Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Photonic Symphony

    Kuifmees / Crested Tit / Mésange huppée

    6922

    Exodus

    Snow Fall

    untitled

    Phone photography abstract



    Coigach

    At the Harbor

    More Photos
  • Lưu trữ

NHỮNG CON NGƯỜI HIỂN THÁNH

Posted by phanxuansinh on Tháng Năm 14, 2009

Truyện lịch sử

Phan Xuân Sinh

NHỮNG CON NGƯỜI HIỂN THÁNH

Rừng núi tràn ngập ánh trăng, một ánh trăng tẻ lạnh chìm trong đêm đông. Mặc dù trời lạnh ông Hường Hiệu cùng với người phụ tá của của mình là Phan Bá Phiến đang bàn định một việc quan trọng. Thường thường những chuyện quan trọng không muốn để bất cứ một người thứ ba nào biết, dù người đó thân tín với mình. Hai ông thường ra ngồi trước sân cờ nói chuyện. Mấy lúc gần đây những tin tức bất lợi cho Nghĩa Hội càng xấu đi, các tin tức khắp nơi báo về cho biết, những phòng tuyến rải rác các huyện Hòa Vang, Đại Lộc, Thănh Bình bị thủng, mặc dù các nghĩa sĩ của Nghĩa Hội một lòng xả thân chống đỡ. Nhưng làm sao dao mác chống lại với súng đạn. Những quân lính của Nam Triều (dưới thời Đồng Khánh) được bọn Tây Đương trang bị súng đạn để chống lại các cuộc nỗi dậy của dân chúng. Cái độc ác của ngoại bang là dùng những tay sai của bản xứ đàn áp người bản xứ. Nguyễn Thân, Lê Khiết, Phan Liêm, (1) những tên “khuyển mã” núp bóng Nam Triều, phụng sự đắc lực cho quan thầy Tây dương để tiêu diệt các tổ chức yêu nước. Họ không ngần ngại chém giết đồng bào, miễn sao được lòng quan thầy.

Khi ông Hường Hiệu gia nhập Nghĩa Hội không ngoài mục đích đánh đuổi quân xâm lăng, theo lời hiệu triệu của vua Hàm Nghi. Những nhân sĩ, quan lại của triều đình có lòng yêu nước đều hưởng ứng hịch Cần Vương. Khi kinh đô thất thủ, Pháp dựng Đồng Khánh, một tên bù nhìn làm vua, nên tạo ra một chướng ngại vô cùng to lớn cho những tổ chức yêu nước. Họ phải chống cự một lần hai thế lực hùng hậu, quân đội Pháp và quân đội Nam Triều, mà các phương tiện chiến đấu đều thuộc loại qui mô và tân tiến. Trong lúc nghĩa sĩ trong tay chỉ có gậy gộc, dao mác. Ông Hường Hiệu và ông Cử Phiến đã biết điều đó, nhưng không thể khoanh tay nhìn đất nước bị ngoại bang dày xéo.

Quan niệm của những nhà yêu nước là gióng lên tiếng chuông thức tĩnh dân chúng, đánh động sự an nghỉ của những người yên vị trên các chiếc ghế của quan trường. Dù biết rằng đánh đuổi quân lâm lược thật vô cùng khó khăn, vì không cân xứng lực lượng trang bị. Phong trào Cần Vương muốn nhóm lên một ngọn lửa nhỏ, báo động an nguy của đất nước để sau nầy dân chúng tiếp tục nổi lên. “Không thành công thì cũng thành nhân”. Hai ông đang bàn luận những việc hệ trọng thì bỗng nhiên nghe tiếng vó ngựa phi nước đại tiến vào đồn An Lâm làm khuấy đông sự yên tỉnh của núi rừng. Người phu trạm của Nghĩa Hội đến gần cột cờ, nhảy xuống ngựa bẩm báo với hai ông một tin quan trong: “Đồn Dương Hòa, Thăng Bình. Đầu nảo của sơn phòng Quảng Nam do tiến sĩ Trần Văn Dư thủ lãnh của Nghĩa Hội đã bị thủng. Hiện thời không rỏ ông Dư ở đâu?

Sáng sớm ngày hôm sau, lại một phu trạm khác phi ngựa từ Thăng Bình về bẩm báo: “ Nghĩa Hội chủ Trần Văn Dư bị bắt”. Tất cả những nhân vật trọng yếu có mặt tại đồn An Lâm đều sửng sờ. Ông Hường Hiệu đứng dậy phát biểu: “Bằng mọi cách chúng ta phải cứu ông Dư”. Cứu ông Dư? Nhưng cứu bằng cách nào khi mà lực lượng phòng thủ còn bị chọc thủng, không làm chủ được tình hình thì làm sao tấn công. Nghĩa sĩ của Nghĩa Hội can trường, nhưng làm sao chống được súng đạn tối tân. Mọi người ngồi tư lự, suy ngẫm. “Ngày mai chúng ta chuẩn bị lên đường”. Đó là một mệnh lệnh nôn nóng, thiếu suy xét của người chỉ huy, dù không nắm phần thắng chỉ thấy bại vẫn cứ thi hành. Ông Hường Hiệu muốn chứng tỏ cho kẻ thù biết là Nghĩa Hội quyết tâm cứu minh chủ mặc dù phải đổi lấy một giá rất đắt. Ông khẩn cấp triệu tập các người chỉ huy dưới trướng để bàn định kế hoạch và phân chia nhiệm vụ rỏ ràng. Ông Hường Hiệu được biết Lãnh Hội Chủ Trần Văn Dư được giải giao về Tổng Trấn thành Quảng Nam (gọi là thành La Qua – Vĩnh Điện) để xét xử.

Thành La Qua (2) ở Vĩnh Điện cách An Lâm – Quế Sơn hơn một buổi đi bộ, các nghĩa sĩ tản mác để tránh trường hợp phát hiện, chạng vạng tối sẽ tập trung tại phía bắc thành nhận lịnh sau khi có người nội ứng trong thành phát tín hiệu thì ồ ạt tấn công. Còn nếu yên tỉnh không thấy động tịnh gì hoặc không trông thấy pháo hiệu thì giờ tý phải giải tán. Tất cả mọi người áp sát thành, sẳn sàng trong tư thế tấn công khi có lệnh. Thình lình tiếng súng trong thành nổ rang, không trông thấy pháo hiệu, những người làm nhiệm vụ thám thính bị phát hiện, nghĩa sĩ bên ngoài thành chuẩn bị tẩu thoát thì có một người từ trên thành cao nhảy xuống ngay vào chiếc kiệu, chiếc kiệu chuẩn bị để đón “Nghĩa Hội Chủ” Trân Văn Dư sau khi được giải thoát. Thế nhưng người nhảy xuống lại là ông Hường Hiệu. Có phải chăng đó là một định mệnh để phó bản Nguyễn Duy Hiệu thay thế cho tiến sĩ Trần Văn Dư lãnh đạo Nghĩa Hội sau nầy. Ông nhảy xuống kiệu, vất kiệu qua bên đường, cùng với anh em nghĩa sĩ chạy bộ thoát thân. Châu Đình Kế Tổng Đốc Quảng Nam biết thế nào nghĩa sĩ cũng tìm cách giải cứu cho Trần Văn Dư, nên đã tăng cường canh gác và nhờ Tây đem quân lính trang bị súng ống đầy đủ đến thành La Qua yểm trợ, giăng một cái bẩy tóm gọn Nghĩa Hội; Nhưng nội ứng hay được nên nửa đêm bắn súng để nghĩa sĩ tránh được đổ máu và tẩu thoát. Đêm giải cứu Lãnh Hội Chủ vì thế nên thất bại.

Châu Đình Kế làm Tổng Đốc Quảng Nam dưới triều Đồng Khánh. Kế trước đây là một thuộc hạ đắc lực của Tôn Thất Thuyết. Khi cuộc nổi loạn đêm 23 tháng 5 thất bại, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi ra Tân Sở Quảng Trị, thì Kế phản bội chạy theo Nguyễn Văn Tường làm tay sai cho Pháp. Tình hình Quảng Nam lúc bấy giờ rối rắm nên Đồng Khánh phải cử một thuộc hạ thân tín, trung thành, để đàn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng. Châu Đình Kế được vinh thăng làm Tổng Đốc Quảng Nam và thẳng tay đàn áp dưới sự tiếp tay của quân đội ngoại bang. Khi Trần Văn Dư bị bắt, đây là một cách lập công to lớn mà Châu Đình Kế chộp được. Kế xem thủ lĩnh Nghĩa Hội như một tên giặc, trong một tổ chức phản loạn nên cách đối đãi tỏ vẻ coi thường. Tiến sĩ Trần Văn Dư chỉ vào mặt Kế: “Ông là thằng phản vua hại nước, cam tâm làm tay sai cho giặc mà không biết thẹn với lương tâm. Dư nầy có chết thì sẽ có hàng ngàn Trần văn Dư khác đứng lên đánh đuổi quân xâm lăng, cứu lấy đất nước. Cái thứ chó săn cho ngoại bang như ông chỉ bị người đời nguyền rủa”. Châu Đình Kế cúi mặt thẹn thùng, phải giết cho được Trần Văn Dư cho hả dược cơn giận.

Đúng ra Kế phải giải Trần Văn Dư về Huế để triều đình xét xử, nhưng Kế tâu hót với quan thầy Pháp phải bắn Trần Văn Dư trước khi có lệnh của triều đình giải giao ông về Huế. Cho đây là một tên giặc được tỉnh xử bắn tại chỗ. Trần Văn Dư ra pháp trường không chịu bịt mặt, ông nhìn quanh đồng bào tham dự một cách hiên ngang và gật đầu chào vĩnh biệt mọi người, trước khi ông lảnh một loạt súng của quân thù. Tiến sĩ Trần Văn Dư đền nợ nước lúc trời hừng sáng, ngày 8 tháng 11, năm Ất Dậu (nhằm ngày 13.12.1885), lúc đó ông 46 tuổi.  Một giờ sau ông chết, Châu Đình Kế nhận được lịnh của triều đình phải giải giao ông về Huế, vì tiến sĩ Trần Văn Dư là thầy dạy học cho vua Đồng Khánh. Nhưng than ôi, còn đâu nữa!

Sau khi tiến sĩ Trần văn Dư bị thảm sát, một người thân cận của ông đem xác ông về quê quán là Chiên Đàn, Tam Kỳ, để gia đình ông chôn cất. Rồi người đó cầm mật thư của ông lên An Lâm, Quế Sơn trao tận tay cho ông Nguyễn Duy Hiệu.

Trước khi ra pháp trường Tiến sĩ Trần Văn Dư có làm một bài thơ tuyệt mệnh gửi gấm lại cho nghĩa sĩ để tỏ tấm lòng của mình đối với đất nước, bài thơ nầy có đoạn:

“Đản cầu hành nghĩa vô quai xứ

“Ma luyện như hà thính hóa phi”

Nghĩa là:

“Tấc lòng trung nghĩa không sai vạy

“Ma luyện ra sao mặc ý trời”.

Theo Phạm Quang Thắng

Nguyễn Duy Hiệu mời tất cả các lãnh tụ Cần Vương các nơi về cứ điểm An Lâm để họp bàn chính sự, sau khi Nghĩa Hội Chủ Trần Văn Dư bị bắn tại pháp trường. Đây cũng là một  điểm tụ nghĩa anh hùng như Lương Sơn Bạc. Tuy nhiên mục đích của Nghĩa Hội tại cứ điểm An Lâm có một ý nghĩa trọng đại hơn, xa mục đích của Lương Sơn Bạc nhiều. Sự hoạt động của Lương Sơn Bạc giống như phường thảo khấu, trong lúc An Lâm chiến đấu bảo vệ đất nước, nhắm vào quân thù được đồng tình và trợ giúp của toàn dân. Các lãnh tụ Cần Vương khắp nơi phần đông là quan chức lớn của triều đình, các nho sĩ, văn nhân, tuân thủ theo hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi, và họ rời quan trường dưới triều Đồng Khánh, để đi theo con đường chống Pháp. Các sĩ phu của Nghĩa Hội Quảng Nam dù biết thế giặc mạnh, nhưng không lẽ ngồi bó tay để giặc hoành hành. Dù phải chết, họ vẫn quyết xả thân vì đại cuộc:

“Nghĩa Hội lâm lập,

“Quân hịch phong trì

“Nhược giả vị thảo nhược chi Gia Cát

“Nhược giả vị thủ thổ chi Thư Dương….

Huỳnh Thúc Kháng

Dịch:

“Nghĩa hội mọc lên như cây rừng

“Quân hịch truyền đi như gió thét

“Kẻ thì như Khổng Minh đánh giặc Ngô Ngụy

“Người thì như Trương Tuần giữ đất Thư Dương….

Tác giả bài thơ tự dịch.

Trong cuộc họp các lãnh tụ Cần Vương khắp nơi tụ về, bên văn thần gồm có: Phan Bá Phiến, Huỳnh Bá Chánh, Thừa Âu, Khúc Nhi Trực, Trương Trọng Hữu, Lý Thừa Trạch, Châu Thơ Đồng, Phạm Như Xương v.v…Về bên võ tướng gồm có: Tán Thừa (Trần Đỉnh), Tán Thiện (Ông Ích Thiện), Tán Bình Yên (Trần Huy), Tán Bùi (Nai Hiên), Án Nại (Nguyễn Quang Hanh), Đốc văn sứ Đỗ Đăng Tuyển, , Quán Diêu (Hóa Quê), Nguyễn Học, Nguyễn Mẫn (Điện Bàn), Huyện Cung (Hòa Vang), Quán Võ (Tiên Phước), Bang Uyển (Dương Yên, Phước Sơn), Đội Ích (An Hòa), Tán Kim (Tam Kỳ), Bang Phong Thử (Nguyễn Đình Tán), Đốc Bùi (Văn Ly), Tán Hàm (Nguyễn Thành – hiệu Tiểu La) v.v… Tất cả đồng ý bầu phó bản Nguyễn Duy Hiệu thay cho tiến sĩ Trần Văn Dư làm Lãnh Hội Chủ. Ông Hường Hiệu lo tu sửa lại sơn phòng An Lâm thuộc Quế Sơn, lập làm cứ điểm. Đây là một thế đất hiểm trở thuận lợi cho căn cứ địa. Đồn An Lâm thuộc xã Trung Lộc Tây và Trung Lộc Đông, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Đồn dựa lưng vào triền núi và mặt chính hướng về phía đông. Bộ chỉ huy đóng tại đây, nên thủ lĩnh cũng như các bộ phận trực thuộc đều làm việc tại đây. Trong căn cứ nầy ông Hường Hiệu có lập một văn miếu để thờ phượng. Ông cho mang 150 bài vị của những công thần Quảng Nam trước đây thờ tại Văn Miếu trong thành La Qua, khi Nghĩa Hội chiếm thành mang tất cả bài vị về An Lâm. Bây giờ thành La Qua đó do quân lính Nam Triều theo giặc chiếm đóng.

Nguyễn Duy Hiệu sinh năm Đinh Mùi (1847), Thiệu Trị thứ VII  Hiệu là Hữu Thành, người làng Thanh Hà, huyện Duyên Phước, Phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm 1863 Nguyễn Duy Hiệu thi Hương đậu tú tài (năm 16 tuổi). Năm 1876  đậu cử nhân và 1879 đậu Phó bảng. Năm 1882 ông được vua Tự Đức thăng bổ làm thầy dạy học cho hoàng tử Ưng Đăng (vua Kiến Phước). Triều Đình Huế rối ren sau khi Tự Đức chết. Các phe cánh trong hoàng cung tranh nhau ngai vàng, trong lúc giặc Pháp đang bắn phá cửa Thuận An. Ông buồn lòng viện cớ còn mẹ già không ai nuôi dưỡng nên xin từ quan về quê. Triều đình Huế phong cho ông hàm Hường Lô tự Khanh. Chính cái hàm nầy gắn liền với tên của ông trong dân gian. Ông là người có một vóc dáng thư sinh, nước da trắng trẻo nhưng chứa một nghị lực mạnh mẽ khác thường. Ông về quê và tham gia Nghĩa Hội Quảng Nam do tiến sĩ Trần Văn Dư lãnh đạo, chiêu mộ nghĩa sĩ, đón nhận những sĩ phu, nho sinh, những nhân vật tiếng tăm, lập chiến khu và xây dựng Nghĩa Hội tại quê hương. Lúc ấy ông đã biết xử dụng chiến lược “tiêu thổ kháng chiến” để địch không thể dựa vào dân để sống. Ông chỉ huy tập kích những trận đánh bất thình lình, làm cho địch trở tay không kịp. Sau khi Trần Văn Dư chết, ông nhận lãnh sứ mạng thừa kế trong khi Nghĩa Hội trong tình trạng gần như tan rã. Một thời gian ngắn sau ông đã vực dậy và tổ chức lại nghĩa quân trong hàng ngũ kỷ luật và mệnh lệnh được tôn trọng. Ông cứng rắn trừng phạt những người sai phạm bất kể người đó tướng hay quân. Tiếng tăm của ông vang lừng khắp tỉnh, làm cho quân thù khiếp sợ.

Hường Hiệu cho thành lập các đội Hương dũng quân, Đoàn kết quân, Cảm tử quân. Đây là những đội tinh nhuệ, xung trận một cách dũng cảm, đã từng tạo nên những chiến thắng oai hùng tại các mặt trận: Nà Lầu, Suối Đá, Dốc Miếu, Gò Lòn, Gò Chay làm cho quân lính Nam Triều dưới sự chỉ huy của Nguyễn Thân, Lê Khiết, Phan Liêm bao phen thất vía. Trong Nghĩa Hội cũng có các tướng chỉ huy tài giỏi như Án Nại (Nguyễn Quang Hanh), Tán Hàm (Nguyễn Thành tức Tiểu La), Tán Thiện (Ông Ích Thiện), Đốc Vận Sứ Đỗ Đăng Tuyển v.v…là những nhân vật then chốt của Nghĩa Hội, giúp Hường Hiệu đánh trả quân Nam Triều của Nguyễn Thân, cũng như quân xâm lăng Pháp một cách đích đáng. Tiểu La đã nhiều lần đem quân tấn công thành Đà Nẵng, một nơi an toàn nhất của quân đội viễn chinh và đã từng gây khiếp sợ cho quân thù.

Án Nại (Nguyễn Quang Hanh), nguyên là Án Sát tỉnh Nghệ An vì giúp đỡ hoạt động của Nghĩa Quân chống Pháp do Trần Tấn và Đặng Như Mai chỉ huy, nên bị triều đình cách chức cho trở về quê quán làng Nại Hiên, Đà Nẵng. Khi làm Án Sát Nghệ An, được lịnh của vua phải dẹp quân phiến loạn, nhưng ông biết đây là những người yêu nước. Vì vậy ông chỉ “cởi ngựa xem hoa” không động tĩnh. Một thuộc cấp mật tấu cho vua hay nên ông bị triệu về, vua Tự Đức lột áo đuổi ông về quê, chỉ còn giữ học vị “cử nhân”. Tên “Án Nại” được dân chúng truyền tụng vì nguyên thủy ông là Án Sát ở làng Nại Hiên. Ông đã 18 lần đem quân tấn công Phú Thượng và cuối cùng bị giết tại đó.

Chuyện kể rằng khi ông được cử làm Chánh Chủ Khảo trường thi Nghệ An. Thí sinh xứ Nghệ nghe một người Quảng Nam giữ chức vụ ấy có ý xem thường, vì họ nghĩ rằng xứ Quảng Nam phần đông nghèo khó, chữ nghĩa không tới đâu làm sao bằng đất Nghệ An văn vật. Họ kháo nhau, ông thầy Quảng Nam mà ra đề thì dễ như chơi, thừa sức cho thí sinh ứng thí.. Nguyễn Quang Hanh nghe được lời ấy, mỉm cười. Nhập trường thi ông ra đề:

Khổng môn thất thập nhị hiền, hà hiền hà đức.( cửa Khổng có 72 vị hiền, hảy kể tên ra         và mỗi vị có đức gì)

Vân đài nhị thập bát tướng, hà tướng hà công. (Đài Sen của Tàu có khắc tên của 28 vị danh tướng, kể tên ra và mỗi vị có công trạng gì)

72+28 đúng là 100 nhưng tựu trung chỉ có một đề. Kỳ thi ấy học trò Nghệ không ai nộp quyển được phải xin chủ khảo ra đề khác. (Theo Khúc Thừa Nhân)

Khóa sinh xứ Nghệ té ngửa, không ngờ ông thầy Quảng Nam sâu sắc và thông minh như vậy.

Nghĩa sĩ đã gây rất nhiều khó khăn cho quân lính làm đường và nhà dây thép của bưu điện. Besson một đại úy công binh nhận lảnh nhiệm vụ làm con đường từ Huế vào Đà Nẵng. Nhưng khi qua đèo Hải Vân thuộc địa phận của Quảng Nam gặp sự đối kháng của dân chúng. Khi đoàn công tác lục lộ đến Nam Chơn (nhìn xuống vịnh Đà Nẵng) thì nửa đêm, 300 nghĩa quân tập trung tại làng Cu Đê, dùng thuyền và ghe theo cửa Thủy Tú ra vịnh Đà Nẵng tấn công vào nhà nghỉ của đoàn lục lộ, giết đại úy Besson và rất đông đám tùy tùng. Trận đánh gây nhiều tiếng vang và làm khiếp sợ những đoàn làm đường khác.

Trong tổ chức của nghĩa quân, có những rạn nức khi Đồng Khánh ra những sắc lệnh chiêu dụ. Một số thân hào Nghĩa Hội bị lung lạc bởi những cực khổ, bất đồng chính kiến, gia đình suy sụp v.v… nên đã ngã lòng theo lời dụ dỗ ngon ngọt của triều đình. Còn một số khác sau thời gian gia nhập Nghĩa Hội, họ bị quân thù truy nã, chính quyền địa phương gây khó dễ cho gia đình và gặp thập phần nguy hiểm nên muốn cầu an. Trường hợp của Lãnh Văn người Túy Loan, nguyên là lãnh binh thành Sơn Tây. Sau khi thành bi thất thủ chạy về quê nhà và gia nhập Nghĩa Hội. Khi Phan Liêm vào tung tờ cáo thị của vua Đồng Khánh niêm yết khắp nơi ở Quảng Nam, thì Lãnh Văn bỏ hàng ngũ Nghĩa Hội chạy ra Huế đầu thú. Sau được làm thương biện Nha Hải Phòng tại Đà Nẵng. Trường hợp của Tú Đỉnh, ông bị lung lạc muốn đầu hàng nên trong doanh trại của ông trấn giữ treo cờ trắng. Ông mật liên lạc với Phan Liêm nhận chỉ thị, rồi lên Trung Lộc thuyết phục Nguyễn Duy Hiệu đầu hàng. Trên cương vị của một thủ lãnh nghĩa quân, Nguyễn Duy Hiệu cương quyết từ chối và hạ lệnh xử tử một tướng trở cờ theo giặc. Cùng lúc đó Tế tửu Nguyễn Đình Tựu ra mặt với Nguyễn Thân,  kéo theo học trò của ông ở trong tổ chức của Nghĩa Hội về đầu thú với triều đình Đồng Khánh. Chính những thành phần nầy đã vạch rỏ đường đi nước bước của Nghĩa Hội, cũng như kế hoạch phòng thủ bí mật được tiết lộ.

Nguyễn Thân và Pham Liêm được Pháp tăng cường 400 lính chính quy và 200 lính tập, trang bị súng cho quân Nam Triều. kéo quân vây quanh Tân Tĩnh. Nguyễn Thân bắt gia đình và mẹ già của Nguyễn Duy Hiệu để làm áp lực cho Hường Hiệu ra hàng. Nhưng ông cương quyết không chịu ra đầu giặc. Nguyễn Duy Hiệu biết tình thế đến hồi mạt vận, tập trung các tướng lại và ra lịnh cho lương vận sứ Đỗ Đăng Tuyển cấp phát muối gạo cho từng người, đốt hết tất cả danh sách nghĩa sĩ và những gia đình đóng góp cho Nghĩa Hôi. Ông bảo mọi người tìm cách trở về với gia đình, chờ cơ hội.

Đầu tháng 7 năm Đinh Hợi (8-1887). Nguyễn Thân điều nghiên rồi tuyển lựa những quân lính tinh nhuệ, trang bị súng đạn nửa đêm đột phá đồn An Lâm, giết hại rất nhiều nghĩa quân và tịch thu chiến lợi phẩm. Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến cùng một số chức sắc và quân sĩ thoát thân, vượt sông tiến sâu vào phía tây trong thung lũng Phước Sơn, cách Trung Lộc, Quế Sơn chừng 65 dặm. Đây là vùng núi hiểm sâu chọn Gò May thuộc Phước Sơn làm nơi ẩn náu.

Nhưng không bao lâu đồn Gò May bị quân lính của Nguyễn Thân đột kích. Nhưng Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến, lại một lần nữa thoát thân. Hai ông đến vùng biển An Hòa để tìm cách ra đảo Lý Sơn, nhưng được biết nơi đó cũng không được an toàn liền bãi bỏ. Trong bước đường cùng túng thế, Nghĩa Hội đã tan rã, không còn một chọn lựa nào khác hơn là phải tìm một cái chết để tận tình với anh em nằm xuống của Nghĩa Hội. Cử Phiến hỏi Hường Hiệu:

“Theo ông, thì tôi đi trước hay ông đi trước?”

Ông Hường Hiệu trầm tư, tính toán, rồi trả lời:

“Nghĩa Hội ba tỉnh ông với tôi thật chủ trương. Việc đã không thể làm thì chỉ có cái chết mà thôi. Nhưng hai ta cùng chết một lúc là vô ích. Ông hãy chết trước. Phần tôi, tôi sẽ giải tán Hội, rồi đem thân nộp cho Pháp bắt. Người Pháp tra hỏi, tôi cực lực giải thoát cho Hội. Một mình tôi chết không đáng tiếc, còn Hội ta sau nầy có kẻ làm thành ý ta, tức là ta sống đó”.(Theo Nguyễn Sinh Duy)

Rồi ông Hường Hiệu điềm nhiên nói:

“Thôi, ông đi trước”.

Phan Bá Phiến cũng điềm nhiên rút trong túi ra một gói thuốc độc, rồi ông nói với Nguyễn Duy Hiệu:

“Khi tôi chọn con đường gia nhập Nghĩa Hội là tôi đã chọn cho tôi một cái chết. Tôi đã chuẩn bị gói thuốc độc từ lâu. Bây giờ mới thực hành nó. Thôi ông ráng ở lại chu toàn trách nhiệm của người thủ lãnh. Tôi đi đây”.

Sĩ khí của một sĩ phu yêu nước. Đáng phục thay.

Ông ngửa cổ trút gói thuốc vô miệng, hớp một hớp nước cho thuốc vào hết trong cổ họng, rồi ông từ từ ngã xuống. Lúc đó là ngày Nhâm Tuất, tháng 7 năm Đinh Hợi tức là tháng 8 năm 1887.

Nguyễn Duy Hiệu tới ôm ông rơi nước mắt, khóc cho một đồng sự, người phụ tá đắc lực, một đồng chí vào sinh ra tử với mình. Trong một hoàn cảnh thế cùng  lực kiệt, không thể để cho giặc làm nhục, phải chọn lấy cái chết trọn tình, trọn nghĩa với Nghĩa Hội và những người đã hy sinh trước đây.

Phan Bá Phiến người làng Kỳ Lộc, huyện Hà Đông, Quảng Nam. Ông đổ cử nhân      năm Nhâm Ngọ (1882), từng làm Tri huyện ở Phù Cát, Bình Đinh. Tên húy là Hổ, tự                    Dương Nhân. Phan Bá Phiến lãnh chiếu Cần Vương giữ chức Án Sát Sứ, cùng với Nguyễn Duy Hiệu tổ chức và lãnh đạo Nghĩa Hội sau khi Trần Văn Dư tuẩn tiết.

Chứng kiến cái chết của đồng sự, chôn cất xong. Nguyễn Duy Hiệu theo đường sông trở về làng cũ Thanh Hà, vào nhà đến bàn thờ lạy tổ tiên. Rồi ông gọi người nhà ra báo với quan chức địa phương là ông ngồi ở nhà chờ bắt. Nguyễn Thân nghe tin tới ngay, vội cho lính chạy cờ đỏ cấp báo với triều đình đã bắt được Nguyễn Duy Hiệu. Trong chiếc củi rộng, có thêm người con trai của ông còn thiếu niên cùng nhốt với ông. Chiếc củi được Nguyễn Thân cho đóng rộng rãi, có quạt tay để ông phe phẩy, có tráp trầu để khi buồn miệng nhai chơi, như vậy cũng đủ thấy họ đối đãi với ông một mực nể nang. Chiếc củi di chuyển từ Quảng Nam ra Huế, hai bên đường dân chúng đứng tiển chào ông. Ông vẫn giữ khí thế một bậc lãnh tụ, có một nhân cách lẫm liệt. Làm cho mọi người càng kính nể hơn.

Viện Cơ Mật của Triều Đình hỏi cung ông, ông trả lời một cách khẳng khái:

“Nghĩa Hội Quảng Nam ở ba tỉnh không dưới vài trăm, đều là người có tên tuổi, nhưng cam tâm làm giặc chỉ có mỗi một mình Hiệu mà thôi. Kỳ dư đều bị ép theo. Họ sợ bị thiêu hủy nhà cửa, không dám không theo, ngoài ra không có bụng gì khác. Vậy chém một mình Hiệu cũng đủ, chớ nhọc lòng hỏi tội kể khác làm gì”. (Theo Nguyễn Sinh Duy).

Viện Cơ Mật xử chém ông làm thành bốn khúc. Nhưng Tòa Khâm Sứ Huế can thiệp chỉ chặt đầu. Trước khi đưa ra pháp trường, ông làm hai bài thơ để lại cho hậu thế. Baille một người trong chính quyền bảo hộ Pháp, nhìn thấy tư cách và phong thái của ông trước khi ra pháp trường có ghi:

“..Y đợi chết không chút sợ sệt và đợi nó như là một phận số, một định mệnh không có gì phải căm giận. Hiệu cũng như nhiều người khác đã thấy ở Nam Kỳ hay Trung Kỳ vẫn bình tỉnh làm thơ khi đi tới pháp trường, rồi viết câu thơ đầu ngọn bút lông mà không một nét nào run, tỏ sự xúc động gì cả..”(Theo Nguyễn Sinh Duy).

Đó là một con người phi thường, Phan Bội Châu phải thốt lên: “trời đất phải khâm phục, quỷ thần phải kính ghi”

Hai bài thơ trên đường ra pháp trường mà ông đã để lại cho hậu thế:

Bài I:

Cần Vương thệ giữ bắc nam đồng

Vô nại khuông tương lộ vị thông

Vạn cổ can thường vô Tháo tặc

Bách niên tâm sự hữu Quan Công

Sơn hà vận dĩ thơ thiên định

Thảo mộc sầu khan địa thế cùng

Kỹ ngữ phù trầm  tư thế giá

Hữu tương thành bại luận anh hùng

Huỳnh Thúc Kháng dịch:

Cần Vương nam bắc kết dây đồng

Đường cứu đời kia khổ chửa thông

Muôn thuở can trường không giặc Tháo

Trăm năm tâm sự có Quan Công

Non sông phận đã thơ trời định

Cây cỏ buồn xem thế đất cùng

Chìm nổi trên đời ai đó tá?

Chớ đem thành bại luận anh hùng

Bài II:

Tây Nam vô địch xích đồng tri

Tào cập kim thời thế khả vi

Nhược sử gian phong vô áo viện

Hà nan trung đỉnh thát cường di

Hàn sơn kỷ đắc cô tùng cán

Đại hạ yên năng nhất mộc chi

Hảo bá đan tân triều liệt thánh

Trung thu minh nguyệt bạn vô quy

Huỳnh Thúc Kháng dịch:

Không địch tây nam biết đã thừa

Thời cơ như thế lẽ ngồi trơ

Nếu không mũi nịnh làm tay kín

Nào khó làm tung vác gậy bừa

Núi tùng côi lạnh trơ hẳn thế

Nhà nghiêng một cột chống sao vừa

Xin dâng liệt thánh lòng son đỏ

Về có trăng rằm tháng tám đưa.

Sáng sớm ngày rằm tháng 8 năm Đinh Hợi (01-10-1887) . Nguyễn Duy Hiệu ung dung ra pháp trường chịu chém. Ông đúng 40 tuổi. Đầu của ông được  phu ngựa trạm phi nước đại đưa ngay vào Quảng Nam, phủ Điện Bàn, làng Thanh Hà, quê hương của ông treo ngoài chợ để răn đe quần chúng. Nhưng dân chúng trông thấy đầu ông đều quỳ xuống, tỏ lòng thương tiếc một lãnh tụ Nghĩa Hội và hãnh diện vùng đất nầy đã sinh ra được một con người can trường, trung liệt, một lòng vì dân, vì nước.

Dallas, chớm Đông 2008.

* Ghi Chú:

(1) – Nguyễn Thân, Lê Khiết người Quảng Ngãi. Sau nầy Lê Khiết thấy được việc làm của mình đi ngược lại nhân dân. Để chuộc lại lỗi lầm ông trở thành người chống Pháp nỗi tiếng tại Quảng Ngãi sau nầy. Phan Liêm là con trai của Phan Thanh Giản. Sau khi Phan Thanh Giản chết, Phan Liêm và Phan Tôn đứng lên chống Pháp ở Miền Nam, nhưng sau đó Phan Liêm về đầu thú với Triều đình. (Ghi chú của tác giả)

(2) – Trước đây Tổng Trấn Quảng Nam đóng tại thành La Qua – Vĩnh Điện. Thành nầy hiện nay vẫn còn tại ngã ba Vĩnh Điện (đường vào phố cổ Hội An)

Viết theo tài liệu:

–          Phong Trào Nghĩa Hội Quảng Nam của Nguyễn Sinh Duy.(Nhà Xuất Bản Đà Nẵng 1996)

–          Trần Văn Dư với Phong Trào Nghĩa Hội của Nguyễn Quang Thắng(Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin 2001)

–          Phong Trào Duy Tân của Nguyễn Quang Thắng (Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin 2006)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: