩa trên văn đàn. Nhà thơ chính hiệu và nhà thơ không chính hiệu đều tiến bước song song không bị một lực cản nào cả. Cái đích mọi người phải đạt tới là sự nổi tiếng. Phương tiện truyền tải là báo chí, mà báo chí hải ngoại  thì thật dễ dãi với những người làm công tác trí tuệ, nghĩa là báo chí sẵn sàng dành đất cho họ cắm dùi. Không đăng trên những tờ báo nổi tiếng thì đăng trên báo chợ, báo địa phương nầy không đăng thì địa phương khác đăng. Miễn sao họ có nặn ra chữ nghĩa thơ phú thì họ có ngay đất dụng võ. Có một điều lạ là những nhà thơ nổi tiếng thì họ rất khiêm cung, nhún nhường. Bước đi của họ thong thả mực thước, không gây ồn ào. Họ thận trọng từng lời từng chữ trong thơ cũng như trong giao tiếp, được văn giới nể nang và kính trọng. Còn một số ít, cũng may là số nầy không nhiều, họ xô đẩy chen lấn, cố ngoi lên bằng con đường tắt không phải bằng tài năng mà bằng thủ đoạn. Một nhà thơ nào đó thấy được cảnh dầu sôi lửa bỏng nầy, than rằng: “bây giờ người làm thơ nhiều quá, mà tìm đỏ mắt không thấy được một thi sĩ”.

Tôi cũng chập chững làm thơ, nhưng tôi thấy làm thơ quá khó, ngồi cả buổi chẳng rặn ra được chữ nào, có khi làm được năm bảy câu ngày mai xem lại thấy chẳng giống ai, chẳng ra cái gì nên đành phải xé bỏ. Có người nói với tôi rằng một ngày họ có thể làm được vài bài thơ như chơi, họ đúng là thiên tài. Có người đến Mỹ mới có 5 năm họ làm được 5 ngàn bài thơ. Họ thuộc vào loại Thánh thơ.

Tôi không đề cập tới vấn đề thơ hay hoặc thơ dở. Thơ thì không thể  xét đoán một cách hồ đồ được, nhất là cái nhìn của tôi lại thiển cận. Khen người nầy chê người khác là điều cấm kỵ đối với tôi. Ai làm thơ được đều hay cả, chứ không thể nào dở được. Đó là tâm huyết của họ gởi gấm trong đó. Mình không thích cũng không nên nói lên sự thật phũ phàng nầy, phải khen cho được lòng. Chính vì điểm đó, các nhà thơ dù hay, dù dở cũng được tâng bốc lên tận mây xanh. Họ cảm thấy rằng trong thiên hạ không có ai qua mặt được mình, thơ của mình đã đạt tới đỉnh cao của nền văn học. Đọc thơ mà không khen sẽ bị tác giả phản ứng ngay lập tức: “Ồ, thằng đó mà biết gì thơ phú, chỉ rúc vào xó bếp hầu cơm cho vợ là được việc.” Cho nên, đừng bao giờ dại dột chạm đến điều húy kỵ nầy. Tôi chỉ biết mỗi một điều là đọc thơ ai tôi đều khen tới tấp, khen không ngớt hơi. Tôi không thực lòng, nhận xét ba phải? Thà chịu tiếng như vậy, chứ láng cháng bày đặt chê bai thì sẽ lãnh đủ mọi búa rìu.

Có một anh bạn kể cho tôi nghe một chuyện thật thâm thúy. Có một nhà thơ nữ  gửi đến biếu cho nhà phê bình nọ một tập thơ còn nóng hổi mới ra lò. Bà chờ đợi mãi tuần nầy qua tuần khác vẫn không thấy ông nói gì về tập thơ của mình gởi tặng. Bà nhờ một người nguyên là bạn thân của nhà phê bình nọ đến dọ hỏi xem ý kiến của ông ấy nghĩ thế nào về tập thơ của mình. Sau một màn chuyện vãng loanh quanh, ông kia hỏi nhà phê bình đã xem tập thơ chưa? Nhà phê bình vừa vuôùt râu hể hả trả lời: “Sau khi xem tập thơ đó, tôi mới khám phá ra được một điều là tôi cũng có khả năng làm thơ được”.  Nhà phê bình đòi nhảy qua lãnh vực thơ? Thật là điều tréo cẳng ngỗng. Oâng muốn nói, nếu làm thơ mà dễ như vậy thì ông đã làm thơ từ khuya rồi. Nhà phê bình mà không dám đụng vào cõi nầy, thì cái thứ tép riu như tụi tôi thì làm sao sớ rớ tới.

Cõi thơ cũng thật lắm chuyện, nhà thơ lớn, nhà thơ nhỏ, chiếu trên, chiếu dưới, người viết trước, người viết sau, kẻ thành danh, kẻ chập chững v.v… nghĩa là lắm thứ, lắm chuyện, nó giống như mâm cỗ ở đình làng phải ngồi theo tiên chỉ, lão làng, thứ dân, cùng đinh… Cho đến bây giờ tôi cũng không biết thước nào đo để tiện sắp theo thứ bậc. Thường các thứ bậc nầy đều do chính tác giả vỗ ngực tự nhận, họ tự đánh giá và tự phong cho họ ngang hàng với ai. Còn người đọc thì chưa có ai đứng ra làm một thống kê sắp xếp. Tham gia giữa đám văn nghệ ở một vùng nào đó, dù chúng ta giữ thái độ bình tĩnh chúng ta vẫn cảm thấy nóng mặt trông thấy những khuôn mặt hiu hiu tự đắc, hợm hĩnh, coi trời bằng vung. Họ cho họ thuộc hàng “minh chủ” của vùng nầy, họ phán thế nầy, đòi hỏi thế kia, có ai nổi một chút là họ xâm xỉa, đè bẹp, ganh ghét. Không thấy Thái Sơn ở đây sao mà còn láng cháng. Kiểm lại văn nghiệp của họ thì chẳng có chi gọi là ghê gớm, đọc thơ của họ thấy thấp thoáng kiểu thơ thời xa xưa, từ ý cho đến thể thơ cũ mềm, không mang hơi hám nào mới lạ. Thế mà có khi họ đòi phải ngang hàng với các tiền bối thi ca thì mới xứng danh văn nghiệp của họ.

Đọc một tờ báo nọ, thấy vị nữ giáo sư Việt văn phê bình một nhà thơ với lời lẽ quá nặng. Bà bảo rằng Nhà Thơ nọ không biết niêm luật của một bài thơ Đường, vì ông ta gieo vần lộn xộn, nên bà phán rằng dù dễ tính vẫn không thể bảo ông là một nhà thơ được. Vài ngày sau có một văn nhân khác bênh vực cho nhà thơ kia, với một lý luận hết sức… hàm hồ. Ông cho vị nữ giáo sư Việt văn kia chê vì tỵ hiềm, vì  ân oán cá nhân chứ rõ ràng vị thi sĩ nhà ta đúng là bậc “Thánh thơ” mà bà ta lại không biết nên quá khắc khe.  Bài thơ Đường kia đúng là thơ Cổ Phong chứ không phải thơ Đường Luật. Nghĩa là theo ý ông ta cứ làm thơ Đường, nếu ta trật luật thì chẳng sao cả nó sẽ thành thơ Cổ Phong. Lời qua tiếng lại bao nhiêu danh từ nặng ký mang chất thơ đều tuôn ra như nhả ngọc phun châu, mạt sát nhau thậm tệ.  Nói cho cùng người bênh vực cũng chẳng biết loại thơ cổ phong là loại thơ gì , cốt ý là choảng lại người kia cho hả tự ái của bạn mình. Đã bảo rồi đọc thơ là phải khen. Vị nữ giáo chức nọ bao năm gõ đầu học trò, tưởng rằng đầu của Nhà thơ “bậc thánh” nầy cũng giống như học trò của mình nên gõ đại, đâu ngờ bị phản ứng mạnh mẽ. Tôi đưa ra chuyện nầy để quí vị biết là khi đã là một “Nhà Thơ” thì  không thể “sai”, và nếu mà họ lỡ sai thì mọi người cắn răng chịu đựng, chứ không ai được quyền phê phán chê bai.

Tôi có một người bạn, xin tôi địa chỉ của một nhà thơ đã lừng danh qua nhiều thập niên, tôi nghĩ anh bạn tôi muốn gởi biếu  ông thi sĩ nọ cái gì đó. Vài ngày sau anh cho tôi biết anh muốn gởi bản thảo của một tập thơ sắp sửa in, nhờ ông ta viết lời giới thiệu. Tôi hỏi anh bạn chuyện nầy thật cần thiết như vậy sao? Anh trả lời với tôi là được một nhà thơ lớn viết giới thiệu cho tập thơ thì không có gì vinh dự bằng. Nghĩa là theo ý anh, độc giả cần đọc lời giới thiệu hơn là đọc nội dung của tập thơ. Hoặc là được nhà thơ lớn giới thiệu sẽ tăng cái hay của thơ anh lên, nếu không có cái nầy thì sẽ bị chìm nghĩm. Hoặc là anh đương nhiên ngang hàng với những người thành danh, vì thơ anh hay thì nhà thơ lớn kia mới giới thiệu chứ v.v…nghĩa là thơ hay hoặc thơ dở không cần chính tài năng của mình, mà chỉ dựa vào lời người giới thiệu, nhất là người đó là  một nhân vật nổi tiếng. Quan niệm đơn giản như vậy nên làng thơ bây giờ  tác phẩm nhiều hơn sung rụïng. Nhà sách không nhận bán giùm thơ, vì nếu nhận thì không đủ kệ để sắp thơ lên bày bán.

Một người bạn khuyên tôi không nên viết lời giới thiệu hay lời bạt cho bất cứ tập thơ nào, dù người đó có thân thiết cách mấy cũng đừng dại dột làm điều nầy. Anh cho tôi biết trường hợp của anh như sau. Một người bạn mang tới một tập bản thảo của tập thơ sắp in, nhờ anh viết lời giới thiệu. Anh sốt sắng nhận lời. Anh đem tất cả tâm huyết ra viết, không ngớt lời khen tặng, thổi phồng con kiến thành con voi. Viết xong anh đọc đi đọc lại rất hả dạ. Qua nhiều đêm suy nghĩ anh lý luận rằng tập thơ nào cũng không tránh khỏi vài khuyết điểm nho nhỏ. Độc giả  tinh ý họ sẽ biết, chê mình ba xạo, viết lếu láo. Khen quá đọc thấy cũng ngượng hay mình lấy rút ra vài điểm lấy lệ để độc giả khỏi phiền lòng. Thế là giông bão nỗi lên, ông bạn của tôi và nhà thơ đó xem như đoạn tuyệt. Có nhiều trường hợp tác giả tự viết lời giới thiệu, tự khen mình rồi để tên bạn của mình. Đặt cái cày trước con trâu, người bạn không phản ứng được vì mọi chuyện đã rồi, gạo đã thành cơm. Người bạn ngậm bồ hòn làm ngọt. Làm gì có cái chuyện liêm sĩ khi mà người ta dùng thủ đoạn để được nổi tiếng.

Vài năm gần đây, tại hải ngoại có một phong trào rất “dễ thương”: Thơ phổ nhạc. Nhiều nhà thơ tìm tới những nhạc sĩ danh tiếng lẫy lừng, để nhờ phổ nhạc bài thơ của mình. Thường thì  người nhạc sĩ trước đây đọc được bài thơ mà họ cảm thấy hay, họ có cảm hứng và phổ bài thơ đó. Còn bây giờ nhà thơ mang thơ của mình tới, nài nĩ, quỳ lụy, trả thù lao cho người nhạc sĩ để họ phổ thơ của mình thành nhạc. Trong tập thơ có nhạc phổ thơ của các nhạc sĩ nổi tiếng thì danh tiếng của mình càng thêm vang lừng, độc giả lé mắt, các người làm thơ khác phải cúi đầu kính phục. Có người mang mấy bản nhạc phổ thơ của mình về Việt Nam, thuê các ca sĩ chuyên nghiệp đang ăn khách hát để thâu vào CD, qua đây gửi bày bán ở các nhà sách lớn. Có một nữ sĩ phải dùng thẻ tín dụng để trang trõải cho các chi phí thâu CD tại Việt Nam. Qua Mỹ nợ đòi hàng tháng cấp bách, nên nơi nào có đám đông người Việt, bà xè mấy cuốn CD nài nỉ người mua giống như một người đi xin, bất kể sĩ diện. Bà nghe nơi nào có cuộc họp mặt là bà nhào tới, không cần biết được mời hay không, bà khệ nệ cái khay CD đến từng người mua giùm. Muốn nổi tiếng cũng thật vất vả và cũng lắm công phu.

Có những tập thơ mà khi mở ra ta mới hay đây là một cuốn album của nhà thơ đó, đủ loại hình ảnh từ vợ con, người yêu, bạn bè v.v…đều có mặt. Có người muốn giới thiệu sự nghiệp trước đây của mình sau một trang thơ là vài ba trang hình ảnh một thời sung túc của mình, quan quyền, vợ đẹp con ngoan. Thật vui mắt. Không cần thơ, chỉ cần hình ảnh vàng son cho mọi người thấy cả cuộc đời “lên voi” của mình. Ai dám chê thơ của mình là ngô nghê, nhìn hình ảnh oai hùng như thế mà thơ ngô nghê sao được. Có một nhà thơ viết tiểu sử vài ba chục trang giấy, những bằng cấp học vị của ông trải qua các trường học từ Việt Nam tới Mỹ, chiếm hầu hết các trang giấy. Độc giả không cần phải đọc thơ chỉ thấy bằng cấp là đủ choáng ngợp. Người bạn của tôi cầm tập thơ của ông lên, thử làm một con tính số năm của ông ngồi mài kinh sử ở các trường Đại Học mất chừng 100 năm, mới lãnh đủ các bằng cấp như vậy. Người thông thái như ông thì khỏi phải đọc thơ cũng đủ biết thơ ông ở vào cõi vô minh, chứ người trần tục không thể hiểu những dòng thơ bác học như vậy.

Thường thì những nhà thơ nữ thuận lợi hơn những nhà thơ thuộc đấng mày râu. Ở đây chúng ta không nói đến tài năng, có lẽ thơ bây giờ không cần ở tài năng mà chỉ cần ở ngoại hình chăng? Hèn gì mà ta thấy các nhà thơ nữ chiếm ưu thế quá chừng, họ hùng hổ nhập cuộc một cách hăng hái và số lượng nữ giới tham gia vào làng văn nghệ đông đảo chưa từng thấy. Nơi nào mà có bóng dáng đàn bà là tự nhiên vui nhộn hẳn lên, tự nhiên tươi mát  và cũng lắm điều phiền toái. Nói thế chắc quý bà không bằng lòng, nhưng thực tế là vậy. Có quý bà là anh em chúng tôi hay sinh sự với nhau nhiều hơn và mức độ gây sự cũng trầm trọng hơn. Còn quý bà gặp quý bà  thì cũng ngọt ngào như đường và đôi lúc cũng chanh chua như dấm. Nhưng thôi chuyện nầy không nên đào sâu, tôi đang nói về các nhà thơ nữ mà bỗng dưng nhảy qua lãnh vực khác ngon ơ như vậy, thôi cho tôi xin trở về lại với đề tài . Các bà cứ làm thơ, cứ in thơ bảo đảm không thể nào lỗ lã được. Các bà đi đâu cũng được đón tiếp một cách nồng hậu. Bằng chứng là có một nhà thơ nữ nổi tiếng trước hết không phải là thơ mà là sắc đẹp, người ta biết sắc đẹp của bà trước khi người ta biết đến cõi thơ của bà.  Có lẽ thơ của bà không bắt kịp được sắc diện của bà nên cho đến bây giờ thơ của bà ít ai nhắc đến. Bà từ một lục địa xa xôi, thế nhưng lại bay đến Mỹ và Canada ra mắt thi phẩm của mình. Những nhà thơ có máu mặt dành nhau đứng ra tổ chức cho bà, bà đến tiểu bang nào cũng được đón tiếp  một cách chu đáo, và thơ của bà bán ra như tôm tươi. Cỡ như Tô Thùy Yên , Du Tử Lê, vẫn còn vất vả trong vấn đề ra mắt thơ và bán thi phẩm không phải là chuyện dễ. Thế nhưng bà tái bản thơ bao nhiêu lần vẫn không kịp bán, nhiều nơi đặt cọc mời bà đến viếng, trước là diện kiến dung nhan, sau là diện kiến cõi thơ của bà. Chưa có môt nhà thơ lớn nào dám xuyên lục địa chỉ ra mắt mỗi một tập thơ mà thành công như bà. Đây cũng là một hiện tượng nổi bật nhất trong làng thơ Việt Nam hải ngoại. Như vậy ta nên đặt lại vấn đề, giới thưởng ngoạn thơ bây giờ  tại hải ngoại có cách nhận xét khác lạ hơn trước đây vài thập niên. Các nhà thơ phải có vóc dáng ăn khách trước khi làm thơ. Nghĩa là diện mạo sẽ định đoạt sự nghiệp thi ca của họ. Thơ không được hay lắm nhưng  thuộc phái nữ mà lại đẹp thì chắc chắn phải hốt bạc.

Một anh bạn nhà văn kể cho tôi nghe một trường hợp thật tức cười về người bạn của anh. Hồi trước năm 75 anh gởi thơ đến Nguyệt san Văn ( không biết lúc ấy ai điều khiển tờ báo), anh gởi mãi mà Văn chẳng chịu đăng. Bực mình anh lấy một trong các bài mà báo Văn loại ra ngoài, anh ký lại tên khác thuộc phái nữ và lại gởi đến Văn.  Vài tháng sau anh thấy bài đó đăng rất nghiêm chỉnh trên Văn. Từ đó về sau anh buộc lòng phải lấy tên ấý dù anh không bao giờ muốn vậy. Trong mọi sinh hoạt đường đường là một đấng nam nhi, nhưng đến khi làm thơ thì phải đội lốt nữ giới kể ra cũng thiệt thân, nhưng biết làm sao? Như thế mới hay người nữ ở đâu cũng được trọng dụng, ưu đãi. Cho nên trước đây ta không lạ gì với những cái tên như Trần Như Liên Phượng và một vài tên nữ khác mà quả thật họ là đàn ông chính hiệu, chứ không ái nam ái nữ  gì ráo.

Ở hải ngoại báo chí nhiều quá, tiểu bang nào có người Việt sinh sống là nơi đó báo chí tràn lan, giành giựt quảng cáo, sẵn tờ báo trong tay, ghét ai là chửi xiên chửi xỏ,  nên sinh ra cảnh đánh đấm túi bụi. Quả thật đây cũng là hiện tượng xô bồ và loạn xạ, gây cho ngành báo chí truyền thông một sự tổn thương không ít. Chính vì báo nhiều mà người viết lại ít, nên bài vở gởi tới là đăng ngay không cần kiểm soát, mà đôi lúc người chủ trương tờ báo lại không có khả năng nhận định, họ chỉ biết có bài trám vô chỗ trống là may lắm rồi.  Đọc những tờ báo tại địa phương họa hoằn lắm chúng ta mới bắt gặp được một bài thơ tàm tạm. Hiện tượng nầy tạo nên những nhà thơ không cần qua sự gạn lọc nào cả, không cần độc giả chấp nhận hay không, ông chủ báo nhiều lúc thấy thơ chẳng ra gì nhưng vì ơn nghĩa nên cho đăng kẻo sợ mích lòng.  Miễn có thơ đăng báo là họ hiển nhiên trở thành một nhà thơ, chuyện như vậy cũng chẳng có chi đáng nói, nhưng đằng nầy lại xẩy ra lắm chuyện lắm lời. Có một số ít họ tự thấy như vậy tức là mình đã thành công, tất cả người lớn kẻ nhỏ khi đã là nhà thơ thì  đều la øcá mè một lứa với mình, chẳng coi ai ra gì và có đôi lúc khiếm nhã với các bậc trưởng thượng. Họ không chịu đọc thơ của ai khác, không thấy cái hay của người khác, không biết cái mới lạ của thi ca. Thơ của họ là vô địch thiên hạ, họ chỉ thấy lời khen tặng xã giao tưởng là chân thật. Họ là người làm thơ mà họ lại quên một điều thật hệ trọng. Không ai dám mở miệng chê bai thơ của người khác, nếu có tình trạng nầy tức là người phê bình và tác giả bài thơ sẽ là hai kẻ tử thù.  Ở đời ai dại gì gây thù gây oán với nhau và các nhà thơ của ta chỉ nghe toàn là lời khen. Lời khen đó làm họ tự đắc,  họ tự sánh mình ngang hàng với những nhà thơ lớn. Tập thơ của mình cũng được xếp trang trọng trong các kệ sách ngoài tiệm  giống như những tác phẩm lớn. Tình trạng lạm phát thơ kiểu nầy ở hải ngoại thật vô số, không sao liệt kê hết. Mỗi lần địa phương có tổ chức sinh hoạt gì,  người xướng ngôn giới thiệu về sự có mặt tham dự của các nhà thơ, nhà văn thôi cũng đủ thấy mất thì giờ. Như vậy chúng ta đủ biết  nhà văn, nhà thơ “local” nhiều quá chừng. Nhà thơ trung ương với nhà thơ địa phương có cái gì để phân biệt? Điều nầy thật khó khăn, và cũng chẳng có ai dám làm một cuộc thống kê. Chỉ còn biết nhờ vào sự thẩm định của người đọc.

Một anh bạn làm thơ nói với tôi tại sao anh trở thành nhà thơ vĩ đại (cũng là chuyện tự phong). Mỗi tuần anh gom lại một số báo địa phương, lật trang thơ ra đọc tên tác giả. Nếu tác giả là một nữ thi sĩ, thì lập tức anh họa ngay lại bài thơ của người đẹp, lời lẽ trong thơ của anh tâng bốc người đẹp lên tận mây xanh, thế nào người đẹp cũng rủ lòng. Tiếng thơ của anh réo rắc thật ảo nảo đọc lên trong đêm khuya nghe lạnh người. Từ đó anh thành một nhà thơ mà theo lời anh là có tầm cỡ ở  đây. Một nhà thơ khác lại có cách nổi tiếng mà theo lời lẽ anh lý luận với tôi là làm thơ lục bát không cần phải gieo vận, miễn sao chữ cuối câu sáu vần bằng, thì chữ thứ sáu của câu tám cũng vần bằng là chỉnh rồi. Thời buổi tân tiến thơ phải thoải mái cần chi phải đúng vần đúng vận cho mệt. Anh cũng là một nhà thơ thuộc loại nổi tiếng ở đây. Người thứ ba mà tôi gặp, anh nầy thì cung cách làm thơ nặng phần thi sĩ hơn. Khi làm thơ anh phải pha một bình trà nóng, hút thuốc mơ màng, vặn nhạc nho nhỏ. Có các thứ đó thì anh làm thơ mới được, vần điệu và suối thơ mới chảy ra ào ào. Lúc nào bí anh bợ nguyên một câu nhạc để vào trong thơ mình, chẳng hạn như ” mai ta chết dưới cội đào” thì cũng chẳng sao. Trong thơ anh thỉnh thoảng bắt gặp một số câu nhạc thì cũng đừng lấy làm lạ. Ai mà không chấp nhận, phát hiện điều nầy mà nói ra thì thế nào cũng bị chửi mắng  thậm tệ.

Một lần ngồi nhậu với vài anh em, thì có một nhà thơ bước vào. Oâng cũng lớn tuổi thuộc hàng trưởng thượng. Tất cả anh em trong tiệc rượu rất nể nang ông vì tuổi tác,  qua vài tuần rượu ông mới bắt đầu khai mùi thơ của ông. Oâng rút trong túi áo ra một xấp thơ và chia cho mỗi người một bài, rồi từng người một lên đọc thơ của ông. Thơ của ông giống như những câu khẩu hiệu, thế nhưng không ai được cười nhé, phải gật gù khen hay. Ai gật gù nhiều thì ông cho người đó đúng là bậc thức giả, hiểu tường tận từng chữ trong thơ ông, hiểu được ý ông. Còn ai yên lặng không nói gì thì ông chê là thứ dân kém hiểu biết. Oâng thuộc loại ăn nói hàm hồ và lỗ mãng nên mọi người không muốn dây dưa đến sự rắc rối vào thân, người nọ truyền người kia nên khi ngồi nhậu, đến cái mục đọc thơ là tất cả đều gật gù như gà mắc đẻ. Oâng hiu hiu tự đắc, ngồi rung đùi mãn nguyện. Oâng chắc ăn thơ của mình đã đi vào lòng dân chúng, cần thiết cho mọi người, nên ông cho in ngay tập thơ. Ở hải ngoại nầy có một tập tục rất dễ thương, là khi in thơ phải tổ chức ra mắt cho bàng quan thiên hạ biết sự xuất hiện tác phẩm của mình. Oâng cũng không thể tránh khỏi tập tục nầy, và có lẽ ông mong muốn có ngày ra mắt để ông được chễm chệ lên diễn đàn, nói về con người ngoài võ biền còn là con người văn nghệ của ông. Thơ của ông bán chẳng được bao nhiêu, và mọi người không chú ý tới thơ nhưng lại chú ý tới ngày  giờ của ông làm bài thơ đó ghi cuối bài thơ. Sỡ dĩ có chuyện nầy bởi vì tất cả những bài thơ ông làm đều ở trong các trại cải tạo, ra ngoài nhớ  để viết lại đã là điều khó khăn, đằng nầy ông ghi cả ngày tháng làm bài thơ đó ở trại cải tạo nào thì thật trí óc vô cùng vĩ  đại,(mà quả thật chẳng cần thiết như vậy). Ông nhờ  nhiều người diễn ngâm những bài thơ của ông trong dịp ra mắt, thế nhưng chẳng có ai chịu ngâm giùm cho ông. Có lẽ thơ của ông chỉ đứng ra hét chứ không cách nào ngâm được.

Khi còn phụ trách một tờ báo, một người quen biết của tôi mang đến cho tôi một bài thơ và bảo tôi đăng giùm. Sau khi đọc bài thơ tôi thấy có một vài lầm lỗi quan trọng, nếu đăng thì thật tội nghiệp, người ta sẽ đánh giá trình độ không tốt về cách làm thơ của anh. Vì vậy tôi cân nhắc giữa cái lợi và cái hại, giữa sự mích lòng và sự chê bai. Tôi chọn cái lợi và sự mích lòng, tránh đi cái hại và sự chê bai. Tôi không đăng mặc dù tôi đã layout xong. Sau khi tôi không còn cộng tác với tờ báo đó, thì người phụ trách sau nầy lấy bài thơ đó đăng lên. Bây giờ người đó xem tôi như một thứ  thiếu văn hóa, không biết đánh giá tài năng. Trước đây chúng tôi rất thân thiện nhưng vì chuyện thơ phú mà chúng tôi có vẻ lạnh nhạt với nhau. Mới hay tôi đã thiếu tế nhị, thiếu suy xét nên gây ra cảnh bất đồng, đụng vào tự ái của người khác. Đây là một bài học mà tôi cần phải sửa đổi nếu sau nầy gặp trường hợp tương tự.

Một lần khác tôi được may mắn dự một bữa tiệc rượu gồm chừng năm bảy nhà thơ. Tôi không biết ai đưa ra sáng kiến là mỗi người đọc một bài thơ đắc ý nhất của mình. Thế là tôi có dịp nghe các ông đọc thơ của mình và nói về thơ mình. Có ông thì sợ người khác không hiểu thơ của mình nên đọc câu nào là giải nghĩa từng chữ, như ngày xưa học Hán Tự vậy. Có ông thì trình bày trường hợp nào mà ông đã xuất thần làm nên bài thơ vô-tiền-khoáng-hậu nầy. Có ông thì nhắm mắt lim rim đọc một bài thơ thiền, thơ thiền thì phải đọc một cách thanh thoát, êm ái, nhẹ nhàng thì mới đúng là thiền chứ  không thì hỏng mất đi khí tiết của một bài thơ. Sau khi tham dự đêm thơ nầy, tôi mới nhìn lại cái cao ngạo của Cao Bá Quát còn thua xa các bậc hậu sinh thời nay. Cao bá Quát chỉ nhận có hai bồ, chia cho bạn mình một bồ, còn một bồ cho thiên hạ. Còn các nhà thơ bây giờ thì ôm trọn hết không chia cho ai cả, mỗi người là một ông trời.

Một hôm tới Santa Ana, ngồi nói chuyện với một anh bạn trong quán cà phê thì gặp một nhà thơ trẻ. Anh bạn tôi hỏi cho qua chuyện: “Thế nào, lúc nầy thơ phú ra sao rồi?”. Thế là trúng được mạch chảy mà lâu ngay đã ứ đọng. Người bạn trẻ kéo ghế ngồi với chúng tôi, nói thao thao bất tuyệt về thơ, giảng cho chúng tôi nghe về thơ hiện đại, chê bai tất cả nhà thơ nổi tiếng trước đây. Tôi sững sốt không ngờ người bạn trẻ  hùng hổ một cách thái quá như vậy. Thơ cũ, thơ mới, thơ tự do, thơ tân hình thức v.v…mỗi thời có một chỗ đứng của nó, tất cả trước sau đều góp công làm giàu nền thi ca của dân tộc. Làm thế nào cho thơ hay mới khó, Còn chuyện thơ mới, thơ cũ chúng ta không nên đố kỵ quá như vậy. Đừng sợ người đọc không hiểu thơ của mình mà hãy thả ra, nếu thiên hạ chấp nhận thì còn tồn đọng, còn thiên hạ quên đi thì xem như chúng bị chết non.

Có một nhà thơ kể cho tôi nghe về việc gây chú ý một cách ngoạn mục. Lấy một bài thơ của ai đó ra bình phẩm, diễu cợt. Phải lấy những lỗi lầm mắc phải của bài thơ mà người khác khó thấy được rồi chê, sài xể với một giọng văn đểu cáng, trịch thượng, kẻ cả. Tác giả của bài thơ là người đã nổi tiếng càng tốt, vì như vậy độc giả mới thấy kẻ phê bình trên cơ tác giả bài thơ đó nhiều. Rồi kề trang báo đó đăng bài thơ của nhà phê bình. Như vậy trong ấn tượng của người đọc bao giờ cũng nể nang kiến thức sâu rộng của người phê bình, nên khi đọc bài thơ của người đó lập tức thấy hay ngay (?). Không biết điều nầy có đúng không, nhưng tôi thấy thỉnh thoảng ông ta chạm đến những nhà thơ thật nổi tiếng. Họ càng nổi tiếng thì ông càng mạt sát, sài xể thậm tệ.  Chủ ý của ông cho người đọc biết  nổi tiếng cỡ thi sĩ kia mà ông coi chẳng ra chi, thì các cây viết khác phải coi chừng, đừng có léng phéng. Đây cũng là một hình thức nổi tiếng đốt giai đoạn, không cần qua sự thẩm định của độc giả, và cũng không cần sự gạn lọc của thời gian. Một quan niệm thật mới mẽ và cũng thật liều lĩnh. Thế nhưng hỏi ra thì mới hay tiếng tăm của ông chẳng bay xa, chẳng có ai biết tới. Họa hoằn lắm mới có người biết ông, nhưng không phải nức tiếng về văn chương, mà nức tiếng về chửi bới thô tục.

Ngày xưa, các văn nhân thi sĩ họ tương kính nhau, thuần phục nhau. Cung cách xử thế của họ thật mã thượng. Bây giờ  thật hiếm thấy. Chơi với nhau theo phe nhóm, hắc bạch rõ ràng. Kèn cựa nhau từng li từng tí, chờ kẻ khác sơ hở là phang ngay, không kể chi đến tình thâm nghĩa nặng. Cõi thơ bây giờ không còn là hoa bướm mộng mị, không còn thanh thoát lãng mạn. Cõi thơ bây giờ chúng ta thấy thấp thoáng gươm đao, đè nhau cứa cổ. Hạ nhục nhau, mạ lỵ nhau. Các nhà thơ phải mặc áo giáp, sẵn sàng trong vị trí chiến đấu, gươm luôn luôn rút ra khỏi vỏ thọc ngay vào tử huyệt của đối phương nếu cần.  Người làm thơ không cần phải đọc thơ của ai cả, chỉ biết đọc thơ của mình. Không có thơ của ai hay bằng thơ của mình. Quan niệm về thi ca mỗi thế hệ mỗi khác, mỗi thời mỗi thay đổi. Trong thời buổi tân tiến như hiện nay làm thơ cũng nhanh như chớp, người đọc chấp nhận hay không cũng chẳng cần, miễn sao có tác phẩm trình làng. Người thưởng ngoạn thơ bây giờ cũng dễ dãi, thơ nào hay thì đọc chơi, thơ nào tệ quá thì coi như mất năm bảy phút phù du. Chứ không bực bội, phẩn nộ như ngày trước.

Làm sao chúng ta tìm được một không khí thơ mộng của ngày xưa. Làm sao chúng ta đến với thơ bằng sự trung thực, không gian dối. Bây giờ mỗi lần đến cõi thơ, chúng ta mang một cái mặt nạ thật lố lăng như đi dự một cuộc hóa trang. Giả dối còn hơn một kép hát. Ai cũng biết vậy nhưng không có ai dám chọc thủng bức tường nầy bằng những lời lẽ chân thật. Chúng ta không tìm đâu thấy lời lẽ của Cao Bá Quát phê phán nhóm Thi Xã: “Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An” để họ chừa bớt đi cái tính hênh hoang, kênh kiệu, tự đắc. Coi thiên hạ chẳng ra gì.  Chúng ta không chấp nhận cái lối ác độc như vậy, nhưng có phải chăng đây là cách duy nhất để dạy cho người khác bài học lễ độ của người làm thơ?  ( Như lời thang vang của một nhà thơ kỳ cựu khi đụng phải một vài kẻ hậu sinh thất lễ). Còn có biện pháp nào kêu gọi lòng tự trọng của mọi người khi đụng vào cõi thơ? Người nào làm được công việc nầy thì nó cũng to lớn bằng công của bà Nữ Oa đội đá vá trời.◙

Posted in Phiếm Luận | Leave a Comment »

Nhận Xét về văn của Phan Xuân Sinh. Qua cái nhìn của Lương Thư Trung

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Vài ghi nhận về cái đẹp trong văn của Phan Xuân Sinh

(Nhân đọc lại bản thảo tác phẩm “Sống Với Thời Quá Vãng)

Lương Thư Trung

Cái đẹp là một cái gì rất khó nói. Khó nói bởi vì với người này nó có thể đẹp, nhưng với người khác thì nó không đẹp. Sở dĩ có những trái ngược nhau như vậy không phải do cái đẹp làm chi phối trong con người mà do con người quan niệm về cái đẹp khác nhau. Người theo lề lối giáo dục cũ nghĩ về cái đẹp nó khác hơn người theo nền giáo dục tân tiến sau này…

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phỏng vấn Phan Xuân Sinh – Thực hiện: Triều Hoa Đại

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Chuyện trò với nhà thơ Phan Xuân Sinh

thực hiện: Triều Hoa Đại

Cuối tháng mười miền bắc nước Mỹ trời đẵ bắt đầu vào lạnh,có lắm  nơi tuyết đã bắt  đầu rơi,người ta thì cũng áo đỏ,áo xanh đủ màu khoe sắc.Tối nay,ở nới đây là ngày lễ hội Hallowing dân chúng từng đoàn kéo nhau ra đường phố họ hóa trang khác nhau mỗi người mỗi kiểu và nghe nói có những giải thưởng thật xôm trò. Một đêm vui không thể thiếu được theo tập tục cổ truyền

Nhưng buổi chiều nay thì tại trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Việt thành phố Boston này sẽ có một buổi ra mắt  sách của một số các nhà thơ,nhà văn  như  Hoàng Thị Bích Ti,Trần Nghi Hoàng và một vài anh chị em từ ở nơi xa tới. Nhận đượ thư mời của ông nhà thơ xứ Quảng Phan Xuân Sinh, ham vui chúng tôi một lần nữa lại khăn gói quả mướp kéo nhau lên đường .

Đón vợ chồng chúng tôi vào một ngôi nhà khá rộng, nhà thơ nói:

– Mời anh chị vào,…mời vào.

Bà xã tôi chưa chi đã hỏi:

– Chị Thiên Nga đâu rồi anh Sinh?

Nhà thơ bảo ;

– Thiên Nga chạy đâu đó chắc cũng sắp về.

Bốn năm trước.

Triều Hoa Đại: Ông ạ, kể từ khi ông và tôi quen biết đến nay, đã đôi khi (lắm phen) tôi cũng muốn nắm áo ông để hỏi han ba điều, bốn chuyện, thế mà rồi “cơ may” ấy hình như cứ vuột đi như gió, như mây.

Phan Xuân Sinh: Thưa anh Triều Hoa Đại, xin anh thứ lỗi cho, mấy năm nay chuyện cơm áo nó quay tôi như chong chóng, nên tôi đành phải lánh mặt với anh em. Bây giờ thì cũng vậy, nhưng cứ đuổi theo với nó mãi biết ngày nào dứt đây? Đời bọn mình bây giờ cũng như những trang sách mở ra đọc cứ mỏng dần , cơ hội gặp nhau rất ít. Thôi thì  có “cơ may” nào gặp nhau, chúng ta gắng sống với nhau cho trọn vẹn kẻo trể mất anh ạ. May quá hôm nay gặp được anh mừng lắm, tôi không chạy trốn như mấy lần trước đâu. À, có gì không mà anh nắm áo tôi kỹ thế?

THĐ: A, lần này thì tôi đã “túm” được ông nơi đây,ông còn  chối từ sao đặng.

PXS: Có dám chối từ gì đâu, gặp anh vui lắm nhưng cũng run lắm. Nói chuyện với anh phải thận trọng, mà tính tôi lại ba trợn sợ anh chê là ăn nói không được tề chỉnh.  Chính vì lẽ đó nên tôi ngần ngại. Thế nhưng nó đã trở thành bản chất rồi không thay đổi được, thôi thì chỗ anh em có gì không phải cũng mong anh lượng tình tha thứ.

THĐ: Thế thì mình nên khởi sự từ chỗ nào?

PXS: Có lẽ trở lại từ cái chỗ anh em mình gặp lại nhau đầu tiên từ khi đặt chân tới Mỹ. Cách đây hơn bốn năm, anh và chị đến Boston nhân buổi ra mắt tập thơ đầu tay của tôi. Trông thấy anh cũng như xưa, với vóc dáng và nụ cười của anh vẫn vậy. Hồi ở Đà Nẵng anh cũng lăng xăng hoạt động văn nghệ ai ai cũng biết, anh cùng thời với Phương Tấn, Luân Hoán, Chu Tân v.v… thuộc lớp đàn anh. Còn tụi tôi mon men đứng me mé gần chiếc chiếu văn nghệ đó của các anh, đã thấy mình hả dạ lắm rồi. Bây giờ được anh cho phép hầu chuyện, thật vinh hạnh biết mấy. Đúng là ” Tha phương ngộ cố tri”.

THĐ: Bốn năm trước đây “cái đêm hôm ấy đêm gì…” cùng với rất nhiều bằng hữu xa gần chúng tôi đã đến đây với ông trong buổi ông ra mắt thi phẩm: Đứng Dưới Trời Đổ Nát. Ngày ấy sao vui quá, cái sinh khí văn hóa lúc ấy theo tôi “NÓ” bừng bừng sinh động, còn giờ đây hình như có “vẻ” khang khác, ông có thấy như thế không ?

PXS: Đúng vậy, mới đây chỉ hơn bốn năm thôi mà trông như nó khác đi nhiều quá. thời gian nghiền nát và huỷ hoại tất cả, những bon chen, những hăm hở rồi cũng tan vào lãng quên. Chỉ còn giữ lại nhau chút tình để sống. Hồi đó anh em văn nghệ ở Boston đưa ra hai đề nghị để ra mắt thi phẩm “Đứng Dưới Trời Đổ Nát” của tôi. Đề nghị thứ nhất là thuê một nhà hàng, có ăn uống, có phụ diễn văn nghệ . Nghĩa là tổ chức qui mô. Đề nghị thứ hai là gói ghém trong vòng thân hữu. Nghĩa là tổ chức đơn giản. Tôi xin chọn đề nghị thứ hai vì tôi thấy anh em mình ít muốn ồn ào, không thích phô trương và đây là cái dịp để anh chị em văn nghệ có cơ hội gặp nhau, chuyện trò và uống với nhau ly rượu. Anh chị em cũng thương tình, không câu nệ nên ngày ấy về rất đông. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn hối hận là tôi không lo được chu đáo để đón tiếp các anh chị một cách đàng hoàng hơn, có rất nhiều thiếu sót. Tuy nhiên, các anh chị cũng thông cảm và lượng tình tha thứ. Chúng ta đến với nhau, đãi với nhau bằng tấm lòng, không có gì quý báu bằng cách hành xử như vậy.

THĐ: Thì tôi muốn nói đến chuyện “phe ta” lúc đó xem ra ai cũng hăng hái như ngày xưa chú bé Trần Quốc Toản bóp nát trái cam trong tay lúc nào không biết ấy mà?

PXS: Anh ví von rất hay, đúng với tâm trạng của chúng ta thật. Lúc ấy, anh chị em chúng ta vẫn còn phông độ, chưa thấy thấm mệt, vẫn say sưa trong các sinh hoạt văn nghệ, các tờ báo tiêu biểu cho văn học hải ngoại vẫn còn phơi phới. Còn bây giờ, thì mọi việc xem như khựng lại, những người viết lách đi vào con đường già cả bệnh tật. Tờ Hợp Lưu của anh Khánh Trường gần mười lăm năm nay, trải qua bao nhiêu thăng trầm bây giờ đã thực sự vững chắc, thì Khánh Trường bị bệnh đành phải giao lại cho người khác. Tờ Văn Học của anh Nguyễn Mộng Giác lèo lái hơn 20 năm nay, vì bệnh hoạn và tuổi tác, bây giờ anh Giác cũng phải giao lại cho người khác. Chỉ còn tờ Văn của anh Nguyễn Xuân Hoàng còn vững vàng, mong sao anh Hoàng tránh khỏi những tình trạng của hai tờ tạp chí kể trên. Nói như vậy để chúng ta hiểu rằng chúng ta đã gặp bế tắc trong sinh hoạt văn nghệ hải ngoại hiện nay, cũng như những năm sắp tới. Như một anh bạn đã từng làm chủ bút một tờ báo đã nói: “Tờ báo có thể không chết vì thiếu tiền nuôi sống nó, nhưng có thể chết vì thiếu bài vở.”

THĐ: Mà hình như về phía người đọc lúc ấy cũng đông vui, nhộn nhịp, còn bây giờ xem ra có vẻ chợ chiều phải thế không ông?

PXS: Đúng vậy, những người ham đọc, tha thiết với chữ nghĩa bây giờ đã già cả mắt kém, hoặc chết dần mòn. Nên số lượng người đọc chẳng còn bao nhiêu. Lớp người trẻ thì nói chưa thông tiếng Việt, thì làm sao trông mong đến chuyện họ đọc. Vì vậy, văn học hải ngoại bị những vòng bao vây như vậy siết dần, vòng vây nầy càng ngày càng nhỏ lại đến khi phải bức tử. Ai cũng biết vậy, nhưng không ai tìm được lối thoát, đành phải ngậm ngùi nhìn con đường văn học hải ngoại đi đến chỗ tận tuyệt.

THĐ: Thì đành rằng là như vậy(tôi đồng ý với ông) tử biệt sinh ly là lẽ thường ở cõi tạm này nhưng nghe ra cũng buồn thê thiết. Chúng ta thì rồi cũng giống như ông Đồ già: “ vẫn ngồi đấy,” nhưng mà “người thuê viết nay đâu, giấy đỏ buồn không thắm, mực đọng trong nghiên sầu”.

PXS: Ngày xưa, đọc “Ông Đồ Già” của Vũ Đình Liên, ta thương cho một nền văn học Nho Giáo, đã ngự trị hằng bao nhiêu thế kỷ đành phải lặng chết trong tức tửi. Ở đây ta cũng đọc lại bài thơ ấy trong tình trạng hiện nay, ta cũng ngậm ngùi cho số phận tương tự nầy sẽ lăn trên vết xe cũ đúng một thế kỷ trước tại quê nhà. Những người như chúng ta tha thiết, sống chết với chữ nghĩa, rồi cũng như ông Đồ Già thật phũ phàng và nghiệt ngã.

THĐ: Nói chuyện viết với lách thì nó không cùng,nhưng theo ông thì rồi ra chuyện chữ nghĩa, chuyện viết lách, vẽ vời… ở hải ngoại này của chúng ta rồi sẽ ra sao?

PXS: Chúng ta tâm trạng giống như con tằm nhả tơ vậy, dù tơ ấy bây giờ không còn được nâng niu quý trọng. Thế nhưng chúng ta vẫn cứ nhả, xem như là một lối thoát. Nó rơi vải đâu đó, thỉnh thoảng có người nhặt lên đọc vài câu không thích thì lại vất xuống, có người lượm lên đọc thích thì giữ lại. Nó lăn lóc trên thị trường chữ nghĩa một cách oái ăm. Người ta bảo rằng, nhiệm vụ của nhà văn là sáng tác. Khi tác phẩm đã hoàn thành, thì nhà văn đó xem như hết nhiệm vụ. Tác phẩm là của đời, hay thì nó sống sót, còn ngược lại thì nó chết yểu. Nói thì nói vậy, chứ quả thực người viết vẫn lo lắng cho tác phẩm của mình, đến khi nào chết mới thôi. Thăng trầm, buồn vui với nó. Tại hải ngoại nầy thì chuyện rủi nhiều hơn may, nên tác giả cũng lắm pheng nhức nhối.

THĐ: Có lần nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã viết: “Viết lách, in sách,ra báo, hội họp tuy không phải là một bussiness, nhưng là lẽ sống, một phương cách đi tìm “căn cước” của nhiều người Việt lưu vong”, ông có đồng ý vậy không?

PXS: Đúng vậy, khi nói bussiness là nói đến chuyện làm ra tiền, mà chuyện viết lách, in ấn v.v… tại hải ngoại nầy, chẳng làm ra được đồng xu cắc bạc nào cả.  Người viết tại đây sống với một nghề khác để có tiền nuôi sống chuyện viết lách thì đúng hơn. Bỏ tiền ra in, mấy ai được lãi trong vụ nầy, mà có lãi cũng vừa đủ vài ly cà phê với bạn be, chứ có đâu đủ nuôi cơm hằng ngày. Thế nhưng nhà văn mà không viết thì không làm sao sống nổi. Cho nên họ lụy với nó, khó khăn với nó. Viết ở đây có nghĩa là hy sinh, là chuốc vào thân những thua thiệt. Viết để sống lại với chính mình, viết là cách đi tìm căn cước như anh Nguyễn Mộng Giác đã nói,  và cũng là xác nhận căn cước đích thực của mình.

THĐ: Có cần không cho một nhà văn, nhà thơ trong lúc sáng tác :Cảm hứng và trí tuệ?

PXS: Theo tôi thì sáng tác rất cần hai điều nầy.

THĐ: Đứng Dưới Trời Đổ Nát là một tập thơ ông đã cho trình làng cách nay có lẽ trên  bốn năm rồi,và mới đây ông lại gửi thêm đến người đọc tập truyện:Bơi Trên Dòng Nước Ngược.Thế thì giữa Thơ và Văn ông đứng ở chỗ nào?

PXS: Ở ngoài đời tôi cũng hay đứng “chàng hảng”, nên trong thơ, văn tôi cũng đứng như vậy cho vững. Đùa với anh cho vui, chứ tôi cũng chẳng biết tôi thế nào mà trả lời đây. Chuyện thơ văn của tôi nó ẳm ờ quá, viết cho vui vậy. Anh cũng biết rằng tôi rất bận, lúc nào rảnh công việc, tôi phải sống cho riêng mình một chút xíu. Vào computer hứng chí thì làm năm ba câu thơ, hay viết vài đoạn văn  chơi thôi ấy mà. Ở Mỹ mà để đầu óc thảnh thơi thì hư ngay. Chuyện làm thơ, viết văn theo quan niệm của tôi, nó như một sân chơi, thích thì ta ra sân, mệt mỏi thì ta bước vào nghĩ ngơi. Thế nhưng cuộc chơi nầy suốt đời ta gắn liền với nó, không bỏ được . Đọc của tôi để tìm một ý tưởng cao siêu hay văn chương lưu loát thì không có. Đúng hơn tôi chỉ có khả năng làm một người kể chuyện cho những độc giả dễ tính, thỏ thẻ chuyện trò với nhau nghe chơi. Còn những người thâm trầm đi sâu vào trí tuệ, vào đường hướng văn chương nặng phần triết lý sâu xa, thì tác phẩm của tôi không có khả năng đó. Xin  quý độc giả khó tính lượng tình tha thứ.

THĐ: Theo Krishuamurti thì người thông minh không phải là một người trí tuệ.Ông nghiệm ra”vấn đề” này ra sao?

PXS: Anh lại bắt tôi đụng vào cái chuyện cao siêu nữa rồi. Nếu anh đặt vấn đề nầy trong một phạm vi rộng lớn thì sẽ gây ra một cuộc tranh cãi. Tôi là dân Quảng Nam chuyện cãi nhau tôi đã nghe nhiều quá, bên nào cũng có cái lý của nó. Vì anh đặt câu hỏi cho riêng tôi nên tôi phải trả lời theo cái cách của riêng tôi. Có thể nó không đúng với mọi người nhưng cũng không hề gì, ai phản đối tôi xin chịu vậy. Câu nầy hình như không được ổn, vì cái thông minh nào cũng đòi hỏi một sự động não, mà động não thì phải cần có trí tuệ.

THĐ: Và lại thêm một ông “tây” (Leopold Stookkowshi) nữa bảo rằng:Nghệ thuật nào cũng có trung gian diễn đạt của nó. Nếu ông đồng ý như thế thì qua hai tác phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát và Bơi Trên Dòng Nước Ngược “Nó” đã diễn đạt ra sao, và như thế nào?

PXS: Chung quy trong thế hệ của chúng ta, sống giữa một thời loạn ly. Chúng ta bị cuốn hút vào một cuộc chiến tranh tồi tệ. Không ai có thể đứng ngoài được. Thân phận của con người giống như  que củi, ném vào một lò lửa khổng lồ bị nó thiêu rụi một cách dã mang. Người cầm bút trong thế hệ nầy ít nhiều cũng bị cuộc chiến đó chi phối. Vì vậy phải ghi lại những điều ụp lên đầu mình, thế hệ mình có những bất trắc, những khổ đau, màtự nó bật lên tự đáy lòng. Tôi là một trong những người mang tâm trạng đó, tôi đã bị mất đi một phần thân thể do cuộc chiến gây ra. Nên trong thơ cũng như trong văn của tôi có đượm một chút u uất, một chút hờn tủi bị đè nén trong lòng. Tôi buộc lòng phải mượn chữ nghĩa để có một lối thoát quân bình trong đời sống còn lại. Tôi viết không mang một chút thù hận. mà cố gắng diễn đạt nỗi lòng của mình giữa muôn trùng khổ đau tận cùng. Tôi biết, dù tôi có diễn đạt bao nhiêu nó cũng không nói hết được những gì trong lòng tôi chất chứa. Nhưng dù sao, tôi cũng cảm thấy an ủi một phần nào vì người đọc cũng ít nhiều chia xẻ và thông cảm với tôi những điều tôi ghi lại.

THĐ: Sự thành công của hai tác phẩm của ông ra sao,tôi muốn nói tới phương diện đón nhận từ phía người đọc?

PXS: Thưa với anh có “công” nhưng lại không “thành”. Tuy nhiên có một điều vui vui là những người chịu đọc thì họ biết nhiều tên hai quyển sách của tôi. Theo nhà văn  Nguyễn Thị Thanh Bình nói thì cái đề sách ấy làm cho người ta chú ý. Chuyện chú ý và chuyện đọc nó còn có một khoảng cách, chú ý thì nhiều nhưng đọc thì chẳng bao nhiêu. Chắc có lẻ văn chương của mình tầm thường quá nên không hợp với mọi người chăng? Tôi cũng buồn, nhưng khi hỏi lại những anh em cầm bút khác, họ cũng ở tâm trạng như tôi. Bây giờ người đọc thưa thớt quá, nên sự đón nhận từ phía độc giả không có gì hào hứng lắm, chỉ thấy lai rai có người hỏi mua sách. Mình cảm thấy an ủi một phần nào. Tôi kể anh nghe câu chuyện vui trong một tiệm ăn Việt Nam ở Boston. Khi vợ chồng tôi vào, có một người nào đó đang ngồi ăn biết tôi, người đó nói gì với người bên cạnh. Anh nầy nhìn tôi nói oang oang: “Thấy ông nầy phương phi mập mạp, mặt mày tươi rói, vui tươi. Chẳng có chi là đau khổ cả, thế mà tại sao lại “đứng dưới trời đổ nát” được? Đúng là mấy thằng cha nhà thơ cường điệu.” Tôi và vợ tôi cười mãi trong bữa ăn, anh ạ.

THĐ: Chắc ông còn nhớ cách đây không lâu đã có người đặt ra câu hỏi là: Anh,chị viết văn và làm thơ cho ai?  Đáp lại câu hỏi này chúng ta thấy vô số “NHÀ” đã trả lời đại khái rằng thì là: Các “nhà” ấy viết văn, và làm thơ cho chính họ. Bây giờ ở nơi đây chỉ có hai ta(tôi cam đoan với ông là tôi sẽ không tiết lộ ra ngoài cho người thứ ba được biết chuyện này) tôi hỏi ông câu này thành thực,vậy cũng xin ông thành thưc mà trả lời:Mai này đây khi ông thức giấc sau một đêm  mộng lớn,mộng con, giả dụ thôi trên thế gian này sẽ không còn ai nữa vậy thì ông có còn làm thơ và viết văn nữa hay không?

PXS: Trước khi trả lời câu nầy, tôi cũng xin kể anh nghe một chuyện thời xa xưa, vào khoảng đầu thập niên 60 thì phải, tôi không nhớ rõ. Ở Sài Gòn một dạo có một tạp chí đặt vấn đề “Nhân sinh vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” .Tuổi còn con nít tôi tò mò theo dõi mấy tháng trời, các “nhà” ấy nhận xét đầy thông minh và trí tuệ. Rốt rồi chẳng ra làm sao cả. Hôm nay được anh hỏi một câu na ná như vậy. Tôi xin thưa thẳng với anh rằng, chính câu hỏi cũng là câu trả lời rồi đấy. Viết và đọc không thể tách rời được. Ai nói gì mặc kệ, tôi vẫn giữ ý tưởng nầy.

THĐ: Ông có thường quan tâm đến đọc giả của ông không, nếu có thì bằng cách nào?

PXS: Câu hỏi nầy của anh ngó vậy mà lại rất khó. Muốn quan tâm đến độc giả của mình lắm chứ, nhưng không biết bằng cách nào đây? Một lần ở Houston, tại nhà một người bạn bày một tiệc rượu chừng mười người, khách quen với chủ nhà chứ không quen với tôi. Khi uống đến hồi say, tôi uể oải không muốn uống nữa, thì một ông khách đến bên tôi rót thêm vào ly rượu tôi đang uống. Ông sang sảng đọc bốn câu thơ của tôi: “Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi / Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí / Chuyện ngày mai có chi đáng kể / Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm.” Rồi ông cụng vào ly tôi, tôi đứng lên uống với ông hết cốc rượu. Bữa đó tôi uống rất nhiều mà không thấy say.  Quả thật có những điều rất sung sướng, rất an ủi cho người viết, khi gặp được người có lần đọc của mình và ngược lại mình cũng trân quý họ. Cái nầy có thuộc vào phần quan tâm đến độc giả không anh? Ai viết cũng cầu mong có người đọc, người đọc càng nhiều là tác phẩm đó thành công.

THĐ: “Văn mình, vợ người” chuyện đó là lẽ đương nhiên, nhưng có khi nào ông đọc Thơ,Văn của người khác không, nếu có thì ông đã đọc những ai, nhận xét của ông về những tác phẩm mà ông  đã đọc?

PXS: Tôi không chịu “văn mình, vợ người” đâu anh ạ. “Vợ mình, văn người” thì OK. Về văn thơ của người khác thì đọc vô số kể, thượng vàng hạ cám không chừa ai. Làm sao kể hết cho được. Tác giả viết hay thì đọc hết, còn tác giả không thích, không hợp thể tạng của mình thì đọc vài trang gấp sách lại. Tôi không phải là nhà phê bình văn học, nên cái nhận xét của tôi nó cũng lệch lạc, nói ra sai bét mích lòng lắm. Vì thế xin anh bỏ qua cho.

THĐ: Thế vậy thì về Thơ ông thích ai,về văn ông không bằng lòng tác giả nào.Vì sao?

PXS: Anh Triều Hoa Đại ạ, anh làm khó tôi mãi. Mấy câu hỏi của anh mà tôi láu táu trả lời là chết ngay lập tức. Người ta phang vào đầu tôi ngay. Thơ thích ai thì được. Mà văn không thích ai kể ra thì làm sao sống nổi với họ, mà cũng tội nghiệp cho họ. Họ đã có lòng viết, mình không thích thì thôi, nói ra phủ phàng lắm. Khen người ta mà khen không đến nơi đến chốn, khen không hết mình đã là điều xúc phạm rồi. Còn chuyện chê bai văn của người ta thì chỉ có kẻ tử thù với nhau mới làm điều ấy. Xin anh đừng bắt tôi làm những điều khen chê, vì trả lời cách nào cũng bị thiên hạ nguyền rủa. Thôi thì cũng xin anh bỏ qua cho điều nầy. Không khen chê ai cả, cái đó dành cho các nhà phê binh văn học.

THĐ: Ở Boston là nơi đã xẩy ra vụ kiện tụng WJC. Rồi ra vụ kiện này sẽ ra sao,sẽ đi về đâu,theo ông thì ai phải,ai trái trong vấn đề này.Riêng ông, ông có ý kiến gì không?

PXS: Chuyện nầy xẩy ra ở ngay Boston thật, nhưng tôi hoàn toàn không chú ý, không theo dõi. Chẳng biết ai trái, ai phải. Ai thắng, ai thua. Gần đây vô tình đọc bài viết của nhà văn Trương Vũ về vụ thưa kiện giữa ông Nguyễn Hữu Luyện và WJC. À, thì ra thế. Bao giờ chính trị cũng muôn mặt và đầy lọc lừa. Chỉ có văn nghệ thì rất chân chất và thật dễ thương.

THĐ: Giao tình giữa ông  với các anh chị em viết lách ra sao(nói chung).Và, với những bạn bè văn nghệ ở Boston thế nào?

PXS: Giao tình giữa anh em văn nghệ với nhau vẫn đằm thắm. Anh chị em người nào cũng dễ thương. Anh chị em ở Boston cũng cùng một mâm một chiếu, không có ai xẻ nghé, tẻ đàn. Có chuyện gì, thì cùng ra tay với nhau, cùng giúp nhau. Boston được cái là anh em văn nghệ sinh hoạt trong thân tình và vui vẽ.

THĐ: Thế còn mấy “ông”,mấy”bà” mần thơ,viết văn xứ Quảng thì những giao tình giữa ông và họ có “thuận buồm xuôi gió” không?

PXS: Mấy nhà văn, nhà thơ Xứ Quảng của tôi thì tuyệt vời, hằng năm nơi nào cũng ra Đặc san ì xèo, linh đình, không mệt mõi. Tụi tôi cũng nuôi mộng bành trướng lắm anh ơi. Anh đừng ngạc nhiên, một ngày nào đó anh sẽ thấy ở đây “Cộng Hoà Nhân Dân Quảng Nam” ra đời, cũng đừng lấy làm lạ. Nói đùa với anh cho vui, để anh thấy là tụi tôi còn hăng hái, còn  say mê hoạt động. Còn tôi và mấy “nhà” của xứ tôi thì chẳng cần phải có gió xuôi mà buồm vẫn cứ căn.

THĐ:Người xưa có câu:Quảng Nam hay cãi,Quảng Ngãi hay lo,Bình Định hay co,Trị Thiên vơ cả.Thế  người ta nói đúng mình cũng cứ cãi à. Bộ dân Quảng Nam của ông ưa cãi  đến thế hay sao?

PXS: Qua đây mà còn cải vã gì nữa anh. khép mồm hết cả rồi. Mỹ thì dùng luật, mình thì dùng lý, thế nào cũng thua thôi. Không biết ai nói câu “Quảng Nam hay cải…” thật là vô duyên, mà lại truyền tụng đến bây giờ. Câu truyền tụng nầy có vẻ móc họng, khích bác những vùng khác ngoài Quảng Nam. Tỏ ra gây sự và miệt thị kẻ khác. Tôi là dân Quảng Nam, nhưng tôi không thích thái độ nầy.

THĐ: Mỗi một miền đều có những cái mà khi đi xa,(thật xa)…. người dân của xứ ấy,miền ấy khó quên và nhiều khi còn là sự  hãnh diện và tự hào.  Xứ ông thì có món mì Quảng  thì tuyệt cú mèo,không chê vào đâu được.Vậy ngoài cái “món” ấy ra người dân xứ Quảng có “hãnh diện” về cái tật hay cãi của họ không?

PXS: Trong bài:”Quảng Nam tào lao chi sự” tôi có đề cập về chuyện nầy anh ạ. Đi xa quê hương mới thấy thật tội nghiệp cho những cái “tật” của dân tôi, mà cái tật cãi vả nhau không mấy tốt đẹp nầy, tôi nghĩ họ không lấy gì làm hãnh diện lắm đâu. Người ở xa mới thấy khó chịu. Ủa mà tại sao anh lại hỏi tôi những điều anh quá biết, vì anh ở vùng đó từ nhỏ đến khi trưởng thành mà. Hay anh muốn mượn một tay Quảng Nam như tôi, nói lên điều nầy để bà  con tôi cải chơi?

Trong lò sưởi  củi,lửa cũng gần tàn,đêm về khuya trời Boston lạnh ngắt, bước ra bên ngoài để nhìn những vì sao thưa,lẻ loi mà trăng gần cuối tháng không đủ rọi soi chút ánh sáng nơi góc vườn nơi chúng tôi đang đứng, tôi nghĩ thầm rằng:ngày mai đây mình lại xuôi Nam bỏ lại sau lưng những thân thiết,những ngày vui với bạn bè mà lòng  luyến tiếc rồi  thầm mong lại sẽ có ngày nào.

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »

Phỏng Vấn Phan Xuân Sinh – Trường Đinh thực hiện

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Phỏng Vấn Nhà Thơ Phan Xuân Sinh

Trường Đinh thực hiện

Hồn Quê (HQ): Xin Anh cho biết vài nét về sựï nghiệp văn chương đời Anh.

Phan Xuân Sinh (PXS): Sự nghiệp văn chương của tôi chẳng có gì đáng nói. Làm thơ từ lúc còn rất nhỏ nhưng chẳng thấy tiến triển. Hình như tôi không có khiếu về văn chương chữ nghĩa nên thơ của tôi cũng không hay, nên ít ai để ý. Theo tôi sự sinh hoạt văn nghệ không mang tính phục vụ quần chúng, mà lấp đầy khoảng trống trong cuộc sống của chính mình. Tôi không có khả năng dùng văn chương để “tải” ý tưởng thâm sâu, nên đừng đòi hỏi trong tác phẩm của tôi những gì cao siêu. Nhu cầu đọc và viết của tôi cũng chỉ tiêu khiển giống như những người khác xem ciné, t.v., bá banh v.v.

HQ: Vài nét về tác phẩm vừa mới xuất bản của Anh: Đứng Dưới Trời Đổ Nát.

PXS: Tập thơ “ĐỨNG DƯỚI TRỜI ĐỔ NÁT” vừa mới ra đời đầu tháng 7 năm 2000. Đây là một số bài thơ được làm rải rác từ thời đi học cho tới bây giờ. Phần đông thơ cũ bị thất lạc. Coi như đây là tập thơ mang kỷ niệm, đánh dấu những kỷ niệm của đời tôi.

HQ: Vài nét về tác phẩm Chén Rượu Mời Người xuất bản năm 1996. Anh có dự định sẽ tái bản lại thi phẩm nầy không?

PXS: Tập thơ “CHÉN RƯỢU MỜI NGƯỜI” in chung với Nhà thơ Dư Mỹ. Đây là những bài thơ tôi viết trong lúc mới qua Mỹ. Tập thơ nầy chúng tôi tự xuâùt bản năm 1996 với một số lượng ít dành để tặng cho bạn bè.

HQ: Bài thơ nào mà Anh yêu thích nhất trong thi phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát?

PXS: Bài thơ nào tôi thích nhất? Đó là một câu hỏi khó cho tác giả, vì bài nào cũng mang một vẻ riêng. Có lẽ có một câu trả lời đúng nhất của một tác giả nào đó là: “Bài thơ nào tôi sắp làm là bài thơ tôi thích nhất”.

HQ: Một nguyên do tâm tư nào đó hay chỉ là một đột khởi cảm ý qua sự đặt tên một thi tập với tựa đề: Đứng Dưới Trời Đổ Nát.

PXS: Tên của một tập thơ là tổng hợp được toàn bộ ý nghĩa chung chung của tập thơ. Có tác giả lấy đề một bài thơ tiêu biểu trong tập làm đề. Còn tôi thì chọn lựa nó bằng những gì mà thơ tôi nói lên và cuộc đời tôi gặp phải.

HQ: Thi phẩm tương lai của Anh?

PXS: Dĩ nhiên là tôi cũng dự trù một tác phẩm trong tương lai. Nhưng bây giờ thì còn quá sớm để bàn tới chuyện nầy.

HQ: Anh có dự định sẽ ra mắt một tác phẩm về văn xuôi theo thể loại tùy bút hay không?

PXS: Tôi hiện giờ có viết lai rai tùy bút, tự truyện. Nhưng bảo rằng tôi gom góp lại để xuất bản thì tôi chưa dám làm điều nầy. Tôi cảm thấy lối viết nầy không mấy hấp dẫn cho người đọc, muốn xuất bản một tác phẩm về văn xuôi, thì tôi phải đổi lại bút pháp và cách dàn dựng một câu chuyện cho thật mới mẻ, mang riêng cho mình một lối viết. Chuyện nầy là một ao ước, nhưng có làm được không là một chuyện khác nữa.

HQ: Vài nhận định về sinh hoạt văn học Việt Nam của giới trẻ trên mạng lưới internet.

PXS: Gần đây trên mạng lưới internet đã xuất hiện nhiều người viết còn rất trẻ, họ được lớn lên trên những đất nước tự do. Lối viết của họ cũng mới lạ, tươi tắn. Đó là một điều đáng cho chúng ta khuyến khích và hổ trợ.

HQ: Vài cảm nghĩ và dự đoán của Anh về tương lai văn học Việt Nam tại hải ngoại?

PXS: Khi bàn đến chuyện tương lai về văn hóa, tiếng nói, chữ viết của người Việt tại hải ngoại dĩ nhiên trong đó có văn học. Trong chúng ta ai quan tâm đến vấn đề nầy cũng đều thấy thật bi đát, không phải chúng ta bi quan nhưng đó là một sự thật. Ngay trong gia đình con cái còn nói ngọng nghịu tiếng Việt, thì làm sao bảo chúng viết và đọc thông suốt được tiếng Việt. Cho nên chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tế trong vài thập niên tới, ngôn ngữ, văn chương của chúng ta sẽ mất tiêu tại hải ngoại. Thế nhưng chúng ta ngay bây giờ cũng cần phải viết, viết không những cho những người Việt tại hải ngoại đọc, mà sau nầy những người trong nước cũng tìm đọc. Chúng ta có được một nền văn học lưu vong thật phong phú.

HQ: Vài nét về nền văn học Việt Nam hiện nay tại nước nhà.

PXS: Có lẽ tôi ít đọc được những tác phẩm và báo chí trong nước, nên cái nhìn của tôi không được trung thực. Tuy nhiên tôi cũng phải nhìn nhận rằng 25 năm qua, nền văn học trong nước không mấy tiến triển, những tác phẩm mang tính thuyết phục về chính trị bị lãng quên, còn những tác phẩm mang giá trị về văn học thì quá ít.

HQ: Những so sánh về văn học Việt Nam trong nước và ngoài nước.

PXS: Là người cầm bút, chúng ta không nên so sánh trong nước hay hải ngoại, vì như vậy rất mất lòng cho những người cầm bút cả hai nơi. Nhưng một điều quan trọng là tại hải ngoại chúng ta viết trung thực với lòng của chúng ta, còn những nhà văn trong nước họ khó làm được điều đó, vì những rào cản về kiểm duyệt, xuất bản đã hạn chế những gì họ muốn viết. Nên những tác phẩm được lưu hành trong nước về mặt giá trị văn học thì rất hiếm hoi, trong lúc tại hải ngoại người viết ít hơn, nhưng thỉnh thoảng chúng ta có được những tác phẩm thật hay.

HQ: Văn học Việt Nam trong nước có cần sự đổi mới lại không?

PXS: Chỉ cần bỏ đi chế độ kiểm duyệt, chỉ cần xuất bản tự do. Tôi tin tưởng rằng nền văn học trong nước sẽ sống dậy và cực kỳ mạnh mẽ. Chính luật đào thải sẽ bắt các nhà làm văn học luôn luôn thay đổi cách nhìn, cách viết để bắt kịp thế giới bên ngoài.

HQ: Qua hai tác phẩm Anh đã xuất bản, tác phẩm nào Anh vừa ý nhất? Tác phẩm nào đã diễn đạt được hết nỗi lòng của Anh?

PXS: Diễn đạt bằng thơ để nói lên tâm trạng, nỗi lòng của mình. Thật tình tôi không có khả năng đó, vì thơ chữ nghĩa quá cô đọng. Làm được việc nầy chỉ có các nhà thơ lớn, còn tôi chỉ múa may trong vòng suy nghĩ hạn hẹp, chữ và nghĩa trơn trợt không sâu lắng. Nhưng vì tập thơ “Đứng Dưới Trời Đổ Nát” ra sau, có vài bài được nói lên tâm trạng của kẻ cùn trí, cùng đường mà trong thế hệ của tôi gặp phải, hơn nữa tôi chăm sóc rất kỹ từ in ấn cho đến trình bày và tự làm bìa cứng. Vì thế nói công bình là tôi thích tập “ĐDTĐN” hơn.

HQ: Nhận định của giới trí thức về thi phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát?

PXS: Trước đây có tuần báo SAIGON TIMES ở California có viết về tập thơ của tôi, người viết là Nhà báo Vương Trùng Dương. Anh Vương Trùng Dương cũng là người bạn của tôi từ thời niên thiếu và anh ấy đã biết tôi khi chúng tôi sinh hoạt văn nghệ với nhau còn trong thời kỳ học sinh. Trên tờ tạp chí VĂN số tháng 11 có bài viết của Nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh về tập thơ của tôi “Đứng Dưới Trời Đổ Nát”. Anh Nguyễn Mạnh Trinh hoàn toàn không quen biết với tôi và tôi rất cảm động những gì anh ấy đã viết về tôi. Thỉnh thoảng tôi cũng đọc được những nhận xét ngắn trên các báo về tập thơ nầy do bạn bè của tôi chuyển lại.

HQ: Vài nhận định của Anh về văn chương Việt Nam trên phương diện văn học quốc tế?

PXS: Nhận định về văn chương Việt Nam trên phương diện văn học quốc tế? Đề tài rộng lớn quá tôi không dám đề cập tới, duy chỉ một điều chúng ta phải nhìn nhận là văn học của chúng ta vẫn còn phôi thai (chữ quốc ngữ mới phổ biến chừng 100 năm nay). Chúng ta chưa có một tác phẩm lớn, tầm cỡ quốc tế và được phổ biến toàn diện. Trung Quốc có một nền văn học lâu đời và đồ sộ thế mà chỉ mới có Cao Hành Kiện (người được giải Nobel văn chương năm nay).

HQ: Một vài nguyên do tại sao từ trước đến nay vẫn chưa có một tác phẩm thi ca Việt Nam nào khả dĩ có thể gọi là đủ tầm vóc để nhận giải thưởng Nobel thế giới?

PXS: Nhiều nguyên nhân lắm. Ngôn ngữ và chữ viết của chúng ta chưa được phổ biến trên trường quốc tế, tác phẩm của chúng ta chưa đủ tầm vóc lớn. Đó là những yếu tố chính, mà chúng ta chưa thể vào mắt những nhà chọn lựa văn học, trong những giải thưởng lớn quốc tế.

HQ: Quan niệm của riêng Anh về hồn thơ và ý rượu?

PXS: Tôi không hiểu hồn thơ và ý rượu có ăn nhập gì với nhau không? Thiệt tình tôi cũng có những bài thơ về uống rượu, nhưng những bài nầy ghi lại những kỷ niệm sau khi đã tỉnh rượu rồi mới làm, chứ tôi chưa bao giờ làm thơ trong khi say cả. Các ông Lý Bạch, Tản Đà những ông thánh về thơ, còn tôi thứ cắc ké làm sao sánh được. Một điều tôi cũng cần nói ra đây, tôi là người rất ít uống rượu và chưa biết được cái ngon ngọt của rượu. Gặp bạn bè thì uống chơi, có khi uống chết bỏ nhưng chỉ thấy cái đắng, cái cay chứ chưa thấy ngon được.

HQ: Được biết những tác phẩm của Anh đã đăng trên các báo chí văn học hải ngoại đều ký tên qua các bút hiệu, vậy lý do tại sao Anh không dùng bút hiệu cho tác phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát?

PXS: Khi còn nhỏ ở trong nước, tôi dùng nhiều bút hiệu vì sợ gửi đi mà người ta không đăng, quê với bạn bè. Nên tôi thay đổi lia lịa. Ra hải ngoại tôi chỉ dùng tên thật hơn mười năm nay.

HQ: Xin Anh vài lời nhắn gởi tâm tình đến giới học thức trẻ về văn học Việt Nam trên đất khách.

PXS: Trong bất cứ lãnh vực nào, giới trẻ cũng là mầm mống của tương lai. Thế hệ trẻ tại hải ngoại, tiếp xúc với ngôn ngữ văn chương nước ngoài mà còn giữ được tiếng mẹ đẻ, thiết tha với văn chương Việt Nam, đó là điều những người như chúng tôi phải trân trọng và quý mến. Lời khuyên của cá nhân tôi là họ cứ viết bất cứ cái gì mà họ muốn, họ làm thơ không cần câu nệ hay bị ràng buộc vào khuôn mẫu từ trước, và họ tìm đọc những tác phẩm giá trị để trau dồi cho vốn liếng của mình. Tôi thích sự cách mạng, bức phá của họ trên văn đàn, thích sự tươi tắn trẻ trung của họ.

HQ: Văn chương cổ truyền Việt Nam có cần khai quật lại nơi đất ngoại hay không (chữ nôm)?

PXS: Cái gì chúng ta đọc được thì đọc cho biết, ngay cả thế hệ của tôi, phần đông cũng mù tịt về văn chương chữ Nôm, chứ đừng đòi hỏi những bạn trẻ trưởng thành từ Mỹ, những điều quá sức như vậy. Khai quật làm gì cái thứ mà đối với thế hệ trẻ tại đây là điều quá cũ kỹ.

HQ: Thơ Việt có tồn tại trong thế hệ tương lai nơi xứ người không?

PXS: Tôi nghĩ cũng sẽ bị luật đào thải chi phối, nhưng nói ra sự thật nầy cũng đau lòng lắm.

HQ: Thi phẩm nào và thi sĩ nào đã ảnh hưởng nhiều nhất đến thơ văn của Anh?

PXS: Trước đây thì thơ của Tô Thùy Yên và thơ của Hoàng Lộc, bây giờ thì tôi không biết mình chịu ảnh hưởng của ai. Thỉnh thoảng đọc được một bài thơ hay thì trong lòng sướng ghê lắm.

HQ: Vài quan niệm của Anh về thơ? Nếu như vượt bỏ những gạn ép vướng mắc của vần điệu thì thơ có còn gọi là thơ nữa không?

PXS: Thơ thì cần chi phải vần điệu, miễn sao người đọc cảm thấy hay là được rồi. Thơ vần điệu với các người trẻ bây giờ rất khó làm, vì phải gò bó trong khuôn khổ. Nếu như cảm thấy hạn chế thì ta nên làm thơ một cách tự nhiên, bình dị. Cái quan trọng là có được sự chấp nhận của mọi người hay không?

HQ: Thơ Việt trên đất ngoại có cần làm mới lại chăng (thơ narrative, thơ hypertext, thơ linh họa animated/in-motion/video poetry, v.v.)?

PXS: Có lẽ bộ môn thơ tiến triển nhanh nhất. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy các thể loại thơ cách tân nào được ưa chuộng nhất. Còn quá sớm, chúng ta bàn về chuyện nầy chăng? Tôi đã thấy xuất hiện vài bài thơ theo các thể rất lạ, nhưng hề chi. Cuộc thử nghiệm nào cũng đòi hỏi sự kiên trì, dần dần trở thành thói quen và tự nhiên sẽ được chấp nhận.

HQ: Xin Anh cho biết đôi chút về Hội Ái Hữu Quãng Đà và Đặc San Xứ Quãng?

PXS: Hội Ái Hữu Quảng Đà tại Massachusetts cũng giống như các Hội Đồng Hương khác vậy. Đây là một tổ chức gom lại những người cùng phong tục, tạp quán, lề thói, giọng nói và cùng nơi sinh quán, tìm lại với nhau để làm sống lại những gì mà họ cảm thấy gần gũi. Mỗi năm họ tổ chức buổi sinh hoạt mừng năm mới theo truyền thống của họ. Tờ Đặc san Xứ Quảng là tờ báo phát hành mỗi năm một lần, đặc biệt tất cả các bài viết phần đông liên quan tới vùng đất Quảng Nam Đà Nẵng hoặc văn hóa Việt Nam.

HQ: Anh có tâm tư riêng gì muốn tỏ bày với các độc giả?

PXS: Thành thật cám ơn nhóm chủ trương HỒN QUÊ, những người bạn trẻ của tôi, đã cho tôi có cơ hội tiếp xúc với đồng hương, và nói lên quan niệm văn chương của cá nhân tôi. Dĩ nhiên những quan niệm nầy có thể không vừa lòng với người khác, tuy nhiên tôi cũng có cơ hội trình bày sự thật lòng mình, những suy nghĩ trung thực của mình. Có điều gì sơ sót kính mong quý vị lượng tình bỏ qua.

HQ: Xin chân thành cảm ơn Anh.

Trường Đinh thực hiện

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Qua cái Nhìn của Phạm Thành Tính

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Nhớ kỷ niệm khi đọc thơ Phan Xuân Sinh

Phạm Thành Tính

Bẵng đi một thời gian khá lâu, nếu kể ra cũng gần bảy năm…….
Tôi đã mất liên lạc và không có cơ hội sinh hoạt văn nghệ với một số anh em văn nghệ sĩ vùng Boston, thuộc tiểu bang Massachusetts. Năm 2001, tôi đã di chuyển về thành phố Austin , thuộc tiểu bang Texas, do yêu cầu của cuộc sống gia đình. Nói đúng hơn là vì lý do sức khỏe của tuổi già, nên không còn khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt, nhất là cái giá rét mùa đông ở vùng Ðông bắc Mỹ..

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh Về Thơ, Nhận Xét Bởi Nguyễn Đình Toàn

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

PHAN XUÂN SINH

*Người viết Nguyễn Đình Toàn

Được biết tác giả Phan Xuân Sinh mồ côi mẹ từ lúc con nhỏ. Ông sống với cha trong cảnh hiu quạnh gà trống nuôi con. Ông trưởng thành vào lúc cuộc chiến Việt Nam bước vào giai đoạn thảm khốc nhất. Và cũng như hầu hết các thanh niên cùng lứa tuổi Phan Xuân Sinh không còn sự lựa chọn nào khác là vào lính. Nhập ngũ được vài năm, mới 24 tuổi, chiến tranh lấy đi của ông bàn chân phải.

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Nguyễn Đình Toàn

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Đọc Bơi Trên Dòng Nước Ngược

Nguyễn Đình Tòan

“Bơi Trên Dòng Nước Ngược” do nhà xuất bản Sông Thu ấn hành là tác phẩm thứ hai của Phan Xuân Sinh, sau tập thơ “Ðứng Dưới Trời Ðổ Nát”.
Sách dày trên hai trăm trang, gồm 14 truyện ngắn, được tác giả ghi chú là “tạp văn”. Dùng hai chữ “tạp văn” có lẽ Phan Xuân Sinh muốn xác định, những gì ông viết trong cuốn sách không hoàn toàn là nhưng truyện ngắn, hiểu theo nghĩa thông thường, xen lẫn vào các câu chuyện có thể là những dòng tâm sự, bình luận, tùy bút, nghĩa là muốn viết gì thì viết, kể cả những điều “lặt vặt”, mục đích là để biện hộ cho sự luộm thuộm nếu có, chắc vậy.
Riêng cái tựa “Bơi Trên Dòng Nước Ngược” được tác giả giải thích trong “lời nói đầu”:

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Nguyễn Mạnh Trinh

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

TẠP GHI VĂN NGHỆ
Bơi trên dòng nước ngược

Nguyễn Mạnh Trinh

Bơi trên dòng nước ngược? Ai ? Người nào mà sức khỏe đủ dẻo dai để  có sức làm một kình ngư trên sông nước như vậy?  Có phải là cảnh vượt biển vượt sông không? Chắc hào hứng lắm?  Một câu viết ra mà trăm ngàn liên tưởng, ý nghĩ…

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Luân Hoán

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Phan Xuân Sinh

hết đứng lại bơi, đời đổ trên dòng nước

*LUÂN HOÁN

Không rõ đoàn quân Grippe rời tuyến xuất phát từ lúc nào mà rạng sáng ngày mùng một năm Đinh Hợi (2007) đã khai hỏa, tiến công thật mạnh mẽ vào cơ thể tôi. Cuộc tổng nổi dậy của địch quân vào mùa xuân này quả thật có tạo cho tôi chút bất ngờ. Bởi trước đây vài tuần lễ tôi đã tảo trừ vài trận đánh lẻ tẻ của chúng. Thiếu đề phòng, mất cảnh giác, hơi chủ quan xem thường thế lực của địch, nên tôi nhận hậu quả tương đối nặng nề. Một số yếu điểm mau chóng bị địch quân khống chế như cổ họng, hai cánh mũi…

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Lương Thư Trung

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Thử đọc lại thi phẩm Đứng dưới trời đổ nát của Phan Xuân Sinh

Lương Thư Trung

Nói đến thơ là nói đến tiếng nói tận trong đáy lòng của con người được đan dệt qua những vần điệu. Dù thơ được làm theo thể loại nào, người làm thơ đều muốn gởi những cảm xúc của mình qua từng câu chữ. Và người đọc thơ có cảm nhận được những rung cảm của người nghệ sĩ hay không là tuỳ vào sự đồng cảm của chính người thưởng ngoạn. Khi người đọc đồng cảm, rung động và có cùng cảnh ngộ thì họ sẽ cảm nhận được dễ dàng; bằng không, dù những vần thơ sâu sắc thế nào đi nữa, người đọc cũng sẽ không hiểu nổi và không cảm nhận nổi những điều mà thi nhân gởi gắm.

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Vĩnh Hảo

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Phan Xuân Sinh

Vĩnh Hảo

Thơ Phan Xuân Sinh, qua thi phẩm Ðứng Dưới Trời Ðổ Nát có âm hưởng của một tập trường ca thật buồn, thổn thức, pha lẫn niềm kiêu hãnh ngang tàng của một kẻ đã trôi hết thân phận mình qua cuộc biển dâu tình yêu, chiến tranh, thời cuộc.

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Vương Trùng Dương

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Phan Xuân Sinh,
Đứng Dưới Trời Đổ Nát

Vương Trùng Dương

“Le moi est haisable”. Hơn ba trăm năm về trước, Blaise Pascal (1623 – 1662) để lại cho đời câu nói “cái ta – thì, là, thật – đáng ghét”. Albert Camus (1913 – 1960) đã lặp lại lời đó và được đề cập rất nhiều trong thời hiện đại. Paul Valéry (1871 – 1945) cho rằng cái ta đáng ghét nhưng đó là cái ta của người khác. Ba khuôn mặt lẫy lừng trong văn học Pháp cùng nhận định khe khắt về cái ta, không biết trước Pascal, có danh nhân nào đã nói câu đó nhưng sau Camus thì bắt gặp rất nhiều, đôi khi bị lạm dụng thái quá, có phần phiến diện?.

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »

Phan Xuân Sinh, Nhận Xét Bởi Trần Yên Hoà

Posted by phanxuansinh trên Tháng Năm 30, 2009

Câu chuyện Văn Chương

Trần Yên Hòa

PHAN XUÂN SINH
“ĐỨNG DƯỚI TRỜI ĐỔ NÁT”

Tôi gặp Phan Xuân Sinh trong dịp anh về Nam California để  ra mắt sách tập thơ Đứng Dưới Trời Đổ Nát. Lần này có ba tác giả được giới thiệu là Hoàng Lộc với tập thơ Qua Mấy Trời Sương Mưa, Lâm Chương với tập truyện Đi Giữa Bầy Thú Dữ , còn Phan Xuân Sinh vơiù tập thơ Đứng Dưới Trời Đổ Nát. Buổi giới thiệu do Hội Văn Học Nghệ Thuật Quảng Nam Đà Nẵng đứng ra tổ chức.

Đọc tiếp »

Posted in Nhận Xét và Phê Bình | Leave a Comment »