Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Sol Duc Falls

    Back to forest

    Prairie Falcon 2016

    Starry night

    It was snowing !

    Northern Flicker (Intergrade)

    Northern Pintail descent

    It's as Easy as 1-2-3

    Dolls clinic.

    Superstition Mountains

    More Photos
  • Lưu trữ

Căn Nhà, Không Có Bóng Đàn Bà

Posted by phanxuansinh on Tháng Năm 29, 2009

CĂN NHÀ, KHÔNG CÓ BÓNG ÐÀN BÀ

Phan Xuân Sinh

Anh sống với vợ chừng hơn bốn năm, được hai mặt con thì Miền Nam bị mất. Anh học tập theo diện sĩ quan cải tạo. Vợ phải ra sức nuôi con, không còn trông vào những đồng lương của anh như lúc trước. Chị chạy ngược chạy xuôi, buôn tảo bán tần để kiếm tiền nuôi con còn thơ dại. Hai đứa con lúc đó còn quá nhỏ, nhưng vì không thể gửi cho ai được, mà bồng bế theo thì rất trở ngại. Thuê người giữ thì không có tiền trả, vì vậy chị cứ để hai đứa nhỏ ở nhà một mình, nhờ mấy bà già hàng xóm thỉnh thoảng qua lại coi chừng giùm. Hàng xóm cũng thương cho hoàn cảnh mẹ cút con côi của chị. Họ chăm sóc hai đứa bé mà không lấy một chút thù lao nào. Thỉnh thoảng hôm nào khấm khá, chị mua biếu mấy bà già đó một ít quà tượng trưng lấy thảo, để đền bù cho công lao chăm sóc hai đứa bé khi chị vắng nhà.

Một hôm, mấy bà già hàng xóm bồng bế hai đứa nhỏ ra ngoài Ủy Ban Nhân Dân Phường, báo cáo là mẹ hai đứa nhỏ nầy đi đâu ba ngày nay chưa thấy về. Chắc bị bắt vì buôn bán trái phép, nên xin Ủy Ban tìm giùm. Ban Thương Binh Xã Hội của Phường nhận lãnh hai đứa nhỏ để nuôi đỡ vài hôm, vì nghĩ rằng thế nào mẹ chúng nó vài ngày sau cũng sẽ trở về. Lúc đó họ sẽ bắt chị làm giấy cam đoan, không bỏ bê con cái bừa bãi v.v…để ép chị vào khuôn khổ của xã hội, đúng với đường lối của nhà nước cách mạng. Bà Trưởng Ban Xã Hội nghiến răng, hăm he thế nào cũng cho chị một bài học nên thân. Bà phải bắt chị ra phường học tập, giảng giải cho chị hiểu thông suốt đường lối của nhà nước, trách nhiệm đối với gia đình con cái. Bà đã chuẩn bị một hơi dài những điều phải nhồi nhét vào đầu chị.
Gần một tháng, chị vẫn biệt vô âm tín. Lúc đó không những Ban Xã Hội Phường, mà Bí Thư, Chủ Tịch, nhân viên của Phường bấn lên. Ðã gọi điện thoại cho Công An Thành Phố, các Công An của các Quận, Huyện Nội Ngoại Thành, xem thử chị có bị giữ nơi đâu để họ can thiệp cho chị trở về để nuôi con. Tất cả đều không tìm thấy manh mối của chị. Hai đứa nhỏ từ khi ra phường ở, được cho ăn uống đủ thứ nên chúng hay đau bụng, ỉa giải lung tung. Gây nhiều phiền hà cho mọi người. Văn phòng của Ủy Ban Phường biến thành một nhà giữ trẻ. Tất cả mọi người chỉ chăm chú vào hai đứa nhỏ. Nhân viên đều trở thành những người bảo mẫu tốt.
Không tìm ra được chị. Không biết chị đang ở đâu hay chết mất xác rồi. Bây giờ họ quay qua tìm kiếm anh tại các trại cải tạo. Họ nghĩ, anh dễ tìm hơn, anh đang bị nhà nước quản lý, vì hoàn cảnh cấp bách có thể xin anh về để nuôi con. Lần đầu họ nghĩ chỉ cần đưa tên anh lên Ban Quân Sự Quận, rồi Quận chuyển lên Thành Phố, rồi Thành Phố chuyển lên Quân Khu 7. Thế nào cũng tìm ra được anh nhanh chóng, rồi thả ra cho về. Chuyện cũng đơn giản, không có gì nhiêu khê. Yên tâm ngồi chờ, ngày nầy qua ngày nọ vẫn vô hiệu quả. Không biết lá đơn đi chỗ nào. Bà Trưởng Ban Thương Binh Xã Hội, bực mình làm một tờ đơn thống thiết, Chủ Tịch Phường ký tên, Bí Thư chứng nhận. Chính đích thân bà?hân chinh mang đơn đi, xin thả anh ra, để về nuôi con.
Trạm khởi đầu của bà tới là Quận. Bà ngồi chờ để được Chủ Tịch Quận chứng nhận trong đơn. Chủ Tịch bận tiếp khách. Bà chờ dài cổ. Khi có chữ ký thì xế trưa, bà phải đạp xe về nhà ăn cơm, nghỉ trưa rồi chiều tính tiếp. Chiều bà đạp xe ra Thành Phố. Ủy Ban đang hội họp không tiếp khách. Bà lại đạp xe trở về. Và cứ thế xin được mấy chữ ký theo hệ thống từ dưới lên trên mất vài ngày. Bà đến Bộ Tư Lệnh Quân Khu 7 (lúc nầy đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu cũ). Bà đưa đơn cho người lính gác cửa, và yêu cầu xin được gặp Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân Khu. Người lính đọc đơn xong nhìn bà nói: “Chuyện cỏn con ai giải quyết cũng được, cần gì tới Tư Lệnh”.
Bà trố mắt, nói móc: “Thế chú có giải quyết được không?”
Người lính trả lời: “Dĩ nhiên không phải tôi, tôi đang gác. Tôi chỉ cho bà nơi giải quyết”
“Thì cứ chỉ đi, tôi tới đó ngay.”
Người lính gác dơ tay chỉ cho bà phòng tiếp khách, vào đó có người lo mọi chuyện. Bà đưa tay quẹt mồ hôi, leo lên xe đạp. Miệng lầm bầm: “Dóc tổ, thứ gác cổng mà đòi giải quyết chuyện đại sự”.
Bà khóa xe cẩn thận, bước vào bên trong, đến chỗ nhận đơn trình bày lý do. Người nhận đơn bảo bà ngồi chờ. Một lúc sau có người ra mời bà vào phòng. Ông Trưởng phòng tiếp tân, báo cho bà biết đây không phải là nơi giải quyết chuyện cải tạo viên. Ông chỉ bà đến phòng khác. Không biết ông chỉ dẫn thế nào, mà bà đạp xe lòng vòng cả buổi trong Bộ Tổng Tham Mưu cũ, vẫn không tìm được chỗ giải quyết. Sau đó bà nhờ một anh bộ đội chỉ giùm. Ðơn của bà được chấp thuận, và họ hẹn tuần sau bà tới đây lại sẽ cho biết kết quả.
Ðúng ngày hẹn bà tới, họ đưa cho bà giấy giới thiệu đến Trảng Lớn Tây Ninh gặp Ban Quản Giáo Trại để xin giải quyết. Ngày hôm sau bà lại đón xe đò đi Trảng Lớn. Bà trình bày mọi chuyện với người phụ trách, kèm theo lá đơn có đóng dấu của nhiều cơ quan liên hệ. Cộng với những lời kính chuyển, mong giúp đỡ tận tình. Trưởng Ban Quản Giáo báo cho bà biết là nơi đây chỉ có quyền giam giữ, chứ không có quyền thả người. Bà phải trở lại Quân Khu 7 để xin giấy thả. Ðến đây thì bà đã đuối sức, mới biết chuyện nầy không đơn giản, nhiêu khê quá chừng. Bà không còn kiên nhẫn nhịn nhục được nữa rồi. Bà nói thẳng với ông Trưởng Phòng: “Ðồng Chí ơi, tôi cũng là cán bộ, mà các ông hành tôi đi cả tháng nay như vậy. Huống chi dân chúng khổ biết chừng nào.”
“Tôi chỉ làm theo mệnh lệnh, bà thông cảm cho tôi. Tôi cũng muốn thả hết họ về cho rồi, nhốt đây làm chi thêm cực. Bà phải gặp cho được Tư Lệnh hoặc Phó Tư Lệnh, đừng để cho tụi nó chỉ bậy bạ, chạy lòng vòng thêm mệt. Chỉ có hai ông nầy giải quyết mới được.”
Kết quả thì bà kiên nhẫn cũng xin được cho anh ra khỏi trại cải tạo. Trảng Lớn, Quân Khu 7 đi đi lại lại nhiều lần, dĩ nhiên không kể thời gian phải hầu chực. Ðôi lúc bà cũng nãn lòng vì cung cách làm việc quan liêu, thế nhưng nếu bỏ cuộc thì mấy đứa nhỏ tính sao. Phường không có ngân khoản chi tiêu cho vụ nầy. Thôi thì ráng làm cho trót.
Anh mặc bộ áo quần bằng bao cát, trên tay cần bao ny-lon đựng vài vật dụng cá nhân. Tài sản của anh khi xuất trại vỏn vẹn có bấy nhiêu. Hành khách trên xe đò biết anh là dân cải tạo mới ra, nên nhiều người dúi vào tay anh một ít tiền, đồ ăn… anh tự nhiên xúc động. Ngồi trên xe đò, bà kể rõ mọi sự đã xẩy ra của gia đình cho anh biết. Anh chỉ ngồi ôm mặt khóc, phần thương con, phần không biết bây giờ vợ ở đâu. Anh làm sao nuôi hai đứa con còn thơ dại, làm gì bây giờ để sống. Gần xuống xe đò, người tài xế nói vọng ra phía sau: “Lấy tiền bà cán bộ. Còn anh cải tạo mới về, đừng lấy tiền ảnh”. Mấy người ngồi trên xe cười ồ, cái cách phân biệt rất tự nhiên của anh tài xế. Về đến Ủy Ban Nhân Dân Phường, anh nhìn thấy hai đứa con đang chơi ngoài sân thật vô tư. Anh lại ôm con khóc nức nở. Mấy người đi ngoài đường nhìn thấy, họ cũng mủi lòng.
Anh bồng bế con về nhà cũ. Bước vào buồng ngủ anh nhìn thấy vợ và người đàn ông lạ đang nằm ngủ mê man. Cơn ghen tức nổi lên, anh không còn biết mình là dân cải tạo mới thả ra. Anh bỏ덊 con xuống sàn nhà, nhào lại túm đầu chị đánh đá túi bụi. Người đàn ông thức giấc, ngồi dậy xô anh ngã ra sau. Hàng xóm chạy lại bênh anh, cũng nhào vô đánh chị và người tình của chị, miệng họ la lớn: “Ðánh chết gian phu, dâm phụ. Ðánh chết thứ bỏ bê con cái theo trai”. Sau một hồi ấu đả, mặt mày chị và người tình nhân sưng húp. Công an khu vực chạy lại can thiệp, dẫn tất cả ra Phường.
Công an Phường đã biết chị bỏ con cái đi mấy tháng nay, nên họ cũng bực mình. Người công an khu vực hỏi chị: “Chị về lúc nào? Mấy tháng nay chị đi đâu?”
Chị trả lời: “Mới về khuya nay. Ði ra Hải Phòng buôn bán”.
“Chị có biết, chị bỏ bê con cái đói khát không?”
“Biết, mà ở nhà với con lấy gì ăn, cũng chết vậy.”
“Nhưng chị phải có trách nhiệm với con cái chứ? Nếu không có chúng tôi, con chị chết lâu rồi.”
Chị cúi mặt, trả lời: “Cám ơn các anh.”
Người công an, hỏi chị về anh kia. Chị trả lời mà không chút sượng sùng: “Anh đó là bồ của tôi. Ảnh là cán bộ, giúp tôi làm ăn.”
“Còn chồng chị đây thì sao?”
“Ổng về rồi thì nuôi con, cả năm nay tôi khổ quá. Tôi giao lại nhà cửa, con cái cho ổng lo. Tôi đi ra không lấy thứ gì hết.”
“Thế chị không thương con sao?”
“Dĩ nhiên là có. Nhưng người tình không thể bỏ được.”
Thế là bắt đầu từ đó, chị chia tay với anh. Không chút bận bịu, vươn vấn gì cả.
Cái cảnh gà trống nuôi con của anh thật tội nghiệp. Anh cũng tái diễn màn nhờ vã hàng xóm như chị trước đây. Mấy bà già nói đùa: “Chớ dại bỏ con đi biệt tích như con vợ mầy. Nó thì được, còn mầy lạng quạng là vô trại cải tạo lại ngay.”
Anh cười, nói đùa lại: “Ðây cũng hơn gì cải tạo đâu.”
Bạn bè giúp đỡ, anh có một số vốn nho nhỏ mở quán cà phê. Che cái lều gần nhà, công an cũng thông cảm làm ngơ. Vì có thể vừa trông con, vừa buôn bán. Không phải nhờ vã mãi hàng xóm được. Anh đặt tên Quán là “Cà phê Năm Râu”. Từ khi cải tạo về, buồn tình anh để râu ria mọc um tùm trên mặt, chẳng thèm cạo. Những người chung quanh gọi anh bằng cái tên theo thứ tự gia đình, cô?g thêm ít râu trên mặt. Người Miền Nam hay gọi tên theo vóc dáng, Tư Mập, Hai Lùn v.v… nên gọi anh cũng vậy.
Quán bán lai rai cũng đủ sống qua ngày. Một hôm, ông Trưởng Phòng Thông Tin Văn Hóa Quận đi ngang qua, nhìn thấy tên quán. Ông lập tức về viết giấy mời, bắt anh phải có mặt, lý do cho biết sau. Anh vội vàng gửi con, nhờ bà hàng xóm trông coi giùm quán cà phê. Anh đạp xe lên văn phòng Thông Tin Văn Hóa, cầm tờ giấy mời vào đưa cho cô thư ký tiếp khách. Một giờ sau đó, cô ra mời anh vào phòng ông Trưởng Phòng.
Ông hỏi anh: “Anh là chủ quán Cà Phê Năm Râu phải không?”
“Dạ thưa, phải”
“Anh có giấy phép mở quán không?”
Anh ú ớ: “Dạ thưa không có, tôi chỉ xin phép Phường. Hơn nữa quán lẹp xẹp, người ta bảo không cần phải tới Quận.”
“Ngày mai anh về đóng cửa ngay. Lý do là tên cửa hiệu, không phù hợp văn hóa. Cái tên Năm Râu, nghe rất xấc xược và thiếu văn hóa hết sức. Thế mà anh trương nó lên cho mọi người trông thấy. Tướng râu ria của anh, đã thiếu văn hóa rồi. Anh lại bắt mọi người chú ý cái chuyện bê bối của anh hay sao?”
” Dạ thưa Bác Hồ cũng có râu.”
“A, anh dám cả gan so sánh với Bác à. Anh thật to gan. Râu của Bác đẹp, phong nhả như thần tiên. Nhìn kìa, râu của anh như một đống rác, gắn lên mặt. Ðúng, anh là thứ thiếu văn hóa, phải cho anh một bài học mới được.”
Ông Trưởng Phòng chậm rãi rút điếu thuốc, châm lửa , rít một hơi dài. Lấy giọng, rồi cho anh một bài học về văn hóa tràng giang. Sống phải đúng văn hóa để hòa đồng với xã hội mới. Ông thao thao bất tuyệt, rồi cuối cùng ông lên giọng: “Anh về thực hiện điều tôi nói, tôi chỉ thị về phường theo dõi anh.”
“Dạ thưa đồng chí, tôi về hạ bảng ngay.”
“Không những hạ bảng mà đóng cửa luôn. Thấy mặt anh để mọi người ngứa mắt sao? Mặt mày anh dơ dáy như vậy, thì làm sao anh đảm bảo giữ vệ sinh được.”
Pháp luật và mệnh lệnh của nhà nước, được tùy tiện xử dụng. Người ta xét xử theo tùy hứng, tình cảm cá nhân. Pháp lý không có chỗ đứng ở đây. Nạn nhân là những kẻ thấp cổ bé họng, không kêu ca với ai được. Làm gì có sự công bình, khi mà đất nước được điều khiển bằng quyền lực.
Thế là quán bán cà phê Năm Râu của anh dẹp tiệm, số vốn bạn bè giúp đỡ kể như đi đời. Ngày đầu, anh chở con đi xem tình hình có thể buôn bán được gì không. Anh đi từ xa cảng Miền Tây, vòng quanh các chợ búa Sài Gòn, Gia Ðịnh. Làm gì cũng phải cần vốn liếng, mà anh thì đào đâu ra tiền. Chán nãn, anh về nhà nằm nghĩ cách nào để sống cho qua ngày.
Chiều, anh ra ngoài chợ Thanh Ða mua kí gạo, để nấu cho cha con ăn. Anh thấy một người đi xe đạp, chở tới một bao cát gạo bỏ mối. Anh mon men tới hỏi thăm. Người nầy nhìn anh một hồi, rồi nói nhỏ: ” Có phải thầy tên Bình không?”
Anh giật thót người: “Ðúng, tôi là Bình. Tôi làm cu-li chứ có thầy ba chi anh. Làm sao anh biết tôi?”
“Hồi trước cùng đơn vị với thầy. Binh nhứt Cẩm.”
Anh nhìn anh Cẩm một hồi lâu, mới nhớ ra. Cẩm lúc đó mang đại liên cho đại đội của anh. Cẩm mời anh sang quán rượu bên cạnh, hai người làm vài xị rượu đế. Anh kể hoàn cảnh của mình hiện tại cho Cẩm nghe. Cẩm cũng nghèo rớt mồng tơi, nhưng còn xoay xở được. Anh thì hoàn toàn bế tắc. Cẩm thấy thương hại cho cha con anh, nên cho anh mượn một ít tiền chỉ cách đi Long An buôn gạo. Cách buôn nầy cũng năm ăn năm thua. Xui xẻo bị Quản Lý Thị Trường, hay Thuế Vụ bắt thì coi như đứt vốn. Còn may mắn trơn trụt thì lãi gấp rưởi. Anh mừng hết lớn, không ngờ mình cũng còn quý nhân giúp đỡ.
Anh lại gửi con cho hàng xóm, bốn giờ sáng thức dậy đạp xe đi Long An với Cẩm. Mỗi ngày anh mua hai giạ gạo, về bỏ mối cho các hàng bán gạo tại các chợ nhỏ. Anh đạp xe luồng lách để tránh các trạm kiểm soát dọc đường. Về tới Sài Gòn, anh tìm các đường hẻm để đi. Vài tháng như vậy trót lọt. Anh và các con được ăn uống tử tế, mỗi ngày có quà biếu xén mấy bà hàng xóm giữ con, tối làm một xị đế cho dản gân cốt.
Thấy làm ăn cũng được, anh và Cẩm dành dụm mua được mỗi người một chiếc xe Gobel chạy dầu. Xe nầy tiếng nổ nghe nhức tai, khói ra còn hơn tàu lửa. Có một điều là khỏi phải còm lưng đạp, lại chở gạo tương đối nhiều. Ngày đầu tiên ra quân, chạy về tới xa cảng Miền Tây. Hai người chia hai ngã, anh vừa quẹo vào một ngõ hẽm, nhìn lại phía sau thì thấy một đoàn quân Quản Lý Thị Trường chạy honda theo. Một người chạy lên đầu xe anh chận lại. Thế là, anh bị đưa về văn phòng lập biên bản tịch thu số gạo.
Khi anh bước vào phòng, anh lỡ đụng tay vào bình nước trà để trên bàn, bị đổ. Nước chảy ra ướt giấy tờ, cán bộ lập biên bản thấy gai mắt rồi. Nên họ quyết tịch thu gạo, rồi tống cổ anh ra ngoài cho mau. Khi hỏi đến tên họ, anh khai tên là Ðỗ Bình. Người cán bộ mặt đỏ lên, tưởng anh chọc tức mình, chỉ vào mặt anh: “Ðây là cơ quan, không phải chỗ chơi để anh đùa giởn. Anh vừa đổ bình nước của tôi, tôi chưa hỏi tội. Bây giờ hỏi tên anh nói là đổ bình. Anh muốn gì đây?”
“Thưa ông, tôi đúng tên là Ðỗ Bình. Ðây giấy tờ của tôi.”
Ông coi giấy tờ, nói: “Trong giấy là Ðỗ Binh, tại sao anh nói là Bình?”
“Quả thật tôi là Ðỗ Bình, người làm giấy tờ ra trại quên thêm dấu huyền.”
“Tôi không cần biết điều đó. Tôi cảm thấy từ khi bước vào đây, anh có thái độ bất mãn chúng tôi. Anh mới đi học tập trở về, mà không chấp hành pháp luật nhà nước, chưa thông suốt đường lối cách mạng. Quen thói mánh mung, buôn bán chụp giựt. Tôi đề nghị với công an nơi anh cư ngụ, gửi anh trở lại trại cải tạo.”
Ðến đây thì anh bực mình, nói giọng cà xốc: “Tôi đâu muốn về, nhà nước bắt tôi về để nuôi con. Bây giờ ông muốn đưa tôi đi đâu cũng được, con tôi giao cho phường nuôi lại.”
“À, anh thách thức tôi. Ðể rồi anh coi.”
Nửa giờ sau, xe công an Quận 11 đến chở anh về giam. Nằm trong phòng giam đến hai ngày, không ai hỏi han gì cả. Anh nóng ruột, chắc hai con anh ở nhà mấy ngày nay đói khát. Không biết mấy bà hàng xóm cho chúng nó ăn uống giùm không. Ðang nghĩ vơ vẫn, thì công an gọi lên phòng làm việc. Họ đưa cho anh vài tờ giấy bắt làm tờ kiểm điểm. Anh ngồi húy hoáy viết, kể chuyện học tập được phường bảo lãnh về. Không tìm được việc làm, nên đi buôn gạo để kiếm tiền nuôi con. Tuyệt nhiên anh không viết về ăn năn hối hận gì cả. Anh nghĩ thế nào cũng bị hạch họe lung tung, bị giảng giải hăm dọa trước khi cho về. Không ngờ, ngồi một hồi, anh công an dẫn anh ra chỗ dựng chiếc xe Gobel, trên yên còn nguyên hai bịch gạo. Anh công an vừa đi vừa nói: “Anh buôn lậu mà đi xe tiếng nổ lớn gây ồn ào, khói tỏa mù mịt. Gây chú ý. Nên chúng nó bắt anh đúng thôi. Lần sau làm ơn đi xe đạp giùm cho.”
Anh “dạ”. Rồi nhận tờ giấy thả. Leo lên xe chạy về nhà. Con cái được hàng xóm đem ra phường giao, tự nhiên Phường phải có bổn phận tìm ra anh ở đâu. Anh nghĩ trong bụng chắc công an phường, hay quận can thiệp cho anh về. Anh ra nhận con, chủ tịch phường gọi vào hỏi; “Gạo anh nhận lại đủ không?”, rồi ông vừa nói đùa vừa nói thật: “Chúng tôi nhờ công an quận can thiệp, thả ngay anh ra. Con anh đói gần chết.” Ôm con vào lòng, bây giờ anh mới thấm thía và đau xót. Vì sự sống còn của gia đình, anh đem các con ra để làm trò tung hứng, mặc cả.
Thế là những ngày sau, khi chở gạo về thành phố anh không phải dọt vô đường hẽm. Cứ đường chính chạy bon bon, mà chẳng cần tránh né. Thuế vụ, Quản Lý Thị Trường, Công An sau nầy đều nhẵn mặt anh. Anh nói với mấy bà hàng xóm, nếu không thấy anh về là cứ mang con ra ngoài phường giao. Tự động phường sẽ tìm anh ra ngay, không cần chi phải lo. Thời buổi đó, mọi gia đình đều ăn bo bo, gạo quý lắm. Nên chở được từ miền tây về trót lọt, thì lãi tương đối khá. Sau nầy anh thấy gạo chở nhiều mà tiền lãi không bao nhiêu, nghe lời mấy bà bán thịt, anh đi Long An mua thịt heo về bán.
Anh bắt đầu nhập vào chuyện buôn lậu thịt, anh cũng dạo một vòng các chợ để biết mối lái, giá cả. Trước khi bắt tay vào việc nầy. Anh lắng nghe các chuyện cười ra nước mắt, bằng đủ các trò để đưa được thịt vào thành phố. Có bà quấn thịt dưới hai ống chân, mặt quần đen ống rộng phủ bên ngoài. Có bà độn thịt ở bụng giả làm người mang bầu. Xe cứu thương hụ còi inh ỏi, không có người bị cấp cứu, chỉ toàn chở lậu thịt v.v… Thành phố Sài Gòn lúc ấy thiếu thốn đủ mọi thứ, tất cả mọi người chỉ còn lo lắng cho cái ăn. Dân chúng mỗi tháng chỉ được mua 100gr thịt cho một người theo giá chính thức. Muốn ăn thêm phải mua giá chợ đen.
Lương bỗng của công nhân viên chức, mỗi tháng chỉ đủ tiền mua được một con gà, họ phải chật vật chạy mánh mung ngược xuôi để nuôi gia đình. Người dân trong nước đều ở trong tình trạng phạm tội, từ cán bộ cấp nhỏ cho tới dân chúng mang một tâm trạng sợ sệt.
Anh rời khỏi nhà lúc 2 giờ sáng. Ðến lò xẻ thịt tại thị xã Tân An, lấy xong rồi quay về ngay. Sợ nắng lên, sẽ làm cho thịt bị hôi. Cứ thế, ngày nầy qua ngày khác anh vẫn đều đặn công việc làm ăn của mình. Ban ngày ở nhà chơi với con, hoặc chở con đi thăm bà con bạn bè.
Một hôm, anh mang các con vào chợ Bà Chiểu lấy tiền thịt bỏ mối, và luôn tiện cho chúng ăn uống. Cha con vừa ngồi xuống hàng bán cháo, thì thấy vợ anh đang đi lại. Chị ăn mặc rất sang trọng. Các con trông thấy mẹ gọi ríu rít, chị quay lại chạy tới ôm chúng vào lòng, quên đi mình bây giờ, quên đi sự dòm ngó của người khác chung quanh. Nước mắt chị chảy ra, nghẹn ngào không nói gì được. Anh thì cúi đầu lặng lẽ. Ðây là cái lúc đối diện thật oan nghiệt cho anh, cho chị. Tự nhiên anh thấy lòng mình chùng xuống. Những điều hận chị trước đây bỗng dưng bay đâu mất, anh cảm thấy thương chị. Ðúng ra vì oán hờn chị, anh không cho chị lại gần các con. Nhưng không biết vì sao anh không thể làm điều đó được, các con anh cũng cần có tình thương của mẹ. Ðôi mắt của chúng mở lớn sung sướng, vì được mẹ tới ôm hôn. Anh không thể ích kỷ, bắt các con thèm khát những cái mà anh không thể nào tìm ra được cho chúng. Anh vừa thấy xót xa, vừa thấy bằng lòng với sự yên lặng của mình.
Chân đã bước quá xa, không thể nào quay lại được. Lầm lỡ nào cũng gây cho mình một cảm giác đau đớn. Trong lúc thừa mứa vật chất, bây giờ chị lại thèm khát một mái gia đình. Chị đã đánh vở mất những báu vật linh thiên của cuộc sống. Chồng con chị ngồi đó, mà chị không dám nhìn. Lâu ngày gặp lại, đúng ra phải mừng, nhưng chị lại khóc. Ðời sống họ tả tơi, tan tác, chị không giúp đỡ được. Mà chị có giúp thì họ cũng không thể ngửa tay ra nhận. Cái nghèo của họ thật đáng quý, đáng trân trọng.
Anh chở con về nhà, dỗ cho chúng ngủ. Anh đến ngồi bên cửa sổ, hình ảnh chị ôm các con lại hiện ra lung linh. Trông chị bây giờ đẹp thật, da thịt mát rượi, đời sống sung túc đã thay đổi hẳn con người. Còn cha con anh, trông thật thê thảm, quần áo xốc xếch, ốm đói. Căn nhà trống vắng quá, đang thiếu một cái gí đó để khỏa lấp. Thiếu một bàn tay chăm sóc, thiếu một tiếng nói dịu dàng, để sưởi ấm lại gia đình. Gần cả năm nay vì phải lo chạy từng miếng ăn, phải lo cho đời sống các con, chăm sóc chúng, anh không còn nghĩ gì khác hơn. Bây giờ mọi thứ tạm ổn, mọi sinh hoạt vẫn đều đặn. Phải có một người đàn bà trong gia đình. Vâng, anh thầm nhủ như vậy./

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: