Phan Xuân Sinh

Tác giả và tác phẩm

  • Trang

  • Sol Duc Falls

    Back to forest

    Prairie Falcon 2016

    Starry night

    It was snowing !

    Northern Flicker (Intergrade)

    Northern Pintail descent

    It's as Easy as 1-2-3

    Dolls clinic.

    Superstition Mountains

    More Photos
  • Lưu trữ

MỘT NIỀM VUI

Posted by phanxuansinh on Tháng Năm 14, 2009

Phan Xuân Sinh

MỘT NIỀM VUI

Tôi vào Câu Lâu thăm người chị (con người cô ruột). Địa danh Câu Lâu nằm trên Quốc lộ 1, phía nam cầu Câu Lâu thuộc quận Duy Xuyên và phía bắc cầu thuộc quận Điện Bàn, hai quận nầy đều thuộc tỉnh Quảng Nam. Chị Hai tôi ở phía nam cầu. Chị trước đây là một người sắc hương của vùng đó, chị có một đứa con trai và chồng tập kết…

Đây là cái lý do cho các ông cán bộ xã háo sắc thời ông Ngô Đình Diệm quấy rầy cuộc sống của chị rất nhiều. Buồn lòng chị để đứa con trai cho mẹ, rồi chị vào Sài Gòn đi tu. Năm năm sau, nghe tin mẹ đau nặng nên chị phải trở về lại làng cũ nuôi dưỡng  mẹ già và nuôi con. Chị biến căn nhà đang ở trở thành một ngôi chùa nho nhỏ để bà con hàng xóm có nơi đi lễ Phật. Thế mà các tay làm việc xã ấp cũng không tha, buộc lòng lúc ấy chị phải gặp quận trưởng Duy Xuyên nhờ can thiệp. Cũng may ông quận trưởng đã giúp chị thoát khỏi mấy tay chính quyền ỷ thế hiếp đáp. Sau năm 75, người chồng tập kết trở về, muốn nối lại tình cũ nghĩa xưa, nhưng chị từ chối chỉ lo việc tu hành. Người chồng lại làm chủ tịch xã của “cách mạng”, lại theo vết xe của mấy người chính quyển cũ hạch sách, khó dễ dân chúng. Chị nghe những người dân than oán, chị đến cơ quan xã chưởi người chồng cũ xối xả vuốt mặt không kịp. Chị bảo rằng đời chị bầm giập, ngóc đầu không nổi cũng do mấy thằng ỷ quyền ỷ thế hiếp đáp. Bây giờ lại tái diễn cái trò nầy nên chị không chịu được, phải vạch mặt cho chúng nó biết tay. Dân trong làng ai ai cũng kính nể lòng quả cảm và ngay thẳng của chị.

Hơn ba mươi mấy năm sau, tôi mới gặp lại chị, chị bây giờ là một bà già nhà quê, lụm khụm, lo nhang đèn cúng tế trong chùa. Không còn chút gì đọng lại trên khuôn mặt “sắc hương” của chị ngày xưa, chị sống trong kham khổ với đứa con trai duy nhất, nó vừa mới mất bỏ lại một đàn con nhỏ cho chị. Tuổi già vẫn chưa thoát được nợ trần, ải trầm luân vẫn đeo đẳng mãi với chị. Bao nhiêu năm tu hành không biết chị có ngộ ra được điều gì không? Chị nhìn tôi như một người xa lạ, không thể nhận ra được. Như vậy, tôi mới biết là mình cũng thay đổi nhiều quá chứ không riêng gì chị. Tôi xưng tên chị mới biết, rồi tôi tới ôm chị. Chị khóc, giọt nước mắt vừa vui, vừa tủi, chị bảo là không thể nào tưởng tượng bây giờ tôi to con như Mỹ, ngày xưa ốm tong teo. Đúng ra thì chị nói rằng tôi bây giờ già quá nên chị nhận không ra, nhưng có lẽ sợ tôi buồn nên chị không thốt ra sự thật nầy chăng?

Hồi còn đi học tôi hay vào Câu Lâu thăm cô tôi, nhiều đêm ngủ lại nhà cô. Có một lần mấy ông “giải phóng” về, chó trong làng sủa rang. Cô tôi đến đầu gường lay tôi thức dậy, bảo tôi vào trong buồng nằm, để chị và cô đối phó với mấy ông nầy. Tôi nghe vậy muốn té đái, không biết họ sẽ làm gì với một thằng học sinh mười sáu tuổi như tôi. Tôi nghe tiếng đập cửa, tiếng nói chuyện lào xào bên ngoài, họ mời mọi người đến sân nhà ông Trùm Kiên dự “mít-tinh”. Chị Hai thắp đèn lên rồi ra mở cửa, cô tôi đứng ngay giữa cửa cốt ý cản đường không cho ai vào nhà, mà họ cũng không vào chỉ nói chuyện với cô tôi bên ngoài. Cô bảo chị Hai lấy cây gậy để cô đi đến nhà ông Trùm Kiên, họ không chịu, bảo chị Hai phải đi lỡ có lính Quốc Gia phát hiện còn chạy trốn được, chứ cô tôi già cả làm sao chạy. Chị Hai buộc lòng phải đi theo họ. Sáng ngày hôm sau, tôi theo chị Hai ra chợ vào quán ăn cháo, tôi thấy mọi người xem chuyện khi hôm chẳng có gì quan trọng vì họ đã quen với cái chuyện ban ngày quốc gia, ban đêm giải phóng thường xuyên như vậy. Lúc đó tôi mới thấy làm dân ở vùng quê thật khổ, bên nào họ cũng vâng dạ, nhưng thực tình trong lòng họ chẳng về phe nào. Họ chỉ muốn yên phận sống cho qua ngày, đứng ngoài sự tranh chấp của đôi bên. Nhưng làm thế nào mà đứng ngoài được, mà có muốn đứng ngoài thì cũng chẳng có ai cho mình làm như vậy. Guồng máy chiến tranh cuốn hút mọi người không một ai tránh khỏi.

Một lần tôi đạp xe vào Câu Lâu thăm cô và chị Hai. Tôi nghe được người con trai của bà Cửu Một bị quân “giải phóng” giết đêm hôm trước, bà Cửu Một ở gần nhà cô tôi. Tôi hỏi chị Hai lý do vì sao ông đó bị giết vậy, thì chị cho biết là người ta nghi ông chỉ điểm cho lính Quốc Gia hành quân giết hại quân “giải phóng”. Nửa đêm họ về kêu cửa, mang ông ra ngoài đường bắn một phát vào đầu, rồi ghim tờ giấy tội trạng trên ngực, có tội hay không ai biết được, nạn nhân không cơ hội biện bạch, không được một lời kêu ca. Chỉ có tình nghi, chưa có bằng chứng rỏ ràng mà đã đem giết người ta, thật là vô lý. Mạng sống của người dân trong chiến tranh thật nhỏ nhoi, rẻ rúng, còn tệ hại hơn một con vật. Gia đình bà Cửu Một, mang xác con về vội vàng chôn ngay, cắn răng uất ức, không dám làm ma chay rình rang, sợ họ về khiển trách. Chị Hai có vẻ trầm ngâm suy tư về cái chết nầy. Chị nói với tôi là chiều nay đạp xe về sớm, không nên ở lại vì tình thế càng ngày càng khó khăn đi, mà chị không thể nào che chở cho tôi được. Về thành phố là an toàn nhất.

Sau nầy chị Hai cho tôi biết sự thật về cái chết của người con trai bà Cửu Một. Thật ra, anh nầy không phải là người chỉ điểm cho quốc gia, mà anh lăng nhăng với vợ một thằng cha đi theo du kích. Nửa đêm thằng cha nầy về chun vào mùng vợ thì gặp con bà Cửu Một nằm trong đó, sợ quá thằng cha bỏ chạy. Lúc đó tinh hình vùng quê vẫn còn an ninh, chính quyền quốc gia vẫn còn kiểm soát. Khi vùng quê nầy  trở thành “xôi đậu”thì thằng chồng tìm cách giết con bà Cửu Một để trả thù, nhưng phải ghép vào cái tội có tính chính trị cho hợp lý vậy thôi. Trong làng xóm ai cũng biết chuyện nầy. Một cuộc chiến tranh phi lý như vậy, từ lớn tới nhỏ chỉ phụng sự cho những lý tưởng viễn vông hết sức, thế mà cả một dân tộc, một đất nước phải vào trong cái vòng nghiệt ngã kéo dài.

Cũng bắt đầu từ lúc ấy, cái chết người con trai bà Cửu Một và sau nầy thêm vài người nữa, dân làng từ từ bỏ nhà về sống ở các thị trấn hoặc thành phố mà sự an ninh bảo đảm hơn. Nhưng cô tôi và chị Hai quyết tâm bám trụ quê nhà mặc dù ba tôi nhiều lần vào quê yêu cầu cô và chi Hai đi ra Đà Nẵng sống. Thật ra, ngoài cô tôi và chị Hai cũng còn nhiều gia đình ở lại, họ tỏ bày là không đành lòng từ bỏ quê cha đất tổ để ra đi, nhưng thực lòng của họ là ở lại để tiếp tế cho những người thân theo quân “giải phóng”. Cái trở ngại cho những cuộc hành quân của phe Quốc Gia, chính những người dân ở lại không chịu vào các trại tỵ nạn, ngoài chuyện tiếp tế, họ là tai mắt của phe bên kia, báo cáo đường đi nước bước để quân “giải phóng” lẫn tránh. Những đơn vị hành quân của Quốc Gia thừa biết điều đó, nhưng chẳng lẻ bắt họ trong lúc không có một bằng chứng đích thực. “Tình ngay lý gian” giữa một cuộc chiến tiêu hao biết bao nhiêu nhân mạng, thế nhưng vẫn không bứng ra được những cây gai đâm vào yết hầu của mình. Sau nầy, Ba tôi mới biết cô tôi và chị Hai ở lại cũng vì vậy, nghĩa là chị Hai muốn giúp những người theo quân “giải phóng” cùng phe với chồng chị.

Năm 1971, trong một cuộc hành quân ở Duy Xuyên. Tôi có ghé qua nhà cô tôi. Tôi cùng với bốn người lính bước vào nhà cô bất thình lình, trong nhà ngoài cô và chị Hai, còn có bốn người đàn bà lạ mặt cở tuổi trên dưới hai mươi, còn rất trẻ. Họ đang nấu ăn. Thấy tôi vào, mọi người có vẻ hốt hoảng thất thần. Chị Hai giới thiệu với họ, tôi là em cho mọi người yên tâm, nhưng tôi vẫn thấy họ lấm la lấm lét, tôi nghĩ chắc trong quê gặp lính họ không được tự nhiên. Tụi tôi ra ngoài vườn hái trái cây, thằng lính đi theo nói với tôi là nó nghi mấy người đó là Việt Cộng, tôi lờ đi, nói với nó là mấy người đó hàng xóm với chị Hai của tôi, đừng nghĩ bậy. Tôi cảm thấy có một cái gì không ổn, nên tôi chào cô, chị Hai và mọi người rồi ra xe đi. Vài ngày sau đơn vị tôi hành quân tại Phù Kỳ, vì tin tình báo cho biết có một đại đội nữ pháo binh đang hoạt động tại đây. Chúng tôi tấn công vào làng nhưng gặp một sự chống cự dưới một hỏa lực thật nặng nề. Chúng tôi nhờ pháo binh yểm trợ, sau đó mới chiếm được Phù Kỳ, xác chết chúng tôi tìm thấy chừng mười người bị pháo binh dập, nam nữ lẫn lộn. Trong số người nầy, thằng lính theo tôi lúc vào thăm nhà cô tôi tại Câu Lâu, nhận mặt được hai người đàn bà mà chúng tôi đã gặp trong nhà cô. Sau nầy chị Hai ra Đà Nẵng thăm Ba tôi đau, gặp tôi, chị kéo tôi ra phía sau nhà nói chuyện, tôi cho chị biết là những người đàn bà ở trong nhà chị đã gặp lúc trước, tôi đã nhìn mặt được hai người đã chết tại Phù Kỳ. Chị không nói gì, chỉ gật đầu. Như vậy chị Hai cũng đã biết tin nầy rồi. Cũng may, bữa hôm trong nhà chị, không có việc gì xẩy ra.

Một lần khác, tụi tôi đi hành quân trên đường từ quốc lộ 1 lên làng Trà Kiệu. Buổi trưa tôi cùng vài người lính vào quán nước bên đường ngồi nghỉ một lát, vì ngoài trời nắng gắt và nóng. Vừa đặt đít xuống ghế, tôi nghe tiếng hô của lính gác bên ngoài: “Đứng lại. Giơ tay lên”. Tôi dòm ra thấy hai người con gái từ hướng Trà Kiệu đi xuống, tôi trở lại ngồi trên ghế. Vì cái cảnh đùa giỡn của lính vào vùng quê gặp con gái rất thường tình như vậy, tôi yên tâm ngồi uống nước. Mười lăm phút sau, một người lính bên ngoài chạy vào nói với tôi:

“Thiếu úy ơi, bắt được hai con Việt Cộng”.

“Sao hay quá vậy?”

Tôi chạy ra ngoài thì thấy hai người con gái trần truồng, trên bắp vế có đeo bọc súng K59 (loại nhỏ), đang bị lính cột tay và để tình trạng không áo quần trên người. Còn hai cây súng họ lấy đưa cho tôi. Trung sĩ Hợi nói với tôi là khi hai người đưa tay lên, thì một người lính đứng gần đó muốn đùa, không ngờ phát hiện có súng. Vì thế luôn tiện họ lột hết áo quần để xem có còn phát hiện gì thêm không? Nói thì nói vậy, chứ con cá đã nằm trên thớt rồi, muốn làm gì mà không được. Lột áo quần để xem chơi cho đả thèm, lính tác chiến lâu ngày không thấy đàn bà cũng rạo rực, nhưng kỷ luật không cho phép làm bậy, cho nên nhân mấy dịp nầy cần phải rửa mắt. Chiến tranh mà.

Tôi bảo một người lính đến tháo lấy hai bao súng và cho họ mặc quần áo vào. Thằng Hải làm “tài-lọt”cho tôi, vội vàng chạy lại, đưa tay sờ vào vài chỗ trên người cô gái. Tôi quát nó:

“Hải, mầy làm gì vậy?”

“Dạ thưa em lục soát có còn giấu tài liệu gì trong đó không.”

“Mầy liệu hồn, tau đánh bây giờ.”

Tôi trở vào quán tiếp tục uống nước. Hai cô gái mặc đồ xong, mấy người lính dẫn vào gặp tôi. Tôi thấy hai người nầy trông quen quá mà không biết gặp ở đâu. Tôi ngồi suy nghĩ để xem mình có thể nhớ ra không. Thì thằng Bình nói nhỏ vào tai tôi, cho biết là hai người nầy đã gặp tại nhà cô tôi tại Câu Lâu. Tôi giật mình, nhìn kỷ lại, quả đúng như vậy.

Tôi hỏi hai cô đó:

“Lần trước gặp chúng tôi tại Câu Lâu, sao các cô không bắn chúng tôi?”

Một trong hai cô trả lời:

“Chúng tôi không có súng trong người. Súng chúng tôi giấu trong buồng”

Tôi nhìn cô cười và hỏi gặng thêm:

“Trường hợp có súng lúc ấy, các cô có bắn chúng tôi không?”

Cô ấy suy nghĩ một lát rồi mới trả lời:

“Nếu trường hợp các anh phát hiện, thì buộc lòng chúng tôi phải nổ súng trước để tự vệ. Còn nếu các anh không biết chúng tôi là ai, thì không cần thiết phải làm điều đó, vì sợ liên lụy đến chủ nhà.”

Hai cô gái nói giọng Bắc và lại mang súng nhỏ, nên tôi nghĩ trong bụng chắc các cô thuộc chỉ huy. Nhưng hai cô cho biết vì phải đi lại nhiều nơi, phải vô ra vùng địch nên phải trang bị gọn nhẹ, chứ không chỉ huy gì cả. Tôi chỉ hỏi chơi vậy thôi, chứ không thuộc cơ quan thẩm vấn, khai thác, nên không cần phải biết thêm. Có một điều lạ là bốn người đàn bà nầy sao lại mang nhiều “duyên nợ” với đơn vị chúng tôi như vậy? Hai người đã chết trong chiến đấu và hai người bị bắt một cách lảng nhách, mà cũng đều do đơn vị chúng tôi làm. Hai cô cũng cho biết là du kích không cho biết chúng tôi hành quân trong vùng nầy. Đúng ra vùng nầy thuộc kiểm soát của quân “giải phóng” nên các cô không đề phòng. Thì ra là vậy, mà chúng tôi chỉ mới đổ quân chưa bao lâu làm sao du kích biết được, chứ dễ gì bắt được các cô. Sau đó chúng tôi đưa hai cô về đơn vị bằng trực thăng, rồi giao cho Ban Hai trung đoàn.

Tôi đến thắp nhang trên bàn thờ Phật và bàn thờ cô tôi, hơn ba mươi lăm năm sau tôi mới trở lại nhà nầy. Ngồi nói chuyện với chị Hai, ôn lại những chuyện xưa cũ. Tôi bất chợt hỏi chị:

“Hai người đàn bà bị em bắt, không biết có còn sống hay chết. Sau nầy thế nào.Có vào thăm chị không?”

“À, hai người nầy thỉnh thoảng có vào thăm chị, bây giờ họ hưu trí rồi. Họ có hỏi thăm em. Lúc trước em chưa đi Mỹ còn ở Sài Gòn, nhưng chị không biết địa chỉ để họ vào thăm.”

“Họ vào thăm em, hay họ vào bắt em?”

Chị Hai cười:

“Không đâu, họ có vẻ quan tâm tới em, vì họ hỏi em có bị học tập không? Chị nói là em bị thương, nên không phải học tập. “

Rồi chị Hai nói tiếp:

“Hai người đó nói là họ mang ơn em. Có thể vì bị bắt nên họ không bị chết tại chiến trường, sau đợt trao trả tù binh năm 73, họ trở ra Bắc. Cũng nhờ có em mà họ tránh bị làm nhục. Chị nghe họ nói mà vui hết sức, ít ra em của chị cũng hành xử sự việc một cách nhân đạo như vậy. Nếu em đi học tập chỗ nào thì họ sẽ can thiệp cho em ra.”

“Nếu gặp lại họ, cho em gửi lời cám ơn về chuyện đó. Chị thấy không, cái gì cũng sẽ mất. Chỉ còn tấm lòng, bên nầy hay bên kia cũng vậy.”

Chị Hai nhìn vào mắt tôi và nói:

“Không ngờ em có một đời sống nội tâm sâu sắc như vậy. Thế mà chị nghĩ phải quay theo với guồng máy vật chất bao năm ở Mỹ, em sẽ bị nó nghiền nát và biến chất. Em còn giữ được những suy nghĩ, những trăn trở cho cuộc sống, chị mừng lắm.”

Tôi với chị đứng dậy ra sau vuờn, cây cối bây giờ có sự chăm sóc nên tươi tốt. Tôi đến bên gốc ổi mà ngày xưa tôi hay trèo lên hái. Cây ổi bây giờ đã già, đã cằn cổi. Tôi nhớ lại lời của người lính năm xưa, cũng chỗ nầy đã nói với tôi: “Thiếu úy coi chừng, em nghĩ mấy bà nầy là Việt Cộng.” Tự nhiên tôi cười, lúc ấy không biết sao tôi nhanh trí rời khỏi nhà chị Hai vì sợ ở lâu sẽ bị rắc rối. Tôi nói lại với chị chuyện nầy, chị Hai trố mắt nhìn tôi:

“Sau khi em vội vàng rời khỏi, họ cũng có cảm nhận là em đã biết họ là ai, nên em muốn tránh trường hợp đáng tiếc, khó xử. Họ nói với chị nếu đúng như vậy, em là người đáng phục.”

Hơn ba mươi ba năm sau cuộc chiến đã nguội trên quê hương, mà cũng đã nguội trong lòng của những người cầm súng lúc đó. Nếu gặp lại nhau, gạt bỏ đầu óc chính trị ra ngoài, chúng tôi có thể kể cho nhau nghe sự thật của đôi bên, chắc vui biết mấy. Một cuộc chiến mà tưởng chừng như thắng thua cũng chỉ là những trò đùa của những người rỗi việc.

Tôi nói đùa với chị hai:

“Nếu sau nầy họ vào thăm lại, Chị nói giùm cho em là từ ngày em trông thấy họ khỏa thân trước mắt, em bị ám ảnh mãi, rạo rực ăn ngủ không yên.”

“Đồ quỷ nà.”

Hai chị em đều cười.

Tôi từ giả chị ra về, trong lòng tôi vui hết sức. Một chuyến về thăm lại quê hương thật vui, để lại trong lòng tôi một hình ảnh khó quên. Các cô gái đó bây giờ đã già, có thể có con cháu đầy đàn, nhưng chắc chắn họ không thể nào quên được những hình ảnh trong thời kỳ chiến tranh. Buồn có, vui có, mọi thứ đều lẫn lộn với nhau, nhưng tất cả đều hành động theo bản năng của tuổi trẻ, có cái đúng, có cái sai. Thế nhưng nó không đọng chút căm hận mà mang tính hồn nhiên. Đến cái tuổi của chúng tôi bây giờ nghĩ lại vẫn thấy nó đẹp.

Dallas, mùa Noel năm 2008

2 phản hồi to “MỘT NIỀM VUI”

  1. Đỗ Kh. said

    Chào anh PXS,

    Cám ơn anh những giòng nhìn lại của một thời lửa khói. Hết lửa, hết khói, hết khét lẹt, hết khen khét thì còn lại ở đây như một mùi hương.

    • Anh Đỗ Kh,
      Cám ơn anh đã viếng thăm căn nhà nầy.
      Với tôi viết để lấp đầy chỗ trống, chứ không phải để đào sâu thêm hận thù.
      Cho đến bây giờ phục vụ cho chế độ nào cũng đều có tội với nhân dân
      Tình thân

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: